MẠN ĐÀM VỀ CHIẾN THUYỀN CÁC NƯỚC XƯA

Nước – khởi nguyên của sự sống và cũng là nguồn sống của con người. Con người không thể sống thiếu nước, vì vậy các con sông, các vùng nước luôn là nơi tụ cư của con người từ xưa đến nay. Và có lẽ chính vì vậy, mà cùng với đó, thuyền bè đã xuất hiện từ rất sớm cùng với đời sống của con người. Về nguồn gốc của thuyền bè, khắp các nước từ đông sang tây, như Trung Quốc, Ai Cập, Anh, Hy Lạp … đều có không ít truyền thuyết. Có thể nói, truyền thuyết về Đại Vũ trị thủy làm thuyền ở Trung Quốc, và câu chuyện về con thuyền Noah trong Kinh Thánh là hai truyền thuyết nổi tiếng nhất, được lưu truyền rộng rãi nhất. Theo phân tích của những nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của tàu thuyền hiện nay chính là những con thuyền độc mộc. Thuyền độc mộc rất có thể đã được hình thành khi người nguyên thủy gặp những trận lũ lụt, hồng thủy, và những người không biết bơi đã nhờ bám víu trên những cành cây, thân cây trôi nổi mà thoát chết. Vì vậy mà người ta đã nghĩ ra cách khoét những thân cây gỗ để tạo thành những con thuyền để có thể cân bằng ổn định trên mặt nước, và chứa được nhiều người, nhiều đồ vật hơn. Theo những chứng cứ khảo cổ học, thì từ bảy ngàn năm trước đã có những con thuyền độc mộc ở Trung Quốc.

Sau khi thuyền độc mộc ra đời, do nhu cầu trong sản xuất và đời sống của nhân loại, người ta dần học được cách ghép nhiều cây gỗ lại thành bè, rồi đóng nhiều tấm gỗ lại thành những con thuyền lớn hơn. Sau khi nhân loại bước vào xã hội có giai cấp, thì cùng với đó đã xuất hiện những cuộc chiến tranh được lan rộng dần từ trên cạn xuống đến trên sông, hồ, hay biển. Những cuộc chiến tranh nổ ra trên mặt nước không thể vắng mặt thuyền bè, những con thuyền dùng trong chiến tranh ấy ban đầu chỉ là những con thuyền bình thường, nhưng nó đã nhanh chóng được phân hóa, không ngừng phát triển và hình thành nên những chiến thuyền trong thời cổ đại.

Trung Quốc và các nước khu vực Địa Trung Hải là những nơi phát nguyên của chiến thuyền cổ đại. Thế kỷ 16 – 11 trước Công nguyên, dưới thời nhà Thương ở Trung Quốc thuyền bè đã được sử dụng vào việc vận tải cho quân đội. Năm 1027 TCN, Chu Vũ Vương – Cơ Phát đã đem ba trăm cỗ binh xa, ba ngàn quân cận vệ, bốn vạn rưỡi quân giáp sĩ, cùng liên hợp với quân đội của một số bộ lạc khác, tiến binh đánh vua Trụ. Quân đội tham chiến được chở trên bốn mươi bảy chiếc thuyền lớn, vượt qua sông Hoàng Hà ở bến Mạnh Tân, tiến thẳng đến đô thành Triều Ca (nay là huyện Kỳ, Hà Nam) tiêu diệt nhà Thương. Trận chiến vượt sông Hoàng Hà này đã được tổ chức nghiêm ngặt, với quy mô rất lớn, có người chỉ huy chuyên trách trên các tàu thuyền. Tuy nhiên, những con thuyền ấy chỉ là được tập hợp khi có nhu cầu nhất thời, chứ chưa được chuyên dùng vào việc thủy chiến, vì vậy chưa được coi là chiến thuyền và thủy quân thực sự.

Những chiến thuyền dùng buồm và mái chèo sớm nhất là loại thuyền một tầng chèo, xuất hiện ở Ai Cập, Phoenicia và Hy Lạp khoảng hơn 1.200 năm trước Công nguyên. Đến năm 800 TCN, thì những chiến thuyền một tầng chèo bắt đầu được lắp thêm vào đầu thuyền các mũi nhọn được đúc bằng đồng để tăng cường uy lực khi đâm va trong các cuộc chiến trên biển. Đến năm 700 TCN thì ở các nước Phoenicia và Hy Lạp đã đóng được những chiến thuyền hai tầng chèo. Năm 550 TCN, Hy Lạp lần đầu tiên đóng  được những chiến thuyền ba tầng chèo: thuyền dài 40 đến 50 mét, lượng rẽ nước khoảng 200 tấn, có 170 mái chèo, vận tốc khi chèo bằng mái chèo có thể được 6 hải lý một giờ, khi thuận gió có thể dùng buồm. Vũ khí trên thuyền chủ yếu có mũi nhọn đầu thuyền để đâm va, và khoảng từ mười tám tới năm mươi chiến binh chiến đấu khi thuyền tiếp mạn. Các chiến binh được trang bị giáo, gươm, cung tên, thương và lá chắn. Số tay chèo không vũ trang là 170 người. Từ sau đó, chiến thuyền ba tầng chèo trở thành lực lượng chủ lực của các hạm đội hải quân ở các nước ven Địa Trung Hải, kéo dài liên tục suốt mười mấy thế kỷ.

Đến giữa thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc, để thích ứng với địa hình sông ngòi chằng chịt, các nước Ngô, Việt, Sở ở phương nam và nước Tề là nước ven biển ở phương bắc đều trước sau xây dựng chiến thuyền và cho quân đội luyện tập thủy chiến. Đến khi ấy, có thể nói là lực lượng thủy quân cổ đại Trung Quốc chính thức ra đời. Khi ấy thủy quân nước Ngô còn được gọi là “chu sư” đã có các loại thuyền như: Đại dực, Trung dực, Tiểu dực, Đột mạo, Lâu thuyền, Kiều thuyền … đồng thời xuất hiện một loại vũ khí chuyên dùng cho thủy quân gọi là “Câu cự” (Câu liêm). Năm 206 – 25 TCN, tức thời Tây Hán, thuyền chiến của Trung Quốc lại tiến thêm một bước, mà tính năng của nó đã dần từng bước đuổi kịp và vượt qua các nước Địa Trung Hải khi ấy, và duy trì cho tới tận giữa thế kỷ 15. Chiến thuyền của Trung Quốc khi ấy có thể nói là những chiếc thuyền lớn nhất, kiên cố nhất và thích ứng với việc đi biển nhất. Năm 220 – 265 sau CN, tức là thời kỳ Tam quốc ở Trung Quốc, đội thủy quân nước Ngô từng có tới 5.000 chiến thuyền, trong đó những lâu thuyền lớn, có tới năm tầng lầu, có thể chở được 3.000 quân sĩ. Đầu thế kỷ 3 sau công nguyên, dưới thời Tây Tấn, khi chuẩn bị cho việc đánh nước Ngô, Vương Tuấn đã cho đóng những chiến hạm liên thuyền, dài tới 120 bộ, trên có lầu, buồm, mở bốn cửa, có thể đi ngựa dong xe trên đó được. Năm 588 – 589 SCN, nhà Tùy diệt nước Trần, Dương Tố đã dùng đến chiến hạm lớn nhất khi ấy, có tên là “Ngũ Nha”, trên có lầu năm tầng, có thể chở được 800 quân, trước sau và hai bên có lắp đặt 6 “Phách can”. “Phách can” là một cây gỗ dài đầu có buộc đá nặng, lợi dụng lực đòn bẩy để có thể đập vỡ tàu địch khi tiếp cận, là một thứ vũ khí rất có uy lực bấy giờ.

Đến đời Đường, năm 618 đến 907 SCN, kỹ thuật đóng tàu đã phát triển thêm một bước, người ta đã đóng được những tàu “Hải Cốt” có thể vận hành và chiến đấu được trong điều kiện sóng gió khá lớn. Lý Cao phát minh ra “xa thuyền” (cũng gọi là “xa luân thuyền” hay “luân tương thuyền”) di chuyển nhanh hơn, thuận tiện hơn, có thể coi là một bước đi trước của tàu bánh xe cơ giới sau này. Năm 960 – 1279 SCN, dưới thời Tống, chiến thuyền Trung Quốc đã sử dụng phổ biến kỹ thuật vách ngăn không để nước thấm ở khoang đáy, để tàu giảm bớt khả năng bị đắm. Năm 1000, đội trưởng đội thủy sư Thần Vệ là Đường Phúc từng dâng lên triều đình các loại vũ khí để phóng hỏa như: hỏa tiễn (tên lửa), hỏa cầu (quả cầu lửa), hỏa tật lê (một loại trái pháo, có vỏ gai sắt) … Năm 1130, quân khởi nghĩa của Dương Yêu đã sử dụng một lượng lớn xa thuyền, trong đó cái lớn nhất dài gần 110 mét, trang bị 24 bánh xe, và sáu cỗ “phách can”, chở được hơn một ngàn quân. Năm 1203, Tần Thế Phụ đã đóng chiến thuyền Hải Cốt mặt phẳng, vỏ sắt, tải trọng ước 60 tấn, vách khoang được lắp bằng thép tấm, có thể nói là tổ tiên của thuyền bọc thép. Đầu mũi thuyền có lắp mũi nhọn bằng sắt như lưỡi cày, để đâm chìm tàu đối phương.

Chiến thuyền cổ đại được phát triển qua hai giai đoạn: thuyền chiến dùng chèo (Galley) và thuyền chiến dùng buồm . Tàu chiến dùng chèo được làm chỉ yếu bằng gỗ, dáng thuyền nhỏ dài, chiếm nước nông, mạn thuyền thấp, chủ yếu do sức người chèo thuyền là chính, khi thuận gió cũng có thể căng thêm buồm, nhưng chỉ là hỗ trợ. Thuyền chiến dùng chèo chủ yếu được trang bị các vũ khí lạnh, khi tác chiến chủ yếu dùng cách đâm va hoặc áp mạn giao chiến, dùng chủ yếu ở trên sông, hồ nội địa hoặc sát ven biển. Chiến thuyền cổ đại cho đến tận giai đoạn hậu kỳ mới bắt đầu lắp đặt các hỏa khí có thể thiêu đốt khác.

Thế kỷ 14, loại hỏa khí hình ống bằng kim loại sớm nhất trên thế giới được ra đời ở Trung Quốc – đó là hỏa súng. Mà cha đẻ của nó, chính là Hồ Nguyên Trừng – người Việt Nam, được nhà Minh bắt đưa từ Việt Nam sang, sau khi đánh được nhà Hồ và xâm chiếm nước ta. Sau này Hồ Nguyên Trừng được coi là ông tổ súng thần công Trung Quốc, các đời vua sau đó mỗi khi tế súng Thần công đều kiêm tế Hồ Nguyên Trừng. Theo khảo chứng của các nhà sử học, năm thứ 10 niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh (1377), chiến thuyền nhà Minh đã được trang bị rộng rãi hỏa súng, từ đó bắt đầu đưa những vũ khí trên chiến thuyền từ vũ khí lạnh, hỏa khí đốt lửa, gây nổ, quá độ sang hỏa pháo.

Chiến thuyền trên thế giới từ thuyền chiến dùng chèo quá độ sang thuyền chiến dùng buồm, đã phải kéo dài liên tục suốt mấy thế kỷ. Chiến thuyền dùng buồm, thân thuyền cũng làm bằng gỗ, nhưng độ dãn nước sâu hơn, mạn thuyền cao, đầu đuôi thuyền vươn lên, trên có dựng nhiều cột buồm, lấy sức gió làm động lực chủ yếu, đồng thời vẫn bố trí hệ thống mái chèo. So với chiến thuyền dùng chèo, chiến thuyền dùng buồm có độ dãn nước, tính năng hàng hải, khả năng tác chiến ngoài khơi xa đều vượt xa rất nhiều. Vũ khí chủ yếu là súng thần công, phương pháp tác chiến là chiến thuyền hai bên đứng cách nhau từ vài chục tới hơn một ngàn mét rồi tiến hành pháo chiến, đồng thời vẫn có áp mạn giao chiến ở mức độ nhất định. Trịnh Hòa – nhà hàng hải đời Minh ở Trung Quốc từng dẫn đội thuyền lớn, bảy lần đến Đại Tây dương. Trịnh Hòa đi trên con thuyền lớn nhất có tên là “Bảo thuyền”, dài ước 137 mét, rộng ước 56 mét, có 9 cột, mười hai buồm, lắp đặt nhiều cửa châu mai hỏa súng, là con thuyền đi biển lớn nhất trên thế giới khi ấy.

Các nước Bắc Âu, đến đầu thế kỷ 15 bắt đầu xuất hiện những chiến thuyền dùng buồm có trang bị hỏa pháo. Năm 1485, nước Anh đóng được một chiến thuyền bốn cột buồm có tên là “Thống Đốc” (Governor), lắp đặt 225 cửa hỏa pháo loại nhỏ. Năm 1520, Anh lại đóng một chiến thuyền dùng buồm lớn, có tên là Great Harry, với lượng dãn nước đạt 1.000 tấn, lắp đặt 21 cửa châu mai với pháo từ 60 đến 203 ly. Năm 1561 tướng nhà Minh – Trung Quốc là Thích Kế Quang để đánh nhau với người Nhật đã đóng một chiến thuyền lớn có tên là “Phúc thuyền”, trên đó có bố trí một cửa pháo đại phát cống, ba cửa súng, sáu cửa pháo nạp hậu, mười cây súng hỏa mai. Năm 1637, người Anh lại đóng chiến thuyền dùng buồm, có lượng rẽ nước 1.700 tấn, có tên là “Kẻ thống trị biển cả”, với 100 cửa hỏa pháo. Năm 1797, nước Mỹ cũng đóng được tàu chiến dùng buồm có tên “Hiến Pháp” với lượng rẽ nước 1.576 tấn với 44 cửa hỏa pháo.

Đến thế kỷ 19, cùng với việc chiến tranh trên biển của các nước ở châu Âu càng ngày càng kịch liệt, thuyền chiến dùng buồm đã được phát triển thêm một bước. Chiến thuyền dùng buồm lớn nhất đã đạt tới 6.000 tấn với hơn một trăm cửa hỏa pháo cỡ lớn và cỡ trung. Khi ấy, có nước đã căn cứ vào lượng rẽ nước lớn nhỏ và số hỏa pháo nhiều ít chia chiến thuyền ra làm sáu bậc. Từ bậc một đến bậc ba, gọi là chiến liệt hạm (Tàu chiến tuyến – Ship of the line): là chiến thuyền có lượng rẽ nước từ 1.000 tấn trở lên, với 70 tới 120 cửa hỏa pháo bố trí trên hai hay ba tầng sàn. Bậc 4, 5 gọi là Tuần dương hạm, lượng rẽ nước từ 500 tới 750 tấn, với 40 tới 64 cửa hỏa pháo trên hai tầng sàn. Bậc 6 được gọi là Tuần dương hạm nhẹ, lượng rẽ nước khoảng 300 tấn, với 6 tới 30 cửa hỏa pháo trên một tầng sàn.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của chiến thuyền dùng buồm, từ đầu thế kỷ 19, động cơ hơi nước bắt đầu được dùng làm động cơ cho các chiến thuyền. Năm 1815, nước Mỹ đã đóng được chiếc tàu bánh xe hơi nước đầu tiên, có tên gọi là Demologos (sau đổi gọi là Fulton), với lượng rẽ nước đạt 2.745 tấn, vận tốc 6 hải lý/giờ, bố trí 32 cửa pháo 14.5 cân. Những tàu hơi nước thời kỳ đầu đều phát triển từ tàu bánh xe, nhưng tàu bánh xe sử dụng trong hải chiến bị hạn chế rất nhiều: Một là, bánh xe lớn và một phần máy móc bị lộ rõ trước hỏa lực của quân địch, do vậy khi chiến đấu rất dễ bị hỏa pháo phá hủy; Hai là, bánh xe bố trí ở hai bên mạn thuyền, chiếm cứ mất phần lớn không gian quý báu đáng ra dùng để bố trí hỏa pháo.

Năm 1929, Joseph Lyel người Áo đã phát minh ra cánh quạt chân vịt có thể dùng cho tàu thuyền, và được kỹ sư người Thụy Sĩ là John Eriksson cải tiến, từ đó khắc phục được những khuyết điểm của bánh xe hơi nước, khiến hệ thống máy hơi nước có thể lắp đặt ở dưới khoang thuyền. Sau khi chân vịt đẩy ra đời, máy hơi nước dần dần trở thành động cơ chủ yếu trong tàu chiến, từ đó khiến tàu chiến có được hàng loạt những cải tiến thay đổi mới. Vì tàu chiến hơi nước đã cải biến được sự phụ thuộc vào hướng gió, tốc độ gió và dòng hải lưu, do vậy thời đại của chiến thuyền dùng buồm chính thức cáo chung. Cùng với đó là hỏa pháo trên tàu cũng được phát triển nhanh chóng. Một là, đường kính nòng pháo không ngừng được lớn lên; Hai là, phát minh ra đạn pháo với uy lực lớn; Ba là, xuất hiện pháo với nòng có rãnh xoắn, khiến độ chính xác của đạn pháo khi bắn ra có độ chính xác cao hơn. Tính năng ưu việt của hỏa pháo khiến mạn thuyền bằng gỗ dễ bị phá hủy, vì vậy các tàu chiến lớn bắt đầu phải có biện pháp bảo vệ cho mạn tàu và sàn tàu để chống lại sự công phá của tàu địch. Tàu chiến bọc thép ra đời từ yêu cầu đó.

Năm 1859, nước Pháp đã đóng được tàu bọc thép “Quang Vinh”. Tàu có lượng rẽ nước 5.617 tấn, với 36 cửa hạm pháo, bọc thép bảo vệ dày 11cm, phía trong là gỗ cứng. Năm 1860, tàu bọc thép mang tên “Dũng Sĩ” của Anh cũng được hạ thủy, tàu này có lượng rẽ nước khi chở đầy là 9.210 tấn, vận tốc 14 hải lý/giờ, khi dùng cả máy và buồm có thể đặt được tốc độ 17 hải lý/giờ. Trên tàu trang bị 40 cửa pháo, trong đó có 10 cửa pháo bắn đạn 50 kg, nòng có rãnh xoắn; 26 cửa pháo bắn đạn 31 kg, nòng trơn; 4 cửa pháo bắn đạn 18kg, nòng có rãnh xoắn. Trên tàu có 4 máy hơi nước 920 kW. Tàu “Dũng Sĩ” hạ thủy đã kết thúc thời kì dài của tàu chiến tuyến vỏ gỗ.

Sau khi tàu chiến bọc thép được sử dụng rộng rãi trong hải chiến, đã rất nhanh chóng cho thấy uy lực và đặc tính vượt trội so với các tàu chiến trước đây. Trong chiến tranh Nam – Bắc ở Mỹ năm 1862, quân miền nam đã chuyên tâm cải tạo tàu chiến mang tên “Merrimack”. Tàu chiến này vốn bỏ hết các bộ phận phía trên mớn nước, với các bệ pháo thấp phẳng ở giữa tàu, bốn bên có vách gỗ dày hơn nửa mét, phía ngoài cùng là vỏ thép dày. Trong một lần hải chiến, tàu Merrimack đã bị hai tàu chiến của quân miền bắc và các pháo đài ven bờ biển điên cuồng bắn phá, nhưng điều khiến người ta kinh ngạc là đại bộ phận đạn pháo đã bị bật ngược lại, còn tàu Merrimack không hề bị tổn hại gì đáng kể, vẫn tiến về phía trước với tốc độ nhanh. Đến lượt tàu Merrimack đáp trả, nó mới bắn vài phát đạn thì các thuyền vỏ gỗ của quân miền bắc đã bốc cháy rừng rực. Trong khi quân miền bắc đang không thể chống đỡ nổi, thì một con tàu khác được quân miền bắc chú tâm thiết kế, mang tên là tàu Monitor đã kịp thời tới ứng cứu. Con tàu chiến bọc thép kiểu mới ấy chỉ để lộ thân tàu lên trên mặt nước có nửa mét, mạn thuyền từ vạch mớn nước trở lên được bọc 5 lớp thép dày 2,5 mm, trên sàn tàu cũng có lớp vỏ thép. Mặc dù tàu Monitor nhỏ hơn tàu Merrimack nhiều, nhưng nhờ có vỏ thép dày và tính linh hoạt của mình, có thể tiến đánh bốn phía, chiến đấu ngoan cường, nên đã thay đổi nhanh chóng cục diện bị động của quân miền bắc. Trận đánh điển hình của các tàu bọc thép này, đã cho thấy tàu chiến bọc thép có khả năng phòng đạn tốt, và khả năng tác chiến khá mạnh.

(Tàu Monitor – Mỹ)

Cùng với sự xuất hiện của tàu bọc thép, thì pháo nòng rãnh xoắn với đạn nổ cũng được dùng trên các tàu chiến của các cường quốc trên biển. Để chống lại với sức công phá mạnh mẽ của đạn pháo nổ, vỏ bọc théo của các tàu chiến càng ngày càng dày. Cuối cùng, sắt thép đã dần dần trở thành vật liệu chủ yếu để đóng tàu, khiến cho tàu chiến trở nên kiên cố chắc chắn hơn, lượng rẽ nước cũng tăng lên đến hơn vạn tấn.

Cùng với đó, các loại vũ khí chuyên dùng trong hải chiến như thủy lôi, ngư lôi cũng nối nhau được phát minh và sử dụng trên các tàu chiến. Năm 1877, nước Anh đã nghiên cứu chế tạo ra tàu ngư lôi đầu tiên. Năm 1892, Nga chế tạo ra tàu thả mìn. Rất nhanh chóng, hải quân các nước đều học làm theo, cũng làm ra tàu ngư lôi và tàu thả mìn của nước mình. Thủy lôi và ngư lôi đã tăng cường sức chiến đấu cho hải quân. Hải quân các nước, để đối phó với ngư lôi, thủy lôi, bắt đầu lắp đặt các hệ thống phòng lôi dưới nước cho các tàu chiến lớn. Năm 1893, Anh đã đóng ra ngư lôi pháo hạm chuyên để đối phó với các tàu ngư lôi. Ngư lôi pháo hạm ấy sau này đã dần dần diễn biến thành khu trục hạm hiện nay.

Thời gian này, ở Trung Quốc, chính quyền nhà Thanh vào những năm 60 của thế kỷ 19 cũng bắt đầu đặt mua và mở xưởng đóng những tàu chiến của mình. Năm 1889 nhà Thanh đóng được tuần dương hạm “Bình Viễn” với lượng rẽ nước 2.100 tấn, tốc độ 14 hải lý/giờ, với 12 cửa hạm pháo. Năm 1902, đóng ngư lôi khoái thuyền (tức khu trục hạm) “Kiến Uy”, lượng rẽ nước 850 tấn, tốc độ 23 hải lý/giờ, với 9 cửa hạm pháo và một số súng bắn ngư lôi.

Nước ta, là một nước ven biển với nhiều sông ngòi, lại liên tục có nạn ngoại xâm, việc sử dụng thuyền bè trong chiến tranh đã có lịch sử từ lâu đời. Trên các họa tiết trống đồng đã có xuất hiện hình thuyền bè với chiến binh. Nhiều trận thủy chiến nổi tiếng đến nay còn được ghi chép trong sử sách. Trong tác phẩm “Binh Thư Yếu Lược” của Trần Hưng Đạo, chương “Thủy chiến” đã biên chép về nhiều loại tàu chiến lớn nhỏ, từ xưa đã được dùng ở nước ta như: Thuyền máy thần phi; Thuyền mẹ con; Thuyền liên hoàn … đồng thời tham cứu các loại thuyền trong “Võ bị chế thắng chí” của Trung Quốc. Trong đó thuyền máy thần phi đã có dùng bánh xe bên mạn thuyền như các tàu bánh xe sau này ở phương tây.

Trong sánh “Hiểu biết về Việt Nam” của hai Ủy viên trường Viễn đông Bác cổ: Pierre Huard và Maurice Durand, có những ghi chép về chiến thuyền của Việt Nam như sau: “Việt Nam có đội chiến thuyền rất quan trọng từ thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Nhà Nguyễn vào năm 1674 có 133 thuyền chiến. Năm 1675, người Anh là Thomas Browyear đã rất ca ngợi những thuyền chiến Nam kỳ. Một thế kỷ sau, đội hải quân của Gia Long gồm: 200 tàu mang 16,18,20,22 đại bác; 500 tàu chiến nhỏ có 40 đến 44 tay chèo, vũ trang bằng súng bắn đá và một đại bác; 200 thuyền chiến lớn với 50 đến 70 tay chèo, vũ trang bằng các đại bác và súng bắn đá; 3 tàu thủy châu Âu đặt tên là: Phượng Hoàng (Phượng), Rồng Bay (Long Phi), Chim Ưng (Ưng).”

Hiện nay, trong tình hình mới của kỹ thuật quân sự cũng như kỹ thuật đóng tàu các loại hình tàu chiến hiện đại đã ngày càng phong phú, đa dạng với những chiến hạm lớn, có sức chiến đấu vô cùng mạnh mẽ. Là một quốc gia biển, để khai thác nguồn lợi hải dương cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của dân tộc, đang đặt ra một yêu cầu và cũng là niềm hy vọng lớn với nền công nghiệp đóng tàu nước ta.

Đường Lang (T.H) – Bài trên T.C Công nghiệp Tàu thủy – số 1+2, Xuân Đinh Dậu, 2017

http://bansongdanganh.blogspot.com/2017/09/man-am-ve-chien-thuyen-cac-nuoc-xua.html?spref=fb

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA – CHIẾN LŨY VĨ ĐẠI GIỮA SÀI GÒN XƯA

Thành Gia Định hay còn được gọi là Phụng Thành, Phượng Thành là tên một tòa thành cổ của Việt Nam do vua Minh Mạng ra lệnh xây mới sau khi thành Bát Quái bị phá dỡ. Thành tồn tại từ năm 1836 đến 1859 thì bị phá hủy khi người Pháp chiếm được thành từ tay quan quân nhà Nguyễn.
Năm 1830, Lê Văn Duyệt cho sửa thành Bát Quái. Tiếc thay việc sửa thành, cộng thêm tư thù khi còn trẻ với Lê Văn Duyệt (Lê Văn Duyệt đã cho xử chém Huỳnh Công Lý, cha đẻ một quý phi được vua Minh Mạng sủng ái), vua Minh Mạng đã vu khống cho Lê Văn Duyệt tội nhị tâm (hai lòng) cho quân sang bằng mồ mả sau khi ông mất, làm Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) tức giận đứng lên đánh chiếm lấy thành Bát Quái và biến nơi đây thành căn cứ chính cho cuộc nổi dậy của mình từ năm 1833 đến 1835. Sau khi đánh bại Lê Văn Khôi vào năm 1835, Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái để xây thành mới năm 1836.
Thành mới có tên là Thành Phụng hay thành Gia Định được xây dựng ở Đông Bắc thành cũ. Thành vuông vức, mỗi cạnh khoảng 450m, tổng diện tích khoảng hơn 0,2km2 (hơn 20 ha). Thành Gia Định mới cũng được xây dựng theo kiến trúc Vauban nhưng nhỏ hơn nhiều, dễ bị bắn phá hơn và chỉ có 4 pháo đài 4 góc so với 8 pháo đài của thành Bát Quái cũ. Tường thành cao 20 thước dài trên 475 thước được làm từ đá granite, gạch và đất. Xung quanh thành có hào nước bao bọc.
Ngày 17-2-1859, quân Pháp mở cuộc tấn công thành thành Gia Định và một ngày sau thì chiếm được thành. Án sát Lê Tứ, Hộ đốc Vũ Duy Ninh tự vẫn, Đề đốc Trần Trí, Bố chính Vũ Thực và Lãnh binh Tôn Thất Năng đem quân rút về Tây Thái, huyện Bình Long. Ngày 8-3-1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy Thành và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại Thành (dấu tích duy nhất còn lại đến ngày nay là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son).

