Late Imperial Chinese army (1)

https://litalila1411.wordpress.com/2017/05/18/late-imperial-chinese-army-1/

GIỚI THIỆU

Đây là tập cuối cùng trong bộ năm tập phác thảo lịch sử quân sự Trung Quốc. Do công chúng ở các quốc gia phương Tây không được tiếp nhận mảng lịch sử này nên họ cho rằng do những tác động của một nền văn hóa phi quân sự nên nghệ thuật chiến tranh ở Trung Quốc không thay đổi trong thời gian dài. Những thể hiện yếu kém của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh Nha Phiến là điều hoàn toàn bình thường và không thể cải thiện được. Hi vọng rằng loạt bài này sẽ xua tan đi những huyền thoại đó, thúc đẩy một số nhận thức khác về lịch sử, thú vị hơn và cũng đẫm máu như ở châu Âu.

Tập này được giới hạn trong khoảng thời gian từ khi những người châu Âu đầu tiên xuất hiện cho đến khi bắt đầu chuỗi “các hiệp ước bất bình đẳng” từ năm 1840. Trong thời trung đại, Trung Quốc đã dẫn đầu trong công nghệ quân sự, là những người đầu tiên phát triển Pháo và tàu biển mà sau này người phương Tây đã sử dụng chính chúng để chống lại họ. Sau thế kỉ 15, những tiến bộ này không được duy trì và Trung Quốc rời vào trạng thái trì trệ. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn còn đang được tranh luận nhưng chúng ta có thể xác định một số yếu tố chính: những học giả không quan tâm đến vấn đề quân sự; những chính sách cấm đoán của nhà nước do lo ngại các thế lực chống đối; và có lẽ trên hết là do thiếu những đối thủ cạnh tranh có sức mạnh tương đương cùng với những ảo tưởng về vị trí hàng đầu của Trung Quốc. Bất kể vì lý do gì, từ thế kỉ 16 châu Âu đã bắt đầu vượt Trung Quốc về mặt vũ khí và sau đó là bỏ xa họ vào giữa thế kỉ 19.

Quy mô khổng lồ của đế quốc, sự tự mãn về văn hóa và tính phức tạp của chính trị đã ngăn cản sự phát triển của khoa học kĩ thuật quân sự rồi dẫn đến một hậu quả thảm khốc như nhiều xã hội khác. Trung Quốc bị chinh phục bởi một số ít người nước ngoài như trường hợp của Aztec và Incas nhưng trên thực tế, vào cuối thể kỉ 18, thời kỳ phát triển của hệ thống thuộc địa, Trung Quốc vẫn ở trên vị thể của người chiến trắng. Nhà Thanh của người Mãn Châu đã lật đổ nhà Minh vào năm 1640, trở thành một đế quốc lớn nhất là đông dân nhất thế giới với các lãnh thổ được mở rộng ra rất nhiều sau đó.

Dưới sự cai trị của nhà Thanh, lãnh thổ Trung Quốc đã được mở rộng hết mức có thể, gần với các ranh giới hiện tại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Mông Cổ và phía Bắc Mãn Châu. Họ đã chinh phục được những người du mục Trung Á, mối đe dọa chính đối với nền văn minh Trung Hoa suốt hai thiên niên kỉ. Giai đoạn này cũng chứng kiến việc hoàn thiện Vạn lý trường thành ở phía bắc, can thiệp vào cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên, sự tranh giành quyền lực giữa nhà Minh và nhà Thanh, những chuyến thám hiểm đến Siberia, Kazakhstan và Nepal.

Sự tiếp xúc không thể tránh khỏi với phương Tây trong thời kì này đã mang đến những quan điểm mới về hệ thống quân sự của họ. Ngoài con mắt của người Trung Quốc, chúng ta còn có thể khai thác góc nhìn của người bên ngoài về hệ thống quân sự Trung Quốc thời kì này. Từ những ghi chép của de Rade vào những năm 1570 và của Huc những năm 1840 không thể nào không bị ảnh hưởng bởi những điểm tương đồng, người Trung Quốc hiện lên một cách hèn nhát, rời rạc, bị buộc phải chiến đấu như một đám đông vô tổ chức chỉ biết la hét một cách vô ích, thích bày vẽ hơn là quan tâm đến hiệu quả.

Tái hiện một cách chân thực những thành tựu quân sự của nhà Minh và nhà Thanh là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên chúng tôi đã được trợ giúp bởi những nguồn cung cấp thông tin phong phú từ Trung Quốc. Chính sử, sử địa phương cũng như các hồi ký, báo cáo có chứa một lượng dữ liệu rất lớn về quân sự mặc dù chỉ có rất ít được dịch. Ngoài quyển bách khoa toàn thư về quân đội đương đại nổi tiếng nhất là Võ Bị Chí (武備志) được Mao Nguyên Nghi (茅元仪)viết vào năm 1621 không thể thiếu là một số lượng lớn những tác phẩm nghệ thuật, vũ khí, áo giáp còn lại được tìm thấy trong các viện bảo tàng ở Anh.

NIÊN BIỂU

1517 Mông Cổ bại trận tại Ying-chou. Đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Trung Quốc.

1525 Phá hủy hạm đội để cô lập Trung Quốc khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài.

c.1540 Bắt đầu xây dựng hệ thống Vạn lý trường thành hiện đại.

c.1540-c.1565 Thời kì hoàng kim của hải tặc Oa Khấu tại Đông Nam Trung Hoa.

1550 Yên Đáp Hãn (Altan Khan) tấn công Bắc Kinh.

1567 Dỡ bỏ lệnh cấm hải thương.

c.1583 Sự trỗi dậy của Nỗ Nhi Cáp Xích (Nurhachi), những bước khởi đầu của nhà nước Mãn Chu.

1593-98 Chiến tranh với Nhật Bản tại Triều Tiên.

1618-19 Chiến dịch chống Mãn Châu của nhà Minh thất bại.

1626 Nhà Minh đánh bại Mãn Châu tại Ninh Viễn, Nô Nhi Cáp Xích tử trận.

1636 Nhà Thanh thành lập.

1644 Vị vua cuối cùng của nhà Minh tự sát. Nhà Thuận của Lý Tự Thành tồn tại trong thời gian ngắn. Mãn Châu chiếm Bắc Kinh.

1661-1722 Thời đại của hoàng đế Khang Hi.

1664 Mãn Châu chiếm Phúc Kiến. Nhà Thanh kiểm soát hoàn toàn nội địa Trung Quốc.

1673-81 Loạn Tam Phiên.

1683 Thế lực thân Minh ở Đài loan sụp đổ.

1689 Hòa ước Nerchinsk điều chỉnh đường biên Trung – Nga.

1696 Đánh bại Cát Nhĩ Đan (Galdan Khan). Đông Mông Cổ sáp nhập vào nhà Thanh.

1720 Tây Tạng trở thành chư hầu của nhà Thanh.

1736-96 Thời đại của hoàng đế Càn Long.

1757 Quyết định hạn chế ngoại thương.

1757-59 Đánh bại Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ (Jungar Mongols) và đồng minh Hồi giáo của họ.

1792 Đánh bại Nepal.

1793 Đại sứ quán Anh dưới quyền của Macartney ở Bắc Kinh.

1817-27 Người Hồi giáo thánh chiến tại lòng chảo Tarim,

1839 Thất bại trong chiến tranh Nha phiến lần 1 với người Anh.

1842 Hòa ước Nam Kinh mở cửa nhiều cảng biểu của Trung Quốc. Người Anh chiếm Hồng Kông.

CUỐI THỜI MINH (1517-1598)

Mặc dù nhà Minh đã trục xuất người Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc vào năm 1368 nhưng vào thế kỉ 16, mối đe dọa chính lại tiếp tục đến từ các con cháu người Mông Cổ ở biên giới phía Bắc. Những bộ tộc Mông Cổ liên tục liên minh với nhau dưới dự lãnh đạo của những thủ lĩnh tự nhận mình là hậu nhân của Thành Cát Tư Hãn. Hoàng đế Chính Đức (1506-1521) đã bị các sử gia trung đại phê phán nặng nề vì ông không quan tâm đến võ bị và không xứng đáng là một nhà lãnh đạo. Ông đã đạt được một số thành công trong cuộc chiến chống lại Mông Cổ nhưng dưới sự cai trị của người kế nhiệm ông, Gia Tĩnh (1522-67), những thành quả thu được đã nhanh chóng bị mất đi. Vị vua mới đã chủ trì những cuộc tranh chấp bất tận trong triều đình, ngăn cản việc phát triển chính sách quân sự một cách nhất quán nhưng ông lại chống Mông Cổ một cách cuồng tín, ngăn chặn tất cả nỗ lực hòa bình, trừng phạt bất kì viên quan nào có ý định đàm phán.

Ming_cavalrymen (1) 2

(Kị binh quân Minh)

Một trong những điển hình trong phong cách của ông là một sắc lệnh cho nhân vật “i”, ‘đề cập đến “lũ mọi rợ” miền Bắc nên luôn luôn được viết càng nhỏ càng tốt’. Tất nhiên những biện pháp này không ngăn cản được người Mông Cổ. Văo năm 1540, thủ lĩnh của Vệ Lạp Đặc (Tây Mông Cổ) Yêm Đáp Hãn đã hợp nhất với những người Mông Cổ phía Đông và đặt nền móng cho một nhà nước: xây dựng các thành phố, thúc đấy nông nghiệp phát triển, thu hút những người Trung Quốc đến phục vụ ông. Ông đề nghị buôn bán với nhà Minh nhưng bị từ chối. Thậm chí nhà Minh còn lên kế hoạch tấn công ông, kế hoạch mạo hiểm này cuối cùng đã bị hủy bỏ vì những khó khăn về tài chính của chính phủ. Năm 1548, Yêm Đáp hãn đã tấn công nhà Minh, chiếm đóng và phá bỏ những bức tường tại Hsuan-fu. Hai năm sau, ông lại dẫn quân vượt qua Vạn lý trường thành và bao vây Bắc Kinh. Mặc dù người Mông Cổ đã rút lui nhưng sự kiện nhục nhã này đã làm nổi lên sự bất lực của quân Minh, bên cạnh đó đã tạo động lực thúc đẩy việc hoàn thiện Vạn lý trường thành. Phải đến tận năm 1571, sau khi Gia Tĩnh qua đời, người Mông Cổ mới được buôn bán với nhà Minh trong hòa bình. Biên giới được bình ổn trong 20 năm sau đó.

Sự thiếu quyết đoán trong cách cai trị của Gia Tĩnh cũng được thể hiện ở các mặt trận khác. Năm 1513, Hami, một tiền đồn trên con đường tơ lụa dưới sự kiểm soát của nhà Minh đã bị chiếm đóng bởi Hồi vương của Turfan, một trong số những nhà cai trị độc lập, người đã thành công trong việc cai trị Timurid và Hãn quốc Sát Hợp Đài tại lòng chảo Tarim. Người Trung Quốc đã trả đũa lại bằng việc thuê một số đạo quân Mông Cổ đến chiếm lại Hami nhưng đáng tiếc đã thất bại. Năm 1528, thành phố bị xóa sổ, khả năng nắm bắt thông tin yếu kém của nhà Minh đã tạo cơ hội cho một cuộc đột kích từ Turfan vào phía Tây Bắc Trung Quốc và những người Hồi giáo đã nổi dậy trong đế quốc. Năm 1537, một kế hoạch tấn công vào Việt Nam với lý do Việt Nam ngừng triều cống đã được lập ra nhưng sau ba năm ngần ngại, vị hoàng đế đã từ bỏ ý định. Tiếp đó, người Việt Nam và Miến Điện đã tấn công lên vùng phía Nam của Vân Nam và Quảng Tây.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

(Quân Minh với hỏa khí)

Một vấn đề nghiêm trọng khác xuất hiện trong năm 1540, những tên cướp biển tại bờ biển phía Nam đã tổ chức thành một lực lượng quân sự đáng gờm. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự thiển cận của chính phủ Trung Quốc vào năm 1525 khi đã cố cách ly người dân khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài bằng một loạt các sắc lệnh hạn chế thương mại và đi biển. Các thương nhân địa phương đã chiếm giữ các hòn đảo ngoài khơi làm cơ sở cho các hoạt động thương mại trái phép với người Nhật và người Bồ Đào Nha. Bên cạnh buôn bán, họ đã nhanh chóng phát triển các hoạt động cướp phá, xây dựng lực lượng quân đội mạnh và thậm chí đã tấn công các thành phố ven biển. Những tên cướp biển ban đầu được hỗ trợ bởi các gia đình thương nhân tại Kyushu, Honshu và được củng cố thêm bởi những đội cướp biển người Nhật, những người đã cướp bóc suốt hai thế kỉ tại khu vực Đông Nam Á. Mặc dù nhà Minh gọi những toán cướp biển này dưới cái tên “Oa Khấu”, có nghĩa là cướp biển Nhật Bản, nhưng hai phần ba nhân lực của những toán cướp là người Trung Quốc.

Năm 1547, Chu Wan đã được cử đến để ổn định tình hình nhưng các thương nhân với những mối quan hệ trong chính quyền đã tìm cách để sa thải ông.

Những hạn chế nghiêm ngặt hơn về những hoạt động trên biển đã đẩy ngư dân vào bước đường cùng và buộc họ phải bạo động. Điều này khiến cho Oa Khấu mạnh hơn bao giờ hết. Vào năm 1554, họ đánh bại quân Minh trên đất liền, đe dọa những thành phố lớn ven biển như Nam Kinh, Hàng Châu.

Hai viên tướng đã được chọn để kiểm soát tình hình là Hồ Tôn Hiến và Thích Kế Quang. Các hoạt động quân sự, những nỗ lực bắt giữ các thủ lĩnh cướp biển được tăng cường. Sau đó, vào năm 1567, lệnh hải cấm được dỡ bỏ. Tình hình dần ổn định trở lại.

Hoàng đế Vạn Lịch lên ngôi vào năm 1573, ông là một người không có khả năng và bị giam cầm bởi hệ thống chính trị lúc bấy giờ, cố giữ cho hoàng đế như bị cầm tù trong cung điện, cách biệt với thế giới bên ngoài. Triều đại của ông đã ghi nhận “ba chiến dịch vĩ đại” và chúng thường được sử dụng như một bằng chứng cho thấy quân đội nhà Minh vẫn còn mạnh mẽ. Tuy nhiên, hai trong số những chiến dịch này không đáng kể. Dương Ứng Long, một viên quan ở Tứ Xuyên, sau khi nhận được sự ủng hộ của các bộ tộc Miêu bản địa đã phát động nổi loạn ở Phan Châu. Tranh thủ nhà Minh còn bận bịu ở những nơi khác, Dương giữ được độc lập trong vài năm. Đến năm 1600, một đội quân, chủ yếu là các bộ tộc địa phương, do Lý Hóa Long lãnh đạo đã đánh bại Dương trong một chiến dịch kéo dài 100 ngày. Chiến dịch tại Ordos (Ngạc Nhĩ Đa Tư) năm 1592 thậm chí còn được bản địa hóa hơn nữa. Quân đồn trú tại Ninh Hạ đã nổi dậy và liên minh với một thủ lĩnh Mông Cổ. Cuộc nổi dậy này bị đánh bại vào tháng 10 năm đó khi quân triều đình dùng nước ở một hồ gần đó làm suy yếu tường thành.

Chiến dịch can thiệp vào chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592-1598) là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong ba chiến dịch quân sự thời Vạn Lịch. Năm 1592, người Nhật dưới sự dẫn dắt của Hideyoshi Toyotomi đã xâm lược bán đảo Triều Tiên như một bước đầu để chinh phục Trung Quốc. Ban đầu, chiến dịch của người Nhật khá thuận lợi, chiếm được Seoul và Bình Nhưỡng trong thời gian ngắn, sau đó họ tạm dừng lại để tập hợp lại lực lượng. Tháng 1 năm 1593, một đội quân Minh dưới quyền của Lý Như Tùng đã vượt sông Áp Lục tiến vào Triều Tiên, đánh bại quân Nhật bên ngoài Bình Nhưỡng. Đang gặp khó khăn về vấn đề hậu cần, tình hình của quân Nhật càng trầm trọng thêm vì hoạt động của hải quân Triều Tiên và các mật vụ Trung Quốc, những mật vụ này đã đốt một kho lương lớn của quân Nhật rồi rút về gần Busan. Một thỏa thuận ngừng chiến được thiết lập cho đến tháng 10 năm 1596 khi một đoàn đại sứ của Trung Quốc đến Nhật để đàm phán hòa bình.

Kết quả cuộc đàm phán minh họa cho một trong những khiếm khuyết trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trung Quốc không chấp nhận việc những người man di được đối xử một cách bình đẳng. Hideyoshi dự liệu việc Triều Tiên được phân chia và có một cuộc hôn nhân chính trị với công chúa nhà Minh nhưng người Trung Quốc lại chọn cách: sẽ công nhận ông là vua của Nhật Bản (ông đã cai trị Nhật bản trên thực tế trước đó) nếu ông chấp nhận là một chư hầu và không bao giờ xâm lược lục địa nữa. Hideyoshi coi điều này như một sự xúc phạm và đã tổ chức một cuộc tấn công vào Seoul trong năm tiếp theo. Cuộc tấn công này đã bị chặn bởi một lực lượng Trung Quốc 5 vạn người. Đô đốc Triều Tiên Lý Thuấn Thần (Yi Sun-sin) được một đội tàu nhà Minh dưới sự chỉ huy của chuyên gia pháo binh Trầm Lâm giúp đỡ đã kiểm soát được mặt biển, cắt đứt hậu cần và những đoàn quân tiếp viện từ Nhật Bản, làm cho người Nhật một lần nữa thất bại. Năm 1598, tuy những cuộc tấn công của quân Minh tại Ulsan, Sunchon, Sochon đã bị thất bại nặng nề nhưng họ đã thành công trong việc giam chân người Nhật ở những khu vực quan trọng. Tin về cái chết của Hideyoshi đến vào cuối năm, khi mọi người đã kiệt sức, đã tạo điều kiện cho cả hai phe đồng ý đình chiến. Người Nhật rút khỏi Triều Tiên, nhà Minh đạt dược một thắng lợi chiến lược.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (2)

QUÂN ĐỘI CUỐI MINH

18700803_1905028396440662_8494008904079883031_o

Những quan lại tham nhũng và bất tài đã làm suy yếu hệ thống quân sự “vệ sở” của nhà Minh. Vào thế kỉ 16, quân đội đã trở thành một gánh nặng, thiếu đào tạo và kỉ luật, sức mạnh của họ ngày một giảm sút. Các sĩ quan tiếp tục ghi tên những người đã chết hoặc đã bỏ đi vào trong danh sách để lấy thêm tiền lương. Ch’en Chien khi viết về thời Gia Tĩnh đã miêu tả vệ sở như là: “nguồn gốc của nhiều rắc rối. Họ nổi loạn và sẵn sàng tạo phản bất cứ khi nào các nhà chức trách chậm trả tiền cho họ… bất kì khi nào có chiến tranh, do lo sợ quân đội bị tổn thất, lính đánh thuê và dân binh được sử dụng để chống lại những bọn cướp. Nói cách khác, dân thường được sử dụng để bảo vệ những người lính“.

Vào giữa thế kỉ 16, lực lượng chính của quân Minh là những người lính đánh thuê được tuyển dụng từ dân chúng – một hệ thống tương tự như của nhà Tống. Tuy nhiên, thời đại của những chiến binh đã trôi qua, những người lính có địa vị xã hội rất thấp. Họ được tuyển mộ chủ yếu từ những kẻ lang thang, trộm cướp. Họ bị đối xử tồi tệ, lương thấp, thất thường và thậm chí còn bị cướp bởi những viên chỉ huy. Do được tuyển mộ từ những vùng khác nhau, những đạo quân mang tính địa phương rất lớn. Những người đến từ Hsiang-fu, Hồ Nam dễ kiểm soát nhưng lại hèn nhát. Trái lại, Mao Hồ Lô binh (毛葫蘆兵), những cựu thợ mỏ dũng cảm nhưng lại vô kỷ luật. Những người lính Tứ Xuyên vốn là những kẻ cướp, dễ bị thu hút bởi những đồ đạc bị kẻ thù bỏ lại. Nhìn chung, những người nông dân làm lính tốt hơn những thị dân. Về sau, những đội quân này được trao quyền tự quản khá cao.

Kết quả hình ảnh cho ming cavalry

Kị binh nhà Minh

Những người lính từ Liêu Đông đã chống lại cuộc nổi dậy ở Thiểm Tây vào năm 1630 khá hiệu quả. Họ không hiểu được tiếng địa phương nên không thể bị mua chuộc hay bị làm rối loạn (quân đội được tuyển dụng ở Thiểm Tây trở nên vô dụng vì họ là những người đồng hương với quân nổi dậy, có xu hướng liên kết với đối phương thay vì chiến đấu). Những đội quân quan ngoại cũng được tuyển mộ.

Tùy mục đích sử dụng, họ sẽ dũng những người lính đánh thuê Mông Cổ với quy mô khác nhau. Từ việc thuê toàn bộ bộ lạc để chinh phục Trung Á cho đến những toán nhỏ hơn được tuyển mộ từ những tù binh chiến tranh. Những toán nhỏ này được đưa đến những vùng xa xôi của đế chế và được phân biệt bởi những chiếc mũ đỏ của họ.

Pubei, nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy Ordos năm 1592 là một người Mông Cổ xuất thân từ một gia đình từng phục vụ quân Minh trong nhiều thế hệ. Giống như những người Mông Cổ, một số bộ lạc chư hầu người Nữ Chân đã cung cấp những binh lính, chủ yếu là kị binh cho quân Minh. Các nhóm nhỏ của Nhật cũng được thuê vào cuối thể kỉ 16. Một đạo quân Triều Tiên với tư cách đồng minh đã chiến đấu bên cạnh quân Minh trong chiến dịch chống lại Mãn Châu năm 1618-19.

Theo truyền thống, thủ cấp của kẻ thù được mang ra treo thưởng để tạo động lực cho binh lính chiến đấu, nhưng vào thể kỷ 17, việc này đã bị lạm dụng. Các tù nhân chiến tranh và thường dân vô tội thường bị binh lính tàn sát để lấy thủ cấp làm bằng chứng cho những chiến tích hư cấu và thậm chí có một phương pháp hấp đầu để làm cho thủ cấp của người Hán trông như thủ cấp người Mãn Châu. Điều này đã làm cho số lượng kẻ thù bị tiêu diệt tăng vọt, khiến chính phủ không biết một chút gì về tình hình thực tế. Năm 1640, hoàng đế Sùng Trinh đã cố gắng hủy bỏ hệ thống này nhưng đã quá muộn.

Trận Ninh Viễn lần thứ nhất năm 1626 (Viên Sùng Hoán đã lãnh đạo quân Minh đánh bại người Nữ Chân dưới sự chỉ huy của Nỗ Nhi Cáp Xích)

Giống như “vệ sở”, nhiều đơn vị lính đánh thuê cũng nhanh chóng trở thành gánh nặng. Năm 1620, Shen kuo-yuan đã đưa ra một báo cáo về quân đội tại Bắc Kinh cũng tồi tệ như những gì Ch’en Chien viết: “Không thể dùng chúng để bảo vể kinh đô nếu chiến tranh nổ ra. Người ta nói các nhà chức trách không dám cải tổ chúng vì sợ chúng sẽ làm loạn. Họ cũng không dám đào tạo vì điều này cũng sẽ dẫn đến thảm họa tương tự“.

Các nhà quan sát châu Âu cũng không kém gay gắt khi nói về chất lượng quân đội của nhà Minh. Matteo Ricci vào cuối thể kỉ 16 cho rằng sức mạnh của quân Minh nằm ở số lượng chứ không phải kỹ năng của họ. Nhiều phong trào cải cách đã được bắt đầu, đáng chú ý như cuộc cải cách của Trương Cư Chính trong thời Vạn Lịch nhưng cuộc cải cách này ít tiến bộ và đã bị lực lượng quan liêu chống lại gay gắt. Tham nhũng thậm chí đã được thể chế hóa. Ví dụ như ở một số địa phương, các viên chức sau khi đóng một khoản tiền sẽ được miễn trừ nghĩa vụ hoặc được phép “mượn” ngựa của quân đội để sử dụng cho mục đích cá nhân. Trong những năm 1560, chỉ có 3 vạn lính ở Hsuan-fu chống lại cuộc xâm lược của Mông Cổ, trong khi con số trên giấy là 12 vạn.

Sự đa dạng của các đơn vị khiến cho việc kiểm soát của trung ương rất khó khăn, cộng thêm sự chênh lệch giữa những con số trên giấy và thực tế. Các lực lượng vũ trang thời đầu nhà Minh được cho là có khoảng 3 triệu người. Tình trạng quản lý gian dối và yếu kém đã trở thành căn bệnh mãn tính khiến cho không thể nào xác định được sức mạnh thật sự của quân đội. Martin de Rada đã đưa ra một danh sách các đồn lũy vào cuối thế kỉ 16 với tổng cổng 4.178.500 bộ binh và 780.000 con ngựa. Không còn nghi ngờ gì nữa, những ghi chép trên giấy đã vượt quá xa thực tế. Nhưng với mức độ dân số của nhà Minh, từ 65 triệu trong năm 1400 đến 150 triệu vào năm 1600 đã có thể đảm bảo quy mô của một đội quân lớn.

Về mặt chiến lược, được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng với rất nhiều con đường và cây cầu được xây trong thời kì bùng nổ của nền kinh tế vào thế kỉ 11-13, tính cơ động của họ khá cao. Trong chiến dịch Ninh Hạ vào năm 1592, 400 khẩu pháo đã vượt qua 300 dặm địa hình khó khăn trong một tháng. Chiến dịch năm 1619 chống lại Mãn Châu với bốn mũi tiến quân riêng biệt có tổng quân số khoảng 20 vạn người cho thấy các cuộc hành binh đầy tham vọng vẫn có thể được thực hiện.

Trận Tát Nhĩ Hử (chiến dịch năm 1618-19 của liên minh: nhà Minh, Triều Tiên và Diệp hách nhằm chống lại người Nữ Chân)

Chiến dịch Tát Nhĩ Hử (1618-19)

Đầu thế kỉ 17, dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhi Cáp Xích, các bộ tộc Nữ Chân được thống nhất và ngày càng trở nên hùng mạnh. Diệp Hách là một trong những bộ tộc thân Minh còn sót lại và họ không thần phục Nỗ Nhi Cáp Xích. Đây là một trong những lí do chính khiến người Nữ Chân đụng độ với nhà Minh. Năm 1618, ông ban bố “Thất đại hận”, chính thức khai chiến với quân Minh.

Rất nhanh chóng, các thành ở Đông Bắc nhà Minh gục ngã trước vó ngựa của Nữ Chân. Sơn Hải Quan bị uy hiếp. Để đáp trả, Minh Thần Tông phong Dương Cảo làm Liêu Đông kinh lược sứ, chỉ huy cuộc hành binh, phối hợp với Triều Tiên và tộc Diệp Hách để chống lại Nữ Chân.

Liên quân bao gồm 14 vạn quân, chia làm bốn đường đánh thẳng vào kinh đô của người Nữ Chân:

  • Tây lộ quân do Tổng binh Sơn Hải quan Đỗ Tùng chỉ huy, khoảng 3 vạn quân Minh
  • Bắc lộ quân do Tổng binh Khai Nguyên Mã Lâm chỉ huy, khoảng 2,5 vạn quân Minh và 1 vạn quân bộ tộc Diệp Hách do Kim Đài Cát chỉ huy.
  • Đông lộ quân do Tổng binh Liêu Dương Lưu Đĩnh chỉ huy, khoảng 2,7 vạn quân Minh và 1,3 vạn quân Triều Tiên do Khương Hoằng Lập chỉ huy.
  • Nam lộ quân do Tổng binh Liêu Đông Lý Như Bách chỉ huy, khoảng 2 vạn quân Minh.

Dương Cảo cùng với 1,5 vạn quân đóng ở Thẩm Dương để chỉ huy toàn cục.

Lực lượng của Nỗ Nhi Cáp Xích khoảng 6 vạn người. Nhận ra những nhược điểm của quân Minh như lực lượng bị phân tán, những bất đồng trong nội bộ, khả năng thông tin liên lạc, phối hợp và kĩ năng kém, ông quyết định sẽ tập trung lực lượng giao chiến với từng đạo quân Minh một. Với ưu thế cơ động của kị binh cùng với khả năng chiến đấu vượt trội, ông đã đánh bại hoàn toàn 14 vạn liên quân chỉ trong vòng 6 ngày.

Danh tiếng của Nỗ Nhi Cáp Xích vang dội khắp miền Bắc Trung Quốc. Toàn bộ các bộ tộc Nữ Châu giờ đã quy phục ông. Đây là một trận đánh điển hình của việc vận dụng nguyên tắc tập trung binh lực và khả năng cơ động.

Trên chiến trường, thay vì cố gắng chỉ huy những đoàn quân khổng lồ được đào tạo sơ sài, các tướng thường sử dụng các đơn vị được tuyển chọn đặc biệt với quy mô không lớn hơn một tiểu đoàn làm mũi nhọn tấn công. Ví dụ như Lưu Đĩnh, vào năm 1619 ông đã dùng một lực lượng gồm 736 vệ binh trang bị trường kiếm chiến đấu ở trận tiền. Những tinh binh như vậy rất thiện chiến và hung dữ, thề chết với các chỉ huy của họ chứ nhất quyết không chạy trốn. Những đợt tấn công dữ dội của họ đã gây ấn tượng mạnh với đồng minh Triều Tiên. Tuy nhiên, với hầu hết các sĩ quan có kĩ năng chiến đấu kém, việc đánh trận trở nên tồi tệ hơn, những cách đánh đầy chiến thuật và linh hoạt được sử dụng bởi quân Minh vào thời kì đầu đã bị thay thế bằng cách tấn công toàn lực vào mặt trước với việc sử dụng ưu thế về lực lượng.

Các nhà quan sát phương Tây đã bình luận về hiệu quả đào tạo và luyện tập. Người Trung Quốc nhấn mạnh vào kĩ năng sử dụng vũ khí cá nhân hơn là phối hợp tập thể. Theo Rada, các cung thủ Trung Quốc rất khéo léo nhưng bộ binh của họ nói chung: “…các cuộc diễn tập không được thực hiện theo mệnh lệnh… các đám đông đứng tụ lại gần nhau một cách hỗn loạn”.

Có những ngoại lệ với việc suy giảm chung của quân đội. Đặc biệt nhất là Thích Kế Quang, người chỉ huy quân đội tại Chiết Giang năm 1555 với nhiệm vụ chống lại giặc Oa Khấu. Khi đã thiết lập được một tinh thần tốt hơn cho quân đội, ông đã áp dụng một hệ thống kỷ luật nghiêm ngặt. Thậm chí ông đã giết những sĩ quan tự ý rút lui trên chiến trường. Những người lính cũng được khuyến khích thông qua các bài diễn văn, các hình tượng tôn giáo. Họ được đào tạo các chiến thuật ở đơn vị nhỏ và các kĩ năng chiến đấu cá nhân một cách chuyên sâu. Ở cấp cao hơn, ông lên kế hoạch một cách cẩn thận với sự trợ giúp của các sa bàn.

Early Mandarin Duck Squad

Uyên ương trận

Sự đổi mới lớn nhất của Thích Kế Quang là việc thành lập những đội “Uyên ương” 12 người, trong đó mỗi người lính có một vai trò xác định. Bốn trong số họ được trang bị giáo dài để chiến đấu với những tên cướp biển được trang bị kiếm Nhật, những giáo binh được bảo vệ trong trận chiến tầm gần bởi hai kiếm sĩ, một ở bên phải với khiên lớn và một bên trái với lá chắn nhỏ hơn với một vài cái lao; hai người mang trúc xoa, với những cành cây trên trúc xoa sẽ gây vướng víu, giúp giữ khoảng cách với kẻ thù; canh chừng phía sau là hai người được trang bị đinh ba; những người còn lại là một sĩ quan và một người phục vụ. Sự sắp xếp này có vẻ không hiệu quả, chỉ có một phần ba trong số những người này có thể tấn công nhưng trong thực tế mà Thích Kế Quang phải đối mặt, ông có rất nhiều nông dân nhưng không có khả năng chế tạo vũ khí tinh vi, đây là một sự sắp xếp hợp lý.

Một đặc điểm nổi bật của Oa Khấu là khả năng dùng kiếm của họ, kỹ năng này được học hỏi cả ở Nhật và Trung Quốc. Họ chiến đấu, nâng và hạ gươm rất nhanh theo mệnh lệnh từ quạt của các viên chỉ huy.

Ban đầu, những tên cướp biển có kỉ luật tốt hơn và thường xuyên đánh bại quân triều đình, nhưng họ thích phòng thủ hơn là chủ động tấn công quan quân. Thích Kế Quang lưu ý rằng: “những tên cướp biển luôn luôn ngồi trên những cao điểm rình mò chúng tôi. Chúng chờ cho đến khi trời tối, lúc mà binh lính trở nên mệt mỏi. Rồi họ xuất hiện cùng những chiếc mũ bằng dây màu và sừng động vật với những tạo hình ma quái để dọa chúng tôi”.

Thích Kế Quang dần dần trấn áp được cướp biển. Năm 1568, ông được chuyển lên phía Bắc, đến Cẩm Châu, để chiến đấu với Mông Cổ. Tại đây ông cũng sáng tạo ra những chiến thuật mới phù hợp với tình hình địa phương để bộ binh có thể đối mặt với kị binh Mông Cổ trên địa hình bằng phẳng. Chiến thuật này dựa trên một nhóm 20 người được triển khai xung quanh những chiếc xe kéo hai bánh, mỗi xe trang bị hai pháo hạng nhẹ do mười người điều khiển, mười người còn lại mang những vũ khí khác nhau, bốn trong số đó sử dụng súng hỏa mai. Thích Kế Quang phản đối việc phụ thuộc quá nhiều vào súng tay, những kinh nghiệm ở phương Nam đã cho ông thấy những rủi ro với loại vũ khí này như là nhiều lúc không bắn được hay thậm chí bị nổ.

Đội hình phòng thủ trước kị binh sử dụng xe của quân Minh (nguồn: http://greatmingmilitary.blogspot.com)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (3)

PHÁO BINH QUÂN MINH

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

Súng cầm tay là một vấn đề gây tranh cãi thường xuyên vào cuối thời nhà Minh, nhưng nhìn chung, mọi người đều đồng ý tăng số lượng súng trong khả năng có thể. Năm 1530, đã có một đề nghị muốn giảm bớt số lượng quân đồn trú bằng cách tăng cường trang bị những khẩu pháo nhỏ, mỗi khẩu do ba người vận hành, điều này sẽ giúp giải phóng chín phần mười nhân lực để tăng cường cho các hoạt động nông nghiệp. Vài ngàn vũ khí đã được sản xuất trong những năm sau đó nhưng sản lượng không đủ. Trong thời gian này các đơn vị sử dụng hỏa khí truyền thống của Trung Quốc đã bắt đầu được thay thế bằng các loại vũ khí phương Tây. Những khẩu hỏa mai tân tiến được đưa vào vùng Tây Bắc Trung Quốc từ đế quốc Ottoman thông qua Turfan trong chiến dịch Hami (1513-24) và vào các vùng đất khác trong những năm 1540 bởi hải tặc Nhật Bản, những người mới sao chép chúng từ người Bồ Đào Nha. Những vũ khí này được người Trung Quốc gọi là “điểu thương”, có lẽ do lúc điểm hỏa giống như con chim đang mổ xuống. pháo Phật Lăng Cơ (Frankish cannon) có lẽ đã được người Trung Quốc thu được lần đầu tiên vào năm 1523 trên hai con tàu Bồ Đào Nha bị bắt, sau đó họ đã sản xuất loại pháo này vào năm 1529. Ban đầu,”pháo Phật Lăng Cơ” được dùng để gọi những khẩu súng nạp hậu làm bằng sắt gắn trên những tàu chiến Bồ Đào Nha, nhưng thuật ngữ này sau này còn được dùng để gọi cả những khẩu súng lớn nạp tiền làm bằng sắt hoặc đồng và những phiên bản sao chép nhẹ và di động hơn làm bằng gỗ. Dường như ở từng khu vực khác nhau, chất lượng của những loại hỏa khí cũng khác nhau. Rada đã mô tả pháo Trung Quốc rất nhỏ và yếu đuối. Juan de Mendoca vào năm 1585 lại mô tả khẩu pháo “thật to lớn và vĩ đại, tốt hơn cả những khẩu pháo của chúng ta”. Phương pháp sử dụng pháo cũng rất phức tạp: một ghi chép lịch sử địa phương tại Tô Châu dưới thời Sùng Trinh đã mô tả lại những người lính đã dùng kính viễn vọng trong một trận chiến chống lại Lý Tự Thành, trước khi khoa học kĩ thuật được áp dụng rộng rãi ở châu Âu.

Kết quả hình ảnh cho súng trung liên

Đội hình quân Minh với súng hỏa mai

Vào cuối thể kỉ 16, pháo binh hạng nặng ở châu Âu đã vượt trội hơn so với pháo binh Trung Quốc. Những khẩu pháo ở Trung Quốc gần như đã biến mất, chỉ còn được dùng để bảo vệ cho các bức tường thành, nơi mà tính di động và tốc độ bắn của chúng ít quan trọng hơn khi ở trên những chiến trường trống trải. Trong thời kì trị vì của vua Thiên Khải (1621-27) họ thậm chí còn thờ cúng những khẩu đại pháo như những vị thần. Nhà Minh thường tìm kiếm sự trợ giúp của những người châu Âu, những người được coi là chuyên gia trong việc sử dụng pháo, trong cuộc chiến chống lại Mãn Châu. Năm 1621, ba khẩu pháo Bồ Đào Nha do những nô lệ châu Phi điều khiển đã đánh bại quân Mãn Châu mà không cần hỗ trợ từ bên ngoài.

Hong Yi Po

Định Liêu Đại tướng quân, pháo được đúc bằng sắt và đông, bảo tàng tỉnh Liêu Ninh

Chiến thắng này chủ yếu là nhờ khả năng sử dụng pháo của họ, được kế thừa từ những nhà truyền giáo được phép cư trú ở Bắc Kinh. Matteo Ricci là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên được cư trú tại Bắc Kinh vào năm 1602, ông sớm bị buộc phải sản xuất súng cho nhà Minh, tiếp đó là Adam Schall vào năm 1642.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Một số người bảo thủ và bài ngoại đã phản đối việc sử dụng vũ khí nước ngoài. Cuối năm 1642, Lưu Tôn Chu đã khuyên hoàng đế không sử dụng các vũ khí phương Tây với lý do các triều đại Đường và Tống vẫn cai trị được mà không cần có chúng. Trên thực tế, những người lính ở nhiều khu vực không quen thuộc với súng và những người thợ Trung Quốc thiếu kinh nghiệm chế tạo súng. Năm 1630, Từ Quang Khải cho rằng việc sản xuất thuốc súng và sử dụng hỏa khí nên giao hẳn cho người châu Âu, ông cũng phớt lờ ý kiến của hoàng đế muốn tăng hiệu quả các khẩu pháo ngoại nhập bằng việc tăng lượng thuốc phóng. Những tai nạn thuốc súng thường xuyên xảy ra với người Trung Quốc. Hàng trăm người đã chết trong một vụ nổ vào năm 1605, những người lính phát hiện ra thuốc súng của họ đã đóng cục lại sau một thời gian dài lưu trữ, họ dùng búa để làm tan thuốc súng và vụ nổ đã xảy ra.

Trận Liêu Dương (1621), có thể thấy quân Minh sử dụng khá nhiều hỏa khí để chống lại kị binh Nữ Châu khi thủ thành.

Ngay cả vào cuối thời nhà Minh, đa số binh lính vẫn được trang bị những vũ khí truyền thống. Kị binh chủ yếu dùng cung, với kĩ thuật kị xạ được học từ Mông Cổ. Kị binh suy yếu ngay từ đầu thời Minh vì thiếu ngựa, một vấn đề thường gặp phải ở các triều đại không tiếp cận được với những đồng cỏ phía Bắc. Bộ binh sử dụng cung, nỏ, trường kiếm và vũ khí cán dài và những loại vũ khí khác được mô tả trong Võ Bị Chí. Giáp trụ chủ yếu là lamellar và brigandine được làm từ da hoặc các tấm sắt , được trang bị chủ yếu cho kị binh và các sĩ quan. Phần lớn bộ binh không được trang bị giáp.

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

Vạn lý trường thành là thành tựu quân sự nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Được xây dựng lần đầu dưới thời Tần (215 TCN) sau đó được nhà Hán xây mới thêm rất nhiều. Bức tường được mở rộng về phía Tây đến tận Cam Túc. Những năm sau đó, việc xây dựng bị gián đoạn lại một thời gian. Vạn lý trường thành ngày nay là sản phẩm được xây dựng dưới thời nhà Minh.

Bản đồ Đông Bắc Á (1620-1630)

Ý thức được sự nguy hiểm của các bộ tộc phương Bắc, nhà Minh đã cho xây dựng các công trình phòng thủ dọc biên giới ngay từ những năm 1370. Việc xây dựng bức tường một cách có hệ thống được bắt đầu tại Ordos dưới thời Binh bộ thượng thư Yu Tzu-chun vào năm 1480. Năm 1540, mối đe dọa ngày một tăng đến từ nước Mông Cổ mới của Altan Khan đã thúc đẩy việc thay thế những bức tường đất đã bị xói mòn bằng những bức tường mới được xây từ gạch và đá. Lực lượng xây dựng những bức tường này là những đội quân đóng tại địa phương. Đây là một trong các phản ứng để đối phó lại với những cuộc tấn công của quân Mông Cổ. Nhiều đoạn tường thành đã được xây đi xây lại rất nhiều lần do bị người Mông Cổ tàn phá trong những đợt tiến quân.

Sơn Hải quan ngày nay

Bức tường cũng thể hiện những thăng trầm trong nền chính trị nhà Minh. Sự đấu đá giữa những người theo đuổi một chính sách tấn công hung hăng và những người chỉ muốn phòng thủ.

Một số đoạn tường thành ở phía Tây không được xây bằng đá và hiện tại chỉ còn lại một chút tàn tích. Một số đoạn khác, như ở Đại Đồng và Bắc Kinh được xây dựng vững chắc hơn rất nhiều. Tại Bát Đạt Lĩnh, phía Bắc kinh đô, bức tường có chiều cao trung bình khoảng 24 feet (khoảng 7,3m) rộng 20 feet (6m) ở chân và 16 feet (4,9m) trên bề mặt, đủ để năm kị mã đi song song. Bề mặt của nó được bọc đá, bên trên có hàng rào với lỗ châu mai. Cứ 150 yard (137m) lại có một tháp lửa truyền tin, cứ 300 yard (274,3m) có một tháp canh được trang bị vũ khí hạng nặng như pháo hoặc nỏ hạng nặng.

Kết quả hình ảnh cho manchu conquest of china

Sơn Hải quan (1644), có thể thấy hệ thống phòng thủ ở khu vực này của quân Minh với một loạt các đồn, pháo đài và tường thành được xây dựng dựa trên những chướng ngại tự nhiên

Ba pháo đài quan trọng trên bức tường là Gia Dục quan, “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” thuộc núi Gia Dục, nằm ở điểm cực tây của Vạn lý trường thành. Tuy được xây dựng vào năm 1372 nhưng phải đến năm 1570 mới được liên kết với phần còn lại của bức tường. Thứ hai là Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh, được xây dựng vào năm 1580. Cuối cùng là Sơn Hải quan ở điểm cực Đông, trên vịnh Bột Hải. Sơn Hải quan được xây dựng để đối phó với sự lớn mạnh của người Nữ Chân trong những năm cuối thế kỉ 16, nhưng cuối cùng thì Ngô Tam Quế, người trấn giữ Sơn Hải quan lại mở cửa cho người Nữ Chân tiến vào Trung Nguyên vào năm 1644. Từ đó, người Nữ Châu sở hữu cả hai phía bức tường.

role_2_1_c56f825.png

Sàng nỏ

Vào cuối thế kỉ 16, bức tường được chia thành chín đoạn, có thể được hiểu như chín khu quân sự được chỉ huy bởi các vị tướng. Ở các khu vực ít quan trọng, chỉ có những đội tuần tra canh giữ. Ngược lại, ở những vùng trọng điểm, bức tường là trung tâm của một hệ thống phòng thủ phức tạp. Các pháo đài được xây dựng ở cả hai phía bức tường để chống đỡ các cuộc tấn công hoặc là những điểm tựa cho những cuộc phản công.

Ngay trước bức tường là một dải cát để theo dõi những hành động của quân địch. Các cuộc tấn công có thể được cảnh báo một cách rõ ràng bằng pháo hiệu là lửa. Ví dụ, một đợt tấn công của khoảng 100 quân địch sẽ được báo hiệu bằng một phát pháo hiệu và một đống lửa, năm phát súng và năm đống lửa để báo hiện cho một cuộc tấn công của 1 vạn người. Khói màu và những người truyền tin được dùng để truyền tải những thông tin cụ thể, đầy đủ hơn.

Đằng sau bức tường là những điểm đóng quân được xây dựng kiên cố với tường bao xung quanh bảo vệ. Những cây nỏ lớn và pháo được trang bị trên những tháp canh. Giá trị của hỏa khí trong việc chống lại những đội kị binh du mực đã được công nhận từ rất sớm. Từ năm 1412, pháo đã được triển khai ở các pháo đài phía Bắc. Số lượng hỏa khí được cung cấp khá lớn. ở Thiểm Tây trong giai đoạn 1536-38, hơn 9300 khẩu súng đã được trang bị.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (4)

ĐỤNG ĐỘ VỚI CHÂU ÂU

Trong khi nhà Minh đang bận rộn với các vấn đề ở khu vực biên giới phía Bắc thì mối đe dọa mới đã xuất hiện ở phía Nam. Năm 1498, người Bồ Đào Nha tìm ra con đường vòng qua mũi Hảo Vọng đến phương Đông. Năm 1511, họ chiếm được Malacca, một thành bang thuộc quần đảo Malay, lúc này đang thần phục nhà Minh. Năm 1517, đội tàu đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Trung Quốc để thực hiện những hoạt động thương mại trong hòa bình. Ba năm sau, một nhóm khác dưới quyển Siman Andrade đã phá hoại mối quan hệ hữu nghị đang trong quá trình xây dựng ban đầu bằng cách tấn công các con tàu Trung Quốc gần Quảng Châu và xây dựng một pháo đài trái phép ở ngoài khơi. Một trận chiến nhỏ đã nổ ra. Sau dó, người Bồ Đào Nha đã được phép kinh doanh tại Thượng Xuyên đảo và Ninh Ba đến khi họ tự phá hoại mối quan hệ này một lần nữa bằng các hoạt động cướp biển. Trong những năm 1540, họ thường hợp tác với Oa Khấu (cướp biển Nhật Bản) trong việc buôn lậu hàng hóa vào vùng Đông Nam. Năm 1557, họ lập một căn cứ trên bán đảo Macao. Căn cứ này được nhà Minh công nhận một cách không chính thức. Địa điểm này đã nhanh chóng trở thành thương cảng chính của Trung Quốc và châu Âu.

Hoạt động của Oa Khấu thế kỉ 16

Tây Ban Nha là quốc gia thứ hai thiết lập quan hệ với Trung Quốc. Họ mua căn cứ tại Philippines vào những năm 1560. Sau năm 1567, khi Hải cấm bị dỡ bỏ, các hoạt động thương mại ngày một phát triển. Như chúng ta đã thấy, người châu Âu thế kỉ 16 coi thường sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Mới giành được thắng lợi ở châu Mỹ, người Tây Ban Nha cũng có những tham vọng tương tự ở châu Á. Một số kế hoạch chinh phục Trung Quốc đã được đưa ra. Đáng chú ý nhất là kế hoạch của Andres de Mirandola được phác thảo trong một bức thư gửi vua Philip II vào năm 1569. Vì những xáo trộn xảy ra khi tên cướp biển Lâm Phụng bất ngờ tấn công Manila (lúc này đang của Tây Ban Nha), kế hoạch không bao giờ trở thành hiện thực. Khi tấn công Manila, Lâm Phụng đã sử dụng những con tàu trông giống tàu của người Bồ Đào Nha gây nên một số nhầm lẫn. Người Tây Ban Nha đã hợp tác với tư lệnh hải quân tỉnh Phúc Kiến để bắn Lâm. Nếu kế hoạch thành công, người Tây Ban Nha sẽ nhận được một căn cứ tại Hạ Môn. Nhưng đáng tiếc kế hoạch vây bắt đã thất bại.

 

Năm 1622, môt hạm đội Hà Lan đã chiếm quần đảo Pescadores (Bành Hồ) ngoài khơi bờ biển phía Nam và sử dụng nơi đây như một bàn đạp để tiếp cận Trung Quốc. Nhà Minh lại tiếp tục ngăn cấm thương mại. Họ muốn tước đoạt những nguồn lợi mà người Hà Lan vất vả có được. Tuy nhiên, điều này chỉ có tác dụng thúc đẩy thêm nhiều cư dân địa phương chuyển sang làm cướp biển và đi buôn lậu. Hải tặc Trung Quốc phái triển mạnh ở khu vực duyên hải phía Nam dưới sự lãnh đạo của Trịnh Chi Long. Năm 1624, bằng một cuộc hành quân, người Minh đã đẩy người Hà Lan ra Đài Loan.

Nhìn chung, người châu Âu đã tạo cho người Trung Quốc những ấn tượng xấu. Những hành vi chứa đựng màu sắc bạo lực và tạo nên tình trạng bất ổn đã củng cố cho những chính sách biệt lập của nhà Minh và sau này được tiếp nối bởi Mãn Châu.

NHÀ MINH SỤP ĐỔ

Kết quả hình ảnh cho shenyang

Cờ hiệu và hệ thống màu sắc trang phục của Bát kì, lần lượt từ trái qua phải: Chính Lam kỳ, Chính Hồng kỳ, Chính Bạch kỳ, Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Tương Bạch kỳ, Tương Hồng kỳ, Tương Lam kỳ. 

Vào thế kỉ 16, người Nữ Chân, hậu duệ của Kim quốc đã từng chiếm đóng miền Bắc Trung Quốc vào thế kỉ 12, vẫn đang sinh sống ở Mãn Châu. Lúc này họ là những chư hầu của nhà Minh, được nhà Minh phong là “thủ lĩnh Kiến Châu”. Cuối thế kỉ 16, họ cũng đã chiến đấu bên cạnh quân Minh trong chiến tranh Triều Tiền với Nhật Bản. Tuy nhiên, vào năm 1583, một trong những thủ lĩnh của người Nữ Chân là Nỗ Nhi Cáp Xích đã bắt đầu quá trình thống nhất các bộ lạc riêng lẻ thành một nhà nước tập quyền. Năm 1601, ông thành lập hệ thống “Bát kì”, giống như hệ thống “Mãnh an Mưu khắc” (meng-mou-k’o) của Nữ Chân thời trước. Hệ thống Bát kì tổ chức toàn bộ dân chúng thành các đơn vị chiến đấu và các đơn vị phu dịch. Năm 1616, Nỗ Nhi Cáp Xích đã thể hiện sức mạnh và tính chính danh của mình bằng việc tự xưng là Thiên Mệnh đế – hoàng đế của Hậu Kim (học theo mẫu hình Trung Quốc).

Click the image to open in full size.

Người Nữ Chân

Năm 1618, gần như tất cả các bộ tộc Mãn Châu đã công nhận sự cai trị của Nỗ Nhi Cáp Xích những vẫn còn hai ngoại lệ là bộ tộc Yehe và Haishi. Hai bộ tộc này vẫn nằm dưới sự bảo trợ của nhà Minh, điều này sẽ đặt Nỗ Nhi Cáp Xích vào một cuộc xung đột với Trung Quốc. Mãn Châu đã bắt đầu chiến tranh bằng việc tấn công chiếm đóng Phủ Thuận và tiêu diệt một đội quân Minh đến tiếp viện.

Hình ảnh có liên quan

Kị sĩ Mãn châu này được trang bị cung tên, súng và giáo (giáo có một đoạn dây ở cán để có thể đeo sau lưng khi không dùng đến)

Để đáp trả, nhà Minh đã huy động 200.000 quân dưới sự chỉ huy của Dương Cảo, bao gồm cả bộ tộc Yehe (Diệp Hách) và các đồng minh Triều Tiên. Vào tháng 4 năm 1619, đội quân này vượt qua biên giới, chia thành bốn đường tiến đánh thủ đô Mãn Châu: Hách Đồ A Lạp (Hetu-ala, Liêu Ninh).

Với ưu thế cơ động của kị binh Mãn Châu và Mông Cổ, Nỗ Nhi Cáp Xích đã đánh bại 3 đạo quân Minh tại Sarhu, Siyanggiayan và Niu-mao-chai bằng cách tập trung chiến đấu với từng đạo quân một. Đạo quân thứ thư vội vã rút lui. Liêu Đông nhanh chóng rơi vào tay Mãn Châu. Viên Kinh lược Liêu Đông Phùng Đình Bản đã có thể cứu vãn tình hình bằng kế hoạch cố thủ ở Trường thành của ông nhưng một thuộc hạ đã tự ý tấn công Nỗ Nhi Cáp Xích dẫn đến sự thất bại của toàn quân vào năm 1621. Phùng Đình Bản bị xử tử vì thua trận.

Quá trình chinh phục Trung Hoa của Mãn Châu không hề dễ dàng. Năm 1626, quân Minh với sự vượt trội về vũ khí đã đánh bại họ tại thành Ninh Viễn. Nỗ Nhi Cáp Xích bị thương và rất có thể đây là nguyên nhân cho cái chết của ông không lâu sau đó (lời người dịch: sau trận Ninh Viễn lần hai, Nỗ Nhi Cáp Xích còn tổ chức các cuộc hành quân sang phía Tây để đánh Mông Cổ nên thông tin ông chết do bị thương trong trận Ninh Viễn có thể không chính xác). Họ cũng gặp khó khăn trong việc cai trị các cư dân Trung Quốc tại những vùng lãnh thổ mới chiếm được. Những nỗ lực hòa hợp dân tộc đều bị cản lại bởi những vị tướng quý tộc Nữ Chân bảo thủ thích cướp bóc và chiến tranh hơn là cai trị lâu dài. Hai cuộc thảm sát tự phát của những viên tướng tại Vĩnh Bình và Thiên An vào năm 1629 sau khi hai nơi này rơi vào tay quân Mãn Châu là một trong những ví dụ tiêu biểu.
Khi chiếm được Vĩnh Bình, người Mãn Châu đã thu giữ được một số khẩu súng được đúc theo kiểu phương Tây và cả những người thợ chế tạo. Đến năm 1631 họ đã đúc được những khẩu pháo của riêng mình. Ưu thế về vũ khí của quân Minh dần dần bị phá vỡ.

Kết quả hình ảnh cho manchu cavalry

Ngoài ra, người Mãn Châu còn có thêm một lợi thế là những bất ổn đang gia tăng từng ngày trong nội bộ nhà Minh. Những cuộc nổi loạn của dân chúng ngày càng gia tăng do việc đánh thuế không công bằng, tham nhũng và nghèo đói do nạn nhân mãn và thiên tai. Nhà Minh đã trở thành một “triều đại bị trời nguyền rủa” theo quan niệm của người Trung Hoa. Vào giữa những năm 1620, triều đình đã mất kiểm soát một số khu vực.

Năm 1627, tỉnh Thiểm Tây là tâm điểm của một cuộc nổi dậy dữ dội. Những cư dân ở đó có kĩ năng chiến đấu, thậm chí một số người là những tay kị mã giỏi. Bị cái đói thúc đẩy, họ hợp lại thành những đội quân lớn. Đến giữa những năm 1630, những đội bạo dân này tiến xuống các vùng đồng bằng tại sông Hoàng Hà và Dương Tử.