Năm 1860, những rắc rối trong việc bang giao với Trung Hoa khiến chính phủ Anh và Pháp phải mở một cuộc viễn chinh mới tại quốc gia đó. Do vậy, tất cả lực lượng Pháp tại Viễn Đông liền được dùng vào cuộc chiến, nên không những quân Pháp phải triệt thoái khỏi Đà Nẵng mà tại Sài Gòn cũng chỉ còn để lại một đội quân nhỏ (khoảng 800 người) lo việc phòng thủ.
Theo GS. Nguyễn Thế Anh, thì khi đó, chính phủ Pháp đã muốn rút quân ra khỏi Việt Nam, nhưng khi nghe tướng Charles Rigault de Genouilly biện hộ và Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp là Chasseloup Laubat tán đồng, thì chính phủ Pháp liền thay đổi quyết định. Vì thế ngay khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết ngày 25-10-1860, vua nước Pháp là Napoléon III, liền cử Đề đốc Léonard Charner thống lĩnh toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông, để hoàn thành nhanh việc chiếm cứ Nam Kỳ.
Và mục tiêu đầu tiên của viên tướng này là phải tấn công Đại đồn Chí Hòa, vì đây là một vật cản lớn cần phải phá bỏ để có thể tiến chiếm các nơi khác …

Nguyên do khi thành Gia Định mất, Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương vào Nam với chức kinh lược đại thần để điều khiển mọi việc. Ngay khi nhậm chức, Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương đã cho tu bổ, xây dựng vững chắc, quy mô hơn phòng tuyến đồn lũy, hình thành rõ nét Đại đồn Chí Hòa và cho người dò la. Biết rõ đối với súng đạn có sức tàn phá rất mãnh liệt của người Pháp, quân Việt dù đông, dù can đảm tới đâu cũng không thể giáp chiến được, ông lựa chọn chiến lược nửa công nửa thủ, tức dựng chiến lũy để bảo vệ quân Việt khỏi súng địch và bao vây dần quân Pháp. Ông truyền lệnh xây nhiều pháo đài và đắp lũy ở phía Bắc Sài Gòn. Những đồn lũy đầu tiên của Đại đồn được xây dựng ngay sau khi thành Gia Định thất thủ ngày 14-2-1859. Theo Monographie de la province de Gia Đinh (chuyên khảo về tỉnh Gia Định – 1902), thì Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Hiệp đã sai lính đắp đồn Tiền trên đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám) đi Tây Ninh. Đồn Hữu (phải) và đồn Tả (trái) hai bên.
Bản đồ quân sự mà Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên tổng hành dinh tướng Charner (chỉ huy lực lượng Thủy Quân Lục Chiến đánh Đại đồn Chí Hòa) vẽ, là hình ảnh rõ nhất về Đại đồn Chí Hòa. Đại đồn Chí Hòa lớn gấp 15 lần thành Gia Định, cụm đồn lũy Chí Hòa chỉ tính riêng khu vực chính (Đại đồn) đã gần 3km2 (300 ha). Đại đồn lớn đến mức trong Lịch sử cuộc viễn chinh Nam kỳ năm 1861, Léopold Pallu gọi đó là thành (Citadelle).
Theo bản đồ của Léopold Pallu, đại đồn có hình thang dài, đáy lớn lõm ở giữa (theo hình thế một con rạch tự nhiên chảy ra kênh Nhiêu Lộc – con rạch này giờ không còn), cắt qua Cách Mạng Tháng Tám hiện nay ở đoạn đường Bắc Hải. Đáy nhỏ nằm khoảng khu vực đường Trương Công Định, Bàu Cát (Tân Bình). Đại đồn nằm dài theo đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám – trên bản đồ hiện nay chiều dài này khoảng gần 3km). Bản đồ vẽ rất rõ đồn gồm 5 khu vực ngăn cách nhau theo chiều ngang này, mỗi khu vực như một thành lũy riêng biệt, qua lại bằng những cánh cổng lớn chắc chắn như cổng thành. Có lẽ thiết kế này để phòng khi khu vực nào thất thủ, quân đồn trú có thể rút sang khu vực khác và thực tế đã xảy ra như vậy khi Pháp tấn công Đại đồn sau này. Bằng chứng cho thấy, một năm sau, 16-4-1860, Pháp đánh chiếm khu vực chùa Cây Mai (góc Nguyễn Thị Nhỏ – Hồng Bàng hiện nay) và chùa Kiểng Phước (theo học giả Vương Hồng Sển và nhà văn Sơn Nam, góc Lý Thường Kiệt – Nguyễn Chí Thanh, có thể ở khu vực Trường ĐH Y dược TP.HCM hiện nay) mà lính Việt lúc ấy đang đóng quân. Rồi người Pháp tổ chức đánh chiếm tiếp đồn Tiền nhưng gặp sự chống trả mạnh mẽ của quân dân Đại đồn nên đã tổn thất nặng, phải co cụm trở về.
Riêng khu vực cuối cùng có thêm một tường bao bên trong và hai Đồn lớn bên ngoài, theo bản đồ hiện nay một ở khoảng ngã tư Bảy Hiền và một ngay cạnh vòng xoay Lăng Cha Cả. Bản đồ ghi fort des Mandarins (Đồn chỉ huy). Đầm Sen gần Đại đồn được tận dụng che chắn cạnh dài phía nam Đại đồn. Và thực tế, khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công, họ đã phải đánh vòng qua khu đầm này, nơi 13 đồn lũy dày đặc quanh đại đồn và áp sát Sài Gòn – Chợ Lớn
Thật ra, không chỉ co cụm trong khu vực 3km2 Đại đồn, tướng Nguyễn Tri Phương còn cho xây dựng thêm hàng loạt Đồn lũy mới bảo vệ đại đồn từ vòng ngoài với phạm vi kiểm soát rất rộng, hàng trăm km2. Cụ thể, thay cho đồn Cây Mai và đồn Kiểng Phước bị mất, bên cạnh đồn Hữu rất lớn cách đồn Cây Mai gần 2km (đã bị Pháp chiếm), ông cho xây dựng 4 Đồn khác gần như áp sát 2 đồn cũ, có Đồn chỉ cách 400, 500m. Hai chiến lũy dài khoảng 5km nối các đồn với nhau để bảo vệ nhau cùng với bảo vệ từ xa cạnh phía nam dài 3km. Mặt bắc đồn cũng có 4 đồn nằm cạnh các con rạch: 1 Đồn nằm ở khu vực cầu Lê Văn Sỹ hiện nay, 2 đồn hai bên cầu Kiệu (3 đồn này cách thành Gia Định thất thủ khoảng 3km). Một đồn khác rất lớn mà bản đồ quân sự của Léopold Pallu ghi fort Annammite (đồn An Nam) nằm giữa rạch Vàm Thuật và cầu kinh Thanh Đa (ước đoán ở khúc nối rạch Lăng và rạch Cầu Sơn, khoảng đường Nguyễn Xí – Bình Thạnh hiện nay). Đồn này án ngữ con đường quan trọng đi Biên Hòa, nối với lực lượng quân Việt ở thành Biên Hòa chưa bị chiếm lúc đó. Hai đồn khác, một nằm sát khu vực chỉ huy của bộ phận chỉ huy Đại đồn (Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Hiệp, Phạm Thế Hiển – bản đồ ghi là des Mandarins), nay là khoảng ngã tư Bảy Hiền và một nằm gần khu vực vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay. Phía sau đại đồn, về hướng bắc cũng có 3 đồn lớn: Thuận Kiều (ở Tân Thới Nhứt, Q.12 hiện nay) và Tây Thới (xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn), Rạch Tra (nằm giữa địa Hóc Môn – Củ Chi) nhằm hỗ trợ Đại đồn cũng như rút quân về phía Tây Ninh khi cần thiết.
Quân Pháp bị cụm đồn lũy Chí Hòa vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp. Tuy có đôi lần quân Việt giành được thắng lợi, nhưng cũng không thể diệt nổi quân Pháp là vì súng đạn họ tinh xảo và bắn được xa hơn. Quân Pháp nhận xét: “Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hể chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản”. Theo nhà văn Phan Trần Chúc, một vị tướng Pháp lúc đó khen ngợi: “Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị Nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Totleben ở Sébastopol, Denfert Rochereau ở Belfort, Osman Pacha trong trận Plevna”.

Có ý kiến cho rằng sau khi mất thành Gia Định năm 1859, nhà Nguyễn chủ trương “thủ để hòa”, nhưng chắc chắn lực lượng quân dân Việt khu vực Đại đồn Chí Hòa do Nguyễn Tri Phương chỉ huy không chỉ thủ mà thực tế đã có lúc tấn công dữ dội lực lượng quân Pháp đang chiếm đóng khu vực bên ngoài thành Gia Định và dọc kinh Bến Nghé. Hai tháng sau khi Gia Định thất thủ, 6g sáng 10-4-1859, một nhóm quân Việt từ đồn Tiền đi Chợ Lớn đã bất ngờ đụng một tiểu đội Pháp. Hai bên dàn quân và nổ súng vào nhau, cả hai bên đều có người chết nhưng không rỏ bao nhiêu.
Kể lại đôi lần chiến thắng này, nhà văn Phan Trần Chúc viết:
“Sau khi bao vây được quân Pháp, Nguyễn Tri Phương cho quân liều chết dưới mưa đạn để hãm đồn Cây Mai. Trong đêm 3 và 4-7-1860, 3.000 quân Việt của ông đã anh dũng chiếm được đồn Cây Mai do Đại úy người Tây Ban Nha Fernandez chỉ huy với 100 lính Tây Ban Nha và 60 lính Pháp. Trong tháng 11 cùng năm, quân Pháp lại tấn công dữ dội các pháo đài ở Gia Định nhưng quân nhà Nguyễn đã đánh lui được đối phương khiến quân Pháp bị thiệt hại nặng … Được tin thắng trận, vua Tự Đức tiếp tục ban thưởng cho các tướng sĩ ngoài mặt trận …”.
Cũng từ khu vực Đại đồn, các nhóm dân quân Việt đã nhiều lần đột nhập tận nơi quân Pháp trú đóng, như chiều 7-12-1860 nhóm này đã phục kích giết chết Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Barbé khi viên Sĩ quan này từ chùa Khải Tường (Trường THPT Lê Quý Đôn, Q.3 hiện nay – đường Lê Quý Đôn bên hông Trường THPT Lê Quý Đôn trước 1955, chính quyền Pháp đặt tên là đường Barbé) đến Đền Hiển Trung (nay thuộc khu vực Bộ Công an trên đường Nguyễn Trãi, Q.1).
Léopold Pallu viết: “Chiều hôm đó, Đại úy thủy quân Barbé cưỡi ngựa đi tuần tra như thường lệ. Bọn sát nhân rình rập trong một bụi cây … Ông bị đột kích bằng giáo té ngay xuống ngựa. Bọn An Nam liền cắt đầu, bò qua các bụi rậm và cỏ cao trở về giới tuyến cũ của thành Kỳ Hòa (tên người Pháp gọi đại đồn Chí Hòa). Sáng hôm sau, người ta thấy phần thân thể còn lại (của Barbé) bị bỏ bên vệ đường …”.

Về quân số của hai bên cuối năm 1860 theo báo cáo của Trung úy Léopold Pallu:
– Về phía Pháp: Tính chung đội quân viễn chinh vừa kể trên với số quân Pháp – Tây Ban Nha có sẵn tại Sài Gòn khoảng 800 người (bị vây chặt tới nỗi sáu, bảy tháng liền không nhận được tin tức gì từ phía Pháp), thì lực lượng của Pháp chỉ có khoảng 5.000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại.
– Về phía Việt Nam: Phía Pháp (theo Léopold Pallu) ở Chí Hòa, quân Việt có tới 21.000 quân chính quy, 10.000 quân Dân dũng (vốn làm ở đồn điền nên còn gọi là lính Đồn điền, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”), và ở Biên Hòa có 15.000 quân từ miền Trung vào.
Nhưng theo GS. Trần Văn Giàu, chắc quân chính quy không đông như thế.
Vì khi Pháp đánh Đà Nẵng, gần sát Kinh đô mà quân Triều đình ở đó chỉ có 3.200 người, thì ở Gia Định xa xăm, không thể có hơn 2 vạn được, có thể chỉ có dân quân thì đông (chắn chắn như vậy). Sở dĩ Pháp “tăng” số quân của Nguyễn Tri Phương lên, trước hết là để tăng giá trị trận đánh của họ mà thôi.
Ngược lại, nếu quân Việt mà đúng như thế thì có lẽ tại Quân dân nhà Nguyễn cũng không nắm hết thực lực của địch nên chưa quyết định “Tổng tấn công” tái chiếm thành Gia Định, “Một cơ hội giải phóng đất nước đã bị bỏ qua”. Hầu hết các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa của chúng ta đã thốt lên tiếc rẻ về giai đoạn này như vậy.

Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner & là người trực tiếp tham dự trận Đại đồn Chí Hòa, sau này đã kể lại trong sách của mình đại để như sau:
“Mấy ngày trước khi giao chiến, Đề đốc Hải quân Leonard Charner đã giao cho Đại úy Hải quân De Surville điều khiển các chiến hạm neo dọc sông Sài Gòn. Trung tá Crouzat, thì được lệnh tìm đường tiến quân, và sau khi tìm được lối đi phía bên trái đồn Cây Mai, đã cho 2 Đại đội lính đến san phẳng, dưới hỏa lực của quân đối phương. Trên bộ, các đội lính viễn chinh khác bố trí dọc theo sông Đồng Nai để cầm chân quân Việt … Sau khi tất cả các cánh quân đã được bố trí xong, vị Tổng tư lệnh là tướng Charner liền quyết định thời điểm tấn công Đại đồn Chí Hòa là ngày 24-2-1861 … Sau mấy tuần chuẩn bị và sau khi nghe Đại tá Crouzat phúc trình công tác thám thính Đại đồn xong, 4 giờ sáng ngày 24-2-1861, được lệnh của Đề đốc Charner, đại bác của Pháp từ ‘phòng tuyến các Chùa’ và trên các tàu, đều nhắm vào Đại đồn Chí Hòa mà bắn. Đại bác của quân Việt từ Đại đồn rộ lên đáp trả. Hai bên đánh nhau bằng đại bác tới sáng.
Từ vùng chùa Cây Mai, Đề đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) dẫn quân tiến lên cùng với pháo nhẹ. Quân Việt trong đồn Hữu bắn cản lại, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca đều bị thương. Đại bác Pháp liền bắn khoảng 500 phát vào đồn Hữu, rồi cho bộ binh tấn công chiếm đồn. Phía Việt cho Voi trận xông ra ứng chiến, nhưng đội quân Voi tỏ ra không mấy hiệu quả trước đại bác, súng trường … Hai bên đánh nhau đến tối, nhưng Pháp chỉ mới tiến được 1000 m, còn 2000 m nữa mới đến được Đại đồn. Đêm đến, hai bên đều ngưng chiến. Năm giờ sáng hôm sau, quân Pháp tràn lên tấn công, xáp được gần Đại đồn. Song cách vách thành 100m thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ, nên tiến rất chậm. Quân Pháp lúc này bị bắn chết và bị thương rất nhiều.
Tuy vậy, quân Pháp vẫn quyết dùng thang và đứng trên vai nhau mà trèo lên vách Đồn. Trên Đồn và trong các lỗ châu mai, quân Việt bắn chém dữ dội. Phần lớn các thang tre của Pháp vác theo đều bị đánh gãy, nhưng cuối cùng vẫn có một số lính Pháp vào được Đại đồn. Hai bên xông vào đánh xáp lá cà, giành giật nhau từng khu vực một. Chống chọi được một lúc, tướng Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng, phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Ngày 28-2-1861, Pháp tấn công Thuận Kiều, Đại tá Crouzat bị thương, nhưng quan quân phải bỏ đồn Thuận Kiều, bỏ cả đồn Tây Thới mà chạy tán loạn về Biên Hòa, mất hầu hết khí giới và lương thực. Riêng Trương Định rút về Gò Công tiếp tục kháng Pháp …”.

Sĩ quan tham dự trận là Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu kể:
“Bốn giờ sáng ngày 24-2-1861, quân Pháp được lệnh tập họp. Đến 5 giờ 30 phút, đoàn quân bắt đầu lên đường. Khi ấy, pháo binh từ các chùa Barbet (chùa Khải Tường), Chochetons, Cây Mai đã bắn được một giờ rồi và các toán quân Việt cũng đã kéo nhau dàn ra các ngả đường để phòng ngự. (Trên đường), đại pháo do ngựa kéo bất thần nhả đạn vào đồn Redoute (sử Việt ghi là Đồn Hữu). Đối phương lập tức đốt khói để che và mặc dầu súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt, họ vẫn kháng cự quyết liệt … Pháo binh chịu trận trước tiên, chỉ trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn … mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế hơn, nhưng sức kháng cự của bọn An Nam không bị đánh tan và cũng không nao núng chút nào.
Trong khi đó, thương vong của ta càng lúc càng tăng lên: Đại tướng De Vassoigne, Đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez, Chuẩn úy Lesèble và Thượng sĩ Joly bị thương nặng. Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lịnh … Khi các quân lính Pháp đầu tiên nhảy được vào bên trong, trên các bệ bắn phía sau tường, thì họ thấy quân An Nam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân An Nam chỉ lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, họ giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay … những con người nhỏ thó ấy thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào, mà chỉ có một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Chỉ mấy phút sau là họ rút về phía đại quân có cờ đuôi nheo phấp phới bên trong thành Kỳ Hòa.
Trong trận đánh ngày 24-2-1861 này, quân An Nam đã chấp nhận đối đầu bằng đại pháo với ta, tuy họ yếu kém về mọi thứ, nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút nào cả: Nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nòng có khía của ta. Nhưng khi quân ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ chỉ thối lui chớ không chạy như quân Trung Hoa năm rồi, khoảng cách vẫn còn nhìn thấy nhau. Chuyện này cũng thấy ghi trong các phúc trình về những trận đánh trước đây ở Sài Gòn và Touranne …
… Suốt đêm đó thật yên lặng, hai bên không có một tiếng súng nào. Năm giờ sáng ngày 25-4-1861, pháo binh ta lên ngựa, mỗi người đều vào hàng ngũ của mình … Mười giờ tất cả đạo quân đã vào vị trí, cách xa mặt bắc của thành Kỳ Hòa khoảng 2000 thước. Hai cánh quân đánh bộ hai bên, giữa là pháo binh. (Khi hai bên) thôi đánh chiêng và cũng ngưng đánh trống, các đại pháo trong thành Kỳ Hòa bắn ra vang rền, tiếng nổ của súng địch có cường độ giống nhau nên rất dễ nhận, tiếng các quả đạn xé gió rít lên rồi im bặt, không có một tiếng động nào khác …
… Tiếng súng của quân Việt, lúc đầu thưa thớt, dần dần dồn dập hơn. Súng họ bắn mạnh và chính xác, nhất là về hướng bắn thì rất đúng. Quân Việt có lợi thế hơn vì mặt trời chiếu thẳng vào mắt quân Pháp. Pháo binh vừa đạt vị trí 1.000 thước đã thấy có thiệt hại. Bên Pháp đã có người và ngựa chết hoặc bị thương, một xe tải đạn có một bánh xe vỡ tan thành từng mảnh. Trung tá Crouzat thúc quân kéo súng rất nhanh đến vị trí 500 thước, rồi 200 thước, ở vị trí gần này tránh bớt được nhiều bất lợi do bị mặt trời chiếu vào mắt … Hai bên bắn nhau kịch liệt … trên ruộng không có chỗ nào ẩn núp, chỉ biết đưa thân cho súng đạn. Thiệt hại đã khá rõ, chỉ còn biết lợi dụng vào chiến thắng vừa đạt được hôm qua khích động quân sĩ để họ xông lên … Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) ra lịnh cho hai cánh quân tiến lên.
Sau khi vượt qua được 6 hàng hầm chông và 2 hào sâu, quân Pháp đến được bờ đất dựa tường thành thì hai bên lại đánh nhau kịch liệt nhất, chưa từng thấy giữa người An Nam và người Âu châu. Quân sĩ nào mà leo lên được tường thành, thì hoặc dùng thang, hoặc trèo lên vai các đồng đội, hoặc níu vào các cọc thấp của các bàn chông, họ bị bắn ngay trước mặt, hoặc bị nồi lửa của địch ném phỏng mặt mày, hoặc bị giáo đâm lọt ra ngoài. Những người trèo lên trước nhất trên tường thành, và trước khi bị đánh bật trở xuống, đều thấy một cảnh tượng khác hẳn khi trèo lên tường ngày hôm trước: Bên trong trên bệ đứng bắn, đầy lính phòng ngự, kẻ thì mang súng dài, kẻ thì mang giáo hay súng ngắn, rình quân ta bên ngoài trèo vào …
Ngay vào lúc ấy, tình thế trở nên nghiêm trọng, thì có lịnh ném lựu đạn.
Hai mươi quả được ném ra … (Rồi) ba lính thủy ném được móc câu dính cứng phía bên trong của tường thành. Bọn quân An Nam tháo gỡ không được vì vướng chà gai … Ba quân lính chui qua trước, một lính của tàu Renommée, bị giết ngay, hai người kia thì bị thương. Cả ba bị xô ngược ra phía sau và rớt xuống hào. Quân lính khác theo sau, trèo lên tường rồi nhảy xuống thềm đứng bắn vào bên trong, thềm thì trơn trợt vì máu me linh láng. Dọc chân tường la liệt xác quân An Nam bị giết vì mảnh đạn bộc phá hay bị bắn.
Quân An Nam ngưng đánh vì thấy rào gai bị phá thủng, rút ra xa vài phút trước khi quân Pháp ập vào, họ rút lui rất trật tự, rút thật chậm dọc theo bờ tường thành. Một nhóm quân lính của ta rượt theo, nhưng không ăn thua gì, vì quân Việt đã rút hết vào một lớp thành khác trước khi quân Pháp đuổi tới …
Khi liên quân theo vào, giao tranh đã xảy ra càng ác liệt … vì thế trong cái khoảng trống thảm thương này ngập tràn xác chết và bị thương … (Cuối cùng) tất cả quân An Nam người nào chạy không kịp đều bị giết sạch, trận chiến chấm dứt bằng một cảnh tượng tàn sát man rợ chưa từng thấy …”.

Nhận được tin Đại đồn thất thủ, triều đình nhà Nguyễn tức tốc phái Nguyễn Bá Nghi mang 4.000 quân vào chi viện. Nhưng viên tướng này, chỉ đến Biên Hòa thì cho dừng quân lại, cử người đi tìm gặp Đề đốc Charner để xin được nghị hòa và tâu về Huế rằng: “Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa thì không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau …”.

Trích báo cáo của Pháp: “Quân ta (Pháp) gồm 4.000 quân đã tấn công thành lũy. Chúng ta đã chiếm được thành nhưng Thiếu tướng Vassivigne bị 1 viên đạn bắn trúng cánh tay. Đại tá Palanca người Tây Ban Nha bị 1 viên vào bắp chân, nhiều Sĩ quan khác bị trọng thương. Người Nam tuy không có súng tốt nhưng dũng cảm hơn người Tây nhiều …”.
Theo báo cáo của Đề đốc Charner ngày 27-2-1861, thì phía quân Pháp có 12 người chết, 213 người bị thương. Nhưng theo Léopold Pallu, Sĩ quan phụ tá của Đề đốc Charner thì con số chết và bị thương là: 19 người tử trận, trong đó có 5 viên Sĩ quan Pháp và khoảng 300 người bị thương. Và theo báo Le Mémorial d’ Asie phát hành tháng 2-1861, thì con số thiệt hại của Pháp là: 16 người chết, 299 người bị thương, trong số đó có Thiếu tướng De Vassoigne, Đại tá Palanca, Đại tá Crouzat đều bị trọng thương, Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Testard chết ở bệnh viện …
Bên quân Việt, khoảng 1.000 người chết và bị thương, trong số đó có: Tham tán Phạm Thế Hiển, Lang trung Nguyễn Duy, Tán tương Tôn Thất Trĩ đều tử trận và Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương thì bị thương nặng. Ngoài ra, Đại đồn còn bị đối phương chiếm mất 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 trọng pháo các cỡ và rất nhiều lương thực …

Trong hình ảnh có thể có: thực vật và ngoài trời
Lính Pháp (trái), Việt (giữa) và Tây Ban Nha (phải) trong trú đóng khu vực đại đồn Chí Hòa và xung quanh đồn – Ảnh tư liệu

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Đại đồn Chí Hòa (màu cam – khu vực chỉ huy nằm gần Bà Quẹo – phía bắc đại đồn) và hệ thống đồn lũy xung quanh (đỏ). Giữa các đồn phía nam có thêm hai lũy dọc và ngang mà bản đồ ghi là phòng tuyến mới (nouvelle ligne). Bản đồ này vẽ thiếu đồn Tây Thới giữa đồn Thuận Kiều và Rạch Tra. Các điểm màu vàng là “phòng tuyến chùa” của liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Màu hồng là thành Gia Định thất thủ năm 1859 – Bản đồ hành quân của Léopold Pallu – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1892. Lúc này con rạch tự nhiên tạo nên góc lõm của đại đồn vẫn còn. Bên hông đại đồn là Đầm Sen. Khi tấn công đại đồn, liên quân Pháp – Tây Ban Nha phải đánh vòng qua đây – Ảnh tư liệu – Đồ họa Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ hiện nay – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Khu vực ngã tư Bảy Hiền về hướng Bà Quẹo hiện nay. Đây là khu vực trung tâm chỉ huy đại đồn Chí Hòa xưa – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Vòng xoay Lăng Cha Cả sáng 11-11. Khu vực này xưa cũng có đồn cạnh bên khu lăng mộ này để kiểm soát quân Pháp từ hướng Nam Kỳ Khởi Nghĩa và bảo vệ đồn chỉ huy ở ngã tư Bảy Hiền – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, xe môtô và ngoài trời
Charles Rigault de Genouilly, hình chụp khoảng năm 1870

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Đề đốc Hải quân Charner, hình vẽ khoảng năm 1880.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định ngày 17-2-1859 – Tranh vẽ của người Pháp về trận đánh này.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời
Sơ đồ Thành Gia Định

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định (thành Phụng) ở góc phải phía trên thành cũ và các con đường quanh thành hiện nay.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định 1867

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thuật ngữ tiếng Anh ngành thời trang

Aline: Kiểu phong cách may mặc được sáng tạo bởi Christian Dior trong những năm 1950. Đó là trang phục vừa vặn với phần vai hoặc ở thắt lưng (với váy), có một hemline rộng lớn, xòe giống chữa A

Balaclava: Loại mũ khít đầu và cổ, chỉ để hở mặt. Thích hợp với thời tiết khắc nhiệt mùa đông. Ban đầu, loại mũ này được một nhân viên quân sự mặc , và được đặt tên cho trận đánh Balaclavau trong cuộc chiến tranh Crimean vào giữa những năm 1800.

Blazer: Áo khoác vest cộc tay. Khi xu hướng Balmania ra đời, tất cả những chiếc áo jacket này đều được chiết tay áo cực nhỏ, cắt thẳng

Bohemian: Còn được gọi là lãng mạn hay mang chất thơ; Bohemian là một xu hướng trang phục với những chi tiết nữ tính như diềm xếp nếp, ren viền, ruy băng, và những chi tiết thêu khác. Xu hướng này phản ánh được tinh thần tự do của thời trang.

Boot-cut: Đây là từ được sử dụng để miêu tả quần dài hoặc quần jeans ôm ở phần gối và loe ở mắt cá để có thể phù hợp với nhiều loại giày khác nhau.

Capri pants/Capris: Quần lửng dài quá gối thường mặc vào mùa hè.

Chiffon: Một loại chất liệu mỏng nhẹ nhưng rất bền dù bề mặt của nó rất tinh tế

Cheongsam: Sườn xám.  Cheongsam không phải là tên tiếng Anh mà là phiên âm La-tinh theo tiếng Quãng Đông, Trung Quốc. Sườn xám là kiểu áo cổ đứng, tay ngắn, ôm gọn cơ thể. Vạt xẻ cao đến đùi. Xườn xám xuất hiện nhiều những năm 1930 khi văn hóa phương Tây tràn vào Trung Quốc

Denim: Là vải bông đan chéo, bền và đắt tiền hơn jean. Mặc dù hai loại vải jean và denim rất giống nhau trên nhiều phương diện, chúng vẫn có một điểm khác biệt lớn: denim được dệt từ một sợi màu và một sợi trắng; jean được dệt từ hai sợi cùng màu.

d’orsay shoe or slipper: Dép đi trong nhà, che kín gót và ngón chân. Đây là kiểu giày ‘lười’ với thiết kế giản tiện một cách tối đa: Mũi giày hơi nhọn, đế bệt, phần mu giày không có thêm dây buộc. Phong cách là một trong những thời trang mang tên Bá tước d’Orsay ở Paris sống trong giữa những năm 1800.

Empire: Vòng ôm nằm ngay dưới ngực, được dùng để tạo đường cong cho cơ thể.

Embroidery:  Thêu dệt trên một lớp vải. Mỗi một nước, khu vực sẽ có cách  cách trang trí mũi thêu  khác nhau

Face: Đường viền bên ngoài của tấm vải

Glam: Đây là từ rất hay thường dùng của các tạp chí thời trang Anh Mỹ – viết tắt của glamorous. Từ này trong tiếng anh có nghĩa là quyến rũ. Glam được dùng để chỉ phong cách dạ tiệc, lấp lánh, sang trọng và nữ tính.

Gathers: Cách may nếp gấp trong quần áo. Cách may này sẽ làm giảm chiều rộng của mảnh vải

Harem pants: Quần dài rộng ôm ở mắt cá chân, và được thiết kế cho phụ nữ.

Haute couture: Thời trang cao cấp nhất, xa sỉ nhất, sang trọng nhất, độc đáo nhất. Đây là từ chỉ được dùng trong những tuần lễ thời trang cao cấp của Paris, London… Những trang phục “haute coutre” được đặt may riêng bởi những ông trùm về thời trang như: Chanel, Christian Dior, Christian Lacroix, Elie Saab, Giorgio Armani, Maison Martin Margiela hay Valentino…

Havelock:  Là một loại mũ che mặt. Mũ này phát triển ban đầu như là một phần của bộ đồng phục của các binh sĩ  trên thế giới nơi mà ánh nắng mặt trời nhiều…Ngày nay, chúng được sử dụng nhiều trong  dân trong thể thao hoặc đối tượng làm việc ở ngoài trời nhiều

just-in-time manufacturing: Sản xuất đúng thời hạn

Lace and tatting: Sản phầm bằng ren, kỹ thuật đan  bằng các nút thắt và vòng…hiệu quả trong việc trang trí250px-Pine_Pattern_Collar_in_Tatting_-_Project_Gutenberg_eText_151471

Leather: Áo khoác da.

Liberty print: Họa tiết hoa cổ điển do Arthur Lasenby Liberty tạo ra vào năm 1939 ở London.

Limitary: Xu hướng thời trang ăn mặc như quân đội.

Macrame: Là một hình thức của dệt may làm bằng thắt nút. Chúng được dùng nhiều để làm các thắt lưng, túi xách, áo khoác hoặc dùng để trang trím

Metallic: Hiểu một cách đơn giản nhất là sự kết hợp giữa trang phục có màu ánh kim và phong cách rock chic mạnh mẽ.