Các nhóm nổi dậy đã liên kết lại thành những đạo quân. Một trong số đó là Trương Hiến Trung với biệt danh “hoàng hổ”. Ông là một tên bạo chúa với những cuộc thảm sát kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung Hoa. Vào năm 1642, để tránh áp lực từ quân Minh, ông di chuyển từ hạ lưu sông Dương Tử lên Thành Đô, Tứ Xuyên và bắt đầu thời kì khủng bố của mình. Ông cướp đất đai, tài sản và bắt giữ những người thuộc tầng lớp trên. Ngoài ra, Trương cũng tàn sát toàn bộ các quan chức và học giả mà ông tìm được. Những kẻ dưới quyền bất tuân cũng phải chịu đựng kết cục tương tự. Con số nạn nhân được những người cùng thời phóng đại lên đến 600 triệu, cao hơn rất nhiều lần dân số trên toàn lãnh thổ Trung Hoa thời kì đó. Ông gần như đã xóa sổ được hoàn toàn tầng lớp thượng lưu ở Tứ Xuyên. Quyền lực của ông được duy trì đến năm 1647 thì bị Mãn Châu tiêu diệt.

Mạnh mẽ và nguy hiểm hơn là Lý Tự Thành, ông tự giới thiệu mình là một người bảo vệ nhân dân. Rất nhiều người đã ủng hộ và quay sang làm việc cho ông sau khi triều Minh sụp đổ. Năm 1643, ông lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Đại Thuận. Tháng 5 năm 1644, ông tiến vào Bắc Kinh. Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh là Sùng Trinh tự sát.

Tuy nhiên, việc thành lập chính quyền mới đã bị cản trở bởi Ngô Tam Quế, viên tướng đang trấn giữ tại Sơn Hải quan ở phía Đông Bắc, nay đã liên minh với Mãn Châu. Liên minh giữa Ngô Tam Quế và Mãn Châu đã đánh bại Lý Tự Thành bên ngoài Sơn Hải quan. Người Mãn Châu dưới sự dẫn dắt của Đa Nhĩ Cổn đã nắm lấy cơ hội và đã không mất nhiều thời gian cũng như công sức để chiếm được Bắc Kinh. Một triều đình mới được thành lập, nhà Thanh. Lý Tự Thành rút lui về phía Tây, tăng cường phòng thủ Đồng Quan để ngăn chặn những đợt tấn công truy kích. Đầu năm 1645, hoàng tử Đa Đạc đã dẫn đầu một cuộc hành quân về phía Tây và đã tiêu diệt Lý Tự Thành và tàn quân.

Đa Đạc

Với việc tập trung cao độ mọi nguồn lực ở kinh đô, đánh mất Bắc Kinh là một tổn thất nặng nề với nhà Minh. Không có một nơi nào khác trên đế quốc có nguồn lực đủ mạnh để xây dựng lại thế lực. Tuy nhiên, nhà Minh không sụp đổ ngay lập tức. Một người trong hoàng tộc đã được chọn để kế vị. Kinh đô mới được đặt tại Nam Kinh. Triều đình Nam Minh ra đời. Sự yếu đuối của chính quyền mới đã nhanh chóng trở nên rõ ràng. Triều đình bị chia rẽ vì những tranh chấp giữa các hoàng tử. Quân đội đã bị Mãn Châu đánh cho tan tác. Số tàn binh còn lại, tuy số lượng vẫn còn hàng trăm ngàn nhưng đã không còn sức chiến đấu. Không có tiền hay lương thực để nuôi quân đội, những đội tàn binh này nhanh chóng trở thành những toán cướp. Thay vì là những người bạn, những người bảo vệ, họ nhanh chóng trở thành kẻ thù của nhân dân.

Nhà Thanh tiêu diệt Nam Minh
Đa phần những người có thế lực ở Trung Hoa lúc đó đã coi Mãn Châu là thế lực duy nhất có sức mạnh để phục hồi trật tự. Có nhiều sự chống đối đã diễn ra, đặc biệt xung quanh sắc lệnh buộc người Trung Quốc phải để kiểu tóc và ăn mặc theo kiểu Mãn Châu. Những thủ lĩnh còn lại của nhà Minh đã khổng muốn hoặc không thể huy động những sự chống đối này. Năm 1645, Chin Sheng (Tiến Thịnh ?) đã cố gắng tổ chức lực lượng dân quân ở Giang Nam, ông quân sự hóa toàn bộ dân làng, kể cả những người phụ nữ cũng được dạy cách chiến đấu.

Nhưng việc này đã không được những người đồng sự của ông chấp nhận, nhất là khi quân sự hóa người dân. Một trong những nhân vật phản đối nổi bật là Dương Đình Thục (Yang T’ing-shu ?), người được mời tham gia vào một nhóm du kích thân Minh tại Tô Châu. Ông công nhận lòng trung thành với nhà Minh của họ, nhưng lại hỏi: “Lực lượng sẽ lấy từ đâu?”, “Từ người dân”, “Nếu đúng như vậy” Dương nói “Thì các ông là kẻ cướp, nó có quan hệ gì với lòng trung thành?”.

Cuộc phản công của quân Minh vào năm 1645 thất bại. Đa Dạc dẫn quân xuống đồng bằng sông Dương Tử, các viên chỉ huy địa phương đầu hàng một cách nhanh chóng. Đầu tháng 6, Mãn Châu vượt sông Dương Tử tại Trấn Giang, Nam Kinh nhanh chóng sụp đổ. Những người trung thành với nhà Minh rút xuống vùng bờ biển phía Đông Nam. Các đợt tấn công của quân Mãn Châu trong giai đoạn 1646-50 đã bào mòn lực lượng còn sót lại này. Trong cơn tuyệt vọng, nhà Minh kêu gọi sự giúp đỡ từ Nhật Bản và Bồ Đào Nha. Nhật Bản im lặng, người Bồ Đào Nha trợ giúp bằng cách gửi 300 tay súng từ Macao. Những tay súng này đã tham gia chiến đấu một cách kiên cường trong trận đánh phòng thủ Quế Lâm dưới sự chỉ huy của một viên tướng Trung Quốc theo Thiên Chúa giáo, Cù Thức Tỷ. Năm 1659, Vĩnh Lịch đế, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Minh đã phải trốn sang Miến Điện. Hai năm sau, Ngô Tam Quế, lúc này đang chiến đấu cho nhà Thanh đã truy sát và buộc người Miến Điện phải giao nộp Vĩnh Lịch. Triều đình Nam Minh sụp đổ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (5)

QUÂN ĐỘI NHÀ THUẬN

Khi thành lập vương triều Thuận vào năm 1643, Lý Tự Thành có khoảng 6 vạn binh sĩ. Số binh sĩ này được tổ chức thành năm đạo quân, sau đó được chia thành các đơn vị nhỏ hơn, mỗi đơn vị này bao gồm 50 kị binh, 150 bộ binh và 30-40 phu dịch. Đạo quân lớn nhất có 100 đơn vị như vậy, 130 đơn vị còn lại được chia đều cho bốn đạo quân. Có lẽ lấy cảm hứng từ việc cùng họ với các hoàng đế nhà Đường, Lý Tự Thành đã cố gắng thể hiện tính chính danh của mình bằng việc dùng một loạt các chức hiệu thời Đường để phong cho thuộc hạ.

Trong công cuộc kiến quốc của mình, quân đội của Lý đã bị quân Minh đánh tan sau thất bại tại Tzu-t’ung vào năm 1638. Sau đó, ông đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Ma Shouying (Mã Châu Dĩnh), một lãnh tụ của phong trào Hồi giáo ở Tây Bắc Trung Hoa. Mã đã cho ông ta binh lính để xây dựng lại quân đội. Những tín đồ Hồi giáo chiếm vị trí quan trọng trong lực lượng Thuận quân, thậm chí có tin đồn cho rằng, Lý Tự Thành đã theo Hồi giáo. Các lực lượng Hồi giáo hợp tác với Lý Tự Thành đã tồn tại lâu hơn ông ta. Họ đã chiến đấu chống lại Mãn Châu cho đến tận khi bị Mạnh Kiểu Phương tiêu diệt vào năm 1650.

Ban đầu, trang bị của Nghĩa quân Thiểm Tây rất kém, nhưng họ đã phát triển một cách nhanh chóng và đến năm 1640, có một số lượng lớn hỏa khí đã được trang bị. Không chỉ đơn giản là cướp được của quân triều đình, họ còn tự đúc được hỏa khí cho riêng mình. Một viên quan Minh đã than thở: “Những gì chúng ta có (vũ khí) không thể sánh với chúng”. Chiến thắng của Lý Tự Thành trước Tả Lương Ngọc vào năm 1642 là nhờ những ưu thế về pháo binh. Kị binh của Thuận quân cũng rất mạnh mẽ. Một số nguồn cho rằng rất nhiều bộ binh Thuận quân đã sử dụng ngựa khi di chuyển. K’ou-shih pien-nien (?) đã mô tả cảnh tượng Thuận quân vượt sông trên lưng các con ngựa. Khi tiến vào Bắc Kinh năm 1644, Thuận quân có đồng phục là áo khoác xanh và mũ trắng.

Sấm vương Lý Tự Thành

Nghĩa quân ban đầu có kỉ luật khá tốt, sau khi Bắc Kinh thất thủ, tính kỉ luật suy giảm nghiêm trọng. Lý Tự Thành không muốn sử dụng lại các viên quan nhà Minh vì những ác cảm về nạn tham nhũng. Ông tổ chức trưng thu và đã lấy được được rất nhiều tài sản có được nhờ tham nhũng của các viên chức nay. Cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn tồn tại dai dẳng. Không đủ tiền để nuôi quân, những người lính trở thành kẻ cướp. Cho rằng chiến tranh đã kết thúc, rất nhiều binh sĩ đã chiến đấu một cách miễn cưỡng khi Mãn Châu tấn công xuống phía Nam. Thuận quân sụp đổ hoàn toàn trong trận chiến với Mãn Châu tại Sơn Hải quan. Quân Mãn Châu được cư dân Bắc Kinh chào đón như nhưng người giải phóng.

THANH TRIỀU (1644-1842)

Trung Hoa vào tháng 11  năm 1644, Màu vàng là lãnh thổ Nam Minh, màu đỏ là nước Đại Tây của Trương Hiến Trung, màu nâu là Đại Thuận của Lý Tự Thành, màu xanh là Mãn Thanh

Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục Trung Hoa, Mãn Châu phải mất một thời gian để ổn định tình hình. Trịnh Thành Công, con trai của hải tặc nổi tiếng – Trịnh Chi Long, vẫn đang duy trì thế lực của mình ở vùng duyên hải Đông Nam. Ông cố gắng tập hợp lực lượng và xây dựng phong trào thân Minh ở đây. Năm 1655, với 250.000 người và 2.300 tàu thuyền, ông phát động một cuộc Bắc tiến với tham vọng khôi phục nhà Minh. Mãn Thanh đã phái một hạm đội ra ngăn chặn. Tuy nhiên do thiếu kinh nghiệm hàng hải, hạm đội này đã bị một cơn bão đánh tan. Năm 1659, Trịnh Thành Công bao vây Nam Kinh, một trận chiến lớn trên đất liền đã nổ ra, Mãn Châu đã đẩy được Trịnh Thành Công ra khỏi đại lục.

Bản đồ khu vực kiểm soát của Trịnh Thành Công, màu đỏ là những khu vực ông từng chiếm giữ, màu hồng là khu vực kiểm soát.

Ông rút đến Đài Loan, lúc này đang bị người Hà Lan chiếm đóng với những công trình phòng thủ kiên cố như pháo đài Zeelandia. Sau chín tháng vây hãm, Trịnh Thành Công đã giành lại được Đài Loan từ tay Hà Lan. Đáng tiếc, ông mất ngay sau đó. Những người kế nhiệm ông giữ được Đài Loan thêm 20 năm nữa thì bị quân Thanh tiêu diệt. Đài Loan là một hòn đảo nghèo, tình hình càng trở nên khó khăn hơn cho nghĩa quân khi quân Thanh cố gắng cô lập hòn đảo. Chính quyền của Trịnh Thành Công không đủ khả năng tài chính để duy trì một lực lượng quân đội cũng như tàu thuyền đủ mạnh để quay trở lại đại lục. Năm 1664, nhà Thanh đã kiểm soát được hoàn toàn bờ biển Đông Nam. Tiếp đó vào năm 1683, họ chiếm được Đài Loan.

Tập tin:Zeelandia model.JPG

Mô hình phục chế thành Zeelandia

 

Năm 1673, “Loạn Tam phiên” (Tam phiên chi loạn) đã bùng nổ ở phía Nam Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng này nổ ra do những sai lầm của vị hoàng đế trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm: Khang Hi. Để nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh người Hán, các vị hoàng đế tiền nhiệm đã trao cho họ khá nhiều quyền lực. Thế lực của các phiên vương này đã khiến cho Khang Hi e ngại đến mức ông quyết định phải áp chế họ. Vị phiên vương quyền lực nhất là Ngô Tam Quế. Ông được giữ lại quyền chỉ huy quân đội sau chiến dịch xâm chiếm Miến Điện và đã biến vùng đất phía Tây Nam thành vương quốc của riêng mình. Thế lực của Ngô Tam Quế ngày càng lớn mạnh nhờ lợi nhuận từ các mỏ khoáng sản và các tuyến đường thương mại. Ông xưng đế, lập ra nhà Chu và tuyên bố sẽ chiếm đóng toàn cõi Trung Hoa. Nhưng các vị tướng người Hán khác vẫn trung thành với nhà Thanh. Năm 1676, với việc hai đồng minh chính là Vương Phụ Thần và Cảnh Tinh Trung phản bội, thế lực của Ngô Tam Quế suy yếu nhanh chóng. Ông mất vào năm 1678, cháu của ông là Ngô Thế Phan lên kế vị. Quân Thanh đánh đến Côn Minh, thủ phủ của chính quyền họ Ngô. Năm 1681, Ngô Thế Phan tự tử, cuộc nổi dậy bị dập tắt.

Nội loạn ở Trung Hoa cuối thế kỉ 17 (Wu San-kuei: Ngô Tam Quế, Keng Ching-chung: Cảnh Tinh Trung, Wang Fu-ch’en: Vương Phụ Thần, Shang Chih-hsin: Thượng Chi Tín, Ch’ing: Thanh)

Mặc cho những tai tiếng trước đây khi mở cửa cho Mãn Thanh vào Trung nguyên cũng như việc lập ra một triều đình mới (triều Chu), Ngô Tam Quế vẫn tự nhận mình là một người trung thành với nhà Minh. Những người lính của ông để tóc kiểu Hán. Họ sử dụng mũ trắng, cờ trắng với ý nghĩa để tang vua Minh. Quân đội của Ngô Tam Quế còn có một lực lượng tượng binh bao gồm 45 con voi. Không rõ đơn vị này được hình thành từ bao giờ, có lẽ những con voi này được cung cấp nhờ mối liên hệ với Miến Điện.

Sau thất bại của loạn Tam phiên, đa phần lãnh thổ Trung Quốc được sống trong thái bình dưới sự cai trị của một loạt các vị hoàng đế tài năng như Khang Hi (1661-1722), Ung Chính (1723-36) và Càn Long (1736-96). Những pháp lệnh được áp dụng một cách cứng rắn, tham nhũng được kiểm soát và áp lực thuế lên người dân tương đối nhẹ. Trong phần lớn thế kỉ 18, Trung Quốc đã có một thời kì thịnh vượng chưa từng thấy. Bắt đầu từ thời Khang Hi, đế chế đã có thể thực hiện được một loạt các chiến dịch quân sự mở rộng lãnh thổ và đã trở thành đế quốc rộng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Một trong những mối đe dọa từ bên ngoài đầu tiên xuất hiện đến từ Nga. Người Nga từ Siberia di chuyển sang phía Đông và phía Nam. Vào năm 1652, họ xâm nhập thung lũng Amur (Hắc Long Giang) ở Mãn Châu, tàn sát một loạt các bộ lạc bản địa đang là chư hầu của nhà Thanh. Nhà Thanh đã đuổi họ đi nhưng hai năm sau họ quay lại. Người Nga cố gắng dùng thuyền đi dọc sông Sungari, một nhánh của Amur, để tiến vào Mãn Châu. Vào mùa xuân năm 1658, họ bị một đội tàu pháo của nhà Thanh chặn lại và phải chịu thất bại nặng nề. Trong năm 1685, một trận chiến lại nổ ra tại pháo đài Albazin của Nga ở Amur. Những căng thẳng được giải quyết trong một cuộc đàm phán vào năm 1689 giữa đại sứ Nga và viên đại học sĩ nhà Thanh: Sách Ngạch Đồ, người đang được hậu thuẫn bởi một đội quân hùng hậu gồm 15.000 người và 50 khẩu pháo. Người Nga, lúc này chỉ có 2000 quân trong khu vực, đã phải đồng ý hòa bình. Thỏa thuận này, hay còn được biết dưới cái tên “Hiệp ước Nerchinsk”, là hiệp định đầu tiên giữa Trung Quốc và một cường quốc châu Âu. Người Trung Quốc rõ ràng đã đạt được một thắng lợi to lớn về ngoại giao khi quyền cai trị miền Bắc Mãn Châu của họ được công nhận và duy trì cho đến tận những năm 1850.

Quân Thanh tấn công pháo đài Albazin (có thể thấy những bị binh quân Thanh bên góc dưới bên trái)

Đông Mông Cổ (hay còn được gọi là Khalka) đã liên minh với Mãn Châu từ trước khi người Mãn Châu chinh phục Trung Hoa. Tuy nhiên, xa hơn về phía Tây, một nhóm các bộ tộc độc lập được gọi là Oirats đã chiếm vùng lưu vực Tarim và Tây Tạng, thành lập một quốc gia thù địch luôn muốn gây chiến với nhà Thanh. Năm 1686, đại hãn Cát Nhĩ Đan (Galdan khan) đã phát lệnh tấn công Khalka, chính thức với nhà Thanh. Năm 1696, vua Khang Hi tổ chức một cuộc hành binh vào Mông Cổ. Cát Nhĩ Đan cố gắng lẩn tránh nhưng đã bị bao v­ây rồi đánh bại tại Jao Modo (gần Ulan Bator ngày nay). Ông đã trốn thoát được nhưng đã bị bắt lại trong năm tiếp theo.

Một hình ảnh mô tả kị binh Mãn Chân, có thể thấy những kị sĩ đi đầu đang bắn súng

Chiến thắng này đã cho phép nhà Thanh kiểm soát hầu hết Mông Cổ hiện đại. Tuy nhiên, ở phía Tây, Jungars, một trong những gia tộc Oirat, đã dần dần xây dựng lại sức mạnh. Năm 1755, chiến tranh lại nổ ra một lần nữa. Hai năm sau, một đội quân nhà Thanh dưới sự chỉ huy của Triệu Huệ đã tiến vào thung lũng lli. Người Jungars bị tiêu diệt hoàn toàn và những đồng minh Hồi giáo tại Tarim của họ cũng chịu chung số phận vào năm 1759. Biên giới nhà Thanh đã được mở rộng đến tận hồ Balkhash và dãy Pamir, nơi mà nhà Đường, đã không thể xâm nhập.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (5)

LitaLila

QUÂN ĐỘI NHÀ THUẬN

Khi thành lập vương triều Thuận vào năm 1643, Lý Tự Thành có khoảng 6 vạn binh sĩ. Số binh sĩ này được tổ chức thành năm đạo quân, sau đó được chia thành các đơn vị nhỏ hơn, mỗi đơn vị này bao gồm 50 kị binh, 150 bộ binh và 30-40 phu dịch. Đạo quân lớn nhất có 100 đơn vị như vậy, 130 đơn vị còn lại được chia đều cho bốn đạo quân. Có lẽ lấy cảm hứng từ việc cùng họ với các hoàng đế nhà Đường, Lý Tự Thành đã cố gắng thể hiện tính chính danh của mình bằng việc dùng một loạt các chức hiệu thời Đường để phong cho thuộc hạ.

Trong công cuộc kiến quốc của mình, quân đội của Lý đã bị quân Minh đánh tan sau thất bại tại Tzu-t’ung vào năm 1638. Sau…

View original post 1,861 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, Sự Thành Lập Võ Đường Và Hội Võ Thuật Thần Phong – Ban Tu Thư Thần Phong

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG QUA CÁC THỜI KỲ
TƯỞNG NIỆM VÀ TRI ÂN

Đại Gia Đình Thái Cực Đạo Thần Phong Thành Kính Tưởng Niệm và Tri Ân:

.Cố Chuẩn Tướng LƯU KIM CƯƠNG đã có công thành lập Võ Đường Thần Phong – Hội Võ Thuật Thần Phong: Thái Cực Đạo, Hiệp Khí Đạo, Nhu Đạo, Thiếu Lâm Bắc Phái và khai mở sinh hoạt Võ Thuật Thần Phong Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.
. Các Cố Võ sư Thái Cực Đạo Đại Hàn và Việt Nam đã khổ công đào luyện nhiều thế hệ võ sư, võ sinh Thái Cực Đạo ưu tú cho Đại Gia Đình Thái Cực Đạo Thần Phong.

.NGUYÊN THỦY:

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà – Nguyễn Văn Thiệu và những nhân sự có thẩm quyền trong Hội Đồng Chính Phủ, nhận xét Tinh Thần Chiến Đấu của Lực Lượng Thanh Niên Hwa Rang – Korea đã áp dụng môn võ Tae Kwon Do cận chiến hữu hiệu và tinh thần quả cảm của họ đã góp phần trong công cuộc giành lại độc lập cho quốc gia Đại Hàn… và qua nhiều phiên họp tranh luận, hội thảo trong Nội Các Chính Phủ với những đại diện các đại môn phái như: Nhu Đạo, Vovinam, Bình Định, Karate, Thiếu Lâm… Sau cùng tường trình kết quả hội thảo quyết định chọn môn võ Korea Taekwondo (Thái Cực Đạo Đại Hàn) để huấn luyện cận chiến cho toàn thể quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại các Trung Tâm Huấn Luyện đào tạo tân binh, thành lập võ đường huấn luyện tại Trường Võ Bị Quốc Gia, Trường Sĩ Quan Thủ Đức, Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Hải Quân, Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Không Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh và những đơn vị trừ bị thiện chiến, ưu tú như: Biệt Cách Dù, Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân,… lên Phủ Tổng Thống và diễn tiến đi đến quyết định yêu cầu Chính Phủ Đại Hàn cùng hợp tác thực hiện Chương Trình Võ Thuật Hoá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu thi hành Chương Trình Huấn Luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo trong tất cả Quân Binh Chủng với đẳng cấp Quốc Gia.

Chuong_Trinh_Thai_Cuc_Dao_Quan_Su

Vì vậy Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương khi hãy còn với chức vụ trung tá chỉ huy trưởng Không Đoàn 33 Chiến Thuật (tiền thân Sư Đoàn 5 Không Quân) được chỉ thị của Bộ Tổng Tham Mưu thành lập cơ sở huấn luyện võ thuật Thái Cực Đạo trong Quân Chủng Không Quân. Trưóc đó chính Ông đã hợp cùng với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khoa, Đại Uý Trần Bá Hợi là 5 nhân sự tiền phong đã thành lập Biệt Đoàn 83 Thần Phong (huy hiệu phi đoàn Thần Phong là một Đầu Rồng với 5 Ngôi Sao trắng nổi trên bầu trời xanh) nên cũng được gọi là Phi Đội Thần Phong, với những chuyến bay cảm tử “Bắc Phạt” và bảo vệ không phận Nam Việt Nam trong nhiệm vụ Bảo Quốc – Trấn Không với phương châm “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè” và sau này những người trong số đó là những nhân sự cao cấp Chỉ Huy Cơ Quan Đầu Não Không Quân Việt Nam Cộng Hoà tại Căn Cứ Phi Trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn. Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương với bản tính nghệ sĩ hào hoa và anh hùng… Ông là Người có lý tưởng kiến thiết Quốc Gia, yêu chuộng các bộ môn nghệ thuật thể hiện Văn Hoá và Võ Thuật Tae Kwon Do xuất xứ từ Đại Hàn được Ông mộ chuộng … Ông thường có sinh hoạt với các văn nghệ sĩ, giới trí thức sáng tác văn học… và với kỳ vọng muốn trang bị cho quân nhân Không Quân, Thiếu Niên Thần Phong thế hệ hậu duệ dưới quyền chỉ huy của Ông trở thành những Chiến Sĩ Quốc Gia đấu tranh phải có đầy đủ thể chất khoẻ mạnh, cường tráng với tính chất tinh thần Võ Sĩ Đạo Đông Phương kinh qua những khoá học tập Văn Hoá – Võ Thuật do Khối Chiến Tranh Chính Trị, Phòng Huấn Luyện, Chính Huấn …do chính Ông đề xuất và bắt buộc giới Quân Nhân, Thiếu Niên Thần Phong song hành học tập và nhiệm vụ tại phần sở vẫn phải chu toàn… Riêng với bộ môn Võ Thuật Tae Kwon Do (Thái Cực Đạo), Ông trưng dụng Phòng Huấn Luyện tại Bộ Tư Lệnh Không Quân làm thành Võ Đường Thần Phong đầu tiên, và để tổ chức Hội Võ Thuật Thần Phong, cùng với sự giúp đỡ của những Sĩ Quan Không Quân Đại Hàn, Ông trân trọng viết thư đề đạt với Tổng Thống Pak Chung Hee (Phát Chung Hi) của quốc gia Đại Hàn, thỉnh mời những Võ Sư tài năng xuất chúng trong Quân Đội Đại Hàn sang Việt Nam để huấn luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo tiên khởi cho Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Tổng Thống Đại Hàn chấp thuận và ưu ái đề cử Vị Hàn Lâm Học Sĩ của Hàn Lâm Viện Đại Hàn đang là Vị Tuỳ Viên Văn Hoá đặc biệt của Tổng Thống là Võ Sư Kang Tae Ho – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng, nói được thông thạo tiếng Việt qua Việt Nam cùng với những Võ Sư Quân Đội Đại Hàn như: Đại Uý Lee Sha Un – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng nói được tiếng Việt, Thượng Sĩ Kang Dong Kil – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng, Trung Sĩ Lee Keun Tae – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng tổ chức huấn luyện gầy dựng cho Quân Chủng Không Quân Việt Nam một Nền Võ Thuật Thái Cực Đạo là một trong những Nét Đặc Trưng của Nền Văn Hoá Đại Hàn từ khởi nguyên khai sáng Võ Đường Thần Phong. Vì vậy chính Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương là Vị Sáng Lập nên Võ Đường Thần Phong, Hội Võ Thuật Thần Phong và đoàn thể Thiếu Niên Thần Phong (theo mô hình tổ chức Hướng Đạo Sinh Quân Đội). Tuy là Vị Sĩ Quan chỉ huy cao cấp của Quân Chủng Không Quân, nhưng Ông đặc biệt đối đãi với võ sư, võ sinh Võ Đường Thần Phong và thanh Thiếu Niên Thần Phong trong tình huynh đệ tương thân tương ái …! Ông tử trận khi trực tiếp chỉ huy trận đánh giải toả áp lực của quân Việt Cộng tại “Mặt Trận Đất Thánh Tây” là vòng đai phi trường vào tháng 5 năm 1968. Ông được vinh thăng Đại Tá ngày 6 – 5 1968, truy thăng Chuẩn Tướng và truy tặng Đệ Tứ Bảo Quốc Huân Chương kèm theo Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu ! Ông là Vị Sĩ Quan cao cấp nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử trận đầu tiên tại chiến trường, trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt ! Cái chết của Ông là một mất mát lớn của Quân Chủng Không Quân và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói chung ! Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương đã vị quốc vong thân để lại biết bao tiếc thương của tất cả võ sư, võ sinh Võ Đường Thần Phong và Liên Đoàn Thiếu Niên Thần Phong…!

 

Than_Phong_Bac_Phat

.HỘI VÕ THUẬT THẦN PHONG

Năm 1966 – 1968 Trung Tá Lưu Kim Cương làm hội trưởng Hội Võ Thuật Thần Phong.
– Tháng 6 – 1968 Đại Tá Phan Phụng Tiên – Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Không Quân kế nhiệm làm hội trưởng Hội Võ Thuật Thần Phong.
– Đại Tá Võ Dinh – Tham Mưu Trưởng Không Quân thi hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phát động phong trào huấn luyện phát triển thể chất với bộ môn Võ Thuật tại các phần sở trong Quân Chủng Không Quân.
– Đại Tá Đinh Thạch On – Tư Lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 5 Không Quân cũng là vị Võ Sư Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Thái Cực Đạo và Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng Hiệp Khí Nhu Thuật.
– Các vị Không Đoàn Trưởng có tham gia thụ huấn Võ Thuật tại Võ Đường Thần Phong và các vị tân cựu Giám Đốc Võ Đường cùng toàn thể Võ Sư – Võ Sinh đều được thu nhận làm Hội Viên của Hội Võ Thuật Thần Phong từ khởi thuỷ 1966 – 1975.