Non-wovens: Vải không dệt, sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp sản xuất may mặc, chúng chịu được độ ẩm, nhiệt độ, áp lực. Nó được sản xuất từ lông cừu hoặc một số loại sợi khác. Đây là loại vải rất bềnn

 Open orders: Đơn hàng , ghi sợ lược một vài thông tin trên order đó

Pagoda sleeve:  Tay áo. Nó ôm cánh tay và một phần được phình rộng ra hay còn gọi là tay áo hình phễup

Pastel: Bất cứ trang phục nào bạn có thể liệt kê vào gam màu phấn nhạt.

Preppy: Một phong cách rất được ưa chuộng ở những năm cuối thập niên 70 và 80. Kể từ đó, phong cách này chưa bao giờ lỗi thời. Preppy là sự kết hợp giữa những trang phục gần giống nhau và trang phục hiện đại. Một số yếu tố chính của phong cách này là áo phông, găng tay, khăn choàng, áo cardigan, các phụ kiện cho tóc, và tất nhiên là chiếc áo len được quàng qua vai.

Print: Tất cả những trang phục từ quần áo đến giày dép có in họa tiết hoặc in hoa.

Quick Response (QR):  Là một hệ thống mã vạch trong thông tin điện tử giúp cung cấp hàng hóa nhanh chóng. Trong ngành dệt may, úng dụng hệ thống mã vạch này giúp cung cấp các sản phẩm một cách nhanh chóng trong vài ngày, vài tuần thay vì vài tháng như trước đâyq

Raglan: Tay áo. Kiểu may Raglan co điểm đặc biệt là để lại một đường may chéo dưới cánh tay và màu vải khác màu của cổ áo. Kiểu áo này được chúa Raglan mặc vào năm khoảng 1854 khi ông bị mất một cánh tay trong trận chiến. Loại áo này ngày nay được phổ biến trong thể thao và mặc mặc tập thể dụcr

Seam: Đường may, nơi hai mảnh được nối vào nhaus

Sequins: Bất cứ cái gì có đính pha lê, hột cườm lấp lánh đều được liệt vào hàng của “sequins”. Mốt mới nhất là diện áo đính những hạt đá lấp lánh với quần tất đen như những thiết kế của Joseph hay quần tất phủ ánh bạc như ở Gucci.

Shirt dress: Có những chi tiết của áo sơ mi nam như cổ áo, nút áo hoặc phần ống tay được xăn lên.

Skinny: Từ dùng cho bất cứ trang phục liên quan tới quần bó sát thân – quần da đen bóng, quần bò, quần thun có độ dãn, ống ôm sát vào chân.

Stonewashed: Còn được gọi là quần vải loang ở Việt Nam. Đây là từ chuyên dụng của quần jeans. Khi được bỏ vào hóa chất acid và đá bọt trong máy giặt, chiếc quần jeans sẽ cho ra màu loang trên phần thân rất cá tính. Với các mức độ khác nhau, quần jeans vải loang sẽ có từ dùng khác nhau: “double-stone-washed” (loang mạnh), và cuối cùng là “destroyed” (phá hủy).

TFPIA: Là từ viết tắt về một đạo luật trong ngàn sợi dệt. Pháp luật này được thực thi bởi Ủy ban Thương mại liên bang yêu cầu các sản phẩm phải ghi các thông tin cụ thể trên sản phẩm. Mỗi sợi trong ngành dệt phải xuất hiện trên nhãn ghi hàm lượng các chất, tên nhà sản xuất, xuất sứ…

Tuxedo: là kiểu áo vest cơ bản, như của nam giới. Áo Tuxedo thường dài vạt, chít ở eo và có túi

Unisex: Thời trang phi giới tính. Trang phục theo phong cách Unisex là trang phục mà cả nam lẫn nữ đều có thể diện được.

Vintage: Thời trang cổ điển. Xu hướng ăn mặc theo mốt trở lại của những thập kỷ trước. Các cô gái đầu tư thời gian đi lùng sục trong các cửa hiệu đồ cũ hoặc bới trong đống quần áo bỏ đi của bà, của mẹ. Trong vintage cũng có đồ bình dân và đồ cao cấp.

Watteau back: Áo choàng bao lại. Là thời trang được  phụ nữ của thế kỷ 18 ưa chuộng mặc. Vào đầu thế kỷ, áo choàng bao lại là một phong cách rất được ưa chuộng. Kiểuváy có kiểu hộp nếp gấp buông từ vai xuống sàn nhàw

Yarn types: Sợi.  Sợi chúng được kéo dài liên tục,  sử dụng trong sản xuất hàng dệt , may , đan , đan , dệt , thêu…y

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Một thời Sài Gòn

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON

XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975)theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết…

View original post 3,505 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Sự thật trong việc Pháp giúp Nguyễn Ánh khôi phục miền nam

Nghiên cứu lịch sử

Gia LongChân dung phác họa vua Gia Long qua nét vẽ của một họa sĩ người Pháp. (Nguồn tài liệu thư viện Pháp)

Võ Thu Tịnh

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Ở Tây Sơn, miền Trung, năm 1771, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ nổi dậy, chiếm được Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận ở phía nam và Quảng Nghĩa phía bắc. Trịnh Sâm liền sai Hoàng Ngũ Phúc (tước Việp quận công, tức quận Việp) đem quân vào Nam lấy danh nghĩa trừ quyền thần Trương Phúc Loan và diệt loạn Tây Sơn. Thấy thế quân Trịnh quá mạnh, chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần (23 tuổi) bắt Trương Phúc Loan đem nạp, xin hàng.

Quân Trịnh chiếm Phú Xuân. Yếu thế, Nguyễn Nhạc sai người đem thư và vàng lụa đến quận Việp xin hàng, xin nộp đất Quảng Nghĩa, Qui Nhơn, Phú Yên và xin làm tiền khu đi…

View original post 5,911 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Về sự kiện Nguyễn Ánh đến Côn Đảo năm 1783

Nghiên cứu lịch sử

con dao

Nguyễn Thanh Lợi

Trường Cao đẳng Sư phạm TW TP.HCM

Nguyễn Ánh có ra đến Côn Đảo hay không, lâu nay là vấn đề thu hút sự quan tâm tìm hiểu của các nhà sử học. Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, cả chính sử lẫn trong dã sử hoặc giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Nhưng các tài liệu cho thấy, việc Nguyễn Ánh đã đặt chân đến Côn Đảo năm 1783 là điều khó có thể xảy ra trên thực tế.

Côn Đảo là hòn đảo nào?

Côn Đảo xưa có tên là Pulao Kunder do người Mã Lai đặt. Pulao có nghĩa là đảo,[1] Kunder là bầu bí (courge). Pulao Kunder là hòn bầu, hòn bí (Ile des courge), có lẽ do ở đây trước kia người ta trồng nhiều bầu bí. Vào năm 1285, bọn giặc Tàu Ô đến…

View original post 5,106 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

CHIẾT TỰ CHỮ HÁN: CHỮ ĐƠN

 

1. BẦN 貧

2.  BĨ – THÁI là gì?

3- CHÁNH  正

4- CHỦ 主

5- CHÚA  主

6-  CỔ  

7- CUỒNG 狂

8- ĐẠO 道

9-  Điểu 

10 -ĐÔNG 

11- Đức 

12- ĐIỀN 田

13- Giải 解

13- Giải 解

15- HÒA  

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

17 -HỌC  

18- HOẶC 或

19- KIỀN  乾

20 –KHẢO 拷

21- KHÍ 氣

22- KHỔ 苦

23 -LÊ 

24- MINH 明

25- NIỆM  念

26- NGỌC 玉

27- NGHĨA 義

28- NGỤC  

29- NGUƠN 元

30- NGUƠN NGỌC  元玉

31- NHẠC  

32- NHO 儒

33- NHÂN

34-  NHŨ  乳

35-  NHỰT 日

36- PHÁP 法

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1-BẦN 貧

 

 Thế nào là BẦN 貧

Trong chữ Bần cấu-tạo đến ba phần: trên là chữ bát   (bát là tám), kế đến là chữ đao  (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân  (phân là chia) dưới cùng là chữ bối  (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo.

Vì thế cái nghèo này là cái nghèo của những tâm hồn lớn, đạo-đức luôn nghĩ đến kẻ khác.

Người tu nên học lấy “chữ Bần” của Thượng-Đế.

Có bài thơ như vầy:

Tròi-trọi mình không mới thiệt BẦN.

                        Một nhành sen trắng náu-nương chân.

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt.

Đỡ  gót nhờ con hạc trắng ngần.

Bố-hóa người đời gây mối Đạo.

Gia-ân đồ-đệ dựng nền NHÂN.

Chừng nào đất dậy trời thay xác

                        Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần

       (Đức Chí-Tôn – Thánh ngôn Hiệp-tuyển)

Nhất là hai câu cuối của bài thi trên là lời tiên tri về

thời cuộc một cách sâu sắc. Vận mạng của nhân loại nằm trong hai câu ấy. Nay đã đến thời-kỳ “đất dậy” rồi đó làm chấn động cả toàn cầu. Hãy trông lên coi  “Trời thay xác”

chưa?  Nhân loại hãy chuẩn bị “thay xác” đi là vừa!

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo, Ổng nói “Tròi trọi mình không mới thiệt bần”. Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền-Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền-Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy”.

Thế nên, buổi này các bậc Đại-đức, chơn tu mới xưng mình là Bần-Đạo như Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Thượng-Phẩm, nhưng thường xuyên hơn hết là Đức Hộ Pháp thuyết Đạo hay dùng từ Bần-Đạo. Cũng như Bà Nữ  Đầu-Sư Hương-Hiếu hay dùng tiếng Bần Nữ vậy.

 

 

  1.  BĨ – THÁI là gì?

–  BĨ là quẻ thứ 12 trong kinh Dịch

– THÁI  là quẻ thứ 11 trong kinh Dịch.

Bĩ 否 nghĩa là bế tắc, gồm có chữ bất 不 ở trên, chữ Khẩu 口 ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác.Cũng như chữ Phỉ 匪 chữ Phi 非 nghĩa là không vậy. Ở trong trời đất vẫn có đủ cả vạn-vật. Nhưng ở trong vạn-vật thì người là một giống tối linh. Vậy nên chỉ nói người, thời đại-biểu được cả vạn-vật. Người, thật ra là phối với trời đất mà làm ra Tam Tài, nên đạo người tức là đạo trời đất, mà đạo trời đất chính là ở con người hiện hữu

Đạo trời là gì?  – Là Khí Dương.

Đạo đất là gì?   – Là Khí Âm.

Âm Dương hoà hợp nhau thì sanh thành được vạn vật, đạo người cũng nhân đó mà còn. Âm Dương cách tuyệt với nhau thời chẳng sanh thành được vật gì cả, đạo người cũng nhân đó mà mất.

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

1 hậu môn 

1bộsinh-dục                        

Một miệng                                                          

Hai lỗ mũi

Haicon mắt

 

 

 

 

– Ba nét liền tượng ba hào Dương gọi là quẻ Kiền ☰

–  Ba nét đứt tượng là ba hào Âm,  gọi là quẻ Khôn ☷

Một quẻ kép như trên có Kiền vi Thiên ở trên, Khôn vi Địa ở dưới, đọc là Thiên Địa Bĩ.

Một đứa bé ra đời thì đầu quay xuống phía dưới đất, để cho Âm Dương hoà hợp (đầu là Dương, đất là Âm) tức nhiên một hài-nhi mới ra đời thân thể yếu-ớt là từ chỗ tối-tăm đi ra là thời BĨ (cần phải được nuôi dưỡng săn sóc)

– Thứ nhất: Đầu quay xuống như thân cây mới mọc.

– Giai đoạn thứ nhì đứa bé nằm ngang, đầu và mình ngang nhau, chống tay bò như con thú bốn chân.

– Giai đoạn thứ ba đứa bé đứng thẳng, đầu hướng lên trời, chân đặt lên đất. Đó chứng tỏ là con người đã phải theo định luật tiến-hoá của Bát-hồn.

Hình dạng các khiếu trên tạo nên quẻ Thiên Địa Bĩ.

            Luật tiến-hoá của vũ-trụ là một vòng tròn không đầu mối, thế nên hết Thái đến Bĩ, qua Bĩ rồi lại Thái. Đó là chuyện hữu hình. Vô vi cũng vậy.

Con người mới ra đời, đầu quay xuống gọi là “sanh

thuận” tức là mới khởi là phải “đương đầu” với một thế giới mới, tuy mọi sự đều khó-khăn, phải phấn-đấu lắm mới được. Rồi một phen trở về cũng vậy, tức là chết. Chơn hồn cũng quay đầu về trình Mẹ ở Cung Diêu-Trì là Cung Tạo Hoá Thiên (số 9), thì cũng phải chịu thời Bĩ để thích nghi với một thế giới mới nữa. Thế nên Ông Bà ta đã rõ thông luật tiến-hoá ấy mà khi người chết đặt nằm, đầu phải quay ra ngoài là thuận lý Âm Dương của Trời đất  (Trở về là thời Âm, Cung Mẹ là Dương đối với Âm) Vì chữ ngoài đây tức là Thượng là hướng thượng, như quẻ ngoại là quẻ “Thượng” là nằm trên. Quẻ nội nằm dưới.

            Lại nữa qua hai quẻ THÁI, BĨ đi liền  nhau mà  bao

quát được vô số vấn đề Đạo-lý trong vũ-trụ.

Thời Bĩ này Âm-khí ở dưới chẳng chịu thượng giao

với Dương, dương-khí ở trên chẳng chịu giao tiếp với âm.  Âm Dương cách tuyệt nhau như thế, tất nhiên vạn vật chẳng sinh thành, còn gì là đạo làm người nữa, nên nói rằng: chẳng phải đạo làm người. Dịch nói Bĩ chi phỉ nhân. Việc trời đất lớn rộng để chỉ cái bao la, còn thân người nếu âm-khí không xung lên, dương khí không giáng xuống thành bịnh quan cách bất thông. Tâm thuật cũng vậy, nếu bên ngoài hưng phấn mà bên trong chứa nhiều nhân dục, cũng gọi là phỉ nhân vì còn nhiều thú tính, thì sao xứng đáng vào hàng Tam Tài?

Quẻ  thì Kiền ☰ trên  Khôn ☷ dưới, thoạt nhìn thì thấy vị trí của hai quẻ có vẻ là thuận, nhưng luận về khí-hóa thì khí Dương ở Kiền có tính bốc lên và khí Âm ở Khôn thì lắng xuống dưới, hai khí có chiều hướng khác nhau thì làm sao hòa nhau được, đã không hòa được thì vận Bĩ phải đến mà thôi.Quẻ Thiên-Địa BĨ là lúc bế tàng. Khi Đạo Bế là phần Dương cuối cùng muốn đứt, chuyển biến ra Âm. Hết thạnh đến suy, nhơn vật thay đổi: Thời Đạo Bế, người sinh ác tâm, bạo ngược, gian tham xảo trá, giao cảm ác khí nên tội-lỗi làm chìm đắm sa đoạ, nhơn vật điêu tàn. Phần Dương tiêu huỷ, phần Âm thạnh phát. Ấy là lúc Âm thạnh Dương suy.BĨ là thời kỳ Đạo bế.

Đạo vận có một phần Dương, một phần Âm hiệp thành Càn Khôn Thế giái, thì Âm Dương chuyển vận tuần hoàn mà sanh sanh hoá hoá mới có đêm tối ngày sáng.

Bĩ là bế tàng, là cùng tận. Bởi Quẻ Thuần Kiền  chủ cát tường là điều lành. Nhưng cái khó ở đây là quẻ Thuần Kiền đã biến thành Thiên Địa Bĩ  vì mất đi 3 hào Dương ở dưới, Âm cứ tiến dần lên (Dương biến Âm)

-THỜI ĐẠO BẾ: Thánh giáo của Phật Thích Ca giáng Cơ tại Hội Phước Tự (Cần Giuộc). Ngày 05-04-Bính Dần (Samedi 5 Juin 1926) có lời rằng:

Chư sơn nghe dạy: “Vốn từ LỤC TỔ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp luật buộc mối Ðạo Thiền.             TA vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi “Tây Phương Cực Lạc” và “Ngọc Hư Cung” mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã  cho  hiểu  trước đến  buổi  hôm  nay rồi;  tại  Tăng  đồ không kiếm chơn lý mà hiểu. Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo… Ôi! Thương thay! Công có công, mà thưởng chưa hề có thưởng; vì vậy

mà TA rất đau lòng. TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt.   Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót; phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành Đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến “Tả Ðạo Bàng Môn”. Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa”.

 

BĨ cực thì THÁI lai

nghĩa là hết xấu thì đến Tốt.

Theo lý  Dịch,  Đạo Khai 開 là  thời THÁI,  là hình

ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài..

Lúc Đạo khai là thời của quẻ THÁI  Âm khí của Khôn giáng xuống, Dương khí của Kiền thăng lên hoà hợp, ấy là lúc hanh thông, vậy phần Âm sau cùng vừa tận thì đến phần Dương phát khởi chuyển hoá. Ấy là thời-kỳ phổ khai, nhơn loại đặng từ-thiện minh chánh, những hung ác bạo tàn đều tiều tuỵ. Lúc ấy là Dương thạnh Âm suy, nhơn vật tuần hoàn đến kỳ thoát hoá, người lo tu tâm dưỡng tánh, cọng hưởng thái-bình. Do máy Âm Dương chuyển vận đến hết phần Âm cuối cùng là Thái.

Nguyên Đạo-lý trong vũ-trụ chỉ có lẽ tương-đối, mà không lẽ gì tuyệt-đối. Hễ sau lúc đã Thái  (Địa Thiên Thái) là hanh thông rồi, tất nhiên vận cùng sẽ tới vậy. Nên, sau quẻ Thái tiếp lấy quẻ Bĩ. Thái cực thì Bĩ lai, Bĩ cực Thái lai, chuyện đời đầy vơi là như thế.

Về quẻ THÁI theo khí-hậu thì khí Âm và khí Dương

giao nhau, dung hòa nhau được thì mới hanh THÁI.

Ngay thời-điểm cực kỳ đen tối như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (vào khoản năm 1926):

– Trong thì tâm lý nhơn sanh còn nhiều phức tạp theo đa thần giáo, tinh thần Tôn giáo chưa chuyên nhất nào là theo bóng, chàng, đồng, cốt, thầy phù, thầy pháp đủ loại, mặc dầu tín ngưỡng cao nhưng NHÂN TÂM bất nhất

– Ngoài thì dân tộc chịu lệ thuộc dưới quyền thống

trị của người Pháp. Dân sinh chịu đau khổ dằng dai.

Đức Chí-Tôn đến, Ngài đến để xoay thành vận THÁI, tức là đem lại sự hanh-thông, sáng-sủa, huy-hoàng cho dân-tộc Việt, đồng thời để giải nguy cho nhân-loại đang lâm vào cảnh đau thương nhất, loạn-ly nhất như hiện tại đã thấy trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp này:

“Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ tức là Đạo Cao-Đài đặng mở một kỷ-nguyên mới, Qui  Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi, lập thành một nền Tôn-giáo Đại-Đồng cho hiệp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại và của quả địa cầu 68 của chúng ta, dọn đường cho Đức Di-Lạc ra đời”.

 “Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa cõi hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ-Bút  mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế-giới”.

Xếp đặt quẻ,Thánh nhân lấy theo hình ảnh con người

Luận về Lý Dịch qua con người:

(Tài-liệu này trích trong Dịch-lý Cao-Đài I cùng Soạn-giả)

Tại sao phải lấy hình ảnh của con người?

– Vì tất cả con người trên thế giới này đều có những bộ-phận giống nhau về Âm Dương, nam nữ. Bộ sinh dục nam thì tượng Dương vẽ một gạch liền  Nữ tượng Âm, vẽ gạch đứt  Dựa theo nguyên tắc này mà Thánh nhân làm ra bộ Kinh Dịch, ký hiệu  toàn  bằng  những vạch liền,

vạch đứt thay đổi nhau mà làm nên quẻ biến đó vậy.

 

 

Từ đó mới suy ra: người nào cũng có ở trên mặt và trên  người cơ quan hữu hình như trên.

Vì người là một sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng  Đế. Thánh-nhân do theo đó mà làm nên nét chẵn, lẻ; Âm, Dương để diễn-tả sự chuyển biến trong vũ-trụ này. Do

 

vậy nét đứt  biểu thị bằng hào Âm, nét liền tượng hào Dương Nét liền, nét đứt đều do từ lý tính của người. Chính do Âm Dương này đã trở thành đầu mối của Càn Khôn Vũ Trụ mà Thánh-nhân đã luận nên tất cả những sự biến thiên trong trời đất, không đâu là không có hình ảnh Âm Dương. Dù vật lý học, nguyên tử học, sinh học, triết học, lịch học và nhất là TRIẾT LÝ CAO-ĐÀI.

Theo trên, với con số 7 là 7 khiếu (khiếu là lỗ) ở trên mặt, tức là 7 khiếu Dương; nhờ Dương-điển trên mặt nên tất cả con người dù xứ nóng hay xứ lạnh đều chịu được thời tiết mỗi nơi khác nhau, nếu khí Âm lên đến đầu hay mặt, là bịnh.

Thế nên Pháp Chánh Truyền qui định cho phái Nữ chỉ đến phẩm Đầu Sư mà thôi. Còn hai phẩm Giáo Tông và Chưởng Pháp thì không được dự vào cũng vì lẽ ấy.

Con số 7 có liên-hệ đến thất tình và thất khiếu sanh

quang  của  con  người. Do các số này đã làm nên phương

trình Đạo học, đang áp-dụng trong thế giới lòai người.

Xưa Phật chỉ độ phần Dương mà thôi, tức là độ hồn

mà không độ xác, độ tử không độ sanh, độ Nam mà không

độ Nữ, nên Phật-giáo chỉ làm tuần thất (nghĩa là 7×7=49 ngày)

Ngày nay, chính Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo, là cơ  tận-độ chúng-sanh, tức là thực hiện cả con số 9 (hình ảnh của toàn Cửu khiếu =7 khiếu dương + 2 khiếu âm) tức nhiên Kỳ Ba này độ cả hồn lẫn xác, độ tử và độ sanh,  độ Nam và Nữ, độ toàn cả nhân-loại trên Càn khôn Thế giới và vật loại; không phân biệt giống dân nào; vì tất cả đều là

con của Thượng-Đế. Đạo Cao Đài làm tuần Cửu (9×9=81)

Điều này ứng với Sám Trạng Trình, rằng:

“Cửu Cửu Càn Khôn dĩ định,

“Thanh Minh thời tiết hoa tàn”.

Bởi thế nên đúng thời này Thầy lập Cửu-Trùng-Đài là con đường vào Cửu-Trùng-Thiên, từng bước lên nấc thang tiến-hóa qua Cửu-Phẩm Thần-Tiên để đến nơi tuyệt phẩm là Niết Bàn, theo như Phật giáo quan-niệm đó.
Chỉ có con người mới được hình ảnh của quẻ THÁI mà thôi, tức nhiên đứng thẳng, đầu đội trời chân đạp đất.

Đặc tính quẻ THÁI :

Trong khi đó Khôn (6 vạch đứt) là Âm ở trên, quẻ KIỀN ☰ dương ở dưới, chỉ một sự bao dung, như tình cha mẹ thương con. Quẻ Kiền ☰ (3 nét liền) cọng chung là 9 nét. Người Á Đông nói Kiền là Cha, Khôn là Mẹ.

Khi trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hiệp thì muôn vật sinh trưởng cho nên mới nói THÁI: “Âm Dương hoà hiệp, thiên địa tương giao vị chi THÁI.”

THÁI còn có nghĩa nhỏ đi lớn lại, Âm đi Dương lại. Thế của khí Âm Dương trời đất giao nhau mà muôn vật hanh thông, trên dưới giao nhau mà chí khí giống in nhau. Trong Dương mà ngoài Âm, trong mạnh mà ngoài thuận. Đạo quân tử ngày một tăng trưởng, đạo tiểu nhân ngày một tiêu mòn.

    Soán viết: Thái, tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên Địa giao nhi vạn vật thông dã. Nội Dương ngoại Âm, nội kiện ngoại thuận. Quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu.

Vậy thì trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hợp là quẻ THÁI. Muôn vật tươi tốt. Đấng nhân quân phải làm thế nào giữ được mức quân bình: không thái quá mà cũng không bất cập, cốt thực hành, vun bồi, sửa sang giúp đỡ cho nên việc của Trời đất và phù trợ cho dân sanh.

Hãy xem giữa trời đất và con người có những điểm tương đồng, tức nhiên “Trời đất in ta một chữ đồng”. đúng như câu của các Triết gia Đông Tây đều nhìn nhận: Con người là một Tiểu Vũ trụ “Nhân thân tiểu vũ trụ”.

“Con người đứng phẩm tối linh,

“Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi”.

Trời đất, vạn vật đều có đầy đủ trong con người của chúng ta. Sự tương ứng giữa hình tượng và các số của Đại Vũ trụ (Macrocosme) tức là trời đất với Tiểu Vũ trụ (Microcosme) tức là con người.

 

 

3- CHÁNH  正

            Chánh 正 nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. Điều này Đức Chí-Tôn đã dạy rằng “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”. Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.

Trong vấn đề tu-hành dù ở phương diện nào điều cần-yếu là phải giữ cái tâm cho chánh đáng “Vì tâm trung chánh đáng thì là làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của tà-quái xung nhập” .

Lời Bà Lâm Hương-Thanh nói rằng:

             “Sự tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, khỏ mõ rung chuông là đủ; mà cũng không phải niệm đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi đó là cái  SỰ chớ chưa phải cái  LÝ, cái ngọn chớ chưa phải cái gốc; cái lý với cái gốc vốn ở trong TÂM người.

              “Giữ tòa lương-tâm cho thanh tịnh, chánh đáng, rồi sai khiến ra tứ chi, thân thể, dò  theo đạo luật mà làm. Sự tu không phải nội trong lúc tới chùa hay là đương lúc cúng kiến ăn chay. Phải cẩn-thận dầu trong khi ngày thường, ăn ở đối-đãi với nhau trong cuộc đời cũng phải cho nhớ rằng: thiện nam tín nữ, thì mình phải liệu làm sao, giữ làm sao cho lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành-vi  cho khỏi phải phụ một phần trách nhiệm, chớ nếu như đã thọ lãnh tiếng“nhập môn cầu Đạo” mà còn tranh cạnh chuyện thị-phi ác cảm  bên trường đời, lửa tam bành nổi dậy rần rần, ma lục tặc hoành-hành thất sá.

           “Kinh cũng đọc, kệ cũng đọc, mà lời phàm tiếng tục cũng không chừa.

           “Tiên cũng cầu, Phật cũng cầu mà tánh quỉ nết yêu cũng không bỏ.

           “Ngoài so-se đeo mảnh gương Thiên-nhãn, lần chuỗi hột bồ-đề mà trong lòng thì mối nghiệt dây oan vấn vương nơi trái tim lá phổi.

           “Vậy thì sự tu-hành chính là một cuộc cầu danh giả dối, biết mấy đời cho thoát đặng cảnh khổ sông mê.

           “Ôi! Ăn chay một tháng có mấy ngày, còn bao nhiêu thì hại vật sát sanh không chừng đỗi, kinh sám-hối đọc sơ qua chút ít, còn bao nhiêu thì vọng ngôn ác ngữ cả luôn năm, vậy rồi lâm vô vòng ác-đạo trầm luân lại thán oán rằng: Tôi có niệm kệ, ăn chay, sao không thấy Phật rước Tiên đưa, Thánh Thần hỉ xả ?” 

Thi văn dạy Đạo

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra?

Sao ra Tiên Phật người trần tục.

Trần tục muốn thành  phải đến TA.

 

 

4- CHỦ 主

TRÊN THIÊN BÀN  có dạng CHỮ CHỦ 主

Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Có thể gồm thâu vào một mối ở người tu theo Đạo Cao-Đài ngày nay là đoạt đức làm Vương, làm Chủ. Phật Thích-Ca cũng nói: Thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình là vậy. Thắng lấy mình là làm chủ mình trước tiên. Dầu một bậc vua quan công hầu khanh tể đi nữa mà không thắng lấy mình được thì mọi việc sẽ hư hỏng về sau, mất lương tâm mà thôi.

Lịch-sử nhân-loại đã cho ta thấy điều ấy.

Phân tích chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰ ấy tượng Tam tài, mà chính con người có dự phần trong ấy: trên trời, dưới đất, giữa là người. Phải là người có đạo đức mới không thẹn với trời cao đất dày chứ ! Ba vạch này còn là quẻ CÀN (Càn vi thiên) đó vậy. Thêm một nét sổ

thẳng qua thành ra chữ Vương 王 (vương là vua) mà chính Đại-Đạo ngày nay Chí-Tôn đã đến ban cho một nền Vương Đạo. Đặt một nét chủ lên trên thành ra chữ CHỦ là vậy.

Thế nên ngày nay Đức Chí-Tôn đến mở Đạo Ngài cho Thờ trên Thiên bàn hình chữ CHỦ . Tức nhiên điều cần yếu nhứt là mình phải tự làm chủ lấy mình. Đây cũng là câu quyết định: “Ngũ nguyện Thánh Thất an-ninh” vậy.

Dù ở một con người có Tôn-giáo hay một người ngoại Đạo mà có đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí thì cũng là một mẫu người đáng kính, đáng nễ phục.

“Thế nên Triết-lý của nền Tôn-giáo Cao-Đài mục đích là làm cho cả nhân-loại đến học đức làm Chúa, làm chủ toàn cả gia-đình:

– Được làm Chủ của một tiểu gia-đình, tức là một Tông-tộc, là một vị Hiền tại thế rồi.

– Được làm Chủ một trung gia-đình là quốc gia, là một vị Thánh-nhơn.

– Được làm Chủ một số quốc-gia hiệp lại như Hiệp Chủng-quốc tại Mỹ-châu như Washington, Lafayette chẳng hạn là một vị Tiên.
– Được làm Chủ tới đại-gia-đình tức nhiên làm chủ cả toàn tâm-lý thiên-hạ, một nền Tôn-giáo, là một vị Phật.