TINH THẦN QUỐC GIA với 3 TIÊU CHUẨN: TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM

Do vị thế Địa Lý Chính Trị nước Việt ta từ thời Dựng Nước và Mở Nước đã phải luôn quật khởi khi bị đô hộ và chiến đấu kiên cường trước mọi loại giặc thù để giữ Nước được bền vững, trường tồn và mở Nước cho mãi tới tận ngày nay… Với ý thức là con dân của Tổ Quốc Việt Nam, chúng ta phải có Trách Nhiệm bảo vệ nước nòi và đấy là Vinh Dự của biết bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã hy sinh thân mạng, không tiếc máu xương để bảo vệ giang sơn cẩm tú Việt Nam. Vị sáng lập Võ Đường – Hội Võ Thuật Thần Phong – cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương đã song hành với Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đề cao yếu tố Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm làm lý tưởng và là mục đích phục vụ cho tất cả võ sư, võ sinh Võ Đường Thần Phong và Hội Võ Thuật Thần Phong phát triển tới 6 Sư Đoàn Không Quân. Vì vậy, để đào tạo và trang bị cho giới quân nhân Không Quân có thể chất khoẻ mạnh và tinh thần – lý tưởng Quốc Gia vững chắc trong công cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt kẻ thừa sai Nga – Tàu đang trên đà bành trướng muốn nhuộm đỏ thế giới và với viễn kiến đào tạo, hun đúc cho giới thanh thiếu niên (đoàn Thiếu Niên Thần Phong) là thế hệ hậu duệ của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà có đầy đủ tính chất “thép” của chiến sĩ vững mạnh từ tinh thần Võ Sĩ Đạo, Văn (Văn Hoá) là một dòng sinh mệnh bắt nguồn từ quá khứ, đang diễn tiến ở hiện tại và chuẩn bị những dự phóng cho tương lai… Tất nhiên Văn Hóa cũng có lúc thăng trầm với những thịnh suy thường tình…và để sống, còn, tiếp, nối, tiến, hóa, Văn Hóa cần phải được rao giảng, truyền bá, phát huy qua những phương tiện huấn luyện và Giáo Dục. Do vậy Võ Đường Thần Phong được xử dụng làm cơ sở huấn luyện Võ (Võ Thuật). Nhưng trong hàm ý của vị Sáng Lập: ”Anh đặt kỳ vọng vào Văn Hoá – Tinh Thần chứ không phải mục đích dạy “thuật đánh nhau” cho các em tranh hùng đấm đá nhau như bọn du côn ngoài đường phố, các em sẽ phải là những chiến sĩ Không Quân tương lai dũng mãnh có lý tưởng Quốc Gia vững chắc để đương đầu với bọn Cộng Sản Bắc Việt vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình là công cụ của Cộng Sản Nga – Tàu xâm lăng thế giới…” (lời tâm tình của Trung Tá Lưu Kim Cương trước đoàn Thiếu Niên Thần Phong (TNTP) vào tháng 3- 1968, và cũng là đề tài học tập trong sinh hoạt liên đoàn TNTP tháng 6 – 1968). Do vậy Võ Đưòng Thần Phong là nơi đào tạo thể chất với 4 môn Võ Thuật:

1 – Thái Cực Đạo (Tae Kwon Do).
2 – Hiệp Khí Đạo (Aikido Yosheikan).
3 – Nhu Đạo (Judo).
4 – Thể Dục Thẩm Mỹ (cho những ai không thích học Võ Thuật). Đến 1972 thì bộ môn này được thay thế bởi môn võ thuật Thiếu Lâm Bắc Phái.
Vì vậy tại Võ Đường Thần Phong cứ mỗi Tam Cá Nguyệt có mở lớp, thu nhận võ sinh cho 3 lớp Quân Nhân: Thái Cực Đạo, Hiệp Khí Đạo – Nhu Đạo, Thiếu Lâm Bắc Phái. Nhưng lại có tới 4 Lớp Thái Cực Đạo và 1 lớp Hiệp Khí Đạo cho liên đoàn Thiếu Niên Thần Phong và con, em thân nhân của quân nhân các cấp Không Quân.

HUY HIỆU THẦN PHONG

Năm 1966, hội trưởng Hội Võ Thuật Thần Phong – Trung Tá Lưu Kim Cương họp cùng giám đốc và ban điều hành Võ Đường và Hội Võ Thuật Thần Phong hội thảo và biểu quyết một huy hiệu làm biểu tượng cho Hội Võ Thuật Thần Phong đại diện cho 4 bộ môn: Thái Cực Đạo, Nhu Đạo, Hiệp Khí Đạo, Thể Dục Thẩm Mỹ (thời gian 1966 – 1971 võ đường chưa có mở lớp Thiếu Lâm Bắc Phái). Huy hiệu Thần Phong sau được hoạ sĩ Trúc Việt (Khối Chiến Tranh Chính Trị) tô điểm mầu sắc thẩm mỹ, không làm thay đổi tính chất biểu tượng nguyên bản:

Huy hiệu hình Tròn 360 độ mầu Xanh Dương làm nền tảng là biểu tượng Không Gian (bầu trời).

– Biểu tượng Hoa Mai 6 Cánh: Tượng trưng cho môn Võ Judo.
– Biểu tượng Vòng Tròn Đỏ: Tượng trương cho bộ môn Thể Dục Thẩm Mỹ.
– Biểu tưọng 3 Núi mầu Huỳnh Thổ với chữ Khí: Tượng trưng cho môn Akido Yosheikan (Hiệp Khí Đạo).
– Biểu tượng Đôi Cánh Bay và Nắm Tay: Tượng trưng cho môn Võ Tae Kwon Do (Thái Cực Đạo) và cũng là Không Quân Thần Phong Thái Cực Đạo.

Huy hiệu Thần Phong đã được in ấn trên Thẻ Hội Viên và làm phù hiệu phát cho tất cả hội viên và chỉ định vị trí chỗ trái tim trên vạt áo trái Võ Phục.

Huy hiệu Thần Phong này được xem là đại diện hình thức sinh hoạt Võ Thuật của Hội Võ Thuật Thần Phong – Không Quân Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1966 mãi cho tới ngày nay chưa hề có sự thay đổi. Tất cả những thành viên của Hội Võ Thuật Thần Phong từ vị hội trưởng kế nhiệm là cựu đại tá Đinh Thạch On cho tới toàn thể hội viên là Võ Sư – Võ Sinh thuộc Hội Võ Thuật Thần Phong Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đều tôn trọng và giữ gìn nguyên bản cho dù sau biến cố 30 – 4 – 1975 có làm thay đổi hoàn cảnh của tất cả hội viên Thần Phong biến động theo vận nước.

Huy_Hieu_Than_Phong

TINH THẦN ĐÔNG PHƯƠNG THẦN PHONG THÁI CỰC ĐẠO

Khai giảng lớp Thái Cực Đạo đầu tiên Năm 1966 và để đánh dấu Kỷ Niệm Khởi Nguyên, chính vị sáng lập môn phái Taekwondo cựu Trung Tướng Choi Hong Hi đương thời là Chủ Tịch Tổng Cục Thái Cực Đạo Thế Giới (International Taekwondo Federation) và là Đại Sứ Lưu Động của Chính Phủ Đại Hàn, Ông không những chỉ là một vị Tướng trong Quân Đội Đại Hàn với Võ cách mà còn là một nhà Văn Hoá đáng trân trọng trong Viện Hàn Lâm Đại Hàn . Vì vậy khi sang Việt Nam với sứ mạng truyền bá bộ môn Taekwondo đặc trưng Văn Hoá Đại Hàn, Ông vốn đã biết Dân Tộc Việt có truyền thống Văn Hoá lâu đời và chiến đấu tính tuyệt vời kinh qua lịch sử đấu tranh với người Hán phương bắc hơn 4000 năm giữ nước và mở nước… Nên tổ sư Taekwondo – Choi Hong Hi đã trân trọng thủ bút thảo Thư Pháp ban tặng cho Võ Đường Thần Phong 3 chữ đại tự: Túc Quyền Đạo (Đài Quyền Đạo) Bức Thư Pháp nầy đã được trân trọng treo cao để tất cả Võ Sư, Võ Sinh của Võ Đường Thần Phong chiêm ngưỡng mãi cho đến năm 1975. Cùng thời gian Ông cũng dẫn giảng khúc chiết Tinh Thần Võ Đạo Đông Phương:

Tuc_Quyen_Dao

Dưới đây là 10 vị Đại Sư sáng lập và truyền bá Taekwondo hiện đại:

Lee Won Kul: Người sáng lập võ đường Chung Do Kwan về sau từng là võ đường Taekwondo lớn nhất Hàn Quốc. Ông cũng từng là một môn sinh của Ginchin Funakoshi người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Chun Sang Sup: Người sáng lập hệ phái Choson Yunmookwan Kwon Bop Bu, về sau trở thành các võ đường Jido Kwan và Han Moo Kwan. Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Yun Byung In: Người sáng lập hệ phái YMCA Kwon Bop Bu, về sau trở thành võ đường Chang Moo Kwan.
Hwang Kee: Người sáng lập võ đường Moo Duk Kwan.
Roh Byong Jick: Người sáng lập võ đường Song Moo Kwan. Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Choi Hong Hi: Người sáng lập võ đường Oh Do Kwan, tổ sư hệ phái Chang Hon, sáng lập viên Liên đoàn Taekwondo quốc tế (ITF). Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Fanakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate..
Nam Tae Hi: Người đồng sáng lập và huấn luyện viên trưởng đầu tiên của võ đường Oh Do Kwan.
Jong Pyo Hong: Người sáng lập võ đường Kang Duk Won, Kwon Bop Bu.
Park Chul Hee: Người đồng sáng lập võ đường Kang Duk Won, Kwon Bop Bu.
Lee Yong Woo: Người sáng lập võ đường Jung Do Kwan.

Lễ Nghĩa, Liêm Sỉ, Nhẫn Nại, Khắc Kỷ, Bách Chiết, Bất Khuất

Và những Điều Tâm Niệm và Điều Tuyên Thệ mà tất cả Võ Sinh xuất thân từ Võ Đường Thần Phong đều phải tuyên đọc hằng ngày trong lớp học sau khi chào quốc kỳ Hàn-Việt và hành lễ chào kính Võ Sư đương nhiệm:

.Những Điều Tâm Niệm:
Quyết tâm rèn luyện tinh thần thượng Võ và thân thể cường tráng.
Quyết đoàn kết chặc chẽ trong tinh thần tương thân, tương ái.
Tuyệt đối tuân lời Võ Sư và giữ đúng kỷ luật của Hội

.Những Điều Tuyên Thệ:
Chúng ta sẽ là những viên đá chống Cộng Sản do nhờ sự luyện tập môn võ Thái Cực Đạo.
Chúng ta sẽ là rường cột vững chắc cho xứ sở của chúng ta do nhờ luyện tập môn võ Thái Cực Đạo.
Chúng ta sẽ là đồ đệ của lý tưởng, của công bằng, của tự trọng ngay giữa chính chúng ta.
Chúng ta sẽ là ngưòi bảo vệ kẻ yếu và duy trì hết sức lễ độ, danh dự, tình huynh đệ và sự tương trợ lẫn nhau.
Chúng ta sẽ chỉ xử dụng môn võ Thái Cực Đạo để tự vệ chính đáng mà thôi.
(Vì Quân Lực Đồng Minh Đại Hàn và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có cùng mục đích chống Cộng Sản. Nên Điều Tuyên Thệ Thứ Nhất đã được tất cả hệ thống Thái Cực Đạo Quân Đội Hàn – Việt tôn trọng như là Nội Quy).

Tổ Sư Choi Hong Hi cùng với phái đoàn Võ Sư Đại Hàn đã ưu ái tới Võ Đường Thần Phong 2 lần:

– Lần thứ nhất năm 1966 khai sáng Võ Đường và Hội Võ Thuật Thần Phong.

– Lần thứ nhì năm 1969 sau khi Công Binh Đại Hàn xây dựng hoàn tất một ngôi Võ Đường khang trang làm tặng phẩm cho Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.

Tổ Sư Choi Hong Hi ân cần hỏi thăm tất cả các Võ Sư, Võ Sinh hiện diện và biểu diễn kỹ thuật tuyệt học của Taekwondo đúc kết từ nền Võ Thuật truyền thống cổ của dân tộc Đại Hàn và môn Tang Soo Do (당수도-唐手道- Đường Võ Đạo) gốc từ Thiếu Lâm Bắc Phái thời đại Nhà Đường Trung Hoa truyền bá qua Đại Hàn ở thế kỷ thứ 7, và kỹ thuật tinh hoa của Shotokan Karate (founder Funakoshi Gichin) thống hợp các chi phái Chung Do Kwan, Oh Do Kwan, (Taekkyeon) đại thành môn phái Tae Kwon Do (태권도; 跆拳道) hiện đại. Riêng đặc biệt trong Okinawa Karate – Japan có một chi phái Anan Kata Karate (An Nam Kata Karate) là kỹ thuật của Võ Việt Nam do võ sư An Nam (tên gọi Việt Nam theo Hán ngữ thời xưa) từ thời nhà Hậu Lê, khi vua Lê Chiêu Thống dẫn đám quan quân chạy qua Tàu cầu viện, trong số có vị Võ quan đã chán ngán thế tình làm thân bầy tôi chầu chực cửa triều đình nhà Minh, Ông đã lén theo đoàn thương nhân Nhật Bản về đảo Okinawa sinh sống và truyền bá Võ Việt tại đây… Vì vậy trong chi phái Okinawa Karate có Anam (Annam) Kata là chiêu thức từ bài quyền Lão Mai, Ngọc Trản của Võ Gia Việt Nam. và cũng từ triều đại Nhà Lý (Việt Nam) 家李 – 李朝 1009 – 1225 vào thế kỷ thứ 13, thái tử Lý Long Tường đã dẫn dắt tôn thất nhà Lý và quan quân cận thần vượt biển định cư tại Đại Hàn, Ông đã giúp Vua Đại Hàn chiến thắng quân Mông Cổ xâm lăng … Được triều đình Đại Hàn phong quan, ban đất đai kiến ấp và họ Lee tại Đại Hàn vốn là hậu duệ của giòng họ Lý từ Việt Nam xưa kia. Tổ Sư Choi Hong Hi đã tâm đắc dẫn giảng như tâm sự với Việt Nam là một phần ưu ái trong tâm tình của Ông. Sau 1972 vì lập trường Chính Trị và chủ trương của Ông khác biệt với Tổng Thống Pak Chung Hee – Nội Các Chính Phủ Đại Hàn đương nhiệm, Tổ Sư Choi Hong Hi phải lưu vong và từ sau đó Chính Phủ Đại Hàn giải tán International Taekwondo Federation và thành lập World Taekwondo Federation.

Những Võ Sư kỳ cựu của Võ Đường Thần Phong và những vị trong Ban Điều Hành Hội Võ Thuật Thần Phong nhận xét: Với Chính Trị thì cho dù là tiệm biến, thế biến, đột biến cũng chỉ có tính cách thực dụng và giai đoạn thời gian. Nhưng nền Võ Đạo đã có truyền thống bền vững làm nền tảng lâu đời bởi tính chất cao đẹp của nguyên bản vị. Do vậy chủ trương của riêng “Gia Đình Thần Phong Không Quân” vẫn giữ nguyên gốc và bổ xung, kiện toàn với những học thuật: Võ Gia Việt Nam, Hồng Gia La Phù Sơn, Vĩnh Xuân, AnNam Karate (Okinawa) – Vũ Khí, Aikido, Judo, Thiếu Lâm Bắc Phái, Thái Cực Quyền,… từ năm 1972 làm giáo án riêng cho Võ Phái Thần Phong, là một bước chuẩn bị cho những thế hệ hậu duệ Thần Phong có nền tảng vững chắc để học luyện và phát huy Việt Nam Thần Phong với giá trị riêng của Dân Việt biết góp nhặt và đãi lọc tinh hoa của Nhân Loại, bổ túc làm thêm phong phú cho sự lợi ích Nước nhà.

NHỮNG VỊ ÂN NHÂN CỦA VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG

Suốt trong những năm tháng dài từ 1966-1975, Võ Đường Thần Phong đã Được sự ưu ái, bảo trợ của những Sĩ Quan Không Quân có tấm lòng yêu chuộng Võ Thuật trong thân tình tương thân, tương ái ! Tri ơn đặc biệt nhất: Toàn thể Võ Sư, Võ Sinh xuất thân từ Võ Đường Thần Phong trân trọng cám ơn Đại Tá Đinh Thạch On với chức vụ là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn và Võ Đường Thần Phong – Hội Võ Thuật Thần Phong nằm trong trách nhiệm và trực thuộc hệ thống chỉ huy của Ông. Ông đã thương mến “Anh-Em Võ Đường Thần Phong” mà hết lòng yểm trợ … từ sau cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương đã “cánh chim bỏ đường bay” ! Cám ơn Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên – Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Không Quân, Đại Tá Trần Đình Hoè – Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân (1968), Trung Tá Lý Ngọc An – Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, Trung Tá Bùi Hoàng Khải – Trưởng Phòng Chính Huấn đã quan tâm giúp đỡ Võ Đường Thần Phong …và cũng không thể nào quên được Thiếu Tá Trần Như Đẩu và hiền nội của anh, chị Thiếu Anh như “Chiêu Anh Quán” với tấm lòng hào phóng, quảng đại Anh – Chị đã “Đãi Hiền” “Anh – Em Võ Đường Thần Phong” như mái ấm gia đình từ năm đầu thành lập Võ Đường 1966-1975, “tan hàng” rồi lại tiếp tục tại hải ngoại từ sau năm 1975 mãi cho đến nay. Chân thành biết ơn những vị “Mạnh Thường Quân” đã giúp đỡ Huynh – Đệ thuộc Võ Đường Thần Phong.

Manh_Thuong_Quan

Cat_Van_Khoi

KHỞI THUỶ XÂY DỰNG VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG

Võ Đường Thần Phong từ năm 1966-1969 thuộc Phòng Huấn Luyện, toạ lạc tại cánh trái trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh Không Quân, Căn Cứ Phi Trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn là Võ Đường tiên khởi của toàn thể Hệ Thống Võ Đường Thần Phong về sau.

Võ Đường Thần Phong từ năm 1969-1973 toạ lạc tại đường Lê Văn Lộc kế cạnh Khối Chiến Tranh Chính Trị, Sư Đoàn 5 Không Quân, Căn Cứ Phi Trường Tân Sơn Nhất. Võ Đường nầy được Công Binh Đại Hàn xây đựng khang trang với tiêu chuẩn huấn luyện chuyên môn Võ Thuật Tae Kwon Do, Aikido, Judo,… với toàn bộ vật liệu và công sức kiến tạo của Chính Phủ Đại Hàn để làm Tặng Phẩm Văn Hoá cho Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.

Võ Đường Thần Phong từ tháng 6 – 1973 đến tháng 4 – 1975 toạ lạc gần kề Căn Cứ Trực Thăng vốn trước là cơ sở Base Exchange (BX) của Không Quân Hoa Kỳ trong Căn Cứ Phi Trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn.

Võ Đường Thần Phong Dân Sự từ năm 1971 – 1975 toạ lạc tại khuôn viên Nha Căn Cứ Hàng Không Dân Sự, Phi Cảng Tân Sơn Nhất – Sài Gòn.

Võ Đường Thần Phong Dân Sự Thứ Nhì từ năm 1972-1975 toạ lạc tại Quận Tư, Khánh Hội – Sài Gòn.

NHÂN SỰ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG

– Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương là Vị Sáng Lập nên Võ Đường Thần Phong và Hội Võ Thuật Thần Phong từ năm 1966.
– Đại Tá Trần Đình Hoè, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân là Vị n Nhân với tấm lòng hào sảng luôn trợ giúp cho Anh-Em của Võ Đường những nhu cầu rất hữu sự và thiết thực.
– Đại Tá Đinh Thạch On, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 5 Không Quân là vị Sĩ Quan cao cấp trong quân chủng rất siêng năng tập luyện Võ Thuật, Ông đã có Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Thái Cực Đạo và cũng là Vị Võ Sư Aikido (Hiệp Khí Đạo) của Võ Đường từ Năm 1972-1975. Ông là Vị n Nhân rất đặc biệt có sinh hoạt gắn bó với toàn thể Anh – Em Võ Sư, Võ Sinh thuộc Võ Đường Thần Phong và với tư thế Huynh Trưởng, Ông luôn luôn quan tâm giúp đỡ và bảo trợ cho Võ Đường Thần Phong tiến triển với mọi tình huống từ năm 1966-1975.

GIÁM ĐỐC VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG
– Khởi đầu Võ Đường Thần Phong trực thuộc Phòng Huấn Luyện nên Đại Uý Trần Đình Hữu được chỉ định làm Giám Đốc Võ Đường Thần Phong (1966).
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong kế tiếp là Đại Uý Trần Văn Ngưu (1966-1967).
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1967-1968 là Đại Uý Trần Như Đẩu. Huyền Đai Judo, Huyền Đai Tae Kwon Do… khi Ông đang phục vụ ở Phòng Hành Quân Chiến Cuộc – Bộ Tư Lệnh Không Quân. Vì nhu cầu chiến trường từ sau năm 1969, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải chiến đấu khốc liệt với quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng trên khắp mặt trận … Ông được điều động trở về lại Phi Đoàn Trực Thăng 211, bay tăng phái chiến đấu và yểm trợ cho các đơn vị Bộ Binh chủ lực trong những cuộc hành quân khắp 4 Vùng Chiến Thuật, và đảm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn 4 Không Quân – Căn Cứ Phi Trường Bình Thuỷ, Cần Thơ. Trường hợp của Ông rất đặc biệt: Tuy không còn là Giám Đốc Võ Đường Thần Phong sau năm 1969. Nhưng đến năm 1970 vì nhu cầu công vụ Bộ Tư Lệnh Không Quân đã chỉ định Ông về làm Trưởng Đoàn Công Tác Chính Huấn thuộc Văn Phòng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị – Bộ Tư Lệnh Không Quân. Đến tháng 1 – 1972 Ông được thăng Thiếu Tá. Tháng 4 – 1975 Ông vừa được lên Trung Tá thì biến cố ngày 30 – 4 – 1975 tan hàng…! Ông và những Sĩ Quan cao cấp trong QLVNCH bị đưa ra miền Bắc giam tù rất khắc nghiệt ! Niên Trưởng Trần Như Đẩu được Anh – Em Thần Phong và Anh – Em Văn Nghệ Sĩ trong Đoàn Công Tác Chính Huấn – Bộ Tư Lệnh Không Quân quí mến và thân tình thâm giao.
Mỗi năm cứ như thường lệ, Tổng Cục Thái Cực Việt Nam tổ chức 2 Giải Vô Địch Thái Cực Đạo:
– Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Quân Đội: Tổ chức riêng cho những đội tuyển thủ đại diện cho các đơn vị trong Quân Binh Chủng: Hải Lục Không Quân, Cảnh Sát và Quân Trường Huấn Luyện Đơn Vị Trừ Bị: Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Giáp…và Thiếu Sinh Quân cùng tham dự cuộc tranh giải.
– Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc: Gồm có tất cả các đội tuyển thủ đại diện cho các Quân Binh Chủng – Cảnh Sát, Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự, Thiếu Sinh Quân và các Võ Đường, các Trường Dân Sự cùng tham dự cuộc tranh giải.
Bộ Tư Lệnh Không Quân đề cử Thiếu Tá Trần Như Đẩu về Võ Đường với trách nhiệm là Trưởng Phái Đoàn Võ Thuật của toàn thể 6 Căn Cứ Không Quân Việt Nam mỗi khi Võ Đường Thần Phong đại diện cho Không Quân Việt Nam Cộng Hoà tham dự những cuộc Tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc và Quân Đội suốt từ những năm 1970 – 1975 qua 3 nhiệm kỳ, Ông được Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Quân Đội (TCTCĐQĐ) bầu vào chức Phó Chủ Tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo (TCTCĐVN) toàn quốc (Chủ Tịch Trung Tá Phạm Văn Cư, 1969 – 1971), tiếp đến Ông tái đắc cử Phó Chủ Tịch kiêm nhiệm Uỷ Viên Kỷ Luật của TCTCĐVN (2 nhiệm kỳ, Chủ Tịch Trung Tá Nguyễn Văn Thành, 1972 – 1975). Với chức vụ đảm nhiệm Ông làm đại diện cho TCTCDVN trong Hội Đồng Giám Khảo chấm thi lên đẳng cấp cho các Võ Đường Quân Đội và Không Quân khắp 4 Vùng Chiến Thuật và đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật những Võ Sư – Võ Sinh vi phạm nội qui kỷ luật và đạo đức. Sau năm 1975 trải qua bao tháng năm kham nhẫn công phu tập luyện, Ông được những bậc Tôn Sư Thái Cực Quyền, Vĩnh Xuân Quyền, Hồng Gia Quyền La Phù Sơn đề cử bậc Võ Sư và trao bối truyền thừa tông phái. Đặc biệt Ông rất thiện xảo tâm đắc với bộ môn Bonsai-Non Bộ, hiện tại Ông là Bonsai Master cố vấn phụ trách kỹ thuật cho Hội Việt Mỹ Bonsai (Viêt-America Bonsai Association).
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1969-1970 là Đại Uý Nguyễn Trúc Lân, Huyền Đai Aikido.
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1970-1971 là Đại Uý Lê Đình Thuận, Huyền Đai Aikido.
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1972-1973 là Thiếu Tá Cát Văn Khôi, Huyền Đai Aikido.
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1973-1974 là Thiếu Tá Nguyễn Sĩ Phú.
– Giám Đốc Võ Đường Thần Phong từ Năm 1974-1975 là Đại Uý Nguyễn Văn Út.

Van_Thu_Than_Phong

MỸ THUẬT VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG

Từ khởi đầu thành lập Võ Đường Thần Phong. Thiếu Tá Trần Như Đẩu với Chức Vụ Giám Đốc Võ Đường và sau là Trưởng Đoàn Công Tác Chính Huấn thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân, Ông đã đề cử Hoạ Sĩ Nguyễn Lục Phú. Khối Chiến Tranh Chính Trị đề cử Hoạ Sĩ Trúc Việt công tác trang trí Mỹ Thuật toàn thể cho Võ Đường Thần Phong.

VÕ SƯ ĐẠI HÀN TẠI VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG

Tổng Thống Đại Hàn – Pak Chung Hee chỉ thị Võ Sư Kang Tae Ho – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng đang là Hàn Lâm Học Sĩ Viện Hàn Lâm Đại Hàn cũng là Sĩ Quan Tuỳ Viên Văn Hoá của Tổng Thống sang Việt Nam đặc biệt phụ trách đặc trách chương trình huấn luyện Tae Kwon Do cho Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà từ ngày 1 tháng 12 năm 1966 khởi đầu gây dựng nên Võ Đường Thần Phong cho đến tháng 12 năm 1968.

– Võ Sư Đại Uý Lee Sha Un – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng Tae Kwon Do, nói thông thạo tiếng Việt, được Bộ Tư Lệnh Quân Lực Đại Hàn đề cử để hổ trợ cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương thành lập Võ Đường Thần Phong cho Quân Chủng Không Quân, trong chương trình huấn luyện và phát triển môn võ Tae Kwon Do. Võ Sư Lee phụ trách huấn luyện Võ Thuật cho Võ Đường Thần Phong từ năm 1966 – 1969 và Ông cũng là Vị Sĩ Quan có công đề xuất và vận động với Trung Tướng Cher Moon Sin và Đại Tướng Lee Sai Ho, Tư Lệnh Lực Lượng Đại Hàn tại Việt Nam thỉnh nguyện với Chính Phủ Đại Hàn duyệt thuận kế hoạch xây dựng cho Không quân Việt Nam một ngôi Võ Đường khang trang từ năm 1968 đến 1969 hoàn tất. Trân trọng kính bút:” Chúng tôi những Võ Sư – Võ Sinh của Võ Đường Thần Phong vô cùng biết ơn Thầy Lee Sha Un đã tận tụy xây dựng và đào tạo nên nền Võ Thuật Thái Cực Đạo Thần Phong từ buổi sơ khai phát triển mãi cho đến ngày nay…”!

– Võ Sư Kang Dong Kil – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1966-1968.
– Võ Sư Lee Keun Tae – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1968-1969.
– Võ Sư Kang Kwan Xu – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1968 – 1969.
– Võ Sư Kim Byung Woon – Huyền Đai Đệ Ngũ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1969- 1970.
– Võ Sư Cher Hyung Ho, Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng, phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1969-1970.
– Võ Sư Cho Sun Taik – Huyền Đai Đệ Ngũ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1970 – 1971.
– Võ Sư Cho Hyun Hyo – Huyền Đai Đệ Ngũ Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật 1971.
– Võ Sư Her Man – Huyền Đai Đệ Lục Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1971 – 1972.
– Võ Sư Cho Jung Do – Huyền Đai Đệ Lục Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật 1972.
– Võ Sư Chung Tae Kap – Huyền Đai Đệ Lục Đẳng phụ trách huấn luyện Võ Thuật từ 1972 – 1973.
– Đại Võ Sư Kim Bong Sik: Thiếu Tá Kim Bong Sik (Korea Air Force) – Huyền Đai Đệ Lục Đẳng là Trưởng Phái Đoàn Võ Sư Đại Hàn tại Việt Nam, và cũng là Võ Sư Trưởng phụ trách huấn luyện Võ Thuật tại Võ Đường Thần Phong từ Năm 1970-1972 và là Vị Mạnh Thường Quân luôn giúp đỡ Võ Đường Thần Phong với mọi ưu tiên từ Quân Đội Đồng Minh Đại Hàn. Năm 1973, Ông được vinh thăng Trung Tá và trở về nước theo chương trình “Rút Quân Đồng Minh Rời Khỏi Việt Nam”.
Tháng 6 Năm 1972, Ông làm Chánh Chủ Khảo kỳ thi lên đai tại Võ Đường Lê Lợi. Trong kỳ thi lên đẳng cấp nầy: Trịnh Khải Hoàng, Trần Văn Lạc, Hoàng Thuỵ Thông đã đã vượt qua cuộc sát hạch và được thăng lên Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng.
Sau 1975, Ông được vinh thăng Đại Tá giữ chức vụ Tuỳ Viên Quân Sự Korea tại France, u Châu. Ông là Đại Võ Sư lừng danh Đại Hàn – Việt Nam – Quốc Tế.

Ngoài Ra còn có những vị Võ Sư Đại Hàn với trình độ tuyệt hảo xuất sư như Võ Sư Kim (BatMan), Huyền Đai Đệ Lục Đẳng Tae Kwon Do là Vị Võ Sư Trưởng của Trường Vũ Thuật Thể Dục Thể Thao Quân Đội tại Thủ Đức và Võ Sư Pak (Wak), Huyền Đai Đệ Lục Đẳng, Trưởng Phái Đoàn Võ Sư Đại Hàn từ năm 1964-1969 vẫn thường đến thăm viếng và huấn luyện đặc biệt cho Võ Sư và Võ Sinh tại Võ Đường Thần Phong.

VÕ SƯ VIỆT NAM TẠI VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG 1966 – 1968

– Tổng Cục Võ Thuật Thái Cực Đạo Quân Đội để cử Võ Sư Cố Vấn Woòng Mậu Thoòng, Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng Thái Cực Đạo, Võ Sư Nguyễn Văn Năng, Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng Thái Cực Đạo. Hai vị Võ Sư nầy đã cố vấn và làm phụ tá các Võ Sư Đại Hàn để huấn luyện cho khoá sinh trong tinh thần tương trợ rất tốt đẹp từ những ngày đầu tiên thành lập Võ Đường Thần Phong 1966 – 1967.

– Từ ngày đầu tiên thành lập nên Võ Đường Thần Phong, từ năm 1966-1968. Võ Sư Kim Phúc Nam đã mang đẳng cấp cao nhất tại Võ Đường là Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng vì Ông đã tốt nghiệp Khoá Thái Cực Đạo Đầu Tiên do Phái Đoàn Võ Sư Đại Hàn đào tạo Võ Sư Huấn Luyện cho Quốc Gia Việt Nam và cũng với duyên trường đặc biệt Ông được Đại Uý Lee Sha Un cứu xét thâm niên võ học rồi đề cử về Bộ Tư Lệnh Đại Hàn để thi Huyền Đai Đệ Tam Đẳng (1968-1969). Vì là quân nhân Không Quân nên Võ Sư Kim Phúc Nam được chỉ thị về Võ Đường làm phụ tá cho các Võ Sư Đại Hàn và cũng là Võ Sư thực thụ huấn luyện cho các khoá sinh từ năm 1966 – 1969. Từ sau năm 1969, Ông trở lại phần sở thuộc Phòng Huấn Luyện Không Quân và được biệt phái về Võ Đường để hợp cùng với Các Võ Sư Đại Hàn phụ trách huấn luyện cho Tuyển Thủ của Võ Đường mỗi khi có cuộc Tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc.

.Khoá Tae Kwon Do Thứ I: Đào Tạo Võ Sư Thái Cực Đạo Không Quân:

Võ Đường Thần Phong khai giảng khoá Võ Thuật Thái Cực Đạo đầu tiên ngày 1 tháng 12 năm 1966 đến năm 1968, thu nhận 43 khoá sinh tình nguyện từ các phần sở trong quân chủng Không Quân. Đặc biệt vì là khoá đào tạo Võ Sư để phụ trách huấn luyện Võ Thuật Taekwondo cho các Sư Đoàn Không Quân. Do vậy khoá học này trực thuộc Phòng Huấn Luyện và khoá sinh phải tập luyện kham nhẫn 8 tiếng mỗi ngày và suốt 18 tháng cho đến cuối khoá có được 27 võ sinh đai nâu cấp 1 tốt nghiệp Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng sau kỳ thi kỳ sát hạch Võ Thuật như: Nguyễn Ngọc Diệp, Nguyễn Văn Lợi, Huỳnh Văn Phúc, Trương Văn Nhiều, Phan Văn Đức, Lâm Quang Nở, Lưu Văn Nam (Hiệp Sĩ Mù). Huỳnh Văn Báu, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Sĩ Ân, Ngô Ngọc Khánh (Bắc Kỳ), Nguyễn Xuân Tính, Huỳnh Đông, Trương Văn Đại, Hoàng Văn Hiệp, Nguyễn Văn Hiệp, Huỳnh My, Phú (Bắc Kỳ), Túc, Đạt, Ngọc… Một số ít được tuyển chọn làm Võ Sư Huấn Luyện thực thụ cho Võ Đường Thần Phong từ năm 1968 – 1975 và được phân nhiệm như sau:

– Một số Võ Sư tốt nghiệp Khoá I Huấn Luyện Viên Võ Thuật Thái Cực Đạo thuộc Võ Đường Thần Phong còn đang chờ để trở lại phần sở cũ hoặc được thuyên chuyển đi phần sở mới theo nhu cầu công vụ như: Võ Sư Lưu Văn Nam, Võ Sư Lâm Quang Nở, Võ Sư Huỳnh Văn Báu,… được cắt đặt làm phụ tá cho Võ Sư Đại Hàn huấn luyện cho các lớp Thiếu Niên Thần Phong từ tháng 6 – 8 năm 1968

– Võ Sư Nguyễn Văn Lợi: Phụ trách huấn luyện cho Quân Nhân và liên đoàn Thiếu Niên Thần Phong lớp buổi chiều Thứ 2-4-6. Là phụ tá Giám Đốc VĐTP. Đặc biệt Võ Sư Lợi có nhiều hạnh duyên với cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương từ khi Anh còn là nhân viên phi hành bay “Tháp Tùng Tử” với những Pilot của USAF loại AD-5 bao vùng an ninh trên khắp không phận miền Nam – Việt Nam, bấy giờ quân đội Mỹ chưa chính thức tham chiến tại Việt Nam và Quân Chủng Không Quân đang trên đà gây dựng và phát triển… Nên những phi vụ cảm tử không chỉ số như thế không có trên phương diện chính trị chính thức. Đến khi Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phát triển vững mạnh, anh Nguyễn Văn Lợi được thuyên chuyển về Phi Đoàn Vận Tải 413 – AC47, tiếp đến vì nhu cầu đào tạo cho Hệ Thống Thần Phong lớp Huynh Trưởng Hướng Đạo (trưóc khi nhập ngũ, anh nguyên là Trưởng Hướng Đạo Sinh dân sự) để phụ trách giảng huấn cho liên đoàn Thiếu Niên Thần Phong trong chương trình học tập với những bộ môn: Văn Hoá, m Nhạc, Võ Thuật, Chính Trị, Quân Sự và công tác Xã Hội Dân Sự Vụ… sẽ là những “Quân Nhân Không Quân Ưu Tú” của Không Lực Việt Nam tương lai. Nên huynh trưởng Lưu Kim Cương “rút” nhân viên phi hành Nguyễn Văn Lợi về học Khoá I Thái Cực Đạo Võ Đường Thần Phong và trở thành “Anh – Em Kết Nghĩa Thần Phong”. Từ sau đó Võ Sư Nguyễn Văn Lợi là “Ông Từ” giữ Võ Đường với Trịnh Khải Hoàng, Trần Văn Lạc, Hoàng Thuỵ Thông, Huỳnh Quang Thanh, Bùi Văn Tuyển, Nguyễn Phi Bằng, Lê Văn Xuân, Huỳnh Phi Hùng, … và “được” xem như là chỗ dựa tinh thần của võ sinh các lớp Thiếu Niên Thần Phong từ khởi thuỷ cho mãi đến ngày nay… Anh là Người Anh Lớn đúng Nghĩa được hầu hết những Anh Em Thần Phong quý mến, kính trọng…!!!

– Võ Sư Trương Văn Nhiều: Phụ trách huấn luyện cho Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong lớp buổi chiều thứ 3-5-7.

– Võ Sư Huỳnh Văn Phúc: Phụ trách huấn luyện cho Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong lớp buổi sáng thứ 2-4-6. Là thủ quỹ VĐTP.

– Võ Sư Nguyễn Ngọc Diệp: Phụ trách huấn luyện cho Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong lớp buổi sáng thứ 3-5-7 và văn thư VĐTP.

– Võ Sư Phan Văn Đức: Phụ trách liên lạc ngoại vụ và huấn luyện cho Quân Nhân lớp buổi tối. Còn lại tất cả những Võ Sư cùng tốt nghiệp Khoá Thứ Nhất của Võ Đường Thần Phong được trở về phần sở để huấn luyện Võ Thuật Tae Kwon Do cho 6 Sư Đoàn Không Quân Việt Nam.

Vo_Su_Than_Phong

.Khoá Taekwondo Thứ II:

Võ Đường Thần Phong thu nhận đủ số võ sinh cho Khoá Thứ Nhì và được khai giảng vào ngày 3 tháng 6 năm 1968 để tiếp tục huấn luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo (Tae Kwon Do) và Hiệp Khí Đạo (Aikido Yosheikan`) cho giới Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong. Phụ trách huấn luyện chính vẫn do Võ Sư Đại Hàn và Võ Sư Việt phụ tá cho đến năm 1973 theo Chương Trình Rút Quân Đội Đồng Minh Rời Khỏi Việt Nam, Võ Đường Thần Phong không còn có Võ Sư Đại Hàn phụ trách huấn luyện nữa…! Nhưng ở giai đoạn từ sau năm 1968 những Võ Sư Việt tốt nghiệp Huyền Đai của Khoá Thứ Nhất Võ Đường Thần Phong được tuyển lưu giữ để thành Võ Sư Huấn Luyện được phân nhiệm huấn luyện thực thụ cho các Khóa Huấn Luyện về sau mãi cho tới năm 1975. Những Võ Sinh của Khoá Thứ Nhì sau 2 năm thụ huấn đến tháng 6 năm 1970 đã dự thi và tốt nghiệp với đẳng cấp Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng. Một số tân đai đen xuất thân từ Lớp Thiếu Niên Thần Phong như: Trịnh Khải Hoàng, Trần Văn Lạc, Hoàng Thuỵ Thông,…đã trở thành Võ Sư, Tuyển Thủ ưu tú… được Ban Giám Đốc Võ Đường Thần Phong đề cử tiếp nối truyền thống Huấn Luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo cho 2 Võ Đường Thần Phong Dân Sự như:
VÕ SƯ THẦN PHONG HUẤN LUYỆN VÕ THUẬT TẠI CÁC VÕ ĐƯỜNG D N SỰ
.

Võ Sư Nguyễn Văn Lợi-Võ Sư Trần Văn Lạc-Võ Sư Trịnh Khải Hoàng với Võ Đường Thần Phong Phi Cảng Tân Sơn Nhất:
Sáng Lập: Võ Sư Nguyễn Văn Lợi.
Giám Đốc: Bà Đặng Thị Tiên.
Võ Sư Trịnh Khải Hoàng, Võ Sư Trần Văn Lạc. Thỉnh thoảng Võ Sư Hoàng Thuỵ Thông, Võ Sư Phạm Trọng Nghĩa, Võ Sư Nguyễn Phi Bằng đến võ đường phụ trách huấn luyện cho võ sinh Võ Đường Thần Phong Dân Sự Phi Cảng Tân Sơn Nhất từ năm 1971-1974. Những võ sinh theo học Khoá Thứ Nhất ở Võ Đường nầy đến năm 1973 đã đạt được đẳng cấp Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng.

.

Võ Sư Huỳnh Văn Phúc- Võ Sư Nguyễn Ngọc Diệp – Võ Sư Trịnh Khải Hoàng với Võ Đường Thần Long:

Thần Phong Dân Sự 2, Quận Tư, Thành Phố Sài Gòn.

Giám đốc là Võ Sư Huỳnh Văn Phúc.

Võ Sư Trịnh Khải Hoàng, Võ Sư Nguyễn Ngọc Diệp phụ trách huấn luyện từ năm 1972-1975. Những võ sinh theo học ở Võ Đường Thần Long đến năm 1974 đã đạt đẳng cấp Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng.

Nhiều võ sinh sau khi theo học tại võ đường Thần Phong đạt được trình độ Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng đã tham gia huấn luyện Thái Cực Đạo tại các võ đường trong thành phố.

.

Võ Sư Trần Văn Lạc – Taekwondo tại Lackland Airforce Base 1972-1974:

Năm 1972, Trần Văn Lạc được qua Mỹ thụ huấn Khoá Huấn Luyện Hoa Tiêu Hellicopter tại căn cứ Lackland Air Force Base is a United State Air Force Base located in San Antonio, Texas. The base is under the jurisdiction of the 802d Mission Support Group, Air Education and Training Command. Trong thời gian theo học từ 1972 – 1974, võ sư Trần Văn Lạc được nhà trường yêu cầu mở lớp huấn luyện Taekwondo cho tất cả khoá sinh ham chuộng Võ Thuật. Lớp học thu hút được số đông khoá sinh khác chủng tộc đang theo học chương trình đào tạo Pilot Hellicopter. Cuối năm 1974 được lệnh trở về nước và đến cuối năm 1975 vượt biển sang định cư tại San Antonio, Texas. Năm 1976 gặi lại tổ sư sáng lập Taekwondo – Choi Hong Hi đề cử làm Chủ Tịch International Taekwondo Federation tại USA.

.

Võ Sư Hoàng Thuỵ Thông – Taekwondo Cộng Đồng San Diego, California:

Năm 1975, võ sư Thần Phong Hoàng Thuỵ Thông định cư tại San Antonio-Texas, sau di chuyển về San Diego – California tham gia sinh hoạt xã hội, làm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt địa phương và mở lớp huấn luyện Thái Cực Đạo thời gian dài và sau cùng vì quá bận rộn với công việc, anh tạm ngưng chương trình huấn luyện Taekwondo.

.

Võ Sư Nguyễn Lục Phú với Võ Đường Quốc Tuấn:

Võ Sư Nguyễn Lục Phú tập luyện Taekwondo và Aikido tại Võ Đường Thần Phong từ 1966-1968 và được tuyển vào đội Thần Phong Không Quân tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1969 với cấp đai nâu và đoạt giải Vô Địch Toàn Đội với Huy Chương Vàng. Đến 1972 Võ Sư Nguyễn Lục Phú – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng Aikido – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Judo – Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng Taekwodo – Huyền Đai Đệ Ngũ Đẳng Karate phụ trách huấn luyện tại Võ Đường Thần Phong lớp Aikido và Judo cho tới năm 1975. Ngoài ra Võ Sư Nguyễn Lục Phú mở Võ Đường Quốc Tuấn dạy Judo tại ngã ba đường Lê Văn Duyệt – Hòa Hưng năm 1974. Từ sau 1975, Võ Sư Nguyễn Lục Phú vẫn tiếp tục sinh hoạt Võ Thuật và mở lớp dạy: Aikido, Judo, Karate, Taekwondo, Kendo cho tới khi qua Mỹ định cư.

.

Võ Sư Lâm Hal với Võ Đường Thái Cực Đạo TTCH:

Võ Sư Lâm Hal- Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng Taekwondo (Đệ Tam Đẳng 1974) Sĩ Quan Không Quân được thiếu tá Trần Như Đẩu – Bộ Tư Lệnh Không Quân điều động về Võ Đường Thần Phong tập luyện để tham dự vào đội tuyển Thần Phong Không Quân tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc năm 1972 – 1973. Ngoài ra Võ Sư Lâm Hal mở Võ Đường dân sự dạy Thái Cực Đạo trong khu cư xá Trung Tâm Cải Huấn Chí Hòa.

.

Võ Sư Trịnh Khải Hoàng – Võ Sư Trương Văn Nhiều với Trung Tâm Đắc Lộ Thái Cực Đạo:

Võ Sư Nguyễn Văn Hoàng là Huấn Luyện Viên Võ Thuật của Sư Đoàn Nhẩy Dù, Ông phụ trách huấn luyện môn Thái Cực Đạo cho đơn vị trừ bị Nhẩy Dù tại trại Hoàng Hoa Thám. Ông mở và dạy thêm lớp Thái Cực Đạo tại trường trung học Đắc Lộ – Bảy Hiền. Nhưng vì là Hạ Sĩ Quan phục vụ tại đơn vị với nhiều công tác, Ông không có thời gian để trực tiếp dạy Võ như dự tính. Vì vậy, Ông nhờ võ sư Trương Văn Nhiều và võ sư Trịnh Khải Hoàng dạy thế cho Ông 1971 – 1972.

.

Võ Sư Bùi Văn Chúc với Võ Đường Thần Phong Quân Cụ:

Võ Sư Bùi Văn Chúc luyện tập môn Aikido tại Võ Đường Thần Phong từ năm 1968 – 1973 thi đậu Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng và được Ban Giám Đốc đề cử làm Võ Sư thực thụ huấn luyện môn Aikido cho võ sinh tại võ đường từ năm 1973 – 1975. Trong năm 1973, võ sư Bùi Văn Chúc khai giảng lớp Thần Phong Aikido và Taekwondo tại đơn vị Quân Cụ Gò Vấp để huấn luyện Võ Thuật cho quân nhân và con em phục vụ trong ngành Quân Cụ được các giới chức chỉ huy, điều hành hưởng ứng và khen thưởng nồng nhiệt…! Sau 1975, võ sư Bùi Văn Chúc – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Aikido định cư tại Mỹ, Ông tiếp tục mở lớp dạy Aikido Yosheikan tại địa phương cho đến khi được nghĩ hưu trí.

.

Võ Sư Bùi Hữu Tạc và Lớp Thần Phong Aikido tại Seattle, Washington:

Võ Sư Bùi Hữu Tạc tập luyện môn Aikido từ tháng 6 – 1968 tại Võ Đường Thần Phong, đến năm 1972 là Võ Sư Aikido – Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng phụ trách huấn luyện lớp Aikido buổi chiều cho tới năm 1975. Sau 1975, định cư tại Seattle , Washington, Võ Sư Bùi Hữu Tạc tiếp tục sinh hoạt Võ Thuật và mở lớp Thần Phong Aikido tại Seattle, Washington cho đến khi hưu trí.

.

Võ Sư Trần Bảo Lộc và Lớp Thần Phong Aikido tại USA:

Võ Sư Trần Bảo Lộc là Sĩ Quan Không Quân, tập luyện môn Aikido Yosheikan với Đại Sư Nguyễn Đăng Đức và Võ Sư Lê An Ninh từ tháng 6 – 1968, thi đậu Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng 1972 và trở thành Võ Sư phụ trách huấn luyện cho võ sinh Lớp Aikido buổi chiều tại Võ Đường Thần Phong cho đến 1975. Sau khi định cư tại Mỹ, Võ Sư Trần Bảo Lộc mở lớp Thần Phong Aikido tại địa phương và cũng như những Võ Sư xuất thân từ môn Aikido với tính chất Nhu an tĩnh… Võ Sư Trần Bảo Lộc sinh hoạt Võ Thuật rất khiêm tốn, hài hoà.

.

Võ Sư Thần Phong Nguyễn Phi Bằng – Câu Lạc Bộ Quận Gò Vấp:

Nguyễn Phi Bằng tập luyện môn Taekwondo lớp 2 – 4 – 6 do võ sư Nguyễn Văn Lợi huấn luyện đến năm 1972 thi đậu Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng, năm 1974 thi đậu Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng làm phụ tá cho Thầy Nguyễn Văn Lợi dạy lớp đai đen Taekwondo tại Võ Đường Thần Phong từ 1973 – 1975.

Năm 1978 tại Saigon và các quận, tỉnh thành đều phát động phong trào thể dục, thể thao và thành phố Saigon là “đơn vị” tiền phong mạnh nhất với phong trào tập luyện Thái Cực Đạo: Tại Quận 4 có võ sư Thần Phong – Nguyễn Văn Vạn, Quận 5 có võ sư Thần Phong – Đào Phúc Thế, Quận Tân Bình có Thần Phong – Huỳnh Phi Hùng, Thần Phong – Phạm Trọng Nghĩa mở lớp dạy ở Câu Lạc Bộ 2/9 và vùng phụ cận… Nguyễn Phi Bằng, Huỳnh Phi Hùng với Vũ Sĩ Vinh thường tới lớp phụ giúp anh Nguyễn Văn Vạn là trưởng huấn luyện viên quốc gia đào tạo cho đệ tử trong số võ sinh có Trần Quang Hạ đại diện Việt Nam tham dự Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Đông Nam Á Châu – SEA Games 1990 và đoạt Giải Vô Địch Taekwondo với Huy Chương Vàng làm rạng danh Việt Nam và Thần Phong.

Năm 1984, Huỳnh Phi Hùng vượt biên, để lại các võ sinh hậu duệ Thần Phong như các em có trình độ kỹ thuật cao cấp: Sinh, Nguyên, Minh, Long, Trụ , Hải,… trở thành những Võ Sư sau này tiếp tục truyền bá Thần Phong Thái Cực Đạo tại Việt Nam và Canada. Võ Sư Nguyễn Phi Bằng làm cố vấn cho Huấn Luyện Viên tại Câu Lạc Bộ Quận Gò Vấp đào tạo tuyển thủ cho môn Thái Cực Đạo Việt Nam cho tới năm 2012 đi Mỹ định cư.

ĐẶC BIỆT VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG TẠI HÀ NỘI SAU 1975

Sau tháng 4 – 1975 vì áp lực Chính Trị toàn thể sinh hoạt Võ Thuật Thần Phong bị cấm đoán chặc chẽ tại Việt Nam. Nhưng đặc biệt năm 1986, Võ Sư Nguyễn Hùng Sơn vốn là võ sinh của võ đường Chung Do Kwan sau theo học với Võ Sư Phan Văn Đức đã mạnh dạn ra Hà Nội xin giấp phép mở Võ Đường Thần Phong để huấn luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo cho giới thanh thiếu niên miền Bắc rất hâm mộ Võ Thuật Thần Phong Thái Cực Đạo miền Nam. Võ Đường Thần Phong đầu tiên được khai mở tại Hà Nội trực thuộc Sở Thể Dục Thể Thao Hà Nội – Văn Phòng Hiệp Hội Thái Cực Đạo được đặc tại Sân Vận Động Hàng Đẫy số 7 Trịnh Hoài Đức – Hà Nội. Võ Sư Nguyễn Hùng Sơn làm phó chủ tịch Hiệp Hội Thái Cực Đạo kiêm Trưởng Ban Chuyên Môn Võ Thuật với 26 năm truyền dạy Võ Thuật Thái Cực Đạo tại các huyện nội thành và ven đô Hà Nội, đa số võ sinh thi lên đai là thanh thiếu niên ở huyện Từ Liêm… Nay các truyền nhân của Ông đã trở thành những Võ Sư danh tiếng như: Võ Sư Lê Minh Khương, Võ Sư Đào Quốc Thắng, Võ Sư Trần Minh Tuấn, Võ Sư Nguyễn Sơn,… đã mở các Võ Đường ở nhiều nơi tại miền Bắc Việt Nam.

THẦN PHONG HẢI NGOẠI

. Ý Niệm Thay Đổi Thần Phong Cũ và Mới Sau 1975:

Nhiên Giới và Con Người ngày càng được hiểu rõ hơn, nhiều hơn, đúng hơn trong tiến trình đi lên của nhân loại là một trong những điều kiện nhu yếu để con người sống còn tiếp nối và tiến hóa…Chúng ta không thể đứng im lại vì như thế tất sẽ ngưng đọng không tiến triển và bị chìm đắm, nhưng bước tới không nền tảng và không định hướng đi tới đích điểm tất cũng sẽ trôi lăn theo dòng đời vô định ? Việt Nam ta đã có câu:

“Áo mặc sao qua khỏi đầu”: Ý niệm cương thường thuộc về Lễ.

“Sóng sau dồn sóng trước”: Ý niệm thế hệ thuộc về Lý

Do vậy: Những gì đã là của Võ Đường Thần Phong từ khởi thuỷ 1966 – 1975 cách riêng đã là lịch sử của Thần Phong với biết bao nhiêu: Thiện chí, công sức của rất nhiều nhân sự tiền phong Hàn – Việt đã hình thành, gây dựng và gìn giữ với nhiều thành quả tốt đẹp… Hãy giữ yên vậy! Chúng ta không làm thay đổi quá khứ đó được. Đó là giữ Lễ.

Nhưng sau 30 – 4 – 1975: Những Võ Sư xuất thân từ Hệ Thống Thần Phong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã nỗ lực gây dựng lại Thần Phong Thái Cực Đạo, làm phát triển ở hải ngoại, đạt thành quả tốt, dương danh Thần Phong và đương nhiên theo đà biến thiên của thời gian Thần Phong cũng không ngoại lệ…? Nên từ nội dung cho tới hình thức Thần Phong nay có thay đổi khác xưa và nếu được tốt đẹp hơn chăng là do sự cố gắng trau dồi sở học, đạt thành quả và phát triển ở tương lai. Thế hệ hậu duệ của Thần Phong hãy mạnh dạn bước tới với niềm tin vững mạnh ở tương lai vì các bạn đang thời xuân, “nhật xuất lôi môn”. Chúng tôi, những Võ Sư Thần Phong cũ, đã là quá khứ và “Kính Nhi Viễn Chi” không hề vì thủ cựu mà áp đặt tất cả những gì không còn hợp Thời, Thế để làm thành “sự” cản trở đường thăng tiến của Thần Phong đương đại. Đó là theo Lý. Hội Võ Thuật Thần Phong từ 1966 – 1975 đã là một thành phần của Lịch Sử của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa với những giá trị và danh tiếng tốt đẹp. Không có ai với thẩm quyền gì làm thay đổi được.

Sau năm 1975. Định cư tại Hoa Kỳ, những Võ Sư Võ Đường Thần Phong vẫn tiếp tục truyền thống Huấn Luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo nên:

– Võ Sư Nguyễn Văn Lợi, Võ Sư Trịnh Khải Hoàng, Võ Sư Lê Văn Xuân mở các lớp huấn luyện Thái Cực Đạo tại thành phố Lawn Dale và Hawthorne, Nam California.

. Đại Sư Trần Như Đẩu – Taekwondo – Võ Thuật Đông Phương

Võ Gia Trần Như Đẩu được Anh – Em trong giới Võ Thuật Việt Nam và Thần Phong quí mến, trân trọng nhân cách và tài năng Võ của Ông… Nên từ ngữ Đại Sư được số đông Võ Sư – Võ Sinh các môn phái Võ Gia tự thâm tâm kính trọng khi xướng danh: “Đại Sư Trần Như Đẩu” với thực chất đầy đũ ý nghĩa, không cần thiết phải viết gì hơn.