 

 

 

 

 Thể-pháp của Đạo Cao-Đài có khuôn-khổ tập cho nhơn loại đi đến mục-đích trong luật-pháp của một nền Chánh giáo”.

Trên Thiên bàn thờ Chí-Tôn hình chữ CHỦ  tức là gồm 12 món cúng phẩm, đặt thành 3 hàng ngang tạo thành hình quẻ Càn  Càn vi thiên (Càn là trời) tức là chỉ ngôi Thượng Đế Thái-cực Thánh-Hoàng vi chủ.

Đức Chí-Tôn đến dạy cho nhân loại thờ Ngài dưới hình thức chữ CHỦ là chỉ rõ cho thấy rằng:

“Thầy là CHÚA cả Càn khôn thế giái, tức là Chúa tể sự vô vi, nghĩa là chủ quyền của Đạo, mà hễ chủ quyền của Đạo ngự nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy” (PCT).

Vậy thì lý do gì nay thượng lên, mai đem xuống như một món hàng. Nhiều người rất tôn trọng Hộ-Pháp, nên chỉ thờ riêng Đức Hộ-Pháp mà thôi. Vậy những người thờ Thánh Tượng Ngũ Chi, biểu tượng ngôi Thượng Đế vi chủ, rồi không còn kính nễ Đức Hộ-Pháp hay sao ? Và Đạo lịnh nào cho phép dời Thiên Nhãn Thầy xuống ? Có phải vô tình ta đã thất lỗi với Thầy Trời sao ? Cũng là đại tội với Đức Hộ-Pháp hay sao?
Hiện nay trên Thiên bàn đã sửa sai Pháp:

 

 

 

Ngày nay cũng đặt 12 món cúng phẩm ấy nhưng sửa lại để bông và trái xuống cấp dưới (hoặc cấp 2 hay cấp 3) nghĩa là làm mất đi một nét ngang, bấy giờ còn lại là hình chữ THỔ  (thổ là đất) thì trở thành quẻ Khôn  Khôn vi địa (địa là đất) là thời âm. Âm thạnh tất Dương suy. Đạo bị bế là vậy. Bởi hằng ngày Ta chỉ lạy vào chữ “Thổ” mà thôi.

Nhìn lên Thiên bàn, một lỗi-lầm như trên ta thấy ra rất nhỏ, hầu như không một ai chú-ý, nhưng chiều sâu rộng thật tai hại vô cùng, Đạo bị thất pháp là do đó. Người tu không thành cũng do đó. Người bảo thủ Chơn-truyền cũng phải biết phân biệt bấy nhiêu đó mà tìm tòi nơi  Chánh giáo. Đâu là đúng? Đâu là sai? Tự mình điều chỉnh!

Thất pháp như thế nào?

Điều này Thầy có nói với Đức Hộ-Pháp khi Ngài giao quyền cho Hộ-Pháp xuống thế mở Đạo. Nhắc lại lời   Đức Hộ-Pháp rằng:

Bần-Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo, thì Đức Chí-Tôn mới hỏi rằng:

           – Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở Thể-pháp trước?

          Bần-Đạo trả lời:  – Xin mở Bí-pháp trước.

          Chí-Tôn nói:  – Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời cạnh-tranh tàn bạo, nếu mở Bí pháp trước, cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, Đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào?

       Vì thế nên mở Thể-pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặt Bí pháp còn là Đạo còn.

      – Bí-pháp là Hiệp-Thiên-Đài giữ.                                                         

– Thể-pháp là Cửu-Trùng-Đài mở-mang bành trướng”.

Vậy có hại cho nền chơn giáo của Chí-Tôn không?

– Nếu nói hại thì quả thật là một điều tai hại ghê gớm, nhưng muốn không hại thì cả nhơn sanh thông hiểu đạo lý, dầu sửa đến đâu mà nhơn sanh đã thấu hiểu rồi thì không còn lầm lạc được.“Tu hữu công mà thành thì không thành”  ấy là lời Thầy đã từng nhắc nhở!

Tất nhiên, ngày nay Đức Chí-Tôn đã đến, ban lại CHỦ QUYỀN cho dân tộc Việt-Nam, vì qua bao thời gian nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã bị mất chủ quyền, chịu nạn lệ nô, để bây giờ con cháu của các Ngài phải biết đến chữ CHỦ với tầm mức quan trọng của nó:

– Thứ nhứt là biết có Trời đang làm CHỦ, đang chế ngự toàn cả tâm linh của nhân loại với mục đích đưa nhân loại đến Đại-Đồng. Ấy là chữ  CHỦ về Đạo-pháp đó.

– Thứ hai là đất nước Việt-Nam có hình chữ CHỦ, tức nhiên là một quốc gia thiên định, là một Thái cực đồ.

– Thứ ba là đất nước Việt-Nam này phải chính do Việt-Nam làm Chủ trong sứ mạng thể thiên hành hoá, không bị một quyền vật dục nào làm cho hư hoại.

– Thứ Tư phải chính mình làm chủ lấy mình: đây là một yếu-tố quyết định và quan trong nhất. Giả sử con dân Việt-Nam cứ mê theo chủ nghĩa ngoại lai bán rẻ lương tâm,  bán rẻ cả hồn thiêng dân tộc, thì dầu Chí-Tôn có ban cho đất nước đầy mỏ vàng cũng sẽ làm mồi cho kẻ tham quyền trục lợi mà thôi. Tạo ra nhiều tham nhũng vụ tất lợi lộc mà bỏ ngân hàng riêng, bán rẻ sự hy sinh xương máu của bao đời cha ông mà thôi.

Hồn thiêng sông núi ơi ! Việt Nam ơi! Việt nam ơi!

 

 

5- CHÚA  主

            Âm tuy khác nhưng nghĩa vẫn một. Gồm bộ Chủ và chữ Vương  Ngày xưa vị Chúa xem như người đứng đầu một nước lớn gọi là Đế 帝 thống lãnh các Vương hầu. Cũng như Ngôi Trời là Cha, mà Chúa là Con một của Trời

Đọc Chúa là danh của ĐẤNG Chúa Cứu thế đã một lần đến với nhân loại, Ngài đã thọ khổ để chuộc tội cho loài người. Trên hai ngàn năm đã vắng mặt Người:

Trong “ĐỆ NHỊ HOÀ-ƯỚC đã ký-kết với Đức Chí Tôn bị nhân-loại bội-ước nữa, vì bội-ước mà bảo sao nhân-loại không bị tội-tình mắc-mỏ cho được”.

Lời Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh  KANT:

“Je reviens en ce monde avec un Nouveau  Jérusalem” (Tôi trở lại thế-gian này với một TÒA THÁNH MỚI”. Hôm nay Ngài đã trở lại với Toà-Thánh Cao-Đài rồi đó:

 “Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

 “Hữu duyên Đông Á nắm Thiên Thơ”

            Thánh ngôn đã ghi rõ một đàn cơ do người Pháp hầu đàn. Đức Chí-Tôn giáng dạy:

“Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận diệt đã hầu kề. Nhân loại tàn sát lẫn nhau, bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẻ và chiến tranh.

            Thánh Đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp người dưới. Phải có một giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh. Chỉ có xứ Việt-Nam còn duy trì được sự tôn sùng Tổ phụ  theo tục lệ cổ truyền, mặc dù xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày được tạo lập đến giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên như vậy mãi” (TNI/131).

Bởi: Ngày nay Người đã trở lại trong nguơn hội này để hoàn thành chương trình “Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi”, dưới danh hiệu: “Tam-Thiên Thế giới HỘ-PHÁP GIÁNG LÂM”

 

 

6-  CỔ  

Trong Dịch-lý: quẻ Sơn Phong Cổ là quẻ thứ 18 trong Thượng Kinh Quẻ CỔ họp bởi Cấn  là núi ở trên; Tốn ☴ là gió ở dưới; núi là sơn, gió là phong, gồm lại đọc tên là Sơn-Phong Cổ

Chữ Cổ 蠱 trong Tự-điển nghĩa là một giống trùng   ở trong bụng làm cho người ta bị trướng, gọi là bệnh cổ trướng. Trong sách thuốc có nói: Phong, Lao, Cổ, Lại tứ chứng nan-y (bệnh ung nhọt, ho lao, cổ-trướng, cùi lở-lói là bốn chứng bệnh rất khó chữa).

– Cổ 蠱 cũng là một vật độc làm hại người, ai ăn phải thì sinh ra ngây-dại, mê- man.

– Cổ 蠱 theo chiết-tự có ba chữ trùng  ở trên chữ mãnh , mãnh là cái chậu; ba chữ trùng là có nhiều sâu bọ trong chậu, có nghĩa là tan rã ghê-tởm, hỗn-độn lúc nhúc như dòi vậy.

– Cổ  có nghĩa là tan-hỏng vì làm việc; lúc-nhúc trong chậu là công việc của sâu-bọ, mà trừ bỏ nó đi lại là một việc khác, tức đã hoại loạn đến mà lo sửa sang, đã sửa sang tất nhiên có công việc, nên nói tắt rằng: “Cổ giả sự dã” (cổ là công việc). Khi vật bỏ lâu ngày chẳng dùng thời sâu mọt sinh ra gọi bằng trùng cổ; người say đắm tửu sắc mà tật bệnh sinh ra gọi bằng bệnh Cổ. Thiên hạ trị an lâu ngày mà tệ hại sinh, gọi bằng cổ hoại. Trai gái say đắm tình dục mà bị mê hoặc, thảy đều là tượng Cổ loạn, thời không thể ngồi yên, tất có việc nên đặt tên quẻ bằng Cổ.

               A- Quẻ CỔ tượng cho thời “Án nạn pháp”

Trong cửa Đạo Cao-Đài, người đứng ra lãnh đạo tinh thần buổi này chính là công của Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc. Ngài là Giáo Chủ về hữu hình. Phần vô hình thì chính Đấng Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế là Giáo chủ.

  NHỮNG HIỆN TRẠNG CỦA NĂM THÂN

Đầu xuân năm Nhâm-Thân (1932) sắp Đại Lễ Đức Chí Tôn ngày 9 tháng Giêng, nên vào buổi chiều tối ngày  mùng 8 mới đốt bên trong lòng Quả Càn Khôn một ngọn đèn manchon cho có ánh sáng. Do hai vị chăm sóc là Hồ Văn Lầu và Nguyễn Văn Biện. Lối 9 giờ đèn phựt dầu phát cháy Quả Càn Khôn. Nhờ ông Văn-Thắng-Trà (sau nầy là Lễ sanh Phái Thượng) dập tắt được ngọn lửa. Quả Càn Khôn bị cháy chỉ còn 1/3 phía Thiên Nhãn thôi.

Đến sáng ra thì Anh Cả Đức Quyền-Giáo-Tông mới qua hỏi Đức Hộ Pháp:

– Quả Càn Khôn bị cháy Hộ Pháp nghĩ sao?

– Đức Hộ Pháp nói: Quả Càn Khôn bị cháy mà Thiên Nhãn còntức là Đạo còn, nhưng đời phải tận.

Sau vụ cháy Quả Càn Khôn rồi thì Đức Chí Tôn có giáng cơ cho một bài thơ như sau:

                   

                      THI

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,
Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.
Trời còn đất lỡ tang thương biến,
Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.
Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,
Mở đường công quả chúng làm theo.
Văn chương đâu rõ thông cùng lý,
Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

        

B- Nền Đạo bắt đầu gặp cơ khảo đảo:

Trong cửa Đạo hiện thời lớp thì chia phe phân phái, còn lại thì bị cường quyền thực dân đàn áp bắt Đức Hộ Pháp vào năm Tân-Tỵ đày qua Madagascar cùng với một số Chức sắc cao cấp nữa.

Qua năm Giáp-Thân (1944) người Pháp tính đàn áp Cao Đài, có lịnh bắt Chức sắc và Chức việc, nên quý vị đó được tin trốn xuống Sài-Gòn hợp tác với Nhựt mới lập ra hãng tàu Nitinan vừa làm mướn vừa tập luyện cho đoàn Nội Ứng Nghĩa Binh thuần thục. Nhờ Nhựt làm hậu-thuẫn cho số Nghĩa-binh cầm tầm vông, đầu đội calô Thần Đạo nhảy vô thành bắt quân Pháp, đó là cuộc đảo chánh Pháp 24 tháng giêng Ất-Dậu (1945).

Do cuộc đảo chánh nên Thực-dân Pháp trả tự do cho Đức Hộ-Pháp từ Madagascar trở về cố quốc. Đức Ngài xuống chiếc tàu Indépendance về đến Vũng-Tàu là 12 ngày đêm, về đến quê hương vào ngày 27-07-Bính Tuất (1946) bởi tàu lớn nên đậu ngoài khơi nhờ ca-nô ra rước Đức Ngài vào bờ rồi về Sài-Gòn nghỉ ở nhà ông Hợi hết cả tuần mới về Tòa Thánh.

Đức Ngài nhìn lại cảnh vật khác xưa, vừa lo chấn chỉnh mối chơn truyền vừa lo phục lại chủ quyền cho Đạo, tức là lập thành Hội Thánh để thay hình thể Đức Chí Tôn và chuẩn bị mở Đại-hội Nhơn Sanh năm Bính-Tuất. Ngài còn lo tu bổ Đền thờ Đức Chí-Tôn và tạo ngôi Điện thờ Đức Phật-Mẫu cùng các dinh thự với ba Cung ba Động vừa xong đâu đó được an bày.

Nào ngờ cơ khảo Đạo lại đến với Đức Ngài nữa. Nhưng  Đức Ngài đã biết trước tất cả và sẵn sàng chờ đợi, cũng như chờ đợi sự đi đày ở lần trước vậy. Trước đó, Đức Hộ Pháp đã chuẩn bị cho cuộc lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung vào ngày 15 tháng 08-Ất Mùi thật chu đáo. Buổi tối ngày 16 tại sân Đại-Đồng-xã có tổ chức Văn-Minh-Điện để các bậc Chức sắc cho thay đố, nhưng sự thực Đức Ngài chỉ mượn 4 câu ca dao để làm câu thay, ngụ ý muốn nhắn nhủ những lời tâm huyết nhất cho các Môn-đệ của Đức Chí Tôn biết thời buổi nguy vong sắp đến mà không thể tỏ thật bằng lời, nên mượn thay đố rằng:

Câu 1: “Ví dầu cầu ván đóng đinh,

“Cầu tre lắt lẻo gập-ghình khó đi”

(xuất nhứt vật) Đáp: “cái thang

Câu 2: “Bậu nghe ai dỗ ai dành,

“Chanh chua Bậu chuộng, cam sành Bậu chê”.

(xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái trách”

Câu 3: “Một mai thiếp có xa chàng,

“Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin”

(Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái ly”

Câu 4: “Tưởng rằng nghĩa mặn tình nồng,

“Nào hay tay ẵm tay bồng vai mang”.

( Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái khai”.

Không một ai đáp trúng lời thay đố trên cả!

Những lời than trách trên đây đều là hình ảnh của người Nữ phái đó là thời Âm, khi Âm thịnh tất Dương suy.

Với cuộc thi đố này ngụ ý 4 chữ “Than Trách Ly Khai”. Đó là một chơn ngôn ẩn ý của Đức Ngài nói lên cho nhân-sanh biết cái dã-tâm của Ngô Triều với ý đồ Công-giáo-hóa Cao Đài, dù trước đó đã có nhiều thủ đoạn. Ba hôm sau có cuộc thanh trừng vào ngày 20-08-Ất Mùi do Quân đội Cao-Đài đứng lên kéo về bao vây Hộ Pháp Đường và làm khó dễ Đức Hộ-Pháp.

Chính cái ngày 20-08 này được xem là “Ngày Đạo hận” để mở ra một thời Án nạn pháp mà người phải đứng ra gánh nạn cho nhơn sanh chính là Đức Ngài đã dâng sớ:.

Trích đoạn Sớ chung niên năm Ất Mùi

Về cuộc thanh trừng

              “… Năm Ất Mùi là năm Đạo trải qua nhiều trạng thái vui buồn lẫn lộn, lắm cảnh hiệp tan pha màu, khiến cho Hội Thánh phải lắm công nhọc trí xoay trở thuận chiều, hầu trấn an toàn thể con cái Đức Chí-Tôn.

Bước qua tháng tám Lễ Hội Yến Diêu Trì vừa yên, cách ba ngày sau nhằm ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl 05-10-1955) cuộc nội biến xảy ra do Trung Tướng Nguyễn Thành Phương chủ động vào Hộ-pháp-Đường là nhược điểm. Cuộc khảo đảo nhằm ngay Đệ Tử, nhưng dầu phải, dầu quấy, dầu nên, dầu hư, Đệ Tử cam hứng chịu cuộc bạo hành của Phương…làm sôi nổi cả dân cư trong vùng Thánh Địa, luôn cả các nước ngoài…”

Chính cái thời kỳ mà Tôn giáo phải chịu một cái nạn ghê gớm nên gọi đó là thời Pháp nạn.Có phải chỉ riêng

Tôn giáo Cao Đài mới chịu một cái ách nạn đó hay không?

– Thưa rằng không! Từ xưa đến giờ không một Tôn giáo nào tranh khỏi: Chúa chịu đóng đinh trên cây Thánh giá. Bọn người manh tâm giết Chúa không ai khác hơn là người của Chúa. Một Juda bán Chúa vì ham ba chục  nguơn bạc. Còn Tướng Nguyễn Thành Phương đây cũng vì ham ba chục triệu bạc ở cái thời điểm năm 1955 của nhóm gia đình trị Diệm – Nhu, mà còn thêm hứa hẹn một mớ chức quyền bổng lộc nữa. Đức Hộ Pháp cho đây là hành động của một con người “bội sư phản Đạo” thì chắc rằng không còn một từ nào khác để dùng cho con người này nữa.

Sau ngày Đức Hộ-Pháp Triều thiên, Ngài giáng Cơ bảo sửa “ngày Đạo hận” ra ngày “Giỗ chung”

 

 

7- CUỒNG 狂

            Chữ Cuồng nghĩa là điên. Theo phép Lục thư chánh tả thì chữ này gồm có bộ khuyển (犭) viết đủ nét  là con chó và chữ Vương 王 là vua. Ý nói dẹp bỏ loài khuyển cho hết rồi (chỉ loài gian nịnh mà thời nào cũng có) thì mới xuất hiện một vì vua anh minh, chánh đại, để cho nước trị, nhà an, đem lại hạnh phúc thanh bình cho dân chúng. Đây là duyên cớ một bài thơ “Vịnh người cuồng” của nhà chí sĩ Trần Cao Vân.

Sau cuộc khởi nghĩa Võ-Trứ tại Bình Định vừa chấm dứt, thì tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên lại xảy ra vụ truyền bá Trung Thiên đạo, viên Tri-huyện Đồng Xuân  ra lịnh bắt giam cụ Trần Cao Vân và gán cho cụ là một cuồng sĩ. Nhân đó Cụ liền cảm tác bài thơ này:

Vì ai nên chịu tiếng là Cuồng?

                 Nhân nghĩa rồi ra bỏ mất luôn.

     Vì LỖ ở TRẦN cam nhẻ dột, (1)

     Ngang trời dọc đất thảy luồng tuông,

     Phép Tiên Tổ mẫu khôn thu ngục,

     Bùa Thánh Tề Thiên cũng dẹp tuồng,

     Trừ hết khuyển rồi Vương rõ mặt (2)

     Đủ xiêm, áo mão ấy nên khôn.

Câu thơ số 3 nói LỖ là tên nước Lỗ vào thời nhà Châu bên Tàu ngày xưa, đó là quê hương của Đức Khổng Tử, còn TRẦN là một nước thời Châu mạt. Đức Khổng Tử có đến nước Trần truyền Đạo, không được vua nước này tin dùng, lại nhân nạn đói và loạn lạc hoành hành, Đức  Khổng Tử và cả môn đệ đều chịu khốn khổ.

Nay hoàn cảnh cụ Trần Cao Vân trái ngang như vầy nghĩa là cụ cũng muốn đem đạo lý để chấn chỉnh nhân tâm, nhưng vì người ta không tin Đạo, nên cụ phải cam chịu sự mỉa mai, khinh rẻ, chẳng khác người điên không biết hổ thẹn.

Sau khi Cụ Trần Cao Vân được thả về từ nhà lao Côn Lôn, tháng Giêng (1914). Tiếp đó Cụ Thái Phiên giới thiệu Cụ Trần gặp Vua Duy-Tân. Vua mời Cụ Trần Cao Vân làm Quốc Sư, Cụ nhận lời. Sau cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Vua Duy-Tân bị thất bại, chính phủ bảo hộ và triều đình Huế ghép tội cho Cụ “giả danh bạo nghịch” rồi đem xử chém tại cửa An- Hòa (phía Tây thành phố Huế) cùng một lần với Cụ Thái Phiên, Tôn Thất Đề vào ngày 16-04-1916.

Trước khi chuẩn bị đưa ra Hội đồng quyết án, Cụ Trần Cao-Vân tìm cách gởi thơ riêng đến các vị Đại thần Nam triều bằng mấy lời tâm huyết:

“Trung là ai, Nghĩa là ai,  đai cân võng lọng là ai ? Thà để cô thân tử biệt;

“Trời còn đó, Đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó, mong cho Thánh Thượng sanh toàn”.

Nghe tin Cụ Trần Cao Vân mất, Cụ Phan Bội Châu ngậm ngùi thương tiếc, bèn viếng Cụ hai câu đối:

– Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị Đạo sư, liếc mắt xem Âu hải phòng trào thương đoàn hậu tiến,

– Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật được mấy Tiên sanh.

Được tin Cụ Trần Cao Vân đã mất, các nhà chí sĩ cách mạng cứu quốc đang bị giam ở ngục Côn-Lôn vô cùng xúc động, tán dương Cụ Trần qua bốn câu thơ:

Hy tiên Văn hậu thử chân thuyên,

Biệt tự trung gian tạo nhất thiên,

Học thuyết năng tương tiên huyết nhiễm,

Nam phương Tân dịch tích vô truyền.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra quốc âm, đăng trong “Thi Tù tùng thoại”:

Văn sau Hy trước vốn Kinh này,

Riêng giữa Trung Thiên dựng một tay.

Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,

Trời Nam, Dịch mới tiếc không thầy.

Sau khi cụ Trần Cao Vân và Cụ Thái Phiên đã chết vì chánh sách bạo tàn của thực dân Pháp thì những  tài liệu về Trung Thiên Dịch- Trung Thiên Đạo đều bị lục soát và thủ tiêu.

Kết luận:  Cụ Trần Cao-Vân, nhà chí sĩ cách mạng cũng vừa là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông đã làm tròn nghĩa vụ của người trai nước Việt, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tranh đấu không ngừng. Từ năm 20 tuổi từ biệt gia hương. Hai mươi bảy tuổi (27) đặt chân trên trường tranh đấu. Ba mươi ba (33) tuổi vào ngục Phú-Yên. Ba mươi lăm (35) tuổi vào ngục Bình-Định và Quảng Nam. Bốn mươi ba (43) tuổi vào ngục Côn-Lôn.

Đến năm mươi mốt (51) tuổi- năm Bính Thìn-ngày 16 tháng tư, cái ngày kết liễu đời anh hùng tại làng An Hòa, (cách kinh đô Huế một vài cây số) nhà chí sĩ Trần Cao-Vân và cùng ba đồng chí: Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, lên đoạn đầu đài để đền nợ non sông.

 

 

        8- ĐẠO 道

Chữ Đạo  bắt đầu chấm hai chấm là Âm Dương nhị khí, kế dưới một nét ngang tức là Âm Dương hiệp nhứt, nên chi một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật; rồi vạn-vật cũng quay về hiệp một. Kế dưới chữ tự  (6 nét) nghĩa là tự nhiên mà có. Nên chi Đạo dạy phải tự lập, tức là lo tu-hành để đạt được huyền-bí đạo-mầu thì trí lự mới phát minh. Chữ tự 自 là tự tri, tự giác chớ chẳng ai làm cho người khác giác ngộ giùm hay minh-huệ giùm

Trên dưới ráp lại thành chữ thủ  (9 nét). Chữ thủ

nghĩa là ban sơ, lúc ban đầu, khởi thuỷ, là đầu mối của càn khôn vũ-trụ. Kế là bộ Sước (3 nét) nghĩa là chạy, nên kêu là “pháp luân thường chuyển”.Họp chung lại thành chữ ĐẠO 道

Chữ ĐẠO  Thánh-nhân đã đặt một cái luân-lý trong đó tự lâu rồi; hai nét Âm Dương hiển-hiện trên đầu đó, hình ảnh của cha mẹ ta đó, có hợp nhất  được  thì mới sanh ra một chủng-tử đầu tiên là con mắt, tức là chữ Mục 目 mục là con mắt, là trung tâm của chữ Đạo. Con mắt để thâu thập tất cả tinh-hoa, đó là công ơn trước hết là của cha mẹ sản sanh ra ta. Cha mẹ cũng phải chịu ơn của hai Đấng trên cao kia nữa, đó là Âm Dương trời đất, ngày nay Đạo Cao-Đài xác nhận là Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu.

Đức Thượng-Đế là một khối Đại linh quang, là ánh sáng bao la, biểu tượg bằng “Con Mắt Trời” thế nên Đạo Cao Đài thờ “Thánh tượng Thiên Nhãn” là vậy.

Hai Đền thờ của các Ngài còn đó! Niềm tự tin này không bao giờ lầm, nghĩa là ánh sáng đã lóe lên từ mắt trở thành chữ Tự  (tự là chính mình), từ đây con người tự giác, tự tu, tự trau-giồi cho kiếp sanh trên con đường tiến hóa. Nhưng nẻo đến đã có lối thông thì đường về cũng chính mình sáng-suốt, cho nên khi ráp cả hai phần trên dưới lại thành ra chữ Thủ  (thủ là đầu). Cái đầu này đưa ta đến và nó cũng hướng dẫn cho ta về, chúng ta xuống bằng cái đầu cho rằng thuận, thì khi về cái đầu cũng phải quay ra ngoài để triều kiến Đức Mẹ Diêu-Trì nơi cung Tạo-Hóa Thiên ở từng trời thứ chín, thì cái đầu này biểu tượng chữ thủ  (9nét) nó mới hợp lẽ. Nếu quay vào hóa

ra đi nghịch làm sao đoạt Đạo? Than ôi!

Đức-tin nơi ta đó, ngày nay Chí-Tôn tạo Đạo ra để cho nhân-loại thờ nhân-loại. Đạo Cao-Đài  thờ con Mắt là thờ thiên-lương của mình đó vậy, cho nên con đường tu giục-giã ta phải hoàn thành Tam lập, tức nhiên lập đức, lập công, lập ngôn nghĩa là chữ thủ 首 thêm một nét sước  (biểu-tượng bằng bộ sước có 3 nét) thành ra chữ ĐẠO 道 (chữ Đạo có 12 nét  do 9+3, tức là con số của Thầy)

Đây là tầng trời cao nhất, có về đến đây được thì mới nhập vào cõi Thiêng-liêng Hằng sống và hòa nhập được với càn khôn vũ-trụ, tức là về được cùng Thầy.

Sự tu thân cần phải có ĐẠO, tin-tưởng nơi Đạo. Bởi “Đạo là cơ bí-mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm-vị Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

Thầy làm chủ chữ Đạo là Cha của sự sống:

Thầy dạy rõ về quyền-uy tối thượng ấy (TNII. 62)

“Các con. Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế-giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái cực. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi, Lưỡng-nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát-quái, Bát-quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn-khôn thế-giái. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật-chất, Thảo-mộc, Côn trùng, Thú-cầm, gọi là chúng sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn-Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm. Nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa.  Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu Nguyên-sanh hay Hóa-sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

 

 

         9-  Điểu 鳥  (11 nét)

“Trải bao thỏ lặn ác tà”. Ngôn Đường-Thi có câu: “Nhạ phi đông hải chí Tây sơn nhứt nhựt trường” nghĩa là Con chim ác bay về biển Đông tới núi Tây thì giáp một ngày. Mượn điển văn ấy mà chỉ một ngày: Mặt trời sớm mai mọc tại hướng đông, chiều lặn về hướng Tây. Khuất bóng ác tức khuất bóng mặt trời thì qua một ngày.

Vừng ô” Không có điển văn. Tuy nhiên Thi văn có câu “Ô thước qui sơn” tức 1à quạ bay về núi. Đã biết rằng hễ chiều thì biết bao nhiêu loài chim bay về núi, song lấy tích quạ mà chỉ rằng chiều tối thì phải hơn, vì quạ thì “Đen lông đen cánh bộ giò cũng đen”.

Chữ Hán thì chỉ các loài chim đều gọi là Điểu 鳥  (bộ điểu -11 nét). Chim quạ cũng là loài Điểu, nhưng chỉ có con mắt có màu trắng, dễ nhận ra ban ngày, còn khi chiều xuống, đêm tối dần nên hình dáng cùng màu lông của Quạ lẫn trong màn đêm, còn lại màu đen tuyền mà thôi. Thánh nhân viết chữ Ô 烏 (10 nét). Còn chữ điểu có một gạch ở trên tượng cho con mắt nên thành 11 nét vậy.

 

 

10 -ĐÔNG 

Theo nguyên-lý của trời đất thì Đạo luôn luôn phát khởi từ phương Đông.

Phân tích Chữ  Đông 東 có hai phần: chữ nhựt  ở giữa, bộ mộc  xuyên qua chữ nhựt, có nghĩa là mặt trời khi vừa nhô lên khỏi ngọn cây là đã thấy rõ rồi. Chứng tỏ rằng mặt trời luôn mọc ở phương Đông. Mặt trời là Đạo, tức nhiên mặt trời đem lại sự sống cho muôn loài vạn vật cũng như Đạo vậy.

“Từ cổ chí kim, tạo thiên lập địa, Đạo đều phát khởi từ phương Đông, là các nước ở miền Á Đông (Asie) như các nền chơn-giáo trước kia: Nho Đạo 道, Thích cũng đều phát khởi nơi miền Á-đông rồi lần lần truyền bá qua phương Tây như:

 – Đạo Phật thì khai tại Thiên-trước là Đức Nhiên đăng Cổ-Phật và Đức Thích-ca Mâu-Ni khai Phật-giáo.

– Đại-Đạo là Đạo Tiên thì Lão-Tử khai tại Trung Hoa.

 – Sau nữa Khổng-Tử khai Đạo Thánh cũng tại Trung hoa là ở miền Á-Đông.

        – Sau lần lần Đạo trải khắp qua hướng Tây, nên Đức Chúa Jésus truyền Đạo Thánh tại hướng Tây. Kế đó Đạo mới roi truyền ra khắp năm châu.

Câu Kinh:“Ánh Thái-dương giọi trước phương Đông”. Ánh Thái-dương là Đạo đó vậy. Nay đã đến Hạ nguơn mạt kiếp, cuối cùng nên Đức Chí-Tôn mới chuyển Đạo nơi vùng Á-Đông, đấy là nơi nguồn Đạo phát ra, lại khai nơi Nam-kỳ (một trong ba kỳ của cõi Á-đông). Vì cõi Đông dương đây cũng về miền Đông của Á-châu nên ngày nay phải khởi khai nơi hướng Đông trước rồi mới truyền lần ra  hướng Tây. Như Đức Chúa Jésus khai Đạo bên Âu châu, thì cũng khởi khai nơi miền Đông của Âu châu, rồi mới loan truyền khắp cả Âu-châu, ấy là luật tự-nhiên từ cổ chí kim, hễ Đạo phát khai thì cứ bắt đầu từ phương Đông truyền ra.

            Ngày nay là giáp một vòng nên khởi lại điểm ban đầu gọi là “Thiên địa tuần-hoàn châu nhi phục thủy” do đó nền Đại-Đạo phải khai tại Á-Đông này, nên Thầy mới mở Đạo nơi Đông dương là cực Đông của Á-châu mà lại khai nơi xứ Nam-kỳ là xứ thuộc-địa, dân-tộc yếu hèn, kém cỏi, ấy là do nơi Thiên-cơ tiền định cả muôn năm, lại là thưởng cái lòng tín-ngưỡng của người Nam từ thử.

Tuy khai Đạo tại nước Nam mà cũng khởi từ Đông, do cái lý từ Bàn-cổ sơ khai: “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, nhơn sanh ư Dần” 天開於子地藉於丑人生於寅. Do vậy mà Đạo khởi khai tại Tây-Ninh lần lần truyền ra Gia định, Biên-Hòa, Thủ-Dầu-một, Chợ-lớn là mấy hạt ở hướng Đông. Qua năm thứ nhì, thứ ba Đạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây”.

Do câu “Đạo xuất ư Đông” cũng nói lên ý-nghĩa ấy.

“Cái nguyên-lý ấy có từ thuở chưa có càn khôn vũ trụ. Đạo-giáo có dạy: Hai lằn nguơn-khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái cực, chủ ngôi Thái-cực là Đức Chí-Tôn.

 Khi trời sét nổ ta nghe gì? An-Nam mình kêu là “Ùm”. Vì cớ phép Phật sửa lại là “Úm” (úm ma ni bát ri hồng). Câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền-năng vũ-trụ quản-suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên-căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông.

            Ấy vậy, nguyên-căn của Đạo-giáo do bên Á-Đông này có tiếng trống phát khởi trước, nên chùa thường sử dụng độc nhất tiếng trống; tiếng ngân ấy là sự ảnh-hưởng đạo-giáo, mới xuất hiện qua Âu-châu đều là ảnh-hưởng từ Phật-giáo, mà Phật-giáo xuất hiện nơi Á-đông. Vì vậy mà Đạo nơi phương Tây chỉ có tiếng chuông, còn các nền Tôn-giáo phụ thuộc đều không đúng theo nguyên tắc  căn bản.Do nguyên-lý “Đạo xuất ư Đông. Đế xuất hồ Chấn mà ngày nay Đạo Cao-Đài qui nguyên hiệp nhứt nên có đủ trống và chuông, ấy là thuần túy tinh-thần Á Đông để phát-huy đến cả Đại Đồng thế giới  vậy”.

            Lại nữa hướng Toà-Thánh quay theo chiều Đông Tây, mà tạo nên một Bát-Quái Cao-Đài mầu-nhiệm.       

 

11- Đức 

Nói rằng “Thiên địa hợp kỳ đức”  天 地 合 其 德

tức nhiên Trời đất hợp nhau bởi Đức.

 Xưa các bậc lão thành thường có câu ghi nhận cho dễ nhớ cách viết chữ Đức, là:

Con chim nó đậu nhánh mè.

Thập trên tứ dưới nhứt đè chữ tâm

Đức là gì?  Phân tích sẽ thấy:

Chữ Đức  có hai phần: bên trái là bộ sáchlà bước chân trái, là khởi đầu, có ba nét thể hiện lý Tam tài ở trong mỗi con người Đạo. Bên phải thì từ trên xuống là chữ thập  chữ tứ  chữ nhứt 一 chữ tâm  tức nhiên là nói về con người đứng trong trời đất: Trên là mười phương trời, giữa là Người đứng đầu trong bốn hàng  phẩm của chúng sanh là vật-chất, thảo-mộc, thú cầm mới đến Người. Chữ Nhứt là duy tâm, duy nhứt, đứng đầu trong vạn loại. Tóm lại người được cao trọng như vậy duy có chữ Tâm mà thôi. Cộng các nét của chữ Đức  德 có tất cả là 15 nét là đã thể hiện một Bát-quái Đồ Thiên của Đạo Cao-Đài ngày nay đó vậy

(Xem thêm Dịch-lý Cao-Đài cùng Soạn-giả).

Là bậc cha mẹ lo làm việc phải chính là trữ Đức cho con. Thi văn dạy Đạo:

Trữ Đức còn hơn muốn trữ vàng,

Giàu sang chẳng chuộc gánh giang-san

Thế đời càng dữ càng kiên Đức

Võ-lực hùng-oai cũng chẳng màng.

“Hiển-nhiên trước mắt mà chúng ta nếu khiếm

công phu lo Đạo, một ngày kia về Ngọc-Hư-cung chúng ta có chối tội được chăng? Mà dầu có chối đi nữa cũng không biết vì lẽ gì mà chối, rất khiếm tài đức.      

           “ĐỨC là chìa khóa mở đại nghịêp thiêng-liêng, hữu hình hay vô-vi cũng vậy. Lấy Đức làm nền tảng THƯƠNG-YÊU. Cái kho Thương-yêu có tài đức mới mong-mỏi đặng. Kho vô tận ấy hiển-nhiên trước mặt, thì kẻ nào đi trái con đường ấy chẳng hề lập nghiệp cho vững được. Chí-Tôn nhủ rằng: “Các con muốn đọat cái đại nghiệp thiêng-liêng của các con duy tu lập Đức”.       

           Yêu ái Đức thân sinh, hai tiếng đó hầu qui tụ cả đại nghiệp của mình, từ thuở, bao lần triết-lý các tôn-giáo đều dạy TU và ĐỨC  thì ngôi-vị đã sẵn, không hề kẻ làm tội ác kia tranh giành đặng. Ấy đó, Bần-Đạo xin nhắn-nhủ tòan Đạo trụ cả khối tinh-thần cứ mài-miệt Đức-tin cho vững, thỏang có thất-bại Bần-Đạo lãnh cả tội-tình cho.

           “Tin thì nghiệm xem ra thế nào, tin quả-quyết như Bần-Đạo đã tin, chúng ta đồng tiến nữa, bao nhiêu năng lực cá nhân góp tăng trăm ngàn nhiệt độ tổng số lại thì không có lực-lượng nào ngăn cản được.

           “CHÍ-TÔN hứa với chúng ta đủ điều, thì không hề thất hứa bao giờ, duy tại chúng ta còn khiếm Đức-tin nên sự đọat thành hy-vọng của chúng ta còn chậm trễ đến ngày nay, mau hay chậm cũng tại chúng ta: muốn tin hay không tin mà thôi. Vậy Bần-Đạo xin khuyên tòan Đạo cố gắng trụ Đức-tin thêm nữa. Cần phải TU LẬP ĐỨC  làm căn-bản, thì ắt hẳn đọat nguyện hiển-nhiên. Cái sự nghiệp của Trời và Người muốn làm chủ nó mà hưởng, thì chỉ có TU và  LẬP ĐỨC” (ĐHP 14-7-Đinh-Hợi 1947)

Nếu Đạo 道 (12nét) là thể hiện quyền-uy tối thượng của Đức Chí-Tôn, tàng ẩn bên trong người không ai thấy được, đó là Dương. Còn Đức 德 (15 nét) là cơ hiển lộ ra ngoài, như đức hy-sinh, đức khiêm nhượng…đó là quyền hành của Đức Phật-Mẫu là cơ Âm. Nên thường hai chữ Đạo-Đức đi liền nhau và có dấu nối (Trait d’union). Chính cái dấu nối này là chỗ Hoà của Âm Dương. Văn hoá của Việt-Nam có những nét độc đáo đó mà hình như thế hệ sau này đã lãng quên đi cho rằng không thiết thực. Từ chỗ tế vi đó mà quên đi cũng làm cho nhân tính bị biến thái đi. Thi văn dạy Đạo:

ĐỨC cao thì mới đáng nên người,

ĐỨC thắng tài kia đặng mấy mươi

Có ĐỨC có tài giềng Đạo trọng,

Không tài không ĐỨC hoá không thời.

 

           12- ĐIỀN 田

Chữ ĐIỀN 田 (5 nét) là ruộng, do vậy Chữ Điền nằm ở chính giữa của Bát-Quái Đồ Thiên (cũng có ở trong Bát-Quái Hậu thiên nữa) nó đứng vào Ngũ hành.

*Lý Đạo về chữ Điền: Dầu nơi Hiệp-Thiên-Đài hay trong Cửu-Trùng Đài: lòng người tu cũng phải giữ được “Tâm điền”. Hãy nghe Bà Thanh-Tâm Tài-Nữ luận về chữ “Tâm điền” trong Thánh-ngôn, ngày 23-4-1928:

“Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu, thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Phật Thích-Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

“Lộ vô nhơn hành, điền vô nhơn canh,
“Ðạo vô nhơn thức, ta hồ tận chúng-sanh”!

路 無 人 行 田 無 人 耕

道 無 人 識 些 乎 盡 眾 生

Ba anh có hiểu chăng?

Sao gọi lộ vô nhơn hành, anh M… N…?

– Ðường có người đi nhiều, mà không ai là người phải, đường đi dập-dìu thiên-hạ, mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả-dối, hạnh hung-bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người ? Còn điền vô nhơn canh là sao ?

– Ruộng đây, là tỷ với tâm, tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi tâm, thì tâm ví như điền, có điền mà chẳng có cày-bừa, đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất phải bỏ hoang; bỏ hoang thì sâu bọ rắn-rít xen vào ẩn trú; người mà có tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày-bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu, đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn-linh”

*Phân tích chữ Điền:

Khi bàn Lý Dịch thì phải bàn cho đến đích vì Dịch 易 là biến. Điền 田 do hai quẻ Kiền Khôn mà ra:

Quẻ Kiền ☰ có ba nét Dương có thể đặt đứng, đó là chỉ không gian  và quẻ Khôn có ba nét Âm  đặt nằm, chỉ thời gian. Hai quẻ Càn-Khôn phối hợp lại thành chữ Điền . Chữ Điền này chính là tâm của Bát Quái Đồ Thiên hay Bát Quái Cao-Đài của nền Chánh giáo, là chỉ sự biến hoá của muôn loài vạn-vật, nên chi bậc đại nhân, quân tử  phải đạt cho được đức  tánh cao  thượng  hay nói khác đi là người đạo-đức phải có được cái tâm điền ấy.

 

 

 

Xem lại trong “Dịch Lý Cao Đài” của cùng Soạn giả sẽ thấy hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷  là chủ của Bát-Quái. Chữ Điền nếu phân tích ra sẽ thấy:

– Có 4 chữ nhựt 日 nằm ngang dọc (nhựt nhựt tung hoành nhựt).Tức nhiên nhìn qua các chiều, thảy đều có hình chữ nhựt. Ý muốn bảo rằng: Phải ngày mới, mỗi ngày mỗi mới, ngày ngày mới. ”Nhựt tân, nhựt nhựt tân, hựu nhựt tân” 日新日日新 又日新

– Có 4 chữ Sơn 山 xoay quanh (Sơn sơn điên-đảo sơn). Cũng như chữ nhựt,chữ Sơn xoay quanh tạo nên chữ Điền.

– Có 2 chữ vương 王 đặt xuôi ngược (lưỡng vương tranh nhứt quốc) Hai vua mà tranh một nước.

– Có 4 chữ khẩu 口 họp lại chính giữa (tứ khẩu tại trung gian). Ghi thành thi cho dễ nhớ:

Nhựt nhựt tung hoành nhựt

Sơn sơn điên-đảo sơn

Lưỡng vương tranh nhứt quốc

Tứ khẩu tại trung-gian.

Trong sám Trạng-Trình có câu: “Phá điền Thiên-tử giáng trần” hoặc “Phá điền Thiên-tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành”.

*Đặc-biệt nhất là hai chữ Vương 王nằm theo chiều xuôi ngược trong một cái khung đó là hình ảnh “hai vua mà tranh một nước”. Trong con người có hai vua ấy tức nhiên một vua tinh-thần và một vua vật-chất đang tranh đấu nhau để giành quyền thắng lợi. Vậy thử hỏi nếu vua tinh-thần thắng tức là ta đang hướng về con đường đạo đức, thì người phải năng trau-giồi cho đến độ tận thiện tận mỹ, hòng giục tấn trên con đường Thiêng liêng hằng sống mà trở về với Đại-ngã tức là về với Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế.

Thế nên người TU là tự mình tập làm chủ lấy mình, nghĩa là đặt vị-trí chữ Vương cho đúng chỗ.

Bởi trong chữ Vương  có tàng ẩn chữ ngọc  nếu một cái chấm của nét chủ ấy xuất ra ngoài thì thành chữ chúa  nhập vào trong  thành ra chữ Vương. Có câu: “Ngọc tàng nhứt điểm, xuất vi chúa nhập vi vương”

玉 藏 一 點 出 為 主 入 為 王
Tại sao người phải tu đạt cho được cái “tâm Điền” ấy?   – Đó là lý cớ vì sao phải tu-hành. Tu-hành chính là phương-pháp sửa đổi tâm-tánh để mình làm CHỦ được chính mình; khi đã tự mình làm chủ được mình rồi thì cũng làm chủ được vũ-trụ.

 

 

 

 

Do vậy mà Đức Hộ-Pháp khi nhận trách nhiệm tức là Đức Thượng-Đế đã giao cho sứ mệnh mở Đạo Trời, mà mối Đạo này có “Bí-quyết đắc Đạo” là Thờ chữ CHỦ. Lại nữa Ngài là một vị Giáo Chủ hữu hình, tức là thay mặt Chí-Tôn và Phật Mẫu mà lo cơ chuyển Thế và Cứu thế trong buổi Đại-Đạo này.

Trên là Bát-Quái Đồ thiên hay còn gọi là Bát-Quái Cao-Đài. Hình vuông trong Bát-quái giới hạn bởi các Cung: Càn, Khôn, Tốn, Cấn chia làm  4 ô vuông. Trên góc cạnh của mỗi đường thẳng đi qua có biểu tượng một con số Bát-quái. Tương ứng  với mỗi Cung là:

1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 5 trung ương, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Các con số này họp thành một con số rất đặc biệt gọi là Ma-phương-số

Ghi nhớ các con số trong “Chữ Điền” của Bát-Quái bằng bài thơ sau đây:

Tứ hải Tam sơn hội Bát Tiên.

Cửu Long Ngũ hổ Nhứt đoàn viên.

Nhị tướng Thất trì phò lục quốc

Đây là chữ Điền trong Bát Quái Đồ Thiên chứa đựng cả một triết thuyết cao siêu của Đại-Đạo mà Giáo lý Cao-Đài các Đấng Thiêng Liêng đã phô diễn dưới nhiều hình thức, mục đích là mở cái tâm con người đến chỗ tận thiện, tận mỹ, toàn năng, toàn tri là vậy.

 

              

13- Giải 解

Trong 64 Quẻ kép thì Quẻ Giải

đứng vào số 40. Đọc là quẻ Lôi Thuỷ Giải.

Khảm ☵ hạ là nội Khảm, Chấn  thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Khảm là Thuỷ, nên tên quẻ đặt là Lôi Thuỷ Giải.

            Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là nghĩa làm sao?

– Qua rồi là thời Kiển. Kiển nghĩa là nạn, là khó, các vật không thể khó khăn đến cùng, cho nên tiếp đến quẻ Giải. Giải có nghĩa là hoãn vậy. Giải hoãn dã 解 緩 也 Giải là chậm, vì trên có Chấn ☳ dưới có Khảm ☵ tức là trong nguy hiểm mà ngoài động, cho nên phải huy động để giải lần lần từ trong ra ngoài mới được hanh thông.

Phân tích chữ Giải 解 thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao  ở trên, là con dao, chữ ngưu  dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải-phẫu. Cách phẫu thuật phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội-vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.

Theo lý mà nói: Sấm động bên ngoài, hãm hiểm bên trong, có nghĩa là động ở ngoài sự hiểm, tức là đã thoát được hiểm nguy vậy, nên mới đặt tên cho quẻ là Lôi Thủy Giải.

Theo tượng quẻ mà nói: Chấn trên tượng là sấm, là động. Khảm dưới có nghĩa là hãm, là hiểm nguy. Chấn vi lôi, Khảm vi thuỷ là hiện tượng có sấm chớp mưa rào để làm tan đi: Giải sự nóng bức của những ngày vào Hạ, nên đặt tên quẻ là Lôi Thuỷ Giải. Giải còn có nghĩa là làm cho tan đi vậy, như giải tán, giải ách, giải bệnh, giải thoát…

Từ đó suy ra thì cách giải quyết nào cũng phải đủ ba yếu tố: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà là vậy

Thiên-địa giải nhi lôi vũ tác: Thời Giải rất lớn lao, ví như trời đất.Giải của Trời đất là mưa sấm đến.

Chữ thiên địa ở đây là chỉ về khí âm dương. Khí âm dương còn u-uất, thì vạn-vật khó phát sinh. Khí âm dương gặp nhau là cơ hội giải tán cái nỗi u-uất đó.

Lôi 雷 là sấm thuộc bộ Vũ 雨 là mưa và dưới là chữ Điền 田 (ruộng). Tức nhiên khi có hiện tượng mưa thì sấm vang rền, mưa trút nước xuống tưới lên ruộng đồng.

Sấm và mưa cùng trong một lúc bùng loé ra, mưa sấm đã đồng thời tác dụng mà lúc bấy giờ cây cỏ cho đến trăm thứ hoa quả, thảy đều nứt mầm, phát triển.

Xem thế thì:

– Sấm sét là khởi điểm của sự việc.

– Mưa gió là sự kiện, là điều tất yếu.

– Kết quả là GIẢI cái nóng bức trong lòng vũ trụ, là làm cho người và vạn vật được thoải mái.

Vậy: Mưa là giải quyết sự ngột ngạt của cái nóng bức như thiêu như đốt trên mặt đất.

Nhưng ngoài ra mưa để làm gì? Có ích lợi gì?

– Nhờ mưa mà vạn vật được đâm chồi, nẩy lộc. nước mưa thấm vào lòng đất tạo thành dòng nước ngầm như để dự trữ dài lâu. Rồi sau đó dưới sức nóng mặt trời, nước mưa còn bốc hơi thành mây bảng lảng bay khắp cùng vũ trụ để dự trù cho những cơn mưa sắp tới.

Lý tính về mây mưa, tiền nhân có nói:

“Âm-tính là ngưng tụ, Dương-tính là phát tánKhi âm tụ thì Dương ắt phải tán, nhờ có cái thế quân bình mới thành. Khi Dương tán thì làm lụy đến Âm, hai khí giữ chặc nhau thành mưa rơi xuống. Khí Âm làm cho khí dương đắc chí, bấy giờ Dương-khí sẽ bay bổng lên thành mây. Thế cho nên nói rằng mây ban bố rộng ra từ Thái hư, đó là âm khí bị gió đuổi, thu liễm, tụ lại tức là chưa tán vậy. Phàm khi Âm-khí ngưng tụ, dương-khí bị bao vây ở giữa không ra được, do đó phấn khích mà nổ ra thành sấm sét (gọi là lôi đình). Khi Âm-khí ngưng tụ, Dương-khí ở ngoài không vào được cho nên sẽ quay quanh Âm-khí không ngừng thành ra gió.

Khi Âm-khí hòa mà tán, thì sẽ thành sương tuyết, mưa móc. Khi Âm Dương bất hòa mà tán thì sẽ thành khí độc tràn lan. Âm khí thường mà tán ra chậm sẽ giao hợp với Dương khí và mưa gió sẽ điều hòa, nóng lạnh được chính”.

 

 

14- HIẾU 

HIẾU 孝 họp bởi trên là Thổ土 nghĩa là đất, thuộc cung Khôn  tức nhiên chỉ sự bao dung, đầm ấm của tình mẹ lo cho con. Dưới là chữ Tử 子 là con trẻ, tức nhiên phận làm con phải nghĩ đến công dưỡng dục cù lao, bú mớm nâng niu của Mẹ mà người con hiếu phải lo báo đáp.

Chín chữ Cù lao là gì? (Cù: siêng năng, nhọc nhằnLao: khó mỏi). Ý nói cha mẹ suốt đời đã chịu thương chịu khó để nuôi dưỡng chăm-chút con cái từ khi còn là trứng nước đến khi con khôn lớn trưởng thành, nhưng chưa phải như vậy là đủ, mà “Con một lớn mẹ thêm một khổ” cho nên thời gian lo-lắng cho con cái hầu như vô cùng tận và điểm sau cuối là cho con đến khi cha mẹ nhắm mắt lìa đời, cho nên tiền nhân dùng câu “chín chữ cù lao” để nói lên cái tình cao khiết ấy. Đạo Nho nói “Cửu tự cù lao” đều cùng một nghĩa, tức nhiên cha mẹ đã dày công lo-lắng cho con cái qua chín nỗi nhọc nhằn:

1-Sinh: mang nặng đẻ đau, chín tháng cưu mang.

2-Cúc: nâng đỡ, nuôi nấng, ba năm bú mớm. Nói chung là “Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ”

3-Phủ: Vuốt ve, có nghĩa bằng tất cả thâm tình trìu mến, chứ không nuôi như nuôi con vật, gia súc gia cầm.

 4-Xúc: Cho bú có nghĩa là nuôi con bằng cả tâm huyết, chuyền cả sự sống của mình cho con.

5-Trưởng: nuôi con nhìn từng ngày, từng giờ, không một phút giây nào xa rời con trong tâm tưởng và chuẩn bị một nôi tình thương đầy hạnh phúc.

6-Dục: Dạy-dỗ, tất nhiên nuôi con bằng cả trái tim yêu ái còn phải dạy-dỗ cho nên người, những mong “Con hơn cha là nhà có phúc”.

7-Cố: trông nom, dầu con có lớn đến tuổi nào, trong tâm tưởng lúc nào mẹ cũng nghĩ đến từng bước con đi.

8-Phục: săn sóc dạy bảo. Khi con đã nên bề gia thất cha mẹ vẫn không rời trách nhiệm nhắc nhở đạo đức: “Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài yên” Với con gái thì Bà đoàn nhắc rằng:

Dụng văn hoá trau-tria Nữ-phách,

Lấy Kinh-luân thúc thách quần hồng

Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

(Nữ Trung tùng phận – Câu 1- 4)

9-Phúc: Bảo-vệ. Lòng cha mẹ luôn luôn nghĩ đến con lúc nghèo giàu, sang hèn, vinh nhục, lúc nào cũng phải là một cố vấn cho con và sẵn sàng giúp đỡ an ủi.

Trong Kinh Thi có câu:

“Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao”

Kim-Vân-Kiều cũng có câu:

“Duyên hội ngộ đức cù-lao,

“Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn ?”

Luận Đạo:

Tại sao chỉ nói đến chín chữ cù lao mà không nói đến một số khác?

Nhắc lại nguyên lý:

Số 9 là cơ huyền-diệu nhiệm mầu. Huyền-diệu hơn hết là số đó. Nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ, toàn năng, toàn tri.

Nó là 1 + 8 tức là cơ vận-hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng-tri sáng suốt. Nó cũng là 3+6. 3 và 6 là hai lý nhiệm-mầu và đều ở trong trạng-thái động.

Nó cũng có nghĩa là 3×3 hay 3 bình-phương là cấp bực tam ngôi biến-hóa, vận-hành suốt thông trời đất. Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hiệp về cơ qui nhứt. Phép toán học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

Tại sao có Hiếu? Bởi các chơn hồn sáng suốt cao siêu đã có sẵn hai điều Hiếu:

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn-linh.

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn thần.

Bởi có Hiếu trước với hai Ðấng ấy, biết trọng hai quyền năng Tạo-hóa Chơn linh và Chơn-thần thì tự nhiên phải biết nhìn Ðấng Tạo-hóa hình hài của mình đồng thể chớ. Tâm hiếu tự nhiên mà xuất hiện vì nó có sẵn, mà hễ có sẵn tâm hiếu tức nhiên phải là Chơn-linh cao trọng thấu đáo được nguyên do đâu mình đến và là con của ai ?

Ðã hiểu rằng mình có hiếu với Ðấng tạo sanh Chơn

linh và Chơn thần như thế nào rồi, thì đến Hiếu với Ðấng tạo sanh hình hài đã sẵn có rồi vậy. Nên, hiếu không thể dạy được: hoặc có hiếu, hoặc không có hiếu mà thôi.

 

15- HÒA  

Chữ Hòa   là thuận-thảo gồm có hai phần:

-Bên trái của chữ, có chữ Hoà  là cây lúa (lúa là nguồn sống để nuôi sống thể hài, là vật-chất; tức nhiên người cũng như vật “phải uống ăn nuôi sống thây phàm”

– Bên phải là chữ khẩu  là cái miệng (miệng để ăn uống, đồng thời cũng là cơ-quan phát ra tư-tưởng, lời nói, là tượng-trưng tinh-thần. Miệng là cơ-quan để lập ngôn đó vậy).

Bài Diễn-văn của Đức Hộ-Pháp có giải rõ:

“Phép của Trời có một, là thương khắp cả chúng sanh, nên định cho phẩm-vị hữu-hình và thiêng-liêng có một, nghĩa là phải tương đắc cùng nhau, đặng định quyết phép công-bình lành thăng, dữ đọa.

          “Máy tạo bởi Chữ HÒA mà có, thì thế-giới Càn khôn cũng phải HÒA mới toàn-hảo, nhơn-loại cũng phải HÒA mới trường tồn, chẳng khác nào như xác thịt phải HÒA-THUẬN cùng  linh-hồn mới mong đoạt Đạo.

          “Lấy lớn mà định nhỏ, xem nhỏ mà tìm lớn, thi hài này nhờ HÒA-KHÍ  mà thành hình, thì linh-hồn cũng phải tùng theo phép âm dương HÒA-HIỆP mới qui hồi cựu bổn; linh-hồn bởi chữ HÒA-KHÍ mới có đến, thì tức nhiên phải nương theo HÒA-KHÍ mới có về.

           “Tuy pháp bửu của các Tôn-giáo đã đoạt đặng vẫn nhiều, chớ cơ mầu-nhiệm chỉ có CHỮ  HÒA  là đủ:

           “Thân thể cho mạnh-mẽ tinh-vi, đừng để sa-đà vào lục-dục thì là thuận cùng trí-lự khôn-ngoan.

          “Khí-lực cho cường-thạnh thanh-bai, đừng để đến đỗi mê-muội bởi thất tình, thì trí-lự khôn-ngoan thuận theo linh-tâm mà nẩy-nở.

          “Linh-tâm phải định-tĩnh từ-hòa, đừng để đến đỗi mờ-ám bởi tội-tình, thì thuận với lòng Trời, hiển-linh tại thế đặng đoạt phép huyền-vi:

   –  Thân là   TINH

  –  Lực  là    KHÍ

  –  Trí   là    THẦN                           

          “Nói rõ ra thì TINH là thân thể; KHÍ  là điển lực, nghĩa là trí-lự; THẦN là linh hồn; ba cái BÁU của mình ngày nào tương-đắc, nghĩa là HÒA-HIỆP cùng nhau, thì người mới mong đắc Đạo.

           Cơ Đạo của Chí-Tôn đến lập buổi hạ nguơn Tam Kỳ Phổ-độ này duy lấy một CHỮ HÒA  làm tôn-chỉ.

           “Có HÒA mới có HIỆP, có HIỆP mới có THƯƠNG, mà sự THƯƠNG-YÊU là chìa khóa mở cửa Tam thập lục thiên, Cực-lạc thế-giới và Bạch-Ngọc-Kinh  y như lời Chí-Tôn đã dạy, chỉ nghĩa là phải Từ-bi Bác-ái mới đắc Đạo vô-vi, phải HÒA-HIỆP mới có CƠ QUI NHỨT.        

          “Chí-Tôn đã định khai Đạo đặng thị chứng cho các Tôn-giáo biết nhìn nhau trong đường hành thiện, trừ tuyệt hại tranh đấu thù hiềm, làm cho thế-giới đặng HÒA-BÌNH thoát cơ tự diệt.