. Đại Sư Kim Phúc Nam – Thần Phong Taekwondo Fairfax-Virginia

Đại Sư Kim Phúc Nam là bậc Thầy cùng với các Đại Sư Đại Hàn đã huấn luyện, đào tạo Võ Sư Thái Cực Đạo đầu tiên tại Võ Đường Thần Phong khai sáng nền Võ Thuật TaeKwondo Không Quân Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1966 – 1975. Sau 1975, Đại Sư Kim Phúc Nam định cư tại USA và tiếp tục mở lớp Thần Phong Taekwondo tại quận Fairfax – Virginia. Với những bậc Đại Sư thành Danh trong giới Võ Thuật Việt Nam, không cần thiết phải viết thêm điều gì.

.Thần Phong Australia với Võ Sư Huỳnh Phi Hùng:

Võ Sư Huỳnh Phi Hùng xuất thân là võ sinh của lớp Taekwondo buổi sáng do Võ Sư Nguyễn Ngọc Diệp và Võ Sư Huỳnh Văn Phúc phụ trách huấn luyện, sau chuyển qua học lớp buổi chiều do Võ Sư Nguyễn Văn Lợi huấn luyện. Đến năm 1972, Hùng thi đậu Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng.
Năm 1974, Huỳnh Phi Hùng tham dự Giải Cá Nhân Đai Đen Thiếu Niên – Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 974 và thắng giải hạng Nhì với huy chương Bạc.

Năm 1979, thi đậu Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng và được điều về phòng Thể Dục – Thể Thao quận Tân Bình làm Trưởng Huấn Luyện Viên bộ môn Taekwondo phát triển ra 3 chi nhánh: Đắc Lộ (Bảy Hiền), Cộng Hoà, Ngô Sĩ Liên . Huỳnh Phi Hùng cùng với võ sinh đã tham dự nhiều cuộc tranh giải Thái Cực Đạo được thành phố tổ chức và đoạt nhiều thành tích xuất sắc cho phòng Thể Dục – Thể Thao quận Tân Bình.

Năm 1982, sau khi thi đậu Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Thái Cực Đạo, Huỳnh Phi Hùng với tên Việt Phi Hùng của “lò” Việt Quyền Lý Thường Kiệt, cùng với sư huynh Nguyễn Văn Vạn tham dự 24 trận đấu Võ Đài Tự Do từ thành phố đến các tỉnh, đoạt thành tích đã hạ đấu thủ knockout 22 trận.

Năm 1984, vượt biên đến định cư tại Hobart – Australia. Năm 1986 di chuyển về Melbourne – Victoria cùng với võ sư Nguyễn Văn Hoà (Ohdokwan) mở võ đường Hùng Vương Taekwondo . Năm 1987, mở Võ Đường Thần Phong đầu tiên tại Australia. Năm 1988, mở thêm chi nhánh Thần Phong 2 tại St Alban.

Năm 1989, Huỳnh Phi Hùng, Võ Tấn Lợi hợp cùng Giám Đốc các Võ Đường thành lập Tổng Hội Việt Nam Taekwondo Úc Châu. Ban chấp hành được bầu và quyết định như sau:

– Chủ tịch Liên Đoàn Việt Nam Taekwondo Úc Châu: Võ Sư Võ Tấn Lợi – Huyền Đai Đệ Lục Đẳng.
– Phó chủ tịch Nội Vụ: Võ Sư Huỳnh Phi Hùng – Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng.
– Phó chủ tịch Ngoại Vụ: Võ Sư Nguyên Khiết – Huyền Đai Đê Tứ Đẳng.
– Tổng thư ký : Nguyễn Đức Trừng

Sau khi thành lập xong Tổng Liên Đoàn Australia đã tổ chức thành công 4 kỳ Tranh Giải Liên Bang:

– Giải Vô Địch Lần Thứ Nhất: Tổ chúc vào 2 ngày 29 và 30 tháng 12 năm 1990 tại tiểu bang Queensland.
– Giải Vô Địch Lần Thứ Hai: Tổ chức 2 ngày 28 và 29 tháng 12 năm 1991 tại tiểu bang New South Wales Sydney.
– Giải Vô Địch Lần Thứ Ba: Tổ chức tại Melbourne tiểu bang Victoria vào hai ngày 27 và 28 tháng 12 năm 1992.
– Giải Vô Địch Lần Thứ Tư : Tổ chức ngày 16 tháng 4 1995, xoay vòng lại tiểu bang Queensland.

Trong những lần tranh giải các vận động viên cũng như võ sư từ các tiểu bang tập trung đông đủ gồm các võ đường Việt – Úc trong đó các võ đường Việt Nam như: Võ Đường Hùng Vương , Võ Đường Quang Trung , Võ Đường Phù Đồng, Võ Đưòng Chung Do Kwan, Võ Đường Thần Phong . Các hậu duệ Thần Phong luôn mang về những thành tích xuất sắc góp phần tiếp tục làm rạng danh Thần Phong, trong đó phải kể đến các võ sinh xuất sắc của Huỳnh Phi Hùng nay đã lên hàng Võ Sư đang phụ trách huấn luyện Thái Cực Đạo từ trong nước cho tới hải ngoại như: Huỳnh Trọng Hiếu, Huỳnh Trọng Hiền, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Đức, Trần Văn Hải, Lâm Đại Bàng, Nguyễn Văn Phước, Trần Như Minh, Trần Như Hiền, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Minh Công, Lê Minh Lương, Lê Minh Công, Huỳnh Văn Phước, Hồ Minh Du, Hồ Minh Phong, Nguyễn Công Trứ, Lê Minh Lương, Lê Minh Hùng, Nguyễn Thế Minh, Trần Văn Công, Phan Cao Thuỵ , Phan Thuỵ Khanh, Nguyễn Thuận,… và còn nhiều nữa… Năm 1996 Võ Sư Võ Tấn Lợi đã từ biệt anh em Taekwondo Úc Châu ra đi ! Đây là một mất mát lớn cho Taekwondo Việt Nam – Australia.

.Võ Sư Võ Hồng Sinh – Võ Đường Sinh Taekwondo Melbourne-Victoria:
Là quân nhân Không Quân phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Sư Đoàn 3 Không Quân – Biên Hoà. Năm 1973, được triệu tập về Võ Đường Thần Phong tập luyện để được tuyển chọn làm Tuyển Thủ Toàn Đội Thần Phong Không Quân B, tham gia tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1973 và Giải Cá Nhân Đai Nâu. Đạt thành tích:
– Vô Địch Toàn Năng: song đấu, quyền, công phá, giải Phong Cách.
– Vô Địch Toàn Đội Hạng Nhì với Huy Chương Bạc.
Năm 1975 – 1987 được bổ nhiệm làm Phó Chủ Tịch Kỹ Thuật Hội Taekwondo Đồng Nai.
Năm 1991 – 1994 đương nhiệm Phó Chủ Tịch Kỹ Thuật Hội Taekwondo Đồng Nai kiêm Trọng Tài Quốc Gia. Đến 1995 được bổ nhiệm là Huấn Luyện Viên Trường Taekwondo Đồng Nai.
Năm 2007 – 2009 làm Chủ Khảo cho các Võ Đường Thần Phong tại Australia.
Năm 2011 thành lập Sinh Taekwondo mở 3 lớp tại Melbourne – Victoria. Võ Đường Sinh Taekwondo đã tham gia các giải Champion Victoria Open và võ sinh đã đoạt được nhiều huy chương.
.Thần Phong The Planet Martial Arts Federation- Võ Sư Phan Văn Đức:

(có tới 5 huy hiệu khác nhau làm đại diện cho Thần Phong The Planet Martail Arts)
(Từ Thần Phong Martial Arts Association tới Thần Phong Intercontinental Martial Arts Federation tới Thần Phong The Planet Martial Arts Federation tới Thần Phong International Martial Arts Federation – Huy hiệu Thần Phong The Planet Martial Arts Federation)?

Tại Bắc California, Houston, Texas, võ Sư Trương Nguyên Thuận vốn là võ sinh đai nâu của lớp quân nhân niên khoá 1972 do Võ Sư Phan Văn Đức phụ trách huấn luyện. Sau 1975 định cư tại Mỹ , tiếp tục tập luyện Taekwondo và thi lấy đẳng cấp tại Mỹ, anh Thuận có rất nhiều thiện chí và đắc lực mở lớp dạy môn Võ Taekwondo với danh hiệu Thần Phong và gìn giữ đúng khuôn mẫu, truyền thống nguyên thuỷ của Võ Đường Thần Phong Không Quân Việt Nam lúc ban đầu. Nhưng đến năm 1989, Võ Sư Phan Văn Đức được định cư tại Hoa Kỳ. Võ Sư Trương Nguyên Thuận đã bàn giao, nhượng lại Võ Đường Thần Phong tại Bắc California cho Võ Sư Phan Văn Đức và cùng thành lập nên Thần Phong Martial Arts Association, sau cải danh thành Thần Phong Intercontinental Martial Arts Federation, tiếp đến năm 1991 lại sửa đổi danh hiệu lần nữa là Thần Phong The Planet Martial Arts Federation. Nhưng sự chuyển đổi thành hệ phái “Thần Phong” mới và khác biệt với Thần Phong nguyên thủy như trên chỉ là sự quyết định của riêng cá nhân Võ Sư Phan Văn Đức và Võ Sư Trương Nguyên Thuận trong “hệ phái” Thần Phong mới của họ với điều luật mới, nội quy mới và huy hiệu mới, không có liên hệ gì với Thần Phong chính thống, tuy rằng có cùng một danh hiệu Thần Phong và cả hai võ sư Đức và Thuận đều xuất thân từ Võ Đường Thần Phong – Không Quân Việt Nam Cộng Hoà ! Võ sư Phan Văn Đức viết lại tiểu sử và thành tích cá nhân: Là vị sáng lập nên Thần Phong Không Quân Việt Nam Cộng Hoà và là bậc thầy dạy tất cả Võ Sư, Võ Sinh tại Võ Đường Thần Phong và là giám đốc kỹ thuật dưới sự đào luyện của “ông”; tuyển thủ Thần Phong Không Quân đã thắng các giải Vô Địch Toàn Quốc và Á Châu từ năm 1969 – 1974. Sự việc tiếm danh Thần Phong và nguỵ tạo hư danh nói trên của cá nhân Phan Văn Đức đã ít nhiều gây ngộ nhận cho những võ sinh “Thần Phong” do chính “hệ thống” này tạo ra ! Năm 2010, Võ Sư Trương Nguyên Thuận đã có chuyến đi thủ đô Seoul (Hán Thành) tham dự The World Tae Kwon Do và gặp lại vị Thầy khả kính Võ Sư Kim Byung Wuon đang là Đương Kim Chủ Tịch Kỹ Thuật của Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Thế Giới (WTF) được Thầy khuyến khích và góp ý là nên gìn giữ Võ Phái Thần Phong Nguyên Thuỷ với “Danh” Thần Phong International Martial Arts Federation. Nhưng Thần Phong International Martial Arts cũng không phải là Thần Phong – Không Quân Việt Nam Cộng Hoà nguyên thuỷ. Tất cả là sản phẩm của riêng đồng tác giả: Võ sư Phan Văn Đức – võ sư Trương Nguyên Thuận.

Làm gì có chuyện một ông quân nhân đủ khả năng và đủ điều kiện để được phép tự mình khơi khơi thành lập ra một hội đoàn trong một đơn vị quân đội với đầy đủ mọi phương tiện hoạt động từ phòng ốc, các trang bị cho đến mọi điều kiện sinh hoạt… như Võ đường Thần Phong và Hội Võ thuật Thần Phong Tân Sơn Nhất từ 1966 – 1975 (chả cần biết gì đến hệ thống quân giai, các cấp chỉ huy thống thuộc và Đơn Vị Trưởng…) để rồi sau đó (chính mình hay người của mình)có sự rêu rao rằng mình là người sáng lập ra cái hội đoàn đó ?! Chỉ tiếc cho thái độ và việc làm của những nhân sự chủ xướng đã vì tư lợi cá nhân, nên cố ý gây nên sự việc tắc trách làm cho các thế hệ tiếp nối của anh Phan Văn Đức bị ảo tưởng về những điều không thật ! Nhất là thời buổi này và ở xứ sở này, ai làm gì mà chẳng được. Tuy vậy, sự thật vẫn luôn luôn là sự thật, không ai có thể bóp méo đi được. Dù sao thì anh Phan Văn Đức đã không còn và người đã khuất bóng thường không còn phải chịu trách nhiệm về nhưng điều mình đã gây ra. Thế hệ hậu duệ vì không biết nên không phải chịu trách nhiệm với những việc làm do ngộ nhận.

Nói về tinh thần thì tuy sự việc Võ Sư Phan Văn Đức gây ngộ nhận và có tai hại cho chính đương sự nhiều hơn là ảnh hưởng tới uy tính và danh tiếng Thần Phong. Những thế hệ hậu duệ ham chuộng Võ Thuật từ nơi Võ Sư Phan Văn Đức đào tạo là công sức của Anh làm nên, được phân minh đánh giá và ghi nhận rõ ràng trong Lịch Sử Thần Phong. Với tất cả các bạn Võ Sư – Võ Sinh thế hệ hậu duệ Thần Phong, cho dù các bạn thọ học với bất cứ Võ Sư nào xuất thân từ Võ Đường Thần Phong thì ít nhiều trong giá trị tinh thần các bạn đã là một thành phần của Thần Phong. Các bạn có tạo được thành tích tốt đẹp làm rạng danh Thần Phong hay không, các bạn vẫn đều có quyền bình đẳng để hãnh diện chia xẻ những thành quả tốt đẹp đã làm nên danh hiệu Thần Phong Không Quân. Trong ý niệm một ngày với Thần Phong cũng có thể là một đời với Thần Phong. Không ai có quyền tướt đoạt tinh thần Thần Phong của các bạn, trừ khi chính các bạn chối bỏ ! Nên chúng tôi với Tinh Thần Thần Phong luôn cỡi mở tấm lòng hân hoan chào đón tất cả các Võ Sư , Võ Sinh Thần Phong khắp nơi đồng qui về “mái nhà Thần Phong” để cùng nhau góp tay xây dựng Thần Phong thêm vững mạnh với không ngoài mục đích đã được vị sáng lập Thần Phong đề xướng và tất cả Võ Sư, Võ Sinh đã sinh hoạt thời qua. Theo thiển ý của chúng tôi thì vấn đề chính yếu hiện nay là làm sao giữ gìn được tinh thần của Thần Phong (trách nhiệm của những người xuất thân từ nơi này và các thế hệ tiếp nối, uống nước phải nhớ nguồn và không bao giờ nên quên về nguồn cội của mình, và tự hãnh với nguồn cội đó, mọi sự chối bỏ và làm lệch lạc lịch sử thành lập và hoạt động của Thần Phong đều bị lên án. Lịch sử này là một sự thật hiển nhiên không ai có thể làm cho khác đi được). Chúng tôi trân trọng Ý Niệm Thế Hệ và mở một chương mới Thần Phong với tất cả thế hệ hậu duệ trong nước và hải ngoại mạnh tiến là tương lai tươi sáng của Thần Phong.

AIKIDO (Yosheikan) TẠI VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG:

Từ năm 1967 – 1968, Đại Úy Trần Như Đẩu được bổ nhiệm về là Giám Đốc Võ Đường Thần Phong, Ông vốn đã có giao hữu thân tình với Võ Sư Nguyễn Đăng Đức và Võ Sư Lê An Ninh từ khi còn tập luyện Judo – Aikido với Đại Sư Watanabe và các Võ Sư Nhật Bản đang dạy Võ Thuật tại Việt Nam ở thập niên 1960. Do vậy, đại uý Trần Như Đẩu đã đệ đạt lên thượng cấp để khai mở cho Võ Đường Thần Phong lớp Aikido vào tháng 6 – 1968 với lần biểu diễn Võ Thuật Aikido – Taekwondo tại Hội Quán Lê Văn Lộc, dưới sự chủ toạ của Thiếu Tướng Trần Văn Minh – Tư Lệnh Không Quân và những Sĩ Quan Cao Cấp điều hành các đơn vị KQVNCH. Phái đoàn biểu diễn Aikido gồm có: Đại Sư Nguyễn Đăng Đức – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng, Võ Sư Lê An Ninh – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng, Võ Sư Lê Văn Vinh – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng, Võ Sư Lê Thị Kim – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng, Võ Sư Mai Văn Rét – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng… Và sau đó từ tháng 6 năm 1968 Võ Đường Thần Phong đã khai giảng Khoá AiKiDo ( Hiệp Khí Đạo) do Đại Sư Nguyễn Đăng Đức , Võ Sư Lê An Ninh – Hệ Phái Akido Yosheikan, phụ trách huấn luyện cho giới Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong cho đến năm 1970 thì số võ sinh theo học Khoá Thứ Nhất Aikido đầu tiên đã thi lên Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng Aikido gồm có: Đinh Thạch On, Bùi Hân, Trần Bảo Lộc, Bùi Văn Chúc, Trần Văn Ngọc, Nguyễn Lục Phú… Đến cuối năm 1974 thì số võ sinh theo học Khoá Thứ Nhất Aikido này đã đạt được từ đẳng cấp: Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng, Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng, Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Aikido, và Họ đã trở thành Võ Sư Aikido phụ trách huấn luyện tiếp tục cho các Khoá Võ Thuật Aikido về sau tại Võ Đường Thần Phong như: Võ Sư Đinh Thạch On, Võ Sư Bùi Văn Chúc, Võ Sư Trần Bảo Lộc, Võ Sư Bùi Hữu Tạc, Võ Sư Nguyễn Văn Ngọc, Võ Sư Lê Đình Thuận, Võ Sư Nguyễn Trúc Lân, Võ Sư Nguyễn Lục Phú,…mãi cho đến năm 1975.

Từ năm 1970 – 1971, Thiếu Tá Trần Như Đẩu – Phó Tổng Cục Vũ Thuật Quân Đội đã đệ trình lên Đại Tá Trần Đình Hoè – Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Không Quân mở thêm bộ môn Aikido Aikikai do Đại Sư Đặng Thông Phong phụ trách huấn luyện tại Võ Đường Thần Phong. Đề án được chấp thuận và chuẩn bị đến tháng 8 – 1975 sẽ khai giảng lớp Aikido Aikikai đầu tiên cho quân chủng Không Quân, nhưng vì biến cố 30 – 4- 1975 đã không thể thực hiện được.

JUDO TẠI VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG:
Từ năm 1971, Võ Đường Thần Phong đã khai giảng Khoá Nhu Đạo (Judo) do Võ Sư Đỗ Thành Hưng – Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng, Võ Sư Nguyễn Lục Phú (hoạ sĩ Lục Phú) – Huyền Đai Đệ Tam Đẳng phụ trách huấn luyện.

THIẾU LÂM BẮC PHÁI TẠI VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG:
Từ năm 1972, Võ Đường Thần Phong đã tổ chức khai giảng Khoá Thiếu Lâm Bắc Phái do Lão Võ Sư Tám Kiểng, phụ trách huấn luyện cho đến năm 1975.

CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN CỦA VÕ ĐƯỜNG THẦN PHONG
Võ Đường Thần Phong đã Tổ Chức Những Khoá Huấn Luyện như sau:
– Khoá Đào Tạo Võ Sư Huấn Luyện Viên lần Thứ Nhất khai giảng Năm 1966-1968.
– Khoá Huấn Luyện cho Võ Sinh Thái Cực Đạo, Hiệp Khí Đạo lần Thứ Nhì vào ngày 3 tháng 6 năm 1968. Rồi từ sau đó cứ mỗi Tam Cá Nguyệt, Võ Đường Thần Phong mở Khoá thu nhận Võ Sinh. Mỗi năm Võ Đường Thần Phong mở từ 26 – 28 Lớp huấn uyện Taekwondo: 2 Lớp Buổi Sáng cho Ngày Thứ 2-4-6 và Ngày Thứ 3-5-7 và 2 Lớp Buổi Chiều cho Ngày Thứ 2-4-6 và Ngày Thứ 3-5-7 và 1 Lớp Buổi Tối cho Quân Nhân Không Quân, mở 1 Lớp huấn luyện Aikido – Judo và 1 Lớp Thiếu Lâm Bắc Phái cho Quân Nhân và Thiếu Niên Thần Phong. Sĩ số Võ Sinh mỗi lớp thường từ 50 – 60. Mỗi Tam Cá Nguyệt, Võ Đường Thần Phong Tổ Chức một Kỳ Thi Tuyển cho Đẳng Cấp Đai:
– Đai Trắng cấp 8, thời gian thụ huấn 3 tháng để ứng thi Đai Xanh.
– Đai Xanh cấp 6, thời gian thụ huấn 3 tháng để ứng thi Đai Nâu.
– Đai Nâu cấp 4, thời gian thụ huấn 3 tháng để ứng thi Đai Nâu cấp 2-3.
– Đai Nâu cấp 2, thời gian thụ huấn 3 – 6 tháng để ứng thi Đai Nâu cấp 1.
– Đai Nâu cấp 1, thời gian thụ huấn 6 tháng để ứng thi Đệ Nhất Đẳng Huyền Đai.
– Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng, thời gian thụ huấn 2 năm để ứng thí Đệ Nhị Đẳng Huyền Đai.
– Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng, thời gian thụ huấn 3 năm để ứng thí Đệ Tam Đẳng Huyền Đai.
.Thành Quả Huấn Luyện: Võ Đưòng Thần Phong từ 1966 – 1975 đã tổ chức huấn luyện Võ Thuật Thái Cực Đạo – Hiệp Khí Đạo – Judo – Thiếu Lâm với 33 Khoá, 182 Lớp và 40 Kỳ Thi Lên Đẳng Cấp. Huấn luyện hơn 13000 võ sinh. Đào tạo hơn 7000 võ sinh đai Xanh, Nâu trung cấp, với hơn 200 Huyền Đai Đệ Nhất Đẳng, Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng, Huyền Đai Đệ Tam Đẳng. (thiếu tá Cát Văn Khôi được bổ nhiệm làm Giám Đốc Võ Đường Thần Phong và Ông ghi danh nhập học Khoá Aikido ngày 1 tháng 12 năm 1972, Ông được cấp Thẻ Hội Viên với số thứ tự 9609). Ban Văn Thư Võ Đường Thần Phong chỉ lưu trử hồ sơ võ sinh nhập học trực tiếp tại Võ Đường chính ở Căn Cứ Tân Sơn Nhất. Ngoài ra số võ sinh Quân Nhân luyện tập Võ Thuật tại các phần sở, do các Huấn Luyện Viên đã tốt nghiệp từ Võ Đường Thần Phong phụ trách huấn luyện và các Võ Đường Thần Phong thuộc: Sư Đoàn 1 Không Quân, Sư Đoàn 2 Không Quân, Sư Đoàn 3 Không Quân, Sư Đoàn 4 Không Quân, Sư Đoàn 6 Không Quân… Ban Văn Thư VĐTP không đảm nhiệm lưu giữ hồ sơ cá nhân nhập học. (ước tính tổng số võ sinh tập luyện Võ Thuật trong quân chủng Không Quân từ 1966 – 1975 ít nhất từ 75 000 – 100 000).
.Tham Gia Công Tác Phổ Biến Võ Thuật: Võ Đường Thần Phong đã tổ chức Đoàn Biểu Diễn Võ Thuật Thái Cực Đạo – Hiệp Khí Nhu Thuật để đi biểu diễn ở các nơi như:
– Ngày 5 – 3 – 1970: Đoàn Võ Thuật Thần Phong đã biểu diễn và khai sáng nền Võ Thuật Sư Đoàn 4 Không Quân.
– Ngày 25 – 5 – 1971: Đoàn Võ Thuật Thần Phong đã biểu diễn và khai sáng nền Võ Thuật Trường Quốc Gia Nghĩa Tử dưới sự chủ toạ của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà – Nguyễn Văn Thiệu và Phu Nhân.
– Ngày 29 – 3 – 1973: Đoàn Võ Thuật Thần Phong đã biểu diễn và khai sáng nền Võ Thuật cho Cục Truyền Tin Việt Nam Cộng Hoà.
THÀNH TÍCH TRANH GIẢI VÔ ĐỊCH THÁI CỰC ĐẠO TOÀN QUỐC
.Thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1969:
– Ngày 25 – 5 – 1969, Võ Đường Thần Phong đã tham dự chính thức tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo với những Tuyển Thủ Toàn Đội:
.Đai Đen: Kim Phúc Nam, Nguyễn Văn Lợi, Phan Văn Đức.
.Đai Nâu: Lê Văn Châu, Phạm Văn Khiết, Đặng Văn Phát.
– Giải Cá Nhân Thiếu Niên Đai Nâu: Trần Văn Lạc, Trịnh Khải Hoàng.
Thành Tích: Đội Tuyển Thần Phong Không Quân đã thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Quân Đội Toàn Quốc với 6 Huy Chương Vàng, 2 Cúp Vô Địch và 1 Huy Chương Bạc Đai Nâu Cá Nhân Đặng Văn Phát. Đoạt Giải và thủ Kỳ Vô Địch Thái Cực Đạo lần thứ Nhất.
.Thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1970:
– Ngày 25 – 12- 1970, Võ Đường Thần Phong với những Tuyển Thủ: Lê Văn Châu, Phan Văn Đức, Hoàng Thuỵ Thông và Tuyển Thủ Đai Nâu đã loại tất cả Đấu Thủ để vào Chung Kết tranh đoạt chức Vô Địch Thái Cực Đạo với Toàn Đội Cọp Biển Thuỷ Quân Lục Chiến… và lại một lần nữa Võ Đường Thần Phong chiến thắng đoạt Giải và thủ Kỳ Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Lần Thứ Nhì. Sở dĩ có sự chọn lựa tuyển thủ Hoàng Thuỵ Thông xuất Thiếu Niên Thần Phong ở vị trí đai đen trong toàn đội tuyển tham dự Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1970 là vì: đại uý Nguyễn Trúc Lân – Giám Đốc Võ Đường Thần Phong , đại uý Trần Như Đẩu – Trưởng Đoàn Tuyển Thủ, võ sư Kim Phúc Nam – Trưởng Ban Huấn Luyện cùng hội ý với các võ sư Nguyễn Văn Lợi, võ sư Trương Văn Nhiều, võ sư Huỳnh Văn Phúc, võ sư Nguyễn Ngọc Diệp để tuyển chọn nhân sự cho Đội Tuyển Thần Phong Không Quân . Nhưng cũng bởi vốn biết võ sư Phan Văn Đức với kỹ thuật rất xuất sắc trong huấn luyện, nhưng với chứng bệnh hen suyễn cấp tính khi lên đấu trường thì thật khó phân lường thắng bại ? Nên ban tuyển chọn đã có sự do dự khi chọn võ sư Phan Văn Đức vào đội tuyển. Biểu quyết sau cùng chọn Hoàng Thuỵ Thông có tài năng được lượng định sẽ nắm phần thắng nhiều hơn. Nếu bị thua 1 thì còn có thể thắng 2 cho toàn đội. Đúng như dự liệu: Trong trận tranh giải vòng loại, tuyển thủ Phan Văn Đức lên cơn suyễn, nên bị đối thủ đai đen Nguyễn Tạo tuyển thủ Đội Mãnh Hổ Quân Đoàn II đá knockout trên võ đài ở những phút đầu tiên ! Chính yếu tố bậc đàn anh bị thảm bại đã khiến cho tuyển thủ Hoàng Thuỵ Thông bừng lên nhiệt huyết và với tinh thần quyết thắng để “rửa mặt” cho đàn anh, Thông đã thi thố tài năng hạ đấu thủ đội đối phương rất ngoạn mục. ..! Trong suốt kỳ tranh giải từ Vòng Loại cho đến Chung Kết tuyển thủ Hoàng Thuỵ Thông đã chiến thắng tất cả đấu thủ và đã góp công sức hữu hiệu để Đội Tuyển Thần Phong Không Quân đoạt Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Năm 1970 với 3 Huy Chương Vàng, 1 Cup Vô Địch, thủ Kỳ Vô Địch Thái Cực Đạo lần thứ Nhì.
.Thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1971:
– Ngày 1 – 11 – 1971, Tuyển Thủ Toàn Đội của Võ Đường Thần Phong:
.Đai Đen: Lê Văn Châu, Trịnh Việt Trí, Lâm Hal.
.Đai Nâu: Đỗ Thành Hưng, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Lục Phú .