          “Thể Đạo của Chí-Tôn cũng phải nương theo CHỮ HÒA mới toan thành lập, Chí-Tôn định thành Hội-Thánh, đặng thay thế hình ảnh của Người, thì cũng tùng theo phép tạo-hóa cá-nhân mà gây nên ảnh tượng:

             – Cửu-Trùng-Đài là thi hài  ấy là  TINH

            – Hiệp-Thiên-Đài là chơn-thần ấy là KHÍ

            – Quái-Đài  là linh-hồn  ấy là THẦN

           “Nếu cả BA mà không tương-hiệp, thì khó mong thành Đạo cho đặng.

           “Nếu có một quyền hành nào tại thế này mà làm cho thân thể Chí-Tôn phải chia phui manh-mún, thì là Đạo Ta là giả Đạo, tất nó phải bị tiêu-diệt trong một lúc ngắn ngủi chi đây.

          “Còn như quả là Chí-Tôn vì thương-yêu con cái của Người, chính mình đến lập Đạo đặng giải thoát cho chúng-sanh, thì những mưu chước của tà-quyền ngăn cản bước Đạo của Thầy khó mong nghịch mạng với Chí-Tôn, ắt là không mong bền vững” (PCT/ 67)

Lời Thầy vẫn luôn thân thiết rằng:

           “Thầy vui muốn cho các con thuận-hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất nên trân-trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe! Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý  muốn của Thầy”

 

 

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

          Làm một kiếp con người trong cuộc thế này có hai món nợ vừa khó đền trả cho đồng cân, mà cũng vừa mâu thuẫn nhau, rất khó liệu cho vẹn toàn.

– Một là giữ câu hiếu thảo với cha mẹ.

– Hai là trọn nghĩa vợ tình chồng

TÌNH 情 là một sự cảm mến thân thiết  nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâmlà tấm lòng với chữ Tinh 青 là cái tinh tuý, tốt lành. Hai món nợ này khó đi đôi cho đặng. Là một vấn đề khó giải quyết xưa nay. Hãy nghe:

“Thất-Nương Diêu-Trì-Cung là vì HIẾU khi hay cha mẹ mắc tội nơi Phong-đô, liền bỏ Cung Diêu-Trì xuống đó để độ rỗi nên bị Thiên-đình  bắt tội. Đã  hai kiếp sanh khổ vì Tình, vì Hiếu,  sau khi Thất-Nương được đặc ân của Ngọc-Hư-Cung xá tội liền tình-nguyện đến Âm quang để độ rỗi các chơn-linh thất thệ đặng trả nghĩa cho Thầy. Trước khi đi làm nhiệm vụ, trong một kỳ đàn, Thất Nương Diêu trì-Cung có đến từ-giã và để lời than với Đức

Hộ-Pháp và gặp-gỡ một vài Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài.

                                 Bài thi ấy như vầy:

Hai kiếp đeo đai mối nợ tình,

Cái thân vì khổ bận cho thân.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt.

Nỗi Hiếu rơi châu tưới mộ phần.

Giữ Đạo mong chờ ngồi độc tịch.

Bán mình quyết cứu độ song thân,

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh.

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần

Ngài Cao-Đức-Trọng khi tả lại cuộc đời của Đấng Nữ-Tiên có nói rằng:

           “Bần Tăng tả cảnh khổ trên đây để các bạn nhập tâm ghi nhớ. Thất-Nương là vị Phật thứ bảy trong hàng Cửu vị Nữ-Phật còn tránh không khỏi khổ. Đó là bài học của tâm-hồn trí não. Nếu tránh được khổ thì trên con đường lập công chúng ta rất may duyên sẽ  gặp đặng Đức Chí-Tôn, mà Người trông ngóng  hằng ngày.

             Cái hạnh-phúc nơi cõi tạm này không chi bền-bĩ, thấy đó liền mất đó. Cái kiếp sanh của con người  trong ba vạn sáu ngàn ngày nghĩa là một trăm năm, ngày giờ này thử xem ai sống được tới chừng đó.

             Trong thời-kỳ lọan-lạc này, năm tuổi cũng một kiếp, mấy mươi tuổi cũng một kiếp. Ba vạn sáu ngàn ngày đã mất giá-trị rất nhiều mà con đường thắng khổ lại vẫn không bờ bến. Nay được may duyên núp dưới bóng Từ-bi, chúng ta hãy tìm hạnh-phúc thật, là cái hạnh-phúc về mặt thiêng-liêng, muốn đặng vậy cả Chức-sắc Thiên-phong mỗi người tùy theo phẩm-vị mình phải lo cho tròn bổn phận khi lìa khỏi xác, mới mong qua khỏi Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới. Chúng ta nên lấy đó làm quí trọng và nên nhìn hạnh-phúc cõi trần toàn là hạnh phúc giả.  Ai đã đau khổ tâm hồn ? Ai đã chua cay tình thế ?  Ai đã từng đổ giọt lệ đặng tự an-ủi lấy cõi lòng tan-nát  đều dư hiểu lời của Bần-Tăng nói, nên Bát-Nương có nói:

           “Muốn tìm hạnh-phúc thật phải lướt khỏi khổ, tìm đến Chí-Tôn mới mong trọn vẹn”

 

 

17 -HỌC  

Phân  tích chữ HỌC   thấy có hai phần: phần trên là hình ảnh người Thầy hai tay cầm roi đứng dưới mái nhà đang dạy trẻ, phía dưới là chữ tử 子 Điều này chứng tỏ sự giáo huấn ngày xưa rất nghiêm khắc.

Nay nói về việc học Đạo:

Đức  Phật  Quan-Thế-Âm Bồ-Tát giáng dạy rằng:

            “Thiếp xin hỏi Chư Hiền-hữu: – Các bậc Tu-hành muốn đặng thành Đạo phải làm thế nào ?

        Bạch:

            -Trước phải lo trau-giồi đức tánh và biết sửa mình.

Đầu tiên muốn sửa mình thì phải học hỏi, phải không?  Học hỏi đặng dụng vào đâu ?

           Cho mình hiểu Đạo trước rồi dìu-dắt chúng-sanh sau; thì ắt phải kiên chí, nhẫn-nhịn mới mong đoạt kiến thức; có kiến-thức thì mới bác-lãm, mới có tư-tưởng cao sâu; hễ có tư-tưởng cao sâu mới mong đặng văn-chương quán thế. Hễ có văn-chương quán thế mới mong cảm hóa lòng người đặng, phải không ?

              – Phải !

              – Thì phải lo lập nền móng trước chớ sao! Phải có trí-thức tài-tình mới mong đoạt Đạo. Phải tài tình mới đủ lực-lượng diệt vô minh.  Trong Đạo Thầy ngày nay, Thầy đã chọn những kẻ ấy để dìu-dắt chúng sanh qua khỏi mê tân, đáo bĩ-ngạn.

             – Thiếp hỏi những kẻ ấy là ai há ?       

             – Chính là Chư Hiền-hữu đó.

             Vì các cớ nên Thiếp mới đến ngày hôm nay mừng cho chư Hiền-hữu đó, nên có mấy lời thức tỉnh.

             Xin Chư Hiền-hữu miễn chấp nghe”!

                            (Ngày 8-6-Giáp-Tuất 1934)

Bà Đoàn có dạy cho mỗi người một phương thức học rồi:

Học cho thấu máy linh cơ Tạo,

            Học cho toàn trí xảo văn minh,

            Đem tài hay nhập nước mình,
            Làm cho dân hưởng Thái bình giàu sang.

18- HOẶC 或

Chữ này có hai phần: chữ hoặc 或 là thay đổi. Nếu ghép chữ hoặc này với bộ vi 囗 thành ra chữ Quốc 國 có nghĩa là đất nước này thay đổi thể chế luôn. Còn nếu đất nước có vua thật sự thì bên trong bộ vi có chữ vương.

Hào Tứ của Quẻ Càn cói câu “Hoặc dược tại uyên” 或 躍 在 淵 tức nhiên có thể nhảy trong vực. Dược là nhảy, nhưng ở thế của Cửu Tứ Quẻ Kiền là thời kỳ tiến lên được, nhưng không nên vội tiến mà phải đợi đúng lúc, đúng thời tiến sẽ có lợi hơn.

Hào này đã rời khỏi hạ quái rồi, mà lên gần đến Cửu Ngũ tức là gần ngôi Vua, dù thế nào cũng tiến mà thôi. Tóm lại người trí làm việc gì cũng biết tuỳ thời. Chữ Biết rất cần trong Đạo-học

Nếu thêm bộ tâm vào phía dưới thành ra chữ “Hoặc  là một nghi-từ có nghĩa là nghi ngờ.

Thánh ngôn dạy về “BiẾT” như vầy để khỏi nghi hoặc nữa: phải Biết cho đến nơi đến chốn mới gọi là Biết:

“Cơ lập Đạo là nhiệm-mầu vô giá: Biết Đạo, Biết ta, Biết người, Biết thế, Biết thời, Biết vinh hư, Biết tồn vong ưu liệt rồi mới có Biết hổ mặt thẹn lòng, Biết sự thế là trò chơi, Biết tuồng đời là bể khổ, Biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, Biết nhục vinh mà day trở  trên con đường tấn thoáiCó đâu đường đời còn giành xé, hại lẫn nhau, mong chi đặng tầm Tiên noi Phật.”  (TN II/ 68)
Có cả thảy 12 chữ Biết. Biết cho thấu lý là gần Phật, gần Trời đó vậy!

 

19- KIỀN  乾

QUẺ KIỀN  SỐ 1 TƯỢNG NGÔI CHÍ-TÔN:

1-Ý-nghĩa: Quẻ Bát thuần Kiền còn gọi Bát Thuần Càn. Trước khi nói đến quẻ Bát-thuần, xin định nghĩa và phân-tích chữ KIỀN. Kiền là kiện, tức là tráng kiện, mạnh mẽ, tính của Dương, là ngôi Chí-Tôn.

Chiết-tự chữ Kiền 乾 thấy có hai phần: phần bên trái có hai chữ thập (thập là mười) chữ thập ở trên tượng-trưng “thập phương chư Phật” chữ thập dưới là “Thập điện Diêm cung” giữa là chữ nhựt  (nhựt là mặt trời. Người đứng đầu là Anh Cả nhơn sanh là Thượng Trung-Nhựt) chỉ không gian vũ trụ mà vạn-loại đang sống. Phần bên phải là chữ KHÍ  (khí là sự sống, viết đủ nét là  cũng gọi là khí sanh-quang. Nguồn sống của Trời đất

Như vậy Kiền có nghĩa là Trời, tức nhiên gồm các cõi vô hình cũng như hữu hình, nơi nào có khí sanh-quang của Thượng-Đế tức là có sự sống, mà sự sống tức là Đạo.

Nơi nào khiếm ánh linh quang của Thượng-đế ắt phải chịu u-ám, tối tăm,  gọi là cõi Phong-Đô, Địa ngục.

Xưa Vua Phục-Hi là một nhà thông-minh huệ trí, ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét: Một nét liền tượng Dương  một nét đứt tượng Âm  (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Cả thế-giới hữu hình lẫn vô hình, chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như cha và mẹ trong gia-đình; vạn-vật là đực cái, trống mái.

Người dân-tộc Campuchia hay Chàm họ cũng biết đến hai ngôi này, họ cũng lấy vật Tổ để thờ gọi là Cái “Linga” tức là hình ảnh “chày đặt lên cối” cũng là hình ảnh Âm Dương, nhưng suy-nghĩ của họ còn nằm trong thời ấu-trĩ, tức là còn bán khai, chưa tiến-hoá.

Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi (Lưỡng nghi tức là hai ngôi Âm Dương), cũng gọi là Kiền Khôn.

Hai ngôi tác-dụng lên nhau thì có biến-hoá. Sự biến-hoá ấy giống như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa-học gọi là theo luật song tiến-số. Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái; Bát-Quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền-Khôn thế giái.

2-Thành lập nên quẻ Kiền 

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn: thêm âm, thêm dương lên ngôi Dương thành ra hai nét dương  gọi là Thái-Dương số 1, lấy Dương làm gốc, cho một âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là  gọi Thiếu-âm số 2.

Bấy giờ đến ngôi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy âm làm gốc,thêm dương lên sẽ có một dương một âm 

gọi là Thiếu-Dương số 3, tiếp-tục thêm âm sẽ có hai âm   gọi là Thái Âm số 4. Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là Thái dương số 1, Thiếu-âm số 2, Thiếu dương số 3, Thái-âm số 4. Gọi là tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi.

Vạn-vật biến-hoá không ngừng, thế nên Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên. Tức nhiên lần này Tứ tượng biến Bát-Quái,gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới, Ví như:

Thái-dương qua hai lần thêm dương, thêm âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN

Kiền vi Thiên (Kiền là trời) là quẻ số 1.

Lần sau thêm lên nét âm thành quẻ ĐOÀI    tức là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm, ao…

Thiếu-Âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY   Số 3, Ly vi hoả (ly là lửa), tiếp theo là quẻ Chấn vi Lôi số 4, CHẤN   là sấm.

Thiếu-Dương cũng qua hai lần biến sẽ có quẻ số 5 là TỐN  Tốn vi phong (Tốn là gió). Quẻ số 6 là  Khảm vi thuỷ, KHẢM  (Thuỷ là nước).

Thái-Âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN  số 7 và KHÔN   số 8

Bát-quái đã thành hình, theo thứ-tự là: Kiền 1, Đoài 2,  Ly 3,  Chấn 4,  Tốn 5,  Khảm 6,  Cấn 7,  Khôn 8.

3- Bát thuần  八 純 là gì?

Bát là tám, thuần là tinh ròng, là không có pha trộn. Bát thuần ở đây là chỉ tám quẻ ròng một thứ kết hợp với nhau. Trong giai-đoạn này là chỉ bàn qua các quẻ kép mà thôi, tức nhiên do hai quẻ đơn cùng tên đặt chồng lên nhau. Như: Kiền đặt lên kiền thành ra Thuần-Kiền

Tương tự là Thuần-Đoài        Thuần-Ly

Thuần-Chấn Thuần-Tốn  Thuần-Khảm      Thuần-Cấn      Thuần-Khôn

Như vậy chỉ có 8 quẻ được gọi là Thuần nên chính

nó có đủ đức tính của quẻ mà nó mang tên và danh gọi không đổi. Ngoài ra đối với các quẻ khác là sự hợp quẻ, cho nên tên gọi của nó là do nghĩa của hai quẻ kia mà thành. Thí-dụ:

Kiền vi Thiên đặt lên Đoài vi Trạch sẽ có một tên mới là Thiên Trạch Lý

4-Nhận xét: Trong 8 quẻ đơn thì chỉ có Kiền là đứng đầu hết là số 1. Gọi là Kiền tam thiên tức nhiên là quẻ Kiền vi thiên, có 3 nét liền.

Nếu là quẻ kép thì nhân lên 8 lần thành ra 64 quẻ

(8 x 8)  Bát-thuần Kiền vẫn đứng đầu là số 1.

Tính chất con số 1:

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, có tính cách chuyên nhất và cầm quyền vi chủ, chỉ cơ động, thái quá. Do lý Thái-cực sanh ra nên nó nhiệm-mầu hiện biến. Nó thuộc về ngôi Phật, chủ quyền cai trị và giáo-hoá vạn-linh.

Số 1 thuộc bản thể Hư-linh sản xuất nên có quyền thống trị Càn-khôn. Quyền vi chủ có 1 mới hoàn-toàn.

Số 1 tượng ngôi Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế Giáo-Chủ nền Đại-Đạo về phần vô-vi.

 

 

20 –KHẢO 拷

Khảo 考 có nghĩa là thí nghiệm. Nhưng nếu có thêm bộ thủlà cái tay nữa tác động vào là đánh tra, làm cho đau đớn, khổ sở. Là một sự thử thách lớn với người tu

thường gọi là khảo thí, như câu:

Khảo thí lọc lừa tường hắc bạch,

Chung tâm hiệp sức thoát cơn nguy.

            (Đức Nguyệt Tâm Chơn nhơn)

Sự khảo Đạo 拷 道 đó được Thất-Nương Diêu Trì Cung giải-thích khi được cầu hỏi; Bà nói:

“Em tỏ sơ mỗi khi trong mình mấy anh có điều chi khác hoặc đau lạ kỳ hơn kẻ khác,  xin mấy anh không nên phiền muộn, ấy là các Đấng chuyển đấy đa !

           “Sửa tâm luyện tánh, tắm sạch phách hồn cho tinh chuyên, trong mấy điều sửa đó, phải chịu hành xác chút đỉnh: ấy là phận sự của kẻ chỉ giáo; còn phải chịu cho vị Giám-khảo hỏi nữa  nghe !

 “Trong ban khảo hạch lại chia ra làm hai ban khác nhau:

 -Một ban khảo thí tinh-thần,  một ban khảo thí  vật-chất.

           Phải biết phân biệt, hai ban này có lộn Quỉ-Vương nữa đa, vì Đức Chí-Tôn cho lộn chúng nó (xin Cô giải nghĩa giùm khảo về tinh-thần và khảo về vật-chất) ?

           – Khảo về tinh-thần là làm cho trí não mờ-mệt, biếng nhác, hay quên, quạo-quọ,  bị kẻ khác sỉ-nhục tên tuổi mình.

           – Khảo về xác thịt thì đau té, có khi phải chịu chúng dọi đầu, gia-đình lộn xộn xào-xáo chẳng yên. Đó là Em kể sơ qua, phải dễ đâu !

           “Hữu duyên đắc ngộ, vô duyên muôn kiếp bất tương phùng”.

           Biết Đạo-mầu, dầu nhà triệu phú muốn nài đổi cũng chẳng  thèm; thanh thì bần, trược thì phú. Có phân cây mới tốt, mà phân vẫn là chất trược.

           “Phép này dễ học hơn hết !

           “Hễ mỗi lần  xác phách muốn làm điều chi thì mấy

anh  tự hỏi coi điều này Ông Trời làm đặng chăng?”

Bà Đoàn có thơ:

Cây trăm thước bắc qua bến khổ,

                        “Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ”.

Nhưng đấy là về cá nhân, ngày nay là ngày cuối của thời Hạ nguơn thì đến ngày lọc lừa của Thượng đế. Thánh giáo của Chúa nói rằng “Ngày phán xét cuối cùng” cũng gọi là Đại khảo. Thế nào là Đại khảo?

            (Đại là lớn, khảo là duợt, là thử thách). Đại khảo là một cuộc thử thách nặng nề. Người Đạo mà thiếu đức tin, thiếu tinh thần đạo đức, không nắm vững giáo lý, giáo pháp của Đạo Thầy thì rất dễ bị lung lạc, sa ngã, rồi khủng khiếp hơn nữa là phá Đạo, hại Đạo, phản Đạo…làm mất danh thể Đạo. Nhưng Đại Khảo cũng là một sự thanh lọc Thánh Thể của Chí-Tôn: Thánh ra Thánh, phàm ra phàm không cho lẫn lộn. Mục đích để lập lại đời Minh đức, Tân Dân hầu nền Đại-Đạo mới phổ truyền ra khắp toàn cầu Thế giới như lời Thầy đã dạy:

“Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc.

“Chủ quyền Chơn Đạo một mình TA”

Sau đây là Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi của Đức Lý Đại Tiên giáng dạy:

“Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy Nam Nữ phải để tâm cho lắm. Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn lành cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảonày: Chư Đạo Hữu phải giữ trai giới cho được 10 ngày đổ lên y như Tân Luật, thì mới mong sống sót. Trận đại họa này không riêng cho Thánh-Điạ tại Việt-Nam Quốc mà chung cho cả đia cầu, Thảm! Thảm! Thảm!

Hạ Nguơn là Nguơn mạt kiếp, Nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ Hạ Nguơn: Hạ là dưới thấp, sau cùng là chữ Hạ gồm ý nghĩa: Tệ, Suy, Tàn, Hoại, là diệt chủng đó. Hạ Nguơn là Nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo Hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo tới giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới …Họa …Thảm!  Cả Thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, cả vinh hoa phù phiếm trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng. Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh-danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm. 

Thầy hằng thương con dại mới mở Đạo Kỳ Ba mà vớt chúng sanh. Hại thay ! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ, ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa, Họa! Thảm. Thảm …Ôi ! Lão vì lòng Từ-bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo mà chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nên Đạo Thầy mới ra nông nỗi. Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai. Khổ ! Khổ ! Khổ ! Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào hay đâu họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại  khảo…  Khảo……Khảo…(Thăng)

 

 

21- KHÍ 氣

Sự hanh Thái là tượng cho Khí Âm Dương giao hòa nhau trong trời đất làm cho vạn vật cùng hít thở.

Vậy Khí là gì?

Chữ khí 氣 thuộc bộ mễ 米  âm khí气, tức nhiên đây là cách nấu gạo hay nếp gọi là mễ, đun lên cao độ cho nó bốc hơi thành khí. Trong cái kỹ-thuật nấu ấy người ta hứng lấy chất hơi ngưng đọng lại, cái KHÍ ấy gọi là Rượu dùng vào việc cúng kính, cũng là một trong ba bửu: Bông (Tinh), Rượu (Khí), Trà (Thần) dâng về Thiêng liêng là Tiên Tửu.

– KHÍ  氣  là nguyên-uỷ của vạn-vật hữu hình.

Khí này đã bao trùm vũ trụ ngay từ lúc còn trong  trạng thái đầu tiên chưa động tĩnh: lớn nhất không gì ra ngoài nó gọi là đại nhất. Nhỏ nhất thì không nơi nào, vật nào mà vào được bên trong của nó, gọi là tiểu nhất.

Để mô tả cái Khí bao trùm vũ-trụ là cái khí đầu tiên tức là nguyên-khí, từ đó sinh ra vạn-vật và con người đó là chí đại. Đến như chí tiểu thì trong mỗi vật dù là chỗ nhỏ đến đâu nó cũng chỉ là một dạng khí hoá, khí này gọi là Vô cực. Nó là cái làm cho “vật là vật” “người là người”. Từ đó người xưa đánh giá cấp bậc khí-hoá ở mỗi vật hay ở mỗi người.

Khí ở trên trời đến lúc sẽ thanh tịnh, quang minh, dầu rằng cái “Minh đức” vẫn luôn luôn ẩn tàng, nhưng lúc nào cũng “kiện vận bất tức” Nghĩa là đi mãi mà không ngừng nghỉ. Kinh nói: “Thời thừa lục Long. Du hành bất tức”  là do đó.

Ôi! Thiên khí gíáng xuống, địa khí thăng lên, tạo

thành quẻ Địa-Thiên Thái, sự vận-hành và dụng sự của nó không bao giờ ngơi nghỉ cho nên không cần đợi đến lúc hạ xuống mới có. Ở đây người xưa muốn nói rằng Thiên-khí phân bố ở khắp nơi, hoá sanh vạn-vật; nhưng cái thể, cái vị của nó vẫn tôn quí cao thượng. Thiên-khí rất quang minh, ban ngày nhờ nhật, ban đêm nhờ nguyệt đem lại nguồn sống cho muôn loài.

Phật-Mẫu ban sơ đến Hiệp-Thiên-Đài

làm MẸ của chữ Khí tức là khí sanh vạn-vật.

Ngài lấy nguơn-pháp trong chữ KHÍ biến thành Càn Khôn vũ-trụ, chữ Khí tương-quan trong Hiệp-Thiên Đài, nên Phật-Mẫu trước đến Hiệp-Thiên-Đài thuộc Pháp tức là Toà ngự của Người, rồi sau mới lập Cửu-Trùng-Đài. Người đến gọi mình là Bạn của chúng sanh, tự xưng Thiếp, đem Bí-mật  từ thử chưa ai nghe đối với Chí Tôn thể nào, nói rõ không kiêng phép Ngọc-Hư, vì để tạo gia nghiệp cho con cái của Người, thì Người có quyền nói, không ai cản được nỗi. Buổi nọ, Đức Phật-Mẫu nói: Ngày nào Bà Thân của Đức Thượng-Phẩm qui vị là ngày ấy thành Đạo: trước ngày Vía ấy Đức Phật-Mẫu giảng Đạo có dùng tiếng “MẸ” con xưng hô cùng ta tức là ngày thành Đạo nhằm Lễ Trung-Thu. Trước kia Đức Lý Giáo Tông không nói rõ nhưng chúng ta cũng hiểu là: Cao-Đài đã thành QUỐC ĐẠO”! 

Trong giây phút đây Cao-Đài đã được đưa vào Đạo-sử, toàn nhân sanh đều thấy Phật-Mẫu đến in ấn thiêng-liêng định thành nền Quốc Đạo của chúng ta vậy”

             (Đức Hộ-Pháp thuyết 14-8 Đinh-Hợi)

 

 

22- KHỔ 苦

Khổ là sự đau đớn làm cho người sống trong thế gian này nhiều khi đến nỗi không chịu đựng được. Chính nghĩa ra khổ là đắng. Như khổ qua là mướp đắng.

Về lý Ngũ hành thì vị “Khổ” hay là vị đắng này là do lửa đốt cháy một vật thành than thì sinh vị đắng. Người tu cũng vậy, muốn được thành công mỹ-mãn thì phải chịu được một sức khảo thí của đời gọi là khổ. Chính cái ánh sáng minh triết có được từ một sức chịu khổ mà nên.

Có câu “Thuốc đắng đả tật” là vậy..

Phân tích chữ KHỔ 苦 thấy có hai phần: phần chính yếu là âm CỔ 古 là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu 口) vẫn còn nhắc đến mười (thập 十) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo    là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ mà thôi.

Đức Hộ-Pháp nói: Đức Chí-Tôn “Ngài đến bồng nhơn-loại trong tay ru rằng: khối đau khổ tâm hồn của các con là tại các con đào-tạo chớ không phải của Thầy, khổ là do quả kiếp mỗi đứa giục khổ cho nhau; muốn diệt khổ không gì khác hơn đập đổ các đẳng cấp tâm hồn, thống nhứt nhơn-loại, nhìn nhau là anh em đồng máu thịt, cùng một căn bổn cội nguồn hầu chia vui sớt nhọc, biết tôn-ti nhau, kẻ trên không hiếp người dưới, không áp chế nhau; kẻ trí không hiếp ngu, hèn sang không phân biệt, mực thước tâm hồn, nhơn-loại phải đồng phẩm giá, đồng quyền năngNgày giờ nào nhơn-loại biết tôn trọng nhau, dầu sang hèn nhìn nhau là anh em cốt nhục, ngày ấy phương giải khổ không khó. Con nghe lời Thầy mà làm y như Thầy thì khổ ấy tự diệt. Nếu các con còn đau thảm thì đấm ngực nói: Khổ này do các con tạo, không phải do Thầy định tội đa nghe! Thầy đến chỉnh đốn tâm lý loài người: tránh tranh đấu tiêu-diệt lẫn nhau thì không còn hỗn loạn với nhau, thì tức nhiên diệt khổ chớ có chi đâu lạ

         “Cơ-quan giải khổ tâm hồn của Ngài là đó !”

Tuy nhiên, phương giải khổ về phần xác thịt cũng tối cần trong kiếp sống này đây:

         “Chí-Tôn đến đặng hiệp con cái lại một nhà của Ngài, trong Thánh-ngôn Ngài còn quả-quyết đó. Ngài đến tạo ra Tân-Thế-giới làm cho nhơn-loại Đại-ĐồngNếu sự tìm-tàng sắp xếp không đặng kết liễu thì Chí-Tôn sẽ thất hứa với con cái của Ngài mà chớ! Nhưng quả quyết rằng Ngài không bao giờ thất hứa, vì đã được  99 điều rồi Ngài đã thật hành vẹn hứa, không lẽ còn một điều nữa Ngài làm không đặng”  (TN I /81).

Đức Phật Thích-Ca đã tìm ra “Tứ Diệu Đề Khổ” nhưng chưa ai đánh đổ nó được. Thế nên con người sống đây là sống khổ. Một nhà thơ đã hóm hỉnh rằng:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?

Cảnh phù du xem thấy cũng nực cười.

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

Tiêu-khiển một vài chung lếu láo….

Nhưng “Tiêu-khiển một vài chung” để giải khổ  không phải là thượng sách, trái lại biến chúng sanh thành hạ cấp thì hơn. Duy có Đại-Đạo ngày nay đánh đổ cái “TỨ KHỔ” này được:

Đức Hộ Pháp nói: “Giờ phút này người tu là đem thân làm nô lệ cho nhơn loại, rồi có vui sướng gì với kiếp sanh mà cần sống, giá trị cái sống của ta khác hẳn hơn thiên hạ tưởng tượng, mà tưởng tượng cái chết của ta là buổi nghỉ ngơi, buổi hết cực, cái chết ấy chẳng phải do mình, mà do nơi Đức Chí Tôn định là tới buổi Đức Chí Tôn nói các con đã làm xong phận sự Thầy cho con về. Giờ phút này chúng ta đương ở Đền Thánh của Ngài đây, đương phụng sự cho Ngài đây, thì cái sống chết của chúng ta không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa. Và trong Tứ Khổ không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa: Ấy vậy “Tứ Diệu Đề” tức nhiên bài học, bài thi, của đề mục khổ, duy có Đạo Cao Đài giải quyếtnó, đánh mất nó, làm cho nó không còn giá trị chi nữa, tức nhiên chính mình và toàn cả con cái của Đức Chí Tôn hay tương lai Tôi nữa cũng vậy. Chúng ta trọn hiến thân làm Thánh Thể cho Ngài mà ta sống cho mình chớ không phải sống cho Ngài là không đúng; sống không phải sống cho mình mà chính là sống cho Ngài vì chính mình đem trọn cái sống ấy dưng nạp cho Ngài, mà tưởng tượng ta khổ thì tức nhiên Đức Chí Tôn khổ còn gì. Ổng không có khổ, mà lại sống vinh diệu quá, ta lại gặp thời kỳ này may duyên gặp được một cảnh sống lạ thường, sống về Thánh chất, sống về Thiêng Liêng, sống về Càn Khôn Vũ Trụ, sống về Trời Đất, sống dường ấy mà gọi là khổ sao đặng.! ?