Thành Tích: Đội Tuyển Thần Phong Không Quân đã đấu hạ tất cả những đối thủ để cùng vào vòng Chung Kết với Cọp Biển Thuỷ Quân Lục Chiến. Đây là trận chiến của “Long Hổ Tranh Hùng” vang dội khắp Quân Binh Chủng Việt Nam Cộng Hoà và toàn thể giới Võ Thuật Dân Sự và lại một lần nữa Tuyển Thủ Thần Phong Không Quân đã chiến thắng đội Cọp Biển Thuỷ Quân Lục Chiến Lần Thứ Ba, đoạt Giải Vô Địch và thủ Kỳ Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Lần Thứ Ba và theo qui định Quán Quân với Ba Lần Đoạt Chức Vô Địch nên Võ Đường Thần Phong thủ Kỳ Quán Quân vĩnh viễn. Bộ Tư Lệnh Quân Đội Đại Hàn phải đề xuất Tân Kỳ Vô Địch cho những lần thứ tranh giải Vô Địch Thái Cực Đạo về sau. Trong lần đoạt giải Vô Địch Thái Cực này Đội Tuyển Thần Phong Không Quân đã thắng Giải Vô Địch Toàn Đội và Giải Vô Địch Đai Đen Cá Nhân với 1 Cup Vô Địch Toàn Đội Đai Đen, 1 Cup Toàn Đội Đai Nâu, 1 Cup Vô Địch Cá Nhân Đai Đen.
Tuyển Thủ Thần Phong Đại Diện Việt Nam Tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Đông Nam Á Châu:
Đặc biệt sau 3 năm liên tiếp đoạt Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc một số tuyển thủ Huyền Đai như Kim Phúc Nam, Phan Văn Đức, Lê Văn Châu được đề cử hợp cùng với một số tuyển thủ khác nữa trong đoàn Võ Sĩ đại diện Quốc Gia Việt Nam tranh Giải Vô Địch Taekwondo Đông Nam Á Châu (SEAGAMES 1971 – Kuala Lumpur, Malaysia from 6 – 13 December 1971). Kết thúc cuộc tranh giải, những tuyển thủ Thần Phong: Kim Phúc Nam, Lê Văn Châu, Phan Văn Đức, Huỳnh Văn Phúc đã thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Đông Nam Á Châu và đem về: 1 Huy Chương Vàng Đai Đen, 1 Huy Chương Bạc Đai Đen, 1 Huy Chương Vàng Đai Nâu, 1 Huy Chương Đồng Công Phá Đệ Nhị Đẳng, 1 Cup Vô Địch Đai Đen, 1 Cup Vô Địch Đai Nâu và làm rạng danh môn Tae Kwon Do Việt Nam .
.Thắng Giải Vô Địch Cá Nhân Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1972:
– Ngày 21 – 3 – 1972, Võ Đường Thần Phong quyết định không tham dự tranh Giải Thái Cực Đạo Toàn Quốc ở Giải Toàn Đội Tuyển như mọi năm, mà chỉ tranh đoạt những Giải Kỹ Thuật Cá Nhân và cũng đã thành công xuất sắc đoạt được nhiều Giải Cá Nhân trong kỳ tranh Giải Thái Cực Đạo Toàn Quốc Năm 1972. Kết quả Toàn Đội Tuyển Cọp Biển Thuỷ Quân Lục Chiến đã chiếm Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Năm 1972. Thần Phong Không Quân đoạt Giải Vô Địch Cá Nhân Đai Đen Toàn Quốc hạng Nặng và hạng Trung.
.Thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1973:
– Năm 1973, Võ Đường Thần Phong tham dự tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc và lại thêm một lần nữa đội Thần Phong Không Quân đoạt Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc với 1 Cup Vô Địch và 6 Huy Chương Vàng. Đặc biệt tuyển thủ Võ Hồng Sinh ghi danh tranh thêm giải Cá Nhân và đoạt giải Vô Đich Cá Nhân năm 1973 với 5 huy chương vàng: giải Quyền , giải Tay Công Phá, giải Chân Công Phá, giải Phong Cách và giải Song Đấu.
.Thắng Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1974:
– Năm 1974, Võ Đường Thần Phong ghi danh tham dự tranh Giải Thái Cực Đạo Toàn Quốc với lực lượng hùng hậu gồm có đến 2 Toàn Đội Tuyển Thủ:
. Toàn Đội Tuyển Thủ Võ Đường Thần Phong A do thiếu tá Trần Như Đẩu hướng dẫn.
. Toàn Đội Tuyển Thủ Võ Đường Thần Phong B do trung uý Trần Ngọc Tự hướng dẫn.
Đặc biệt trong lần tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Năm 1974. Đội Tuyển Thủ Thần Phong gồm có: Kim Phúc Nam, Lê Văn Châu, Trịnh Việt Trí, Lâm Hal, Nguyễn Văn Vạn, Phan Văn Đức, Đinh Tường, Thái Bình Hoà, Đào Phúc Thế, Võ Hồng Sinh, Nguyễn Văn Thành, Đào Viết Cường tham dự. Ban Giám Đốc Võ Đường đã hội ý và đặc biệt một lần nữa tuyển chọn đề cử tuyển thủ Hoàng Thuỵ Thông trong vị thế tuyển thủ Toàn Đội Đai Đen , với dáng “Bạch Diện Thư Sinh” phảng phất nét văn nhân, nghệ sĩ như sĩ tử với trường thi và “bầu rượu túi thơ” hơn là võ sĩ. Nhưng với ý chí đanh thép quyết thắng, tuyển thủ huyền đai đệ nhị đẳng Hoàng Thuỵ Thông đã chiến thắng đấu thủ xuất sắc hàng đầu của đội Mãnh Hổ Thuỷ Quân Lục Chiến ở những giây phút đầu tiên của trận đấu…! Tuyển thủ của Đội Thuỷ Quân Lục Chiến là hảo thủ tài năng xuất sắc có danh tiếng được hâm mộ và khen tặng trong giới Võ Thuật Thái Cực Đạo là ” Mãnh Hổ, Cọp Biển” với nhiều dạn dầy kinh nghiệm chiến đấu và đoạt nhiều chiến thắng trên võ đài Taekwondo Quân Đội và Toàn Quốc. Họ ít khi bị bại với những đấu thủ nào khác. Nếu không phải là tuyển thủ của Võ Đường Thần Phong trong suốt cả thời gian từ khi Quân Đội Đại Hàn đem môn Võ Thái Cực Đạo vào miền Nam Việt Nam truyền bá và tổ chức hằng năm Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Quân Đội và Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc.
Kết thúc cuộc tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc Năm 1974:
– Toàn Đội A Võ Đường Thần Phong đoạt Giải Nhất Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1974.
– Toàn Đội B Võ Đường Thần Phong đoạt Giải Nhì Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1974.

.Thiếu Niên Thần Phong Đoạt Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Cá Nhân Toàn Quốc 1974:
Đặc biệt trong kỳ tranh Giải Vô Địch Thái Cực Đạo Toàn Quốc 1974, Võ Đường Thần Phong đề cử em Huỳnh Phi Hùng đai đen Thiếu Niên Thần Phong tranh Giải Vô Địch Cá Nhân Thiếu Niên Toàn Quốc và tuyển thủ Huỳnh Phi Hùng đã thắng giải hạng Nhì với Huy Chương Bạc.

.Võ Sư Thần Phong và Xã Hội Dân Sự:
Sau năm 1975, một số võ sư Thần Phong đã định cư tại hải ngoại. Ngoài việc mở lớp dạy Võ Thuật: Judo, Aikido, Taekwondo, họ còn tham gia và đóng góp khả năng đặc biệt ở những lãnh vực khác trong xã hội dân sự như:
– Võ Sư Nguyễn Văn Lợi với các công tác thiện nguyện phục vụ Cộng Đồng Việt Vùng Southbay – California, thành lập Đoàn Văn Nghệ Giao Chỉ – Đội Bóng Đá Southbay 1975 – 1982.
– Vì nhận thấy trong cộng đồng người Việt định cư tại Mỹ lúc bấy giờ đang có những sinh hoạt giáo dục cho con em với những lớp Việt Ngữ và Võ Thuật đang trên đà phát triển rất tốt … Nên võ sư Trịnh Khải Hoàng đã vận động với những Văn hữu thân tình như nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, nhà văn Nguyễn Đức Lập, nhà văn Trần Lam Giang, nhà văn Nhất Chính, học giả Đào Đăng Vỹ, sư Tịnh Đức,… cùng với võ sư Đặng Thông Phong xuất bản nguyệt san Võ Đạo Đông Phương là tờ báo Võ Thuật đầu tiên của cộng đồng người Việt tại Mỹ năm 1989. Ngoài ra anh và võ sư Lê Văn Xuân còn mở thêm lớp luyện tập Hồng Gia – La Phù Sơn để cho anh – em trong giới Võ Thuật có cơ hội luyện tập trau dồi thêm sở học. Năm 2009, anh cùng với nhà văn Hoàng Dược Thảo xuất bản nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà, anh phụ trách mục Quan Điểm – Tham Luận Chính Trị – Văn Hoá với bút hiệu Jr Trần Chính Trung (Ban biên tập Chiến Sĩ Cộng Hoà) từ số 1 – 7 năm 2009, những bài viết liên quan tới Võ Đường Thần Phong đều được anh chọn đăng trong nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà nầy. Năm 2012, hợp cùng với sư Tinh Cần – Trịnh Khải Hoàng phụ trách hội luận trong chương trình “Thiền Tuệ (Vipassana) Và Đời Sống” trên đài Global Television 57.3 California-USA.

Võ Sinh Thiếu Niên Thần Phong Trong Quân Đội USA
Đại Tá Lê Minh Sơn (Sean Lê) phục vụ trong USA Armed Forces (là con trai của đại tá Lê Minh Hoàng – Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà) vốn là võ sinh đai nâu lớp Aikido – Võ Đường Thần Phong trước 1975 . Anh cùng với gia đình định cư tại Mỹ sau 30 – 4 – 1975 và dưới đây là một phần tư liệu về cố đại tá Sean Lê USArmed Forces:
Col Sean Le (Sơn Lê Minh) was born and raised in Saigon, South Vietnam. He immigrated to the US in 1975 and resided in Northern Virginia. He graduated from Virginia Military Institute in 1982 with a Bachelor of Science in Electrical Engineering. He obtained a Master Business Administration from National University in San Deigo, California. In 2002, he earned a second Master in Strategic Studies from the USArmy War, in Carlisle , Pennsylvania. Le is the first Vietnamese refugee of the 1975 post-war generation to graduate from VMI and first to achieve the rank of Colonel in the US Armed Forces.

VÕ PHÁI THẦN PHONG TRONG NỀN VÕ ĐẠO ĐÔNG PHƯƠNG
Văn dìu cánh phượng yên trăm họ
Võ thét oai hùm dẹp bốn phương
Trong cái Tâm phân biệt, Văn và Võ thường được tách bạch hiểu như hai thành phần đối nghịch với những đặc tính tương phản nhau như m với Dương như cứng với mềm…
.Văn Phong: Với vẻ hoà nhã, lễ độ dễ dược Người cảm mến thân cận.
.Võ Cách: Với dáng mạnh bạo, uy nghiêm thường làm cho chúng Nhân e dè xa lánh…!
Tuy đối chọi với nhau, nhưng Văn và Võ là những bổ túc cần thiết cho nhau để tránh những khuyết điểm nguy hại do sự nghiêng lệch quá độ trong chủ trương đa Văn hay thuần Võ. Đa Văn thường dễ trở thành bạc nhược, tiêu cực, tuỳ thuộc, thiếu năng lực phản kháng trước nghịch cảnh. Còn đa Võ lại dễ trở thành bạo hành, quá khích, ngạo mạn và hiếu chiến…Do đó sự phối hợp Văn-Võ ở mức độ hài hoà đã trở thành một tiêu chuẩn được Cổ Nhân đề cao qua mẫu Người Lý Tưởng đầy tài năng, kiêm gồm lẫn cả Văn Mô-Võ Lược, thích nghi được trong mọi hoàn cảnh.
Trong sơ lược về Võ Phái Thần Phong trong nền tảng Võ Đạo Đông Phương để cho tất cả những Võ Sư và Võ Sinh đã được học luyện từ Võ Đường Thần Phong thuộc Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà tại Căn Cứ Phi Trường Tân Sơn Nhất thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân là “Võ Đường Mẹ” và 6 Võ Đường phụ hệ được thành lập ở 6 Căn Cứ Không Quân trong 4 Vùng Chiến Thuật:
– Sư Đoàn 1 Không Quân – Căn Cứ Đà Nẵng.
– Sư Đoàn 2 Không Quân – Căn Cứ Nha Trang.
– Sư Đoàn 3 Không Quân – Căn Cứ Biên Hoà.
– Sư Đoàn 4 Không Quân – Căn Cứ Bình Thuỷ – Cần Thơ.
– Sư Đoàn 5 Không Quân – Căn Cứ Tân Sơn Nhất – Saigon
– Sư Đoàn 6 Không Quân – Căn Cứ Pleiku.
…và có thêm 2 Võ Đường Thần Phong Dân Sự là Thần Phong Phi Cảng Tân Sơn Nhất – Saigon và Võ Đường Thần Long ở Quận 4 Khánh Hội…từ năm 1966 đến ngày 30-4-1975…cho đến những Võ Đường Thần Phong ở hải ngoại như Mỹ Quốc (America), Úc Đại Lợi (Australia), Pháp Quốc (France),…từ sau năm 1975 đến hiện tại…Bài viết nầy chỉ xin xét và trình bày riêng về thể dụng của Võ như một phương thế luyện tập Thân-Tâm của người xưa để thành Nhân và giúp Đời :” Dĩ Võ Tải Đạo” cùng theo một hướng như Văn trong cái tinh thần “Thiên- Hạ Đồng Quy Nhi Thù Đồ” cùng về một tâm đìểm bằng những đường lối khác nhau…
Theo nguyên nghĩa Võ đối nghịch với Văn: Văn là vẻ đẹp, là lễ phép…là cách dùng Lễ để cảm con người, còn Võ là dùng sức mạnh để bắt người phục và Đạo là con đường đi, cái Lý đúng mà kẻ hành giả phải noi theo để đi tới Giác Ngộ nếu không muốn sa vào những mê lầm sai trái…! Gộp chung hai chữ Võ Đạo có nghĩa là con đường chính đáng mà kẻ học Võ phải hướng theo, cái nguyên Lý căn bản trong phương pháp dùng sức để hàng phục chúng nhân mà kẻ học luyện Võ phải tuân hành…
Thông thường trong cuộc sống hàng ngày, người ta chỉ được thấy, nghe nói đến Võ trên mức độ thấp nhất của nó qua danh từ Võ Thuật, có nghĩa là kỹ thuật, phương cách để luyện tập thân thể cho được khoẻ mạnh, chiêu thức tinh xảo…đủ để tự vệ và chế ngự kẻ hung đồ…Cũng bởi chỉ vì trình bày giới hạn trong Võ Đường Thần Phong là Võ ở mức độ Thuật nên Võ đã mang một tính chất đa nguyên với những màu sắc môn phái và địa phương. Chính vì chỉ “nhìn” Võ ở bình diện Thuật mà đã có những đụng chạm, khích bác giữa những cá nhân học Võ và môn phái…còn quá chấp Ngã ! Do đó Võ phải được nhìn ở tầng cấp cao hơn, ở cái thể dụng tới đích điểm tối hậu, tức là con đường đưa ta tới Đạo tới Chân Lý. Cái Chân Lý phổ quát đúng cho mọi người, mọi thời. Cái Chân Lý phổ quát còn có thể gọi là Thiên Tâm lòng Trời, mà Trời và Người thì có liên lạc chặc chẽ “Thiên-Nhân Tương Dữ”. Hiểu được Thiên Tâm tất cũng hiểu đưọc Nhân Tâm và hiểu được Nhân Tâm tất cũng suy ra để hiểu được Ngã Tâm…là cái Tâm của Chính Ta, khi hiểu đựợc Người, khi biết được Ta, thì cái yếu tố “Tri Kỷ – Tri Bỉ” mà Tôn Tử thường đề cập tới trong Võ Kinh phải được nằm gọn trong tay kẻ học Võ, đạt tới mức độ đó tức là đã đạt Đạo, đích điểm cao nhất của Võ học…Qua hình ảnh của Tổ Sư Đạt Ma (Bodhi Dhamma), của Tổ Sư Trương Tam Phong – Thái Cực Quyền (TaiChiChuan), của Tổ Sư Morihei Ueshiba – Hiệp Khí Đạo (Aikido), của Tổ Sư Jigoro Kano – Nhu Đạo(Judo,Kodokan), của Tổ Sư Funa Koshi Gichin – Không Thủ Đạo (Shotokan,Karatedo), của Tổ Sư Choi Hong Hi – Thái Cực Đạo (Tae Kwon Do)…Những người không muốn tranh thắng nên không hề bại vong, thực hiện được điều tối thượng trong Võ học là “Thần Võ Bất Sát” tức là Võ Nghệ khi đã tu tập đến mức độ siêu phàm nhập thánh thì chẳng cần phải đánh giết ai mà cũng làm cho chúng nhân hàng phục và còn cảm mến vì đức hiếu sinh của Tâm hồn đã hoà cùng Thiên Địa.
Con Người là một toàn thể được hiểu là một kết hợp bao gồm ba phần Thân, Tâm, Trí và sự tồn tại của một cá nhân ở trong cuộc đời không thể thiếu một trong ba yếu tố nầy:
.Thân: Phải được nuôi bằng thực phẩm bổ dưỡng để khoẻ mạnh, sinh tồn, phải được thường xuyên luyện tập để Mạnh. Sự suy nhược, bệnh hoạn là những trở ngại đầu tiên hạn chế sự sống.
.Trí: Phải được phát triển bằng kiến thức, vì biết là trục của sống, sức sống và giới hạn sự sống tỷ lệ thuận theo cái Biết. Sự biết càng nhiều sâu xa và đa diện thì sự sống, cuộc đời của cá nhân đó càng phong phú, càng cao rộng bao la…Một trí thức hẹp hòi thì tầm nhìn cũng thiển cận và do đó vũ trụ bao quanh cũng thu nhỏ như miệng giếng qua cái nhìn bó chặt của con ếch ngồi nơi đáy giếng…!
.Tâm: Là chủ của Thân và Trí, nơi phát xuất của thất tình, chổ biểu lộ của ý chí, Tâm cũng phải được nuôi dưỡng bằng những lý tưởng cao đẹp, những tình cảm đôn hậu đầy nhân ái…không thể thả buông thả bông lông như ngựa hoang, trôi bồng bềnh như thuyền lạc bến. Tâm phải có chủ đích, Chí là nơi đến của Ý Tưởng. Không chủ đích, thiếu ý tưởng thì Tâm làm sao điều động được sức của Thân, Lực của Trí mà mong nên công trạng, sự nghiệp. Đó là những người sống trong mê, chết trong say. Không tạo được một lợi ích nào cho chính bản thân, thì nói chi xa vời tới gia đình, tông tộc, xã hội, quốc gia…!
TIẾN TRÌNH CỦA VÕ ĐẠO
Khởi điểm từ cái Ta với cái Tâm. Người ta có nhiều lý do để đến với Võ Học, mỗi lý do đều biểu lộ những mức độ giác ngộ cá nhân khác nhau về sự ứng dụng của Võ. Đa số đều nhìn Võ ở khía cạnh Thuật dùng để luyện Thân ngõ hầu mong đạt được Võ, được sống khoẻ mạnh, hưởng hạnh phúc một đời ít bệnh, vô bệnh tật, nghĩa là Võ Thuật được quan niệm như một bộ môn thể dục: vận động thân thể cho có sức khoẻ hoặc thể tháo: vận động thân thể theo những qui tắc đã định rõ. Có người học Võ để tự vệ chống lại những áp bức của những kẻ côn đồ ỷ mạnh hiếp yếu. Có người học Võ với Đại Nguyện là để lập thân và giúp đời, phò nguy cứu khốn. Tất cả nhũng lý do đều tốt và ơn ích của Võ học đem lại được nhiều hay ít cũng tuỳ theo tài năng của từng cá nhân qua thời gian và công phu luyện tập. Đường dài tất phải đi lâu. Đích cao tất phải bền chí. Thân phải luyện để có được thủ pháp, thân pháp linh hoạt…Trí cũng phải luyện để nhìn được cái lý nhất quán của Tam Tài bao gồm đủ Thiên – Địa – Nhân để từ đó mà giác ngộ hoà hợp trong Thái Dịch cái ngô tâm và cái vũ trụ chi tâm. Cái Nội và cái Ngoại, cái Tiểu Ngã hữu hạn và cái Đại Ngã mênh mông vô cùng theo cách thức: Nhân Pháp Địa, Địa Pháp Thiên, Thiên Pháp Đạo. Ở mức độ thượng thừa nầy Võ Đạo không còn phân biệt Đông Tây, không bị lệ thuộc vào màu sắc địa phương mà trở thành kiến thức quí báu chung cho cả nhân loại. Kiến thức đó phục vụ cho cả loài người trên con đường tu tập để tiến hoá không ngừng, làm chủ chính mình để rồi chinh phục Nhiên Giới, sắp xếp lại Nhân Giới cho nơi… nơi được ổn định, cho người…người được an lạc, tự tại, thong dong sống một đời nội thánh, ngoại vương theo lý tưởng Nhân làm Chủ cao đẹp: “ Nhân Linh Ư Vạn Vật”.
Và những bậc Tổ Sư đã thành đạt trong Võ Đạo, với cái Tâm hư không, với tấm lòng rộng mở ra với đời có lẽ đâu còn chấp chước với những mê lầm, hạn hẹp để phân chia so đo, kèn cựa như những kẻ thường nhân.
Do quan niệm truyền thống Á Đông đề cao sự hài hoà nhu thuận trong mối tương quan xã hội nên Lễ Nghĩa là bài học đầu tiên của kẻ nhập môn thọ giáo dù là học Văn hay Võ. “Tiên Học Lễ Hậu Học Văn” là vậy! Đạo Trường, Võ Phái nào cũng có những Môn Qui riêng để Môn Sinh theo đó mà sinh hoạt cho đúng cách. Dù dài ngắn khác nhau, khó dể không đồng đều, nhưng tất cả những điều tâm niệm đúc kết trong môn qui đều không ra ngoài Lễ Nghĩa, Liêm Sỉ, thành những bậc Đại Nhân, Quân Tử, Thánh Hiền…
.Quân Sư Phụ: Là một Ý Niệm đặc biệt của Á Đông đề cao công nghĩa trên tư tình, tập thể trên cá nhân. Bậc Quân Chủ được trọng vọng bởi vì Tài Đức khéo nuôi đưọc trăm họ, tạo được sự an cư lạc nghiệp cho muôn dân được an vui. Bậc Sư Thầy được tôn kính bởi vì có công dạy dỗ, đào tạo những tài năng xuất chúng trong công nghiệp an bang tế thế. Còn song thân Phụ Mẫu là bậc sinh thành có công nuôi dưỡng, so với Cha Mẹ, công Thầy Sư cao hơn một bậc. Không có Thầy khai trí dạy bảo làm sao có được bản lãnh hơn đời, để dương danh cùng thiên hạ làm đẹp mặt Cha Mẹ, Giòng Họ. Cũng vì vậy mối tình Thầy – Trò thật là thắm thiết. Dù phiêu bạt giang hồ tứ xứ môn sinh thường hằng năm trở về qui tụ dưới mái Đạo Trường để vấn an hay chúc thọ Thầy, hoặc giả nếu n Sư đã mãn phần, tiêu dao cực lạc, đồng môn huynh đệ quay quần tưỏng nhớ công đức tiền nhân. Đã có những người công thành danh tọại, đường hoạn lộ thênh thang, vinh hoa nơi chốn triều đình nhưng khi nghe tin Thầy quá vãng đã xin từ quan lui về cư tang để cho tròn n Nghĩa. Do đó cũng thật dễ hiểu, đối với môn sinh của Danh Gia Chính Phái, tội danh nặng nhất là:”Khi Sư Diệt Tổ” với hình phạt thật khắc nghiệt là tử hìnhvà bị khai trừ ra khỏi Võ Phái chịu sự khinh khi của Võ Lâm Đồng Đạo.
.Mối Tương Quan Sư Đệ: Là mối tương quan hai chiều. Ở đệ tử là sự quyết tâm tầm Sư học Đạo. Còn nơi Sư Phụ là mong tìm kiếm được đệ tử có căn cốt, cơ duyên…để trao truyền sở đắc của cả đời công phu nghiên cứu luyện tập. Chuyện tích “Trương Lương Hiến Hài” được kể là một điển hình của mối tương quan hai chiều nầy. Trương Lương người nước Hàn, giòng dõi quí phái năm đời kế tiếp nhau làm Tể Tướng. Khi triều đại nhà Tần thống nhất trị vì thiên hạ, nước Hàn bị diệt, Trương Lương nuôi chí phục quốc, trả thù nhà, nên bán hết cơ ngơi đìền sản, tư trang thu lấy tiền để mưu cầu việc lớn. Khi nghe Tần Thuỷ Hoàng xuất cung du thưởng lãm cảnh đẹp quanh vùng, Trương Lương đã cùng với mấy đồng chí, mình giắt dao nhọn, chuỳ đồng nằm phục bên đường chờ đợi xa giá Tần Thuỷ Hoàng qua sẽ cùng vùng lên xông vào ám thích Tần Vương. Nhưng việc bất thành, Trương Lương phải cải dạng lẩn trốn. Trên bước đường bôn tẩu, một ngày đẹp trời Trương Lương gặp Hoàng Thạch Công dưới hình dạng là một lão Hủ (Cụ già quê mùa ) cưỡi lừa đi tới, hai bên đi nghịch chiều nhau trên con đường nhỏ chênh vênh cạnh một dòng suối. Giữ Lễ tôn kính bậc trưởng thượng, Trương Lương nép mình vào vệ đường nhường chổ cho lão Hủ cưỡi lừa đi qua rồi mới tiếp bước. Trong lúc nhường tránh lối đi cho nhau, lão Hủ lúng túng quơ chân làm rơi một chiếc hài xuống vách đá kề bên giòng suối. Không một chút ái ngại, lão Hủ đưa tay vẫy gọi Trương Lương lại, chỉ vào chiếc hài rách mà nói:
– Nầy tiểu tử, hãy lượm lại hài cho ta…!
Không quản khó chịu vì thái độ ngạo mạn của ông lão quê mùa, Trương Lương cẩn thận leo bám xuống vào vách đá cheo leo nhặt chiếc hài rách được rồi, lễ phép cung kính quì dâng đưa hài cho lão Hủ. Thản nhiên lão Hủ buông thỏng một câu:
– À… Tên tiểu tử nầy dạy được đây…!
Nghe nói, Trương Lương vội vòng tay thi Lễ, khấu đầu xin được chỉ dạy. Lão Hủ xua tay hẹn vào buổi tối khi trăng lên. Đúng hẹn, Trương Lương tới nơi đã thấy lão Hủ ở đó tự bao giờ! Lão Hủ lớn tiếng mắng Trương Lương là vô lễ vì đã để cho bậc Trưởng Thượng chờ đợi ! Lão Hủ xua đuổi Trương Lương trở về và hẹn lại đêm hôm sau nữa vào lúc nửa khuya trăng xế. Lần thứ nhì nầy Trương Lương đến nơi hẹn sớm hơn một trống canh. Nhưng lạ thay ! Lão Hủ cũng cũng đã hiện diện tại nơi hẹn tự bao giờ ? Lại một lần nữa Trương Luơng bị khiển trách thậm tệ…rồi lão Hủ ban cho Trương Lương lần hẹn nữa vào đêm hôm sau! Ngày hôm sau Trương Lương đến thật sớm từ khi mặt trời chưa khuất bóng, kiên tâm chờ đợi… Lão Hủ xuất hiện vào lúc nửa khuya và bấy giờ Trương Lương được Thầy thu nhận làm Đệ Tử. Nhờ được sự chân truyền giảng dạy của tôn sư Hoàng Thạch Công, Trương Lương đã có được tài năng, bản lãnh xuất chúng hơn đời, trở thành một nhân vật lỗi lạc phò Lưu Bang diệt Tần lập nên triều đại nhà Hán, danh thơm lưu hậu thế…!
Với quyết tâm “Tầm Sư Học Đạo”, Trương Lương đã làm tất cả những gì bất kể khó khăn cực nhọc để được thu nhận làm đồ đệ của Hoàng Thạch Công. Đây là một thể hiện của yếu tố quan trọng trong Đạo Học Đông Phương:”Không Thầy Đố Mầy Làm Nên”!
Với tâm trạng “Chọn Mặt Gởi Vàng”, ước mong tầm được một truyền nhân để ký thác những tâm đắc, sở đắc… của cả đời tu luyện, Hoàng Thạch Công đã thử thách bản chất và tư cách của Trương Lương trước khi quyết định thâu nhận làm đệ tử. Trương Lương biết nhường bước cho bậc trưởng thượng là Lễ, biết và có thái độ giúp đỡ người già yếu khi xuống vách đá thu nhặt chiếc hài rách cho Hoàng Thạch Công là Nghĩa, biết giữ đúng hẹn là Tín, bị sĩ nhục vô cớ mà không phẩn nộ, nhẫn nhịn để hoàn thành tâm nguyện là Trí. Hoàng Thạch Công đòi hỏi môn đệ phải có đủ Lễ – Nghĩa – Trí – Tín là bốn yếu tố căn bản để được xem là thành Nhân . Tuy là một đòi hỏi cao nhưng chính đáng của những bậc Sư Phụ thận trọng, ý thức được sự liên đới trách nhiệm mà mình phải nhận lãnh trên hành động tương lai của đám môn sinh mà mình ra công đào tạo. Hình phạt “Tru Di Tam Tộc” xưa còn bắt tội cả người Thầy truyền dạy tài năng cho nghịch tặc, phản đồ làm nhiểu loạn phương hại cho Quốc Gia Xã Tắc ! Đó cũng là cái lý do giải thích tại sao nhiều môn học tuyệt kỹ của Đông Phương bị mai một thất truyền.. ! Nhiều bậc Tôn Sư nếu không tìm được truyền nhân có căn cơ duyên đành chịu cảnh “tuyệt tự, tuyệt học” tinh thần, cam lòng để sở học mai một chứ nhất định không chịu thâu nhận những đệ tử không đủ tiêu chuẩn ! Để biết người, Cổ Nhân thường có nhiều phương cách như áp dụng khoa Lý Số, Tướng Mệnh…Nhưng tạo ra những hoàn cảnh đặc biệt để thử thách trực tiếp một người với những ứng biến cấp thời qua ngôn ngữ hoặc hành động vẫn là phương pháp hay nhất…? Nhưng ít nhiều cho ta nhìn được bản chất, bản lãnh của đối tượng một cách chính xác. Đó là phương cách xét người bằng Tâm Tướng, Thần Tướng, tránh được những sai lầm của phép chỉ xét bằng Hình Tướng giới hạn mà thôi.
.Tài Năng: Là điều ai…ai cũng yêu thích và tìm kiếm. Trong thực tế, kẻ có tài năng xuất chúng tất có danh vọng, địa vị, quyền thế…những thứ mà lòng người mê luyến, ái mộ…! Tuy nhiên, với xã hội Á Đông vốn trọng Lễ Nghĩa, yếu tố Tài Năng được đặt sau yếu tố Đức Hạnh, yếu tố Bản Chất phải trên trước yếu tố Bản Lãnh. Những thành ngữ, phương ngôn như:” Tốt Gỗ Hơn Tốt Nước Sơn” hoặc “Cái Nết Đánh Chết Cái Đẹp” chỉ là những cách diễn đạt linh động theo thực tế của tinh thần trọng công ích hơn tư lợi, được kết tinh qua những nghi thức sinh hoạt Lễ Nghĩa. Nhìn xa và so sánh thái độ dứt khoát lựa chọn đặt Đức Hạnh trên Tài Năng của xã hội Á Đông xưa có những nét tương tự với Ý Niệm “Safety First” của xã hội kỹ thuật Tây Phương là An Toàn cho cá nhân và tập thể phải được đề cao với ưu tiên đệ nhất, hoặc ý niệm “Vô Năng Lực” được áp dụng trong luật pháp để triệt tiêu quyền hành xử của một cá nhân nào đó nếu xét ra là họa hại xảy đến cho đương sự và những người sống kế cận. Đức Hạnh như một bảo đảm tất yếu cho tài năng không bị xử dụng cho những ác thế lực gây hại cho xã hội. Do đó, có Tài Năng nhưng phải có Đức Hạnh. Tài càng cao, Đức càng phải to lớn để làm nền tảng của sự bảo đảm an toàn cho tập thể càng phải được vững chắc và đây chính là tiêu chuẩn căn bản để phân biệt Chính – Tà, Thiện – Ác…Những kẻ tà, ác theo hắc đạo đều là phường “hữu tài – vô hạnh” lợi dụng tài năng hơn người cho những lợi ích riêng tư cá nhân, bè phái. Chúng hành xử theo tư dục mà không kể đến công tâm, thiên lý. Tài càng cao, Đức phải càng lớn để dung chứa, Vị càng trọng mà vô Đức càng tạo nên những tai hoạ to lớn bội phần! Những tên đại gian, đại ác phạm những trọng tội như buôn dân, bán nước, làm đảo lộn cương thường, loạn xã hội …đâu phải là những “tay” mơ, bất tài, vô tướng…?! Chúng thường có hình tướng tốt (tốt mã), tài năng hơn người, nhưng cái Tâm lại không được uốn nắn theo Đạo Lý, nuôi dưỡng theo Nhân Luân, mà lại để phóng túng chạy theo tư dục, tà ý, đi vào con đường bất nghĩa, phi lễ, vô liêm sỉ…mang họa về sau và bị người đời khinh bỉ, nguyền rủa…!
Học Võ: Ai…ai cũng mong đạt mức thượng thừa, dương danh chốn võ lâm, thành những bậc Tôn Sư khả kính. Đó là một con đường dài đòi hỏi nhiều năm trường dầy công phu hàm dưỡng tu luyện và con đường dài đó thiệt lắm chông gai nhiều kẻ đi mà ít người tới đích…Tuy nhiên người học luyện Võ sẽ có được những lợi ích thực tế như thân thể cường tráng. sức lực hơn người, lòng tự tin, tinh thần dũng cảm, phong thái uy nghiêm, lối sống có kỷ luật…Mức độ cao thấp của những phẩm tính vừa nêu ra vào công phu luyện tập toàn diện Thân – Tâm – Trí của từng cá nhân. Luyện Thân thì sẽ có Thân Pháp siêu quần, luyện Trí tức có sự linh động, quyền biến, còn luyện Tâm sẽ có được Ý Chí cương quyết nhưng nhu hoà thuận lý. Trong ba thứ trên luyện Tâm là khó nhất và đòi hỏi công phu tu tập dài cả một đời người, đôi khi lại hư hỏng vào phút cuối chỉ vì một phút cạn nghĩ…! Điền Vi, Hứa Chữ là hai nhân vật Võ nổi danh thời Tam Quốc, được Tào Tháo tin yêu luôn giữ bên mình cũng bởi vì có Tài năng. Chỉ vì một chút yếu lòng mà Vu Cấm trở thành hèn nhát trước cái chết mà thù địch đưa ra ép mình nên đã xin hàng dù là tạm thời. Sau Tào Tháo tha cho không giết, nhưng cho vẽ hình biếm họa cảnh Vu Cấm phủ phục xin tha chết để làm gương cho thuộc hạ về cái vô liêm sĩ của kẻ làm Tướng mà thiếu đức Dũng ! Tiêu chuẩn là:”Ninh Thọ Tử Bất Ninh Thọ Nhục”(thà chết chứ không chịu nhục)! Đạo làm Tướng.
.Trong Lịch Sử Việt Nam: Những Vị Võ Tướng có Tài năng siêu xuất cứu nước, phò nguy như Ngô Quyền với trận chiến trên sông Bạch Đằng đánh thắng quân Nam Hán, Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Hán ra khỏi bờ cõi, Bà Triệu Thị Trinh là Nữ Tướng Soái nước Việt mới tuổi 16 đã khởi binh đánh dẹp giặc Tàu, Lý Thường Kiệt với công trạng Phạt Tống Bình Chiêm, Vua Đinh Tiên Hoàng đã Thống Nhất Loạn Mười Hai Xứ Quân, Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn với những chiến công hiển hách đại thắng quân Nguyên – Mông, Vua Quang Trung với tài thao lược dụng binh thần tốc đã đánh tan giặc Thanh, …như Hoàng Diệu đã thắt cổ tuẩn tiết khi để thất thủ Thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương xé toạt vải băng bó vết thương do Pháp chữa trị để được chết, Trần Bình Trọng khí khái khước từ trước sự chiêu dụ của giặc Tàu mà Tuyên Ngôn:” Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”, cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu khí khái khước từ tất cả những hậu ý tốt của toàn quyền Pháp, …Nay thời cận đại trong cuộc chiến 21 năm Quốc – Cộng…Tuy cùng một Dân Tộc Việt gọi nhau là “Đồng Bào” vì Tiền Nhân trong Lịch Sử đã “Ý Nghĩa” truyền phả hệ: Chúng Ta sinh xuất từ một thai bào (một bọc trăm con) của Mẹ u Cơ. Nhưng cũng thật đau đớn: Vì Địa Lý Chính Trị chúng ta đã lao vào cuộc “Bì Oa Chử Nhục” và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị “đồng minh Mỹ “ hãm nịch cho chết …! Nhưng trong thế cùng, lực cạn…và cũng bi hùng tráng thay ! Những ánh sáng tinh anh loé lên trên bầu trời đen tối của vận nước:
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiến hãn thanh
Những tiếng súng tuẫn tiết xé ngang trời của tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Lê Nguyên Vỹ, tướng Phạm Văn Phú, tưóng Trần Văn Hai và nhiều nữa ở hàng Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Quân Nhân đã tự sát “Tuẫn Tiết Chết Theo Thành” đã thể hiện Khí Tiết con nhà Võ là dòng nhà tinh anh của nước nòi, là nét son trong dòng Lịch Sử Việt Nam…và là hành động ứng dụng vẹn tuyền được bốn Chữ: Lễ – Nghĩa – Liêm – Sỉ thể hiện bản chất Bất Khuất, Bách Chiết mà kẻ theo Nhân Đạo (Đạo làm Người ) cho dù là bằng con đường Văn hay Võ đều phải tuân theo chiều hướng thượng . Cũng bởi vì theo Nhân Đạo nên Á Châu (Đông Phương) có tập tục Thờ Anh Hùng, Liệt Sĩ, những Nhân Thần, những Người đã hoàn thành Nhân Cách theo tiêu chuẩn Lễ Nghĩa, Liêm Sỉ làm nên những công trạng ân ích cho Quốc Gia – Dân Tộc là gương soi sáng cho hậu thế noi theo, thử hỏi trong hạng thứ thượng vị kẻ thù, đối phương…và cả trên danh hoàn có được mấy ai sánh cùng…?! Không phân biệt Nam – Bắc. Họ là hạt giống Quí – Tinh – Truyền của Dòng Giống Việt hùng cứ phương Nam.
.ThầnVõ Bất Sát: Là mức độ tuyệt vời đạt Đạo. Người đạt mức độ đó sẽ không có đối thủ là vì Tài năng hơn người đã quá rõ ràng không cần động thủ để phân thắng bại. Tuy nhiên Tài năng siêu quần chưa đủ, cần phải có tấm lòng đôn hậu, rộng rãi bao dung, lượng thứ được cả với kẻ thù khi họ ngã ngựa, thất thế…biết trở về Chính Đạo. Chỉ có tấm lòng cao rộng như trời biển, lấy Đức: Hoà Thuận, Hiếu Sinh…làm đầu, chứ không phải tham vọng giành tước hiệu “Võ Lâm Chí Tôn” hoặc “Bách Chiến Bách Thắng”…mới có thể biến hoá Thù thành Bạn, cảm hoá được ác tính, tị hiềm gây ra bởi hư danh và tư lợi thường tình trong thế nhân.
.Thắng Chúng Nhân: Nhất là thắng những đối thủ tài năng là một điều không dễ. Những cuộc so tài, thử sức rất là cam go có thể đến độ sinh tử, nhất là khi cuộc giao đấu được xem là để giải quyết vấn đề danh dự của cá nhân hoặc môn phái…Nhưng xét ra còn dễ hơn là thắng đuợc chính mình…So sánh về mức độ thời gian thì thắng người chỉ là những Trận Chiến trong một Cuộc Chiến để tự thắng với mục đích để Thành Nhân Chi Mỹ, thành Người có tư cách cao đẹp. Để xét về sự thành đạt nầy người xưa đã đưa ra ba tiêu chuẩn như sau:
– Uy Vũ Bất Năng Khuất: Không hèn nhát khiếp sợ trước uy thế, bạo lực của kẻ thù cho dù phải chết cũng không làm cho khuất phục cái ý chí của mình.
– Bần Tiện Bất Năng Di: Dù gặp cơn nghèo khó, ti tiện vẫn giữ lý tưởng thanh bần chẳng đổi dời tiết tháo.
– Phú Quí Bất Năng Dâm: Giàu có, sang trọng cũng không vì vậy mà mất điều độ trở thành hoang dâm phóng túng.
Đây là những thử thách khó khăn nhất để thử thách tiêu chuẩn Lễ Nghĩa, Liêm Sỉ của một Người tương tự như Vũ Môn dành cho loài Thuỷ Tộc trong cuộc vuợt thi để được Hoá Long. Cuộc thi thật khó khăn với những cố gắng kéo dài cả đời, đôi khi phải đến độ Sát Nhân để Thành Nhân ! Xét cho cùng…cũng chỉ bởi làm Người có Nhân Cách không phải là một đìều dễ !
Sơ lược về tinh thần của Võ Phái Thần Phong sinh hoạt ở Võ Đường Thần Phong trong nền tảng Võ Đạo Đông Phương cho dù chỉ Xuất Nhân từ năm 1966 đến 1975 …Nhưng những Võ Sư của Võ Đường đã hướng dẫn Võ Sinh thuộc Võ Đường Thần Phong không chỉ ở phần huấn luyện Võ Thuật mà còn giảng huấn nêu cao Tinh Thần Võ Đạo Đông Phương chính là một hình thức Tu Tập mà khởi đìểm là cái Ta bao gồm đầy đủ Thân -Tâm – Trí song hành …Tiến trình nầy chính là sự kết hợp và phát triển hoà giải những thành phần khác biệt đến độ đối chọi với nhau trong bản chất, nhưng lại cần thiết trong việc bổ túc lẫn nhau để làm nên một toàn thể độc đáo là từ những Võ Sinh sơ cơ ban đầu được nung đúc Tinh Thần Võ Đạo Đông Phương là Con Người. Nói một cách khác đó là tiến trình thăng hoa, biến thể của m – Dương, Ngũ Hành vận chuyển chu lưu trong vòng Tiểu Chu Thiên của cơ thể đi từ Hữu Hình sang Vô Hình, lên cao qua những mức độ như vật thực được tiêu hoá để sinh Huyết, . Huyết sinh Khí, Khí sinh Thần. Đừng xét cái mâu thuẩn phiến diện bề ngoài giữa Võ lấy thế lực làm chính, lấy cái thắng thế chế ngự, đã thương, giết tróc, sát hại làm Uy ở thể Động và kết hợp một cách tương tác, đối xứng với sự hài hoà, tự nhiên lở thể Tĩnh làm nguyên tắc để vận hành tất cả Người, cây cỏ, vạn vật … trùng trùng duyên khởi sinh diệt trong qui trình Thành – Trụ – Hoại – Diệt và tất cả đều biến thiên, phát triển không ngừng trong nguyên lý vô thường, hợp lý trong môi sinh được gọi là Thế Giới, là Vũ Trụ nầy. Đó là sự mâu thuẩn cần thiết của Nguyên Lý m – Dương căn bản khi xét như hai thành phần riêng biệt. Nhưng trong tiến trình kết hợp thống nhất để làm nên một toàn thể thì chống lại và nâng đỡ cho nhau và bổ túc cho nhau vì: Cô Dương bất sinh, cô m bất trưởng ! Nói khác đi Võ chỉ là một khởi điểm, một trợ duyên giúp Ta tìm được Đạo lớn: Nhân Đạo, Đạo làm Người…mà đã là Người ai…ai cũng phải hoàn tất để Thành Người. Võ Sư, Võ Sinh… của Võ Phái Thần Phong từ trong Nước Việt Nam vào thời điểm khởi đầu năm 1966 đến 1975 và tại hải ngoại từ sau năm 1975 mãi cho đến hiện tại tháng 12-2011 đã sinh hoạt trong môi trường Võ Thuật… Nhưng những xuất Sư từ hệ thống Võ Phái Thần Phong nguyên thuỷ luôn song hành cố gắng “Tu – Học – Luyện” và giảng huấn theo nguyên lý Võ Đạo Đông Phương ngõ hầu truyền thừa, giúp cho Võ Sinh có thêm tài năng phụ hệ như “thêm cánh cho rồng” có thể thành nhân tài đóng góp cho nền Võ Đạo Đông Phương, Xã Hội, Quốc Gia…? Nhưng biển Học Thuật cũng thật là bao la…Nếu chúng ta chỉ đương đại, tự mãn trong “thế giới” hạn hẹp Taekwondo không thôi thì quả là thiển cận, có khác gì tầm nhìn của loài “ếch ngồi đáy giếng” ? Bầu trời Võ Đạo rộng lớn và thâm trầm, sâu sắc vô cùng mà “nền” Võ Thuật Thần Phong Thái Cực Đạo chúng ta mới chỉ bước đi từ năm 1966 so với các đại môn danh phái đã có nền tảng lâu đời nhiều ngàn năm qua là dậm ngàn thiên lý…Chúng ta, những Võ Sư, Võ Sinh cần phải tìm hiểu và tham học nhiều nữa với những Học Thuật “ Cao Sơn Tắc Hữu Cao Sơn” để bổ khuyết và kiện toàn… Như thế mới ngõ hầu vượt thoát qua “cái miệng giếng của mắt ếch, thoát qua khỏi thân phận của loài côn trùng mùa Hạ chỉ sống giới hạn trong cái mùa của nó mà thôi…? Mong lắm thay.
.Ban Tu Thư Võ Đường Thần Phong:
Đinh Thạch On, Trần Như Đẩu, Lê Đình Thuận, Kim Phúc Nam, Nguyễn Văn Lợi, Lê Công Danh, Trần Ngọc Tự, Nguyễn Ngọc Diệp, Huỳnh Văn Phúc, Trương Văn Nhiều, Đỗ Thành Hưng, Nguyễn Lục Phú, Bùi Hữu Tạc, Bùi Văn Chúc, Trịnh Khải Hoàng, Trần Văn Lạc.
Đôi dòng tâm tư với tất cả các Võ Sư – Võ Sinh của Võ Đường Thần Phong Không – Sư Đoàn 5 Không Quân – Tân Sơn Nhất và tất cả Võ Sư – Võ Sinh:
– Võ Đường Thần Phong Sư Đoàn 1 Không Quân – Đà Nẵng.
– Võ Đường Thần Phong Sư Đoàn 2 Không Quân – Phan Rang.
– Võ Đường Thần Phong Sư Đoàn 3 Không Quân – Biên Hoà.
– Võ Đường Thần Phong Sư Đoàn 4 Không Quân – Cần Thơ.
– Võ Đưòng Thần Phong Sư Đoàn 6 Không Quân – Pleiku .
– Võ Đường Thần Phong Dân Sự Phi Cảng Tân Sơn Nhất.
– Võ Đường Thần Phong (Thần Long) Dân Sự Khánh Hội.
– Lớp Võ Taekwondo Trung Tâm Đắc Lộ và tất cả các Võ Sư – Võ Sinh thọ học với các Võ Sư Thần Phong Không Quân sau 1975 …đang còn ở trong nước.
Chúng tôi, trong Ban Tu Thư Thần Phong được uỷ nhiệm chấp bút từ Quí Niên Trưởng là:
Những Sĩ Quan Không Quân chỉ huy và nhân sự điều hành Hệ Thống Võ Thuật Thần Phong Không Quân Việt Nam Cộng Hoà từ 1966 – 1975.
Những Đại Sư là bậc Thầy đã đào tạo nhiều lớp Võ Sư tại Võ Đường Thần Phong từ 1966 – 1975.
Những Võ Sư đã huấn luyện cho nhiều lớp Võ Sinh các cấp tại Võ Đường Thần Phong từ 1966 – 1975.
Tuy vì thế Địa Lý Chính Trị làm ngăn trở mà các Bạn không có “tiếng nói” trên Văn bản “Lịch Sử Thần Phong” này. Nhưng trong tình huống Vô Thanh đấy là vạn lời Nghĩa – Tình “vạn thù ứng nhất bản”, chúng tôi không bao giờ quên các Bạn. Và các Bạn luôn có chỗ đứng trân trọng trong trái tim còn nhịp đập của chúng tôi:
Những bằng hữu ra đi và ai còn ở lại
Chúng tôi xin chấp tay im lặng cúi đầu
Không nói được dẫu một lời vụng dại
Trong hồn tôi (chúng tôi) sương phủ mấy nhịp cầu !
(MĐTTA)
Với những Võ Sư – Võ Sinh đã thọ học từ Võ Sư Thần Phong Phan Văn Đức,… Đây là tâm tình: Vì tinh thần đoàn kết Thần Phong…Chúng tôi đã mở ra một “chương” giới thiệu rõ danh tánh các bạn ở cuối văn bản “Lịch Sử Thần Phong” này như một lối Về Nguồn để hợp nhất với Thần Phong nguyên thuỷ, tất cả không ngoài mục đích vì tương lai của các thế hệ Thần Phong kế thừa, hoặc các bạn tự mở một hướng đi mới…? Chúng tôi không phải là trở ngại. Vậy tuỳ thuộc ở các bạn ? Lời chân không nói dông dài.
Thân Kính
Ban Tu Thư Thần Phong
.Ban Võ Sư Huấn Luyện Võ Thuật: Taekwondo – Aikido – Judo – Thiếu Lâm Bắc Phái Tại Các Võ Đường Thần Phong Không Quân VNCH từ 1966 – 2016:
Võ Sư Đinh Thạch On, Võ Sư Trần Như Đẩu, Võ Sư Lê Đình Thuận, Võ Sư Cát Văn Khôi, Võ Sư Nguyễn Đăng Đức, Võ Sư Lê An Ninh, Võ Sư Bùi Văn Chúc, Võ Sư Trần Bảo Lộc, Võ Sư Bùi Hữu Tạc, Võ Sư Nguyễn Văn Ngọc, Võ Sư Bùi Hân, Võ Sư Kim Phúc Nam, Võ Sư Nguyễn Văn Lợi, Võ Sư Trương Văn Nhiều, Võ Sư Huỳnh Văn Phúc, Võ Sư Nguyễn Ngọc Diệp, Võ Sư Đỗ Thành Hưng, Võ Sư Nguyễn Lục Phú, Võ Sư Nguyễn Xuân Tính, Võ Sư Lê Công Danh, Võ Sư Lưu Văn Nam (Hiệp Sĩ Mù), Võ Sư Nguyễn Trường Tộ, Võ Sư Nguyễn Sĩ n, Võ Sư Ngô Ngọc Khánh (Bắc Kỳ), Võ Sư Huỳnh Đông, Võ Sư Trương Văn Đại, Võ Sư Hoàng Văn Hiệp, Võ Sư Nguyễn Văn Hiệp, Võ Sư Huỳnh My , Võ Sư Trần Văn Lạc, Võ Sư Hoàng Thuỵ Thông, Võ Sư Trịnh Khải Hoàng, Võ Sư Lê Văn Xuân, Võ Sư Nguyễn Phi Bằng, Võ Sư Trương Bích Vệ, Võ Sư Huỳnh Phi Hùng, Võ Sư Đinh Tường, Võ Sư Lâm Quang Nở, Võ Sư Thái Bình Hoà, Võ Sư Huỳnh Văn Báu, Võ Sư Đào Viết Cường, Võ Sư Phan Cao Trí, Võ Sư Nguyễn Hữu Xương, Võ Sư Nguyễn Hiền, Võ Sư Nguyễn Ngọc Châu, Võ Sư Vũ Minh Thượng, Võ Sư Lim Ho Choi, Võ Sư Trần Văn Thuật, Võ Sư Lê Văn Liêm, Võ Sư Lê Văn Trí, Võ Sư Vũ Sĩ Vinh, Võ Sư Vũ Văn Dũng, Võ Sư Nguyễn Văn Quang, Võ Sư Nguyễn Văn Anh, Võ Sư Trần Văn Hai, Võ Sư Trần Văn Lý, Võ Sư Lưu Tuấn Sơn, Võ Sư Nguyễn Văn Hoàng, Võ Sư Nguyễn Văn Thanh, Võ Sư Huỳnh Ngọc Thoại, Võ Sư Nguyễn Thanh Sơn, Võ Sư Nguyễn Văn Sơn, Võ Sư Bàng Hải Thắng, Võ Sư Nguyễn Văn Ngọc, Võ Sư Nguyễn Phú Nhuận, Võ Sư Nguyễn Hoàng Dương, Võ Sư Lê Văn Hưng, Võ Sư Phạm Gia Ninh, Võ Sư Nguyễn Huy Hoàng, Võ Sư Nguyễn Thanh Cẩn, Võ Sư Lê Trung Hải, Võ Sư Huỳnh Trọng Hiếu, Võ Sư Huỳnh Trọng Hiền, Võ Sư Nguyễn Minh Tâm, Võ Sư Nguyễn Đức, Võ Sư Trần Văn Hải, Võ Sư Lâm Đại Bàng, Võ Sư Nguyễn Văn Phước, Võ Sư Trần Như Minh, Võ Sư Trần Như Hiền, Võ Sư Nguyễn Văn Minh, Võ Sư Nguyễn Minh Công, Võ Sư Lê Minh Lương, Võ Sư Lê Minh Công, Võ Sư Huỳnh Văn Phước, Võ Sư Hồ Minh Du, Võ Sư Hồ Minh Phong, Võ Sư Nguyễn Công Trứ, Võ Sư Lê Minh Lương, Võ Sư Lê Minh Hùng, Võ Sư Nguyễn Thế Minh, Võ Sư Trần Văn Công, Võ Sư Lê Văn Lộc, Võ Sư Võ Hồng Sinh, Võ Sư Nguyễn Văn Thành, Võ Sư Đào Phúc Thế.

.Ban Võ Sư xuất thân từ Võ Sư Phan Văn Đức – Thần Phong The Planet Martial Arts và Võ Sư Phan Cao Trí Thần Phong Australia:
Võ Sư Trương Nguyên Thuận, Võ Sư Trương Đông Giang, Võ Sư Phan Hồng Hổ, Võ Sư Michael Hoà Vũ, Võ Sư Nguyễn Văn Tấn, Võ Sư Cao Hoàng Nam, Võ Sư Roy Grills, Võ Sư Mai Thanh Long, Võ Sư Trần Quí Chiến, Võ Sư, Võ Sư Hảo Nguyễn , Võ Sư Hồ Mạnh Tùng, Võ Sư Jimmy Đỗ, Võ Sư Phạm Chí Thiện, Võ Sư Lê Hoàng Bảo, Võ Sư Phan Cao Thuỵ, Võ Sư Phan Thuỵ Khanh, Võ Sư Sarah Hồ, Võ Sư Trương Phục Quốc, Võ Sư Trương Hoài Hương, Võ Sư Huỳnh Cảnh, Võ Sư Ed Concepcion, Võ Sư Tiêu Quốc Hiền, Võ Sư Lê Minh Khương, Võ Sư Đào Quốc Thắng, Võ Sư Trần Minh Tuấn, Võ Sư Nguyễn Sơn, Võ Sư Trần Hán Tòng, Võ Sư Trịnh Duy Nhất, Võ Sư Cao Huy Tánh, Võ Sư Hoàng Nguyễn, Võ Sư Trần Quế, Võ Sư Phan Tấn Hưng, Võ Sư Dennis Mark Lê – Huyền, Võ Sư Nguyễn Minh Trí, Võ Sư Nguyễn Tín, Võ Sư Lê Phương, Võ Sư Vương Nghĩa.

Posted in Uncategorized | Leave a comment