Ấy vậy Chơn Pháp thuộc về Thể Pháp của Thiên Đạo Cao Đài ngày nay có lẽ phù hạp với tinh thần nhơn loại hơn các nền Tôn Giáo khác..”

 

 

23 -LÊ 

1- Đoán tính tự (họ tên người):

    Người mang quẻ Chấn có họ hoặc tên có chữ bộ mộc 木

– Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung 梨文忠 họ LÊ viết thành chữ Hán có dạng:   tức nhiên cấu tạo bởi các phần sau: phía trên là Hòa 禾 (cây lúa) họp với Đao 刂 và dưới là  bộ MỘC 木 Quả nhiên họ Lê của Ngài có  bộ mộc

2- Đoán số mục:

   Người mang quẻ Chấn có ảnh-hưởng các con số: 4, 8, 3.

– Quẻ Chấn số 3 là dương-số, lại là hướng cung Mão nên Chấn cũng là Càn; ba thành một, một mà ba. Vai trò này hết sức quan-trọng đứng vào Tam ngôi nhất thể. Số 3 cũng là Trời, “thay mặt Thầy mà dạy-dỗ nhơn-sanh” thế nên Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

Ngài hành-đạo vừa tròn 8 năm, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng tất cả đều có quyền thiêng liêng đã đặt định trước. Tức nhiên:

– Ngày khai Đạo 15-10- Bính Dần   (dl: 19-11-1926)

– Đức Ngài qui:   13-10-Giáp Tuất  (dl: 19-11-1934)

Đức Hộ-Pháp làm bài Điếu văn khóc Ngài có đoạn: “Từ năm Bính-Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê-Văn-Trung, Ðạo-tịch Thượng Trung Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là Phổ độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh giáo. Một mối Ðạo rất cao thâm mầu nhiệm mà chính mình Ðức Thượng-Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ nhen như Việt-Nam ta đây, thiết tưởng sự khó-khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 (1) năm trường, chẳng quản nhọc-nhằn, một tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

(1) 8 năm tròn, nhưng qua 9 cái móc thời gian.

 

24- MINH 明 (8 nét)

            Minh là sáng. Phân tích chữ Minh 明 thấy có hai phần: bên trái là chữ nhựt 日 cho ánh sáng ban ngày, bên phải là chữ nguyệt 月 cho ánh sáng ban đêm. Cả hai ánh sáng này gom lại là một nguồn sáng lớn

Cúng Tứ thời là luyện Thiên Nhãn:

 

 

 

 

Phải trải qua các giai đoạn để được chứng ngộ:

*-Khi ngồi Cúng đôi mắt hướng về Thiên-Nhãn-Thầy. Mắt trái gọi là nhựt  Mắt phải gọi là nguyệt  Mắt nhìn tâm động, nhận thức mọi vật nơi tâm, gọi là minh tâm 明心 tức là hai ánh sáng qui về một điểm do sự hồi quang, luyện dần sẽ được điểm sáng hơn. Minh  là sáng đây gọi là “Nhứt nguyên lưỡng cực” bởi vì trong chữ minh là một khối (nhứt nguyên) có hai phần âm dương (lưỡng cực). Ấy là chỉ con người đang sống trong thế giới Nhị nguyên, nghĩa là hễ có sướng thì có khổ, có vui tất có buồn. Chính vì lẽ đó mà con người phải tu để vượt lên trên sự sướng khổ, buồn vui ấy. Tuy nhiên Đức Hộ-Pháp cũng nói “Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc vui buồn thấm vào chân tánh”. Là có phần an nhiên tự tại.

*-Khi ánh sáng phản chiếu lại ấy là giai đoạn kết đơn  (đơn là điểm sáng màu hồng cũng gọi là Huệ nhãn, Tâm nhãn, Thần nhãn, Thánh nhãn) tùy theo trình độ tu tập. Chữ ĐƠN  là do chữ nhựt và nguyệt đặt chồng lên nhau  đó là con mắt thứ ba chính là Nhãn  đó vậy. Đây là điểm Đơn nhứt Thái-cực. Nghĩa là bấy giờ qui vào một điểm mà thôi.

Thế nên khi gọi là NHÃN thì chỉ có một. Do vậy mà Đạo Cao-Đài chỉ thờ một “Con Mắt trái” mà thôi. Mắt trái là Dương. Dương là chỉ ánh sáng tuyệt đối là Lương tri của con người.

Điểm Thái Cực này ở giữa hai chơn mày, do vậy mà người Ấn-Độ hay đính một hột sáng hoặc điểm một chấm đỏ, giả làm con mắt thứ ba.

Cúng kiến thường là đạt được sự minh tâm kiến tánh hay là hồi quang phản chiếu là đạt được sự sáng vậy.

Như thế hai con mắt đã biểu tượng bằng hai chữ nhựt 日nguyệt 月 .Khi ngồi Cúng có ba trường hợp xảy ra:

1- Thứ nhứt: nhựt nguyệt đặt liền nhau thành ra chữ Minh  minh là sáng. Nhìn vào cũng thấy rõ nhựt là mặt trời, nguyệt là mặt trăng, tức là mỗi loại cho một thứ ánh sáng khác nhau, bây giờ ghép hai chữ liền với nhau thành chữ Minh  là sáng vô cùng. Đây là luyện Tinh hoá Khí.

2-Thứ nhì: Nếu chữ Nhựt 日 đặt chồng lên chữ nguyệt月

thành ra chữ Dịch  là sự biến hoá. Đây là cốt tuỷ Kinh Dịch. Dịch 易 là biến đổi. Giai đoạn này luyện Khí Hóa Thần tức là phần trung gian tạo nên sự biến đổi cho hai giai đoạn 1 và 3. Có câu“Lễ bái thường hành Tâm Đạo khởi”  là vậy.

3- Thứ ba là Nhựt nguyệt đặt chồng vào nhau sẽ thành chữ Đơn 丹. Chữ Đơn  tức là Đơn nhứt Thái-cực là Tu đắc Đạo. Là luyện Thần huờn hư.

Nếu cứ mãi nhìn ra thì hoá ra vọng niệm. Nhưng đối với người tu thì chỉ hướng vào bên trong tâm hồn mà thực hiện câu Kinh Nhựt tụng:

    “Làm người rõ thấu lý sâu,

    “Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh”

Thử hỏi cái lý sâu đó nó nằm nơi nào mà mong sửa lòng trong sạch? Tức nhiên ta phải biết quí trọng những gì mà Thượng-Đế ban cho, nghĩa là phải phát triển điểm chơn linh hay là điểm linh quang cho sáng suốt. Có thế, tức là không dám khinh thường cái Tâm, bởi khinh thường cái Tâm là tất nhiên khinh thường Trời. Nhưng Trời thì chẳng ai dám khinh hết. Bởi quyền năng của Trời là ban sự sống cho muôn loài, mà muôn loài luôn hướng về Trời để nhận sự sống ấy, là KHÍ; mà khí tức là Đạo. Tức nhiên dù người hay vạn vật lúc nào cũng tìm Đạo là vậy.

Việc cúng kiến hằng ngày với mục đích là làm cho sáng đức tin, tức là sáng tỏ đức sáng của chính mình. Khi sáng tỏ được đức sáng thì tâm linh hoát nhiên khai ngộ.

         Tại sao cũng là con mắt mà khi gọi

Mục 目 khi gọi Nhãn 眼 ?

*Mục目là con mắt nhìn ra, cốt để thấy vật bên

ngoài, khoa-học gọi đó là cơ quan thị giác. Mắt phải có hai mới thấy rõ sự vật. Gọi là lưỡng mục

*Nhãn 眼 là mắt nhìn vào trong. Thường nói là con mắt thứ ba. Trước hết chữ Nhãn kết hợp bởi Mục 目 và Cấn 艮 là núi. Hình ảnh của Mắt khi nhìn ra bị núi chắn lại nên phải nhìn vào bên trong, tức là sự sáng bằng tâm linh còn gọi là con mắt thấu thị. Muốn có được con mắt thứ ba phải luyện, tức là hình thức cúng Tứ Thời, đó là luyện Tinh- Khí- Thần; mà trước nhứt là luyện Thiên-Nhãn (như các nhà thôi miên vậy). Nhờ cúng Tứ Thời thường nhựt nên được phát huệ đó là cách thức luyện đơn của các Tiên gia qua hình ảnh trên đây của người Đạo Cao-Đài:

Ý nghĩa việc luyện: chữ Minh 明 ở đây nghĩa là nhựt nguyệt hiệp lại mới có sự sáng, gọi là “nhựt nguyệt hiệp đồng minh”. Nhựt nguyệt chính là tâm và thận ở nơi ta, tâm là Ly ☲ người tu tiên gọi là “hống”, thận là Khảm ☵ gọi là “diên”.Khảm -Ly cũng là “huyền tẩn tổng trì môn”,nếu hai thể được dung hòa ký hợp thì trí huệ tự khai.

Con người khi Khảm (thận) và Ly (tâm) giao hòa thì sống, phân tán thì chết “Khảm Ly giao tắc sanh, phân tắc tử”. Còn “huyền tẩn” ở đây là âm dương, nhựt nguyệt có hợp mới được sáng “đắc kỳ minh”. Muốn minh phải dùng phép tụ quang khai Thiên nhãn. Đấy là phương pháp Cúng kiếng hằng ngày qua Tứ thời nhựt tụng, mà ngày nay Đạo Cao Đài đã áp dụng đó là một pháp tu Tiên:

“Phép Tiên Đạo tu chơn dưởng tánh”

Khi hai con mắt duy nhất chú vào một điểm Thần quang (Thiên Nhãn Thầy) thì chơn khí không còn phóng tán. Khi Thần được yên thì vọng thức khó sanh. Phép tụ quang là bước đầu của cơ sở để hồi quang phản chiếu vào trung huỳnh đặt nhãn tạng vào đấy thì hai khí: tâm thận triều viên, Khảm Ly giao hội, thủy hỏa ký tế, long hổ qui triều. Khi mà nhật nguyệt hiệp thành Minh thì khí Trung hòa huân kết thành Đơn (đan). Đơn ở đây là thể hỗn nhất hồn dung không còn thấy được hình dáng của nhật nguyệt, đó là minh đức, minh linh, đạt đắc diệu lý vậy..

Chữ Minh   ở đây là một bí quyết tối thượng, là chìa khóa mầu nhiệm mở cửa bí mật cho nguyên căn, sớm đặng nhập Thánh siêu phàm, tạo Tiên tác Phật. Muốn được trường sanh, muốn thoát khỏi luân hồi sanh tử, đoạn dứt vòng xiềng xích nhân duyên, cần phải tìm lại nguồn đầu, nguyên căn sinh ra trời đất vạn vật, nhận lại bản lai diện mục của chính mình, nghĩa là tìm ra manh mối và phăn dần về nguồn cội nguyên sơ để bảo toàn tánh mạng. Nguyên sơ là lúc chưa có trời đất, vũ trụ này chỉ là một khí hư không, ngưng kết thành một khối hồn nhiên, cực huyền, cực diệu. Khí ấy trong vô cực hiện ra Thái cực. Kinh rằng “Đại La Thiên  đế. Thái Cực Thánh Hoàng”

   Trong nền Đại-Đạo, Sự cúng kính đặt hàng đầu  tức nhiên hướng tinh-thần theo Thể-pháp của Thiên Đạo.

 

 

25- NIỆM  念

Niệm là nhớ, tưởng đến. Niệm  họp bởi chữ nhơn 人 và kế đến là nhị 二 sau cùng là bộ tâm 心 tức nhiên là bạn đồng sanh với nhau lòng ta luôn nghĩ đến gọi là niệm, nghĩa là thường nhắc nhớ hay tưởng nghĩ đến.

Về vấn đề tâm linh, tâm ta luôn gởi đến một Đấng

cao cả đó là cha mẹ thiêng-liêng là Trời đất,  bởi hai đấng này có đủ sức hộ trì ta, ban phước và tha tội cho ta, nên khi gặp điều khó-khăn ta nhớ ngay đến Đấng ấy, đó là sự cầu-nguyện hoặc là “niệm danh Thầy”.Câu niệm là:

“Nam-Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát”

Thánh-ngôn Thầy dạy (TNII/107)

              Thầy………………  ….  .1

Thành tâm niệm Phật……………2

Tịnh, Tịnh, Tịnh, Tịnh, tịnh,……3

Tịnh là vô nhất vật………………4

Thành tâm hành Đạo……………5

Một bài Cơ chính Thầy giáng dạy chỉ có năm câu thật đơn-giản. Ấy là một bài cơ ngắn nhứt trong các bài.

A-Giải-nghĩa:

           Câu 1 là Thầy tức là Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế hay là Đại-Từ-Phụ (ngôi Thái cực).

Câu 2: Người tu thường phải niệm Phật một cách chân thành, để không bị phân tâm, cho khỏi vọng niệm. Tức là tạo một sự cảm-ứng với Đấng Huyền-linh. “Thành tâm niệm Phật” ngày nay là niệm danh Thầy: một là để được giải thoát. Hai là những tội lỗi tiền khiên đều được bôi xóa.

           Câu 3– Năm chữ “Tịnh” cho thấy phương tu cần phải “bế ngũ-quan” tức là quên đi những việc phồn-tạp, mà năm giác-quan trong người lúc thanh-tịnh nó hay phóng túng, phải có cách giữ nó lại. Muốn tu sửa thì nên nhớ, người đạo-đức phải biết:

– Mắt (là cơ-quan thị-giác) người tu không nên thấy những gì không cần phải thấy (chánh kiến)

– Lưỡi (là cơ-quan vị-giác) không ham món ngon vật lạ, nói điều lành để tránh khẩu-nghiệp (chánh ngữ)

– Tai (cơ-quan thính-giác) không nghe những gì người đạo-đức không cần phải nghe (chánh định).

 Mũi (cơ-quan khứu-giác) không đòi hỏi những mùi hương lạ (chánh tinh-tấn).

 Tay (cơ-quan xúc-giác) làm việc chân chính, nhất là nên tránh các nghiệp sát (chánh nghiệp).

Trong Bát-chánh-Đạo người tu-hành nên gát bỏ những gì có thể làm cho mất thì-giờ, đồng thời tập thói quen tốt, mục-đích hướng tới điều: chân- thiện- mỹ.

 Câu 4: giữ sự thanh-tịnh đến mức độ cao, giống như mặt nước phẳng không sóng gợn, thì cõi lòng không xao xuyến, bấy giờ trí-huệ mới sáng suốt và thông-công được các cõi vô hình, đó là sự cảm-ứng với huyền linh. Dầu một Tôn-giáo nào hay một bậc chân tu nào, vẫn lấy tâm thanh-tịnh làm đầu mối cho việc tu-hành.

           Câu 5: khi đã thấu-hiểu được chơn-truyền đạo pháp phải đem ra để truyền-bá cho mọi người cùng thực-hành hầu đốt giai-đoạn thời-gian, thâu ngắn con đường đến Tây phương hơn. Có làm được như vậy là đã thực-hiện được ngũ-nguyện rồi:

 

B- Nghiệm về lý: con đường tu của Đạo Cao-Đài.

Xét câu Ngũ nguyện

           -“Nam-mô Nhứt nguyện Đại-Đạo hoằng-khai tức nhiên người Tín-hữu Cao-Đài phải làm sao cho mối Đạo ngày càng phát-triển, bành trướng mạnh-mẽ thêm. Có câu “Nhơn năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân”. Sự hoằng dương chánh-pháp là làm cho mọi người biết tu hành là để cùng hướng thiện và hướng thượng. Làm cho nhơn-sanh bớt khổ cùng sống vui trong  đời giả tạm này.

“Nhì nguyện Phổ-độ chúng sanh”: Lời tâm nguyện của người tu là muốn cho chúng sanh bớt điều nghiệt chướng, cầu mong cho nhân-loại giảm bớt đau thương vì chiến-tranh tàn-khốc. Sự đau thương chất cao như núi, nước mắt chúng-sanh nếu góp lại nhiều hơn bốn biển. Lời Phật Thích-Ca than như vậy. Ngày nay nhân-loại quá đau thương, xin cùng nhau nối tình thương lớn. Nguyện thế giới sớm hiểu Đạo Trời để được sự cứu rỗi.

          “Tam nguyện xá tội Đệ-tử lời cầu: xin Thiêng liêng xoá bỏ tội-tình kiếp trước hoặc do vô minh mà đã gây ra, hiện tại không gieo thêm nữa để khỏi gặt hái đau thương; đồng thời chính mình cũng bỏ lỗi của người khác, tức là quên đi những thù hận, ích-kỷ, nhỏ-nhen, cuộc đời ngắn ngủi này có nghĩa gì đâu!

“Tứ nguyện thiên-hạ Thái-bình”. Nếu thiên-hạ được thái-bình là toàn cầu được thái bình, nhà nhà đều hạnh-phúc, thay súng đồng, gươm máy bằng phi đạn tình thương để không còn thấy cảnh nhà tan, cửa nát, chết-chóc hằng ngày nữa. Máu và nước mắt chúng sanh thôi chảy.

Ngũ nguyện Thánh-thất an-ninh Thánh-thất đây chính là cõi lòng của mỗi người được bình-an, vui-vẻ Thể hiện trong cảnh sum-họp gia đình, loáng ra xã hội, thế giới đều được hạnh phúc trong cuộc đời tạm này.            Có giữ được cõi lòng thanh tịnh như thế ấy tức là giữ được Ngũ-giới cấm vậy. Thế nên sự tu hành bất cứ hình-thức nào hay tùng theo một Tôn giáo nào, bậc nào cũng phải có sự xét mình nghiêm túc như vậy. Chắc chắn không còn mật pháp nào hay hơn, vì đó là căn-bản của người tu. Quan-trọng nhứt là câu nguyện thứ năm, vì nó đã đi vào cõi lòng của người rồi. Một khi khí tịnh, thần an thì không còn nghĩ đến sự xung-đột nào cả, người người đều nắm chữ “nhàn” trong tay thì lo  chi thế giới không  hòa bình,

nhân sanh không an-lạc?

Sự tu-hành có giá-trị ở sự Xét mình vậy.

            Thầy dạy: “Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phân-sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương-tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương-tâm chưa đặng yên-tịnh, thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu-ý đến sự sửa mình ấy, thì lấy làm may-mắn cho nền Đạo; rồi các con sẽ đặng thong-dong mà treo gương cho kẻ khác. Các con thương mến nhau, dìu-dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó”.   (TNI/97)

Con người có 5 giác-quan: đó là ngũ quan hữu tướng. Phải có tư-tưởng tốt, hay là ý-tưởng mới có thể dùng nó mà Xét mình được; chính đây là lục quan vô hình, còn gọi là giác-quan thứ sáu.

Đức Hộ-Pháp cũng dạy rồi: “Hôm nay là ngày mở cửa thiêng-liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên-nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình, hai món Bí pháp ấy là:

          1/- Long-tu-phiến của Đức Cao Thượng-Phẩm

          2/- Kim Tiên của Bần-Đạo, hiệp với ba vòng vô vi tức nhiên diệu quang Tam giáo hay là hình trạng của càn khôn vũ-trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ-quang-khiếu của chúng ta đó vậy. Con người có ngũ-quan hữu tướng và lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim-Tiên ấy mới có đủ quyền-hành mở lục-quan của mình đặng”

         Mà Kim-Tiên là gì? Là tượng hình ảnh của điển lực điều-khiển càn-khôn vũ-trụ, mà chính đó là điển-lực, tức nhiên là sanh-lực của vạn-vật đó vậy. Với nó mới có thể mở đệ bát khiếu- Trong thân con người có thất khiếu và còn có một khiếu vô hình  là Huệ-quang-khiếu – Vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được”.

Nói rõ ra cây Kim Tiên tức là cây roi Tiên có chín khúc (cửu khúc Kim Tiên). Số 9 đây là nói đến Bát-Quái Tiên-Thiên. Có 4 lần con số 9. Mà 4×9=36 tượng trưng 36 cõi Thiên-tào.

Thêm cây quạt của Đức Cao Thượng-Phẩm tức là Long-Tu-phiến, nghĩa là cây quạt được kết bằng 36 lông cò trắng. Con số 36 này là kết quả của thành số vừa nêu trên, cũng là ý-nghĩa của hai quẻ Càn Khôn vậy.

Đây là hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷ Nhìn vào số nét trong mỗi quẻ ta thấy quẻ Càn có 3 vạch, quẻ Khôn có 6 vạch. Như thế thì số 36 là nói đến hai quẻ Càn Khôn nằm trong Bát-Quái Tiên-thiên, chính Bát-Quái này là cánh cửa để đi vào Đạo-pháp.

Tóm lại muốn “rõ thấu lý sâu” phải thấu hiểu Bát Quái một cách tinh-tường.

C- Phân-tích chữ “Tịnh” qua 4 chiều không-gian:

Tịnh  là đối với động, là sự yên-lặng hoàn toàn, không nhiễm, không luyến bất cứ vật gì của đời, đại-khái như danh- lợi- tình; những thứ mà làm cho người đời say đắm: Vì ăn nên phải bị đọa, vì dâm nên phải bị đày, người đời cũng vì những thứ vật dục ấy khiến cho cõi lòng dấy động, nếu không biết giữ mình thì nó buông lung như ngựa không cương. Thử phân-tích qua bốn chiều không gian để thấy sự mầu-nhiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Khởi đầu là TINH  về mặt văn-pháp, Tinh có nghĩa là sự sống, khi sự sống có thì nó cùng đến, nói khác đi nó có mặt ngay khi sự sống bắt đầu; đó là TINH KHÍ.

Gốc chữ Tinh vốn là trạch mễ 擇 米 tức là lựa gạo

(chữ Tinh thuộc bộ mễ 米 mễ là gạo).Tinh còn có nghĩa là

lựa gạo để lấy những phần thuần khiết, cho nên mới có bộ mễ, nói rõ hơn Tinh là phần gạo ngon nhất, sạch nhất, sau khi đã chọn lựa kỹ. Ngoài ra còn đọc là thanh  tức là màu xanh, đó là màu bất biến. Sách Nội-kinh nói Tinh là phần khí-chất được sạch nhất, ròng nhất, trong thủy-cốc nó đóng vai trò quan-trọng trong quá trình tạo thành chân-khí, nguyên-khí và huyết-khí. Riêng con người, chữ Tinh mang một nội-dung cao hơn nữa, đó là Tinh của thiên địa. Bởi Tinh là cái“thiên chi nhứt, địa chi lục” 天之一地 之六

Thiên lấy nhứt sinh ra thủy, địa lấy lục thành thủy “Thiên nhứt sanh thủy, địa lục thành chi 天一生水地六 成之. Đây là quá-trình sinh thành của Ngũ-hành sớm nhất, vì vậy vạn-vật lúc mới sanh đều đến từ thủy. Ví như hạt của một trái cây lúc chưa chín đều có tính thủy (nước).

Một cái thai, một cái trứng, lúc chưa thành đều là thủy. Phàm con người có sự sống, cho đến côn-trùng, thảo-mộc, không loài nào không như thế.

Kinh Dịch nói: Nam nữ cấu tinh thì vạn vật mới hóa-sinh. Y-học cũng xác định: thường sinh ra trước thân (hữu hình) gọi là Tinh “Thường tiên thân sinh thị vị Tinh” 嘗先身生是胃精 Tinh còn mang một ý-nghĩa rất quan trọng trong  việc giao-hợp giữa âm dương, giữa huyết khí,

giữa trai gái, mà kinh Dịch đã đề cập đến.

Phàm con đường sinh thành của vạn-vật không có con đường nào không do sự giao nhau của âm dương để rồi Thần được minh vậy. Cho nên cuộc sống của con người ắt phải do sự hợp khí của âm dương. Tinh của cha mẹ đã cấu hợp nhau tức là dịch đã nói “Lưỡng tinh tương bác”兩 精相剝. Sau đó thì hình thể và thần khí mới thành. Nơi hợp khí của thiên địa gọi là nhân.

Hai tinh khí 精氣 của thiên địa, của trai gái, của Tiên-thiên, Hậu-thiên luôn giao nhau, đánh nhau đúng theo nhịp biến-hóa của khí Thái cực thì cuộc sống của con người sẽ có Thần . Vậy Thần là kết-quả hiển-nhiên của quá-trình khí hóa liên tục, tuần-huờn giữa lưỡng tinh trong thân-thể con người. Vậy Tinh và Thần là kết-quả kỳ-diệu của sự vận-hành khí-hóa trong thân thể người. Sự vận hành này phải theo những chiều vãng lai, nghịch thuận tạo thành vòng âm dương. Tinh là âm, Thần là dương vậy.           Đó là hiện thân của người mang đầy bản tính của trời đất.

           “Con người đứng phẩm tối linh,

           “ Nửa người, nửa Phật nơi mình anh-nhi”

Nhìn qua hình vẽ trên, thấy sự biến đổi của chữ Tinh, nó ở vào Thái-cực, là tâm, là nguồn khởi đoan của con người và vạn-vật. Sự cấu-tạo tế-bào tinh-trùng của người cũng như vạn-vật có phần giống nhau: nghĩa là tế bào họp bởi 1 nguyên-tử Dương và 9 nguyên-tử Âm. Thế nên cái sống hữu-vi này các nhu-cầu cần-yếu giữa người và vật đều giống nhau, từ cái đói ăn khát uống, cho đến sự truyền giống nữa. Nhưng người khác hơn vật và được gọi là người là nhờ có đạo-đức điều-khiển cho mọi hành-động. Có được vậy mới xứng đáng là “tối linh” vậy.

Thế nên ngày Vọng Thiên cầu Đạo, Đức Chí-Tôn dạy ba vị mỗi người cầm 9 cây nhang khấn vái, xin Đạo là tượng cái TINH của con người đó vậy.

          *Tính 性 là người đạo-đức phải biết tập sửa Tính  tốt, nó phải hướng thượng và hướng thiện, bởi dấu sắc là biểu hiệu sự đi lên: Tinh sắc Tính.

Sự kết cấu chữ Nho gọi là “Tính tự tâm sanh” 性自心生 (đây là lối chiết tự: tức nhiên chữ Tính  do bộ tâm họp với chữ sinh  Cũng là ý-nghĩa rằng bổn nguyên: Tính của người do tâm mà sinh ra.

*Chữ Tình  thì nằm ngang; ai cũng có tình cảm, tuy nhiên người có đến thất tình, người tu phải biết chuyển-hóa cho thất tình trở thành thất khiếu sanh quang (chữ tình 情cũng do lối chiết tự, tức nhiên do bộ tâm 忄họp với chữ tinh 青, còn đọc là thanh, nghĩa là phải có một thứ tình cao-thượng).

Chữ Tình cốt ở chữ Tính mà ra. Nhưng Tính thời tịch-nhiên bất động thuộc về phần thể. Tính là nguyên-lý sở-dĩ sinh ra người, cái bản nguyên về tinh-thần của người, bản chất của người hoặc vật. Tình thời cảm nhi toại thông thuộc về phần dụng, nên Tính thời khó thấy mà Tình thì có thể thấy được. Tình thiên địa cốt ở nơi vạn-vật sinh ra, mà tình vạn-vật cốt ở nơi ứng với thiên địa. Tỷ như gặp Xuân Hạ thì vật gì cũng sinh trưởng, gặp Thu Đông thì vật gì cũng ẩn tàng: Đó chính là tình cảm-ứng của thiên địa vạn-vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình của Thánh-nhân, nên không cần nói Thánh nhân chi tình 聖人之情 Vì Thánh nhân với thiên-hạ cũng như thiên địa với vạn-vật. Duy người có thấm nhuần triết-học thì mới nhận ra được. Tình có đến 7 mối ràng buộc lấy người từ khi mới lọt lòng mẹ nên gọi là thất tình.

Nhưng thật ra Tình cũng xuất hiện cùng lúc với “Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi” nữa kìa. Vì khi một chơn-hồn đến thế này dù được tự-do lựa chọn trong cái nhân duyên hay cưỡng bức vì oan-nghiệt đi nữa, cũng được cấu-hợp bởi thất tình do chơn-thần sản-xuất.

Phật-Mẫu tạo Chơn-thần này cũng như cho mặc vào 7 lớp áo để đến thế-gian. Sự cấu-tạo con người quan trọng là bởi Chơn-thần.

Chơn thần là đệ nhị xác thân tạo hình bằng nguơn khí của bảy từng thiên. Bỏ Tạo-Hóa-Thiên là từng thứ chín, linh hồn đến từng thứ 8 trụ thần quyết định đến thế gian nầy làm việc gì, kể từ từng thứ 7 mới tạo xác thân. Ta chia 7 từng làm 7 phách, Ðạo Giáo nói là 7 cái thi hài hữu tướng, 6 cái thuộc về khí chất, cái thứ 7 là xác thú nầy đây. Bảy từng có liên quan lạ lùng với thất tình 七 情

 

 

 

 

– Từng thứ 7, 6, 5 là ba tình:  Ái, Hỉ, Lạc  愛 喜 樂

– Từng thứ tư là Dục  欲

– Từng thứ ba là  Ai  哀

– Từng thứ nhì là Ố  惡

– Từng thứ nhứt là Nộ 怒

Tới từng chót, thì xác thịt là hiện tượng của Nộ giác. Ấy vậy, Bần-Ðạo chỉ rõ rằng ba tánh đức Trung- Hiếu- Nghĩa do ở tình ÁI phát hiện đó là cái tình độc nhứt có liên quan mật thiết với Chơn linh. Ta thấy con nít sơ sanh, thi hài chưa biết vi chủ, nó chỉ sống với Chơn-linh mà thôi. Khởi đoan nó chỉ biết Thương mến những kẻ gần gũi như cha mẹ; còn Chơn thần để gìn-giữ nó, cho nó biết tìm cái sống, bảo-tồn sanh mạng. Thật ra theo Ðạo pháp con nít từ 12 tuổi mới bị chịu ảnh hưởng của xác thịt, còn dưới 12 tuổi xác thịt chưa có quyền. “Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng ?”.

Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại”.

Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

           Bảy từng thiên có liên-quan với thất tình.       

*Bắt đầu từng thứ 7 thì kết vào tình HỈ (mừng)           *Qua từng 6 thì kết vào tình ÁI (yêu thương).

*Từng thứ 5 kết vào tình LẠC (vui).

Đó là ba thứ tình-cảm tốt  HỈ- ÁI- LẠC được duy trì cho thêm cao-thượng hợp đức của người tu.

*Qua từng 4 kết thêm tình DỤC (muốn).

Chính tình này nguy-hiểm nhứt, nó xây chuyển và quyết định sự đọa thăng của cuộc đời, bởi nó có thể dục lên hoặc dục xuống. Nếu hướng thượng thì gấm ghé ngôi Tiên

phẩm Phật, hướng hạ thì con đường đọa đày, thoái-chuyển

*Còn lại ba tình AI, Ố, NỘ thì lần-lượt xuất hiện ở

từng thứ 3, 2 và 1.

Chính từng nộ-giác là xác hài này đây, cho nên người đời rất dễ giận-hờn. Còn ba tình-cảm cao-thượng lại lẫn khuất vào trong, vậy người tu là phải biết bỏ giả tầm chơn, khổ công luyện tập sửa đổi tánh tình hằng ngày là vậy. Ở nơi người, đạo nhân-luân là trọng, nếu không biết tự-trọng thì nhân-quả buộc ràng khó tránh khỏi. Chính 7 dây oan-nghiệt buộc ràng mà nhiều chơn-linh bị đọa chưa bao giờ thoát qua được cửa luân-hồi sanh tử. Chữ Tình lắm trái-ngang và nhiều rắc-rối, một chơn-hồn muốn được nhẹ-nhàng siêu-thoát thì phải biết Tĩnh tâm, tịnh thần mới mong nhập vào đại ngã.

          *Tĩnh 靖 cũng là Tịnh 靖 vậy. Tịnh là sự yên-lặng hoàn-toàn. Qua bốn chiều không-gian thì chữ Tịnh  ở dưới cùng như nước lắng đọng trong lòng giếng. Nhưng nếu được “giếng Nhân-nghĩa” thì hạnh-phúc cho cuộc đời, bằng trái lại gặp giếng cạn hoặc đục cũng không ơn ích gì!

Bà Đòan-thị-Điểm có dạy phương tu trong Nữ Trung tùng phận (Câu 1249-1252) rằng:

Bế ngũ-quan không kiên tục tánh.

Diệt lục trần xa lánh phàm tâm.

 Mệnh Thiên giữ vững tay cầm,

Đọat phương tự diệt giải phần hữu sinh”

Chữ “Phi” tượng Thất tình

 

 

Chữ 非 có nghĩa là không (0). Nếu chia làm hai phần bằng nhau, thì mỗi bên có 3 điểm: xem như âm dương, cao hạ, tức nhiên 3 tình: Hỉ- Ái- Lạc là ba thứ tình hướng thượng (dương) được đề cao, ba tình Ai- Ố- Nộ là ba tình hướng hạ (âm) cần phải sửa đổi. Duy tình Dục này đứng ở giữa, nghĩa là nếu biết đạo-đức thì nó dục lên, thiếu đạo-đức nó dục làm điều quấy. Vậy người tu là biết xét mình để “sửa lòng trong sạch”.Nếu dưới chữ phi có chữ tâm thành ra chữ Bi  là buồn, gọi là phi tâm. Tất nhiên người được gọi là phi tâm là một Đấng cao cả như Phật Quan-Âm gọi là Đấng Đại-từ, đại-bi, tức nhiên Bà là vị Phật có lòng quảng-đại, Bà buồn trước nỗi buồn của chúng sanh, Bà cứu khổ cứu nạn trước khi chúng sanh kêu cứu, còn chúng sanh Bi là chỉ biết riêng đau khổ thôi.

Ngày nay Bà là một Đấng được Đức Chí Tôn chọn làm Nhị Trấn trong Tam trấn Oai nghiêm để nêu cao đức: BI- TRÍ-DŨNG hầu đem lại thái-bình cho nhân-loại.

               D- Nghiệm về SỐ:

Các câu trên có các số chữ ứng vào các con số thật là huyền-diệu. Thử giải lý một vài con số tượng-trưng: Cả thảy có 5 câu ứng với Ngũ-hành.

Câu 1: có 1 chữ Thầy” ứng với ngôi Thái-cực

*4 câu sau ứng vào Tứ-tượng.

Câu 2 có 4 chữ, câu 3 có 5 chữ, ấy cũng là phương tu của Đạo Cao-Đài, Tân-luật đã qui định về đạo nhơn luân:

Nữ thì Tứ đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) với Tam tùng là tùng phu, tùng phụ, tùng tử.

Nam phải giữ Tam cang Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) là nguồn cội Đạo.

 Câu 4 có 5 chữ, câu 5 có 4 chữ ấy là về  Đạo-pháp là:

-Hễ nhập môn rồi phải trau-giồi tánh hạnh, cần giữ

Ngũ giới cấm và Tứ đại điều-qui.

Tóm lại: Nếu so-sánh với các lời dạy trên thì:

Câu 1  có 1 chữ, ứng ngôi Thái-cực.

Câu 2 (4chữ) là gái gìn     Tứ đức (tứ Âm)

Câu 3 (5chữ) là Nam giữ  Ngũ thường                                        (thuộc Ngũ hành âm)

Câu 4 (5chữ) là tu-hành thì giữ Ngũ giới-cấm.

(Ngũ hành dương)

Câu 5 (4chữ) phải biết tôn-trọng Tứ đại điều-qui

(Tứ dương)

Những con số ứng hiệp trên tạo thành một Bát quái Đồ Thiên, đồng thời còn ngụ cả một nguồn Giáo-lý cao siêu của nền Đại-Đạo.

Tại sao có lời dạy nghiêm-mật ấy?

Bởi “Đạo Thầy là nền Đại-Đạo do chính Thầy đến lập là Đấng Chí-Tôn Ngọc-Hòang Thượng-Đế, tá danh  Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát. Ngài đến giáo Đạo tại Nam-phương, xưng mình là Thầy, kêu cả tòan Môn-đệ là con cái của Ngài”.

Thầy dạy: “Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe!. Các con phải giữ phận làm vừa ý Thầy muốn. Ngày sau sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy

              E- Lý Dịch trong lời dạy:

Trước nhất thấy rằng đây là một bài Cơ của Đức Chí-Tôn giáng dạy ngắn nhứt, giản-dị nhứt và cũng sâu sắc nhứt. Câu “giản-dị nhi đắc thiên lý” đúng vào trường hợp này vậy.

Nếu đếm số chữ thì chỉ có 5 câu ứng với Ngũ hành.

Câu đầu chỉ có một chữ “Thầy”, số 1 đó là ngôi

Thái-cực Thánh Hoàng, vi-chủ là Thầy, là Thượng-Đế. Vì:

Thầy là Chúa cả càn-khôn thế-giới, tức là chúa tể

sự vô-vi, nghĩa là chủ-quyền của Đạo, mà hễ chủ-quyền

của Đạo nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy.”

Câu 2 và 3 hiệp lại bằng (4+5)=9. Cũng như câu 4 và 5 hiệp lại (5+4)=9. Tức hai con số 9 (99) gọi là “cửu cửu”.

Sấm ký Đức Trạng-Trình

Cửu Cửu Càn-Khôn dĩ định.

Thanh-minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo Dương đầu Mã vỹ,

Hồ binh bát vạn nhập Tràng-an.

Có nghĩa rằng: Trời đất định rằng chín lần 9 là 81, vào Tiết Thánh-minh sức Dịch đã gần như phai tàn. Đến dầu năm Dê (dương đầu) và cuối năm ngựa (mã vĩ) 1954 có tám vạn binh của cụ Hồ tiến vào kinh đô chấm dứt ách nạn Việt Nam phải chịu 81 năm nô lệ của thực dân Pháp

Tất nhiên con số 9 có một giá-trị nhiệm mầu trong lý Dịch, phi thời-gian. Nay là buổi cuối Hạ-nguơn Tam chuyển sắp bước vào Thượng-nguơn Tứ chuyển, Đức Chí Tôn mở Đạo đồng thời “bày tất cả bửu-pháp” để chuẩn bị cho mùa hoa Đạo nở. Đó là định-luật: Hoa bên ngoài tàn rụng đi để cho Hoa Đạo nở kết thành khối yêu thương lớn.

Lại nữa, về lý Dịch thì khi các quẻ kép đặt theo chiều xuyên tâm đối có tổng-số là 99.

Ví dụ Bát-Thuần Kiền là 11 hiệp với Bát-Thuần Khôn 88 sẽ có tổng số là 99. Tương-tự như vậy có đến 32 cặp âm dương đều có tổng-số là 99 như thế (sẽ bàn sau). Về đất nước thì Đảo Phú-Quốc có 99 hòn tất cả, Tây ninh – Sài-gòn cách 99 km, có phải là sự ngẫu nhiên chăng?

           4 câu sau  gọi là Tứ-tượng, nhưng hiệp lại chỉ còn hai vế ứng với Lưỡng-nghi,  từ đó mới trở về Thái-cực là 1 chữ (Thầy).

 

 

26- NGỌC 玉

NGỌC玉 là dạng chữ VƯƠNG 王 nhưng có thêm một chấm ở phần dưới, nếu nét chấm ấy đem đặt lên trên đầu của chữ, sẽ thành ra chữ CHỦ 主 (chúa), họăc cho nó biến đi tức là hòa nhập vào bên trong thì thành ra chữ VƯƠNG.

Thế nên khi nói Ngọc  là chỉ chung vàng bạc, ngọc ngà, đá quí, là của cải quí báu ở trong đời.

Thầy hỏi: – Của cải ấy gồm những gì?

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường. Hồng là một chất màu; Còn Lục là chất do loài vật cấu thành ra. Các  con xem của ấy là quí giá thật sự sao?

Xét từ nơi sản xuất ấy, đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cữu. Của quí ấy không ai cướp đặng cả.

Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu  nhờ nơi sự gian trá.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách.

(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm phẩm tước của cải và danh vọng của Trời?).

– Thấy trả lời: “TU”.

– Tu là chi ?

Thánh ngôn dạy rằng:“Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng-liêng”.

Tu để đến được với Trời, là Đức “Ngọc Hoàng giáng thế Giáo Đạo Nam phương” Ngài đã đến  nói:

                                

 

THI

Ngọc  ẩn Thạch kỳ ngọc tự cao

Hoàng  Thiên bất phụ chí anh hào

Giáng  ban phúc hạnh nhơn đồng lạc

Thế  tạo lương phương thế cộng giao

Giáo  hóa nhơn sanh cầu triết lý.

Đạo  truyền thiên hạ ái đồng bào.

Nam  nhơn tỉnh cảm sanh cao khí

Phương  tiện tu tâm kế diệt lao.

Ngài xưng vừa là Thầy mà cũng vừa là Cha của nhân loại:

Đêm 17-12-1925: một Đàn Cơ do ba ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, cầu:

“Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Muốn TA truyền Đạo, kể từ bây giờ phải gọi TA bằng THẦY  và TA gọi lại là các con, nên mới có câu “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Ngày 9 tháng giêng năm Giáp Thân (dl: 2-2-1944):

Thầy nói: “Kỳ nầy là chót, Thầy lập nơi đây một Trường thi công quả và cho các Đấng khảo đủ phương diện. Thầy đau đớn thấy các con còn đặt mình chung cùng danh lợi. Đây cũng đến kỳ Tận Thế, đổi cựu thay tân, tuyển bực đại hiền cứu thế. Các con cũng còn nhớ những lời Thầy dạy lúc mới lập Đạo, Thầy tưởng cũng nên lập lại một lần chót cho các con nhớ: “Thầy là các con, các con là Thầy. Chư Phật, Thánh, Tiên cũng là các con, các con là Phật, Thánh, Tiên  tại thế”.  Vậy các con hiểu Đạo thì các con tập tánh sao cho ra vẻ, cho đúng in như các Đấng vậy. Thầy đã cho các con biết trước: “Thầy cho các con đắc Đạo tại thế”. Nay muốn tầm lên cao thì phải lập công cho cao, chí cho bền, đi cho vững, leo núi chớ than mệt, thuyền ra khơi đừng lo biển rộng, dầu sóng gió thế nào cũng vẫn tươi cười đặng lướt qua  khỏi bể. Nghe cùng tuân lời các Đấng dạy răn.Thầy khuyên các con đừng sanh nạnh cùng nhau, co đầu cứng cổ, e phải bị tội  lỗi  đa nghe!.” Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

Thầy đến độ kẻ vô Đạo:

Đàn Cơ ngày 23-11-Bính Dần (Thứ hai 27-12-1926)

“Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới, mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày Tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ vương sắp đến. Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo Thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, Thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày Tận Thế đã đến. Thầy đã tạo Thánh giáo trọn đủ Pháp luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô đạo chớ không phải sửa đạo.  Con hiểu à !”  (ĐS. II. 123 -125)

 

 

27- NGHĨA 義

            Phân tích chữ Nghĩa   thấy có hai phần:

Phần trên là chữ Dương 羊 là con dê, phần dưới là chữ ngã 我 là ta (c’est-à-moi). Dê là một trong ba con vật người xưa thường đem ra tế Thần linh, tế cả Trời đất nữa, như Đàn Nam-giao còn dấu tích, hình ảnh nơi Cung Đình Huế còn đó. Ba con vật đem tế sống như vậy gọi là Tam sanh: Trâu, Dê, Heo. Mỗi một vật này nó phải chịu hy sinh mạng sống thay cho giống loại của nó mà cúng tế, đó là

một việc làm có ân nghĩa vậy: tức là tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Thế nên khi hai chữ này đặt lên nhau thành ra chữ NGHĨA 義 là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự.  Đức Hộ-Pháp nói:

Tại sao ta có Nghĩa? Tại sao Nghĩa lại hiện tướng trên tánh đức của một chơn-linh cao trọng?

Nơi cõi Hư-linh mỗi người có một gia-tộc, một đại nghiệp, Anh em đông biết bao nhiêu. Bần-Ðạo xin nhắc lại câu nầy cho toàn cả hiểu điều yếu trọng: Chẳng phải vì sự tình cờ mà chúng ta được chung đứng trong lòng của Ðức Chí-Tôn ngày nay đây. Biết đâu trong 24 chuyến thuyền Bát-Nhã chở các Nguyên-nhân hạ trần đặng làm bạn và độ rỗi các Hóa nhân và Quỉ-nhân, lại không có chúng ta ngồi chung trong đó. Ðã từng chia đau sớt khổ cùng nhau chẳng những trong thế giới nầy mà trong các thế giới khác nữa. Ðã từng chung sống cùng nhau, cái thâm tình vĩ đại đã nhiều. Nếu cả thảy không nhớ lời nầy của Bần-Ðạo, đến khi linh hồn xuất ngoại rồi sẽ ân hận biết bao nhiêu, mà chừng ấy đừng trách Bần-Ðạo không chỉ trước. Không thương yêu nhau cho trọn nghĩa là lỗi tại mấy người đa ! Chớ không phải tại Bần-Ðạo không nói !

Ban sơ, nơi cõi Hư linh, thọ nhứt điểm linh đến thế nầy tạo ngôi vị, làm bạn với biết bao nhiêu chơn-linh khác, dầu nguyên do của mình là Thảo mộc hay Thú cầm cũng phải có nhiều bạn, chừng nào đạt đến địa vị mới biết bạn nhiều. Người Nghĩa ta có nhiều ở mặt thế nầy, lo tìm người Nghĩa đặng tương liên cấu hiệp tâm tình trong cảnh

khổ não, truân chuyên chịu hình thử thách nầy.

 

28- NGỤC  

        Ngục 獄 là nhà giam: gồm có bộ khuyển犭là con chó, thêm phía sau là chữ khuyển 犬, ở giữa là ngôn 言  lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Người giữ ngục hầu như cũng mất tính người! Nhà tù là để trừng giới kẻ trái pháp-luật. Ngày nay quả thật nhà tù là địa ngục ở trần gian, hình như không thiếu một hành động dã man nào mà không có ! Nhà tù là nơi giam cầm kiên cố và người tù bị đối xử tệ bạc. Theo Hán Việt thông thoại, nhà tù do ông Cao-Dao đời cổ dựng ra. Vì có những chuyện vượt ngục, thoát tù, cho nên nhà tù làm kín đáo, không khe hở để không thể thoát, cho nên gọi là nhà ngục 獄.

Câu “nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại”一日在囚 千秋在外 không ai còn lạ gì ! Tức nhiên ví một ngày ở tù mà bằng ngàn năm ở ngoài vây. Chữ TÙ 囚 cũng tượng hình cho thấy người (chữ nhân 人) bị nhốt trong bốn bức tường kín thì có gì là vui sướng, thảnh thơi ?.

Cái cảnh ngồi ngục được Đức Thanh Sơn Đạo Trưởng viết trong  “Thập Thủ liên hoàn”, trích một bài:

Ðai cân đã có vẻ chi chưa ?
Hay phận tù lao kiếp sống thừa.?
Đạp đất gập ghình chôn trẻ dại,
Ngừa thời điên đảo trí già xưa.
Ngồi hang thương kẻ mang da chó,
Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.
Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa.
Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

            Nhưng ngẫm lại thì quả địa cầu 68 này chính là cái “ngục” lớn mà các chơn linh đến thế này học hỏi, ai nấy đều phải chịu giam trong cái nhục thể này, cũng gọi đây là “khám tù  nhân thế”. Vậy khi khổ thì ai cũng oán than, mà cái chết thì ai cũng sợ, tìm mọi cách để sống. Nhiều khi chính họ cũng không biết cần sống để làm gì ? Mà cũng không biết sự chết sẽ đi về đâu ? Chơi vơi và chơi vơi.

Thuyền Đạo đã chực bờ mà  sao chưa bước xuống?

Khác xa với Đời Văn-Vương lấy Thánh-đức trị dân, nơi giam cầm rất sơ-sài, như muốn cầm tù kẻ phạm pháp thì vẽ một vòng tròn bắt kẻ có tội đứng trong đó để suy nghiệm việc sai trái của mình mà tự sửa cải.

Thầy dạy, vào thời xa xưa “Nước Hạng, người Trọng-Sơn, sạch mình cho đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả; trong sạch đến đỗi của trời đất cũng không nhơ bợn, con hiểu à!  Con hiểu ý bài thi  này chăng?

“Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng-Sơn,

“Chung-qui hữu phước hạnh tao-phùng.

“Hậu lai mạt tín đa phi-thị.

“Hữu ngoại thành tâm tái vận cung”.’

Sao? Nói cho Thầy nghe.

Chư Nhu đặng tọa vị hầu Thầy.

(M…N..cắt nghĩa trái Thánh-ý).

– Không đâu con! Con có hiểu hai câu này chăng?

               “Hớn Lưu-Khoan trách dân Bồ-Tiên thị nhục,

               “Hạng Trọng-Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.”

Nghĩa là đời Hớn, người Lưu-Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi. Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia-quyến con cho chánh-đáng, phải lấy lòng trong sạch đối-đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh ngôn và cắt nghĩa Thánh-ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!” (TN II/10)

 

 

29- NGUƠN 元

Nguơn hay là Nguyên là gì?

Về mặt chữ: Nguyên  họp bởi chữ ngột 兀 là cao chót vót, thêm vào nét nhứt  ở trên để chỉ cái lý duy nhất, cao cả như nước nguồn đổ ra trăm sông, ngàn mạch, như một chủng-tử lưu truyền theo mỗi loại. Nguyên là bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên.

Theo dạng chữ thì chữ ngột 兀 giống như một cái Đài cao mà từ xưa các bậc tiền bối thường lập nơi thanh vắng và tinh-khiết để cầu Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nét nhứt ở trên chỉ sự chí diệu, chí linh, tối đại, tối cao, duy tinh, duy nhất. Nói rộng ra Nguyên bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên do đức háo-sanh của Đấng Tạo-đoan để mỗi loại được cái sống lưu truyền với cái giác, cái linh huyền nhiệm mà lưu tồn. Nguyên tượng cho mùa xuân, ở người là đức Nhân.

Có thể nói nguyên  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 儿

Tương tự thì chữ Nhân  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân

Chữ Thiên   cũng gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 人

Ý nghĩa chữ Nguơn

Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo

Nho giáo của  Trần Trọng Kim  thì một  nguơn là 12 Hội,

một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm.

         Đức Hộ-Pháp nói: “Mỗi chặn đường tiến-hóa được gọi là nguơn: Có Thượng-nguơn, Trung-nguơn rồi Hạ nguơn. Hạ nguơn rồi trở lại Thượng-nguơn nữa, vậy là một vòng tròn không lối thoát ? Nhìn qua là một cuộc luân-hồi tưởng chừng theo một vòng tròn, nhưng đúng ra là theo đường trôn ốc; như vậy mới gọi là tiến-hóa hay là dục tấn. Nhơn-loại hiện nay đang sống vào thời Hạ-nguơn Tam chuyển và đang tiến lần vào Thượng-nguơn Tứ chuyển: Mỗi chuyển của điạ-cầu là một bước tăng tiến. Mỗi chuyển có 36.000 năm, chia làm ba nguơn; mỗi nguơn có 12.000 năm. Chiếu theo pháp Phật mỗi chuyển như vậy  tính  từ:

– Thượng-nguơn, còn gọi là khai nguơn thì thuộc quyền của Phật,

– Trung-nguơn, thuộc quyền Tiên,

– Hạ-nguơn,  thuộc quyền Thánh.

 Nhận-định bí-pháp thiêng-liêng của Chí-Tôn, nhỏ có người dạy, lớn học hành lập thân danh, thành nhơn rồi tự trị lấy mình.

– Phật thì dạy. – Tiên đào luyện  – Thánh thì trị.

Hạ-nguơn thuộc Thánh, nhơn-sanh tranh-đấu cho sự sống còn, ấy nguơn tranh-đấu mà triết-lý cốt là trị, được sản xuất cơ-quan bảo-tồn cho loài người. Nay, Hạ-nguơn Tam chuyển hầu mãn, khởi Thượng nguơn Tứ chuyển, địa-cầu chúng ta lạc-hậu quá nhiều. Đã ba ngàn năm xa xuôi, đã thua Thủy-đức, Kim-đức và  Mộc-Đức Tinh quân, trong số bảy địa cầu. Người ta đã bảy chuyển, mình mới tới đệ Tứ chuyển, vì vậy nên Chí-Tôn mượn các Đẳng chơn-linh ở các địa cầu kia, đến làm bạn với chúng ta. Chẳng những hóa-nhân mà đến nguyên nhân, Chí-Tôn cũng mượn họ đến tại địa-cầu này làm bạn giáo-hóa chúng ta,  không biết số bao nhiêu;  theo Phật pháp thì được 24 chuyến thuyền chở họ đến độ chừng 100 ức: Phật-Tổ độ 6 ức, Lão-Tử độ 2 ức, còn lại 92 ức, đến Hạ nguơn này cũng chưa thoát khổ, vì thế Chí-Tôn mới đến khai Đạo Cao-Đài.

“Cả cuộc biến-thiên đó không đi ngoài cuộc biến dịch thiên hình vạn-trạng, tương khắc tương sanh, từ mâu thuẫn xung đột đến tiến-bộ ôn-hòa, qua mỗi nguơn hội có khác.

Tam nguơn của Trời đất: 

        – Thượng-nguơn: là nguơn Tạo-hóa ấy là nguơn Thánh đức, tức là nguơn vô tội (cycle de création c’est-à-dire cycle de l’innocence).

Thượng nguơn là thời kỳ sanh hóa, con người còn sống theo thiên-lý hồn-nhiên chơn chất nên gọi là đời Thánh đức.

       – Trung-nguơn là nguơn Tấn-hóa, ấy là nguơn tranh đấu, tức là nguơn tự diệt (Cycle de  progrès ou cycle de lutte et de destruction)

        Trung nguơn là thời kỳ mâu-thuẫn tiến-bộ, nhưng rất tiếc là tiến-bộ về vật-chất thấp hèn nặng hơn về tiến-bộ tinh thần cao-thượng, tạo khổ cho nhau nhiều hơn là xây dựng hạnh-phúc chung cho nhau, tranh-đấu nhau rồi thúc đẩy nhau đến chiến-tranh tàn-khốc mà Đạo giáo gọi là nguơn tranh đấu.

– Hạ-nguơn là nguơn bảo-tồn, ấy là nguơn tái tạo, tức là nguơn qui cổ (cycle de conservation ou cycle de reproduction et de rénovation).

          Hạ nguơn là thời-kỳ biến dịch tuần-huờn vạn-vật qui nguyên-cổ. Nếu sanh thì thiên sanh, vạn sanh; nếu diệt thì tận diệt không sao tránh khỏi (hiểu như vậy chúng ta nên chọn con đường nào trong hai lẽ sanh và diệt tức là lẽ sống hay chết. Tưởng cả thảy đều chọn đường sanh tức là con đường sống, chớ không ai chọn con đường chết”

           Đức Hộ-Pháp cũng cho biết tiếp:

Mỗi nguơn niên, theo ta hiểu biết cái đại nghiệp của càn khôn vũ-trụ với triết lý nhà Phật, thì cả tinh-thần lẫn vật-chất của vạn linh đều thay đổi mới. Theo cái triết lý ấy thì ngày nay là ngày các chơn hồn đặng quyền Chí Tôn ân-xá nếu không nói rằng hưởng được một sự tấn hóa đặc ân hơn nữa ! Bần-Đạo không cần nói, buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí-Tôn Ngài đến để hai chữ Ân xá thì chúng ta đóan hiểu được”.

 

 

30- NGUƠN NGỌC  元玉

Chữ:Nguơn-Ngọc 元玉 được cắt nghĩa và giải rằng:

“Đời nhà Nguơn có báu Ngọc vô giá. 

Điển-tích:  Vua Nguơn khải ca nhiều trận, chư Hầu

khiếp vía, Bắc-vương kiên oai, cống sứ cho Trung-Quốc một hột Ngọc-điệp, trong đời ít có. Khi đem phơi ngọc ấy ngoài nắng, tất nhiên chiếu nhiều màu, thiên ám địa hôn; người khát nước, ngậm vào miệng, dường như ngậm búng nước lã, mà hết khát. Còn nhiều điều quí nữa, song kể không hết. Bởi cớ đó, nên có câu: “Ngươn-Chiêu-Đế hữu bửu ngọc”, nay trích trong câu văn ấy, mà lấy hiệu Nguơn-Ngọc“.

Ông Cao Quỳnh Diêu (Bảo-Văn Pháp quân) có hiệu là Mỹ-Ngọc. Các con của ông đợi khi các ông đi vắng mới bắt chước xây bàn cầu vong linh người em đã qui từ lâu về nói chuyện và xin danh hiệu, được người em giải thích như trên. Vị này nói tiếp: “Đặng cái hiệu và lời giải ấy, khi ông thân tôi về, tôi thuật lại cho ổng nghe; Ổng cắt nghĩa rành lại, tôi mới hiểu rõ rằng, cả dòng họ Cao Quỳnh, danh hiệu đều do nơi bộ Ngọc; chừng ấy, tôi mới có chút đức tin là vì nơi đó.

 

 31- NHẠC  

Nhạc là Âm nhạccòn đọc là Lạc có nghĩa là vui. Tức nhiên trong lòng tự nhiên có sự thanh thản, vui vẻ thì tiếng đờn mới thoát ra du dương, nhẹ nhàng, thanh thoát. Người nghe cũng vậy nhờ tiếng nhạc đủ sức thu hút, tâm hồn mới trầm lắng mà phấn khởi tinh thần.

Đức Hộ-Pháp nói: Nhạc nó sản-xuất trong tinh thần, mà tinh-thần là gì ? – Tinh-thần mới thật là Đạo !

           Tại sao Nhạc là Lễ ?

          – Lễ, ngoài đời mấy Em đã ngó thấy một bằng cớ hiển-nhiên, là khi mấy Em đờn, hòa cùng nhau. Tuy vân, ngón đờn của mấy Em mỗi đứa một khác nhau, hay dở mỗi đứa một đặc biệt không giống nhau, nhưng mà cái nhịp trường canh mấy Em phải theo nó mà thôi, nếu không tùng nó thì mấy em chẳng hề khi nào hoà Nhạc cùng kẻ khác được.

          – Trong khuôn-khổ hòa với nhau ấy là Lễ. Vì cớ cho nên Qua giảng tiếp cho mấy Em hiểu: Lễ và Nhạc do âm thinh đó vậy.

        – Chỉ có dân-tộc Việt-Nam về văn-hóa Nho-Tông của chúng ta mới có đặng một cái Nhạc là đều do nơi âm thanh và điều Qua đương nói với mấy Em, cái kinh-dinh của các sắc dân nơi mặt địa-cầu này, cả các quốc-dân xã hội đều nhận điều đó. Nước Trung-Hoa hay các sắc dân chịu ảnh-hưởng cái văn-minh tối cổ của Nho-Tông chúng ta mới có Nhạc, âm-thanh ấy là Lễ. Bằng cớ hiển-nhiên, chính Qua đọc một tờ Nghị-luận tại Liên-Hiệp-Quốc, họ luận rằng: Nếu cả thảy các sắc dân-tộc nơi mặt địa-cầu này mà đặng giữ-gìn cho còn Lễ cũng như nước Tàu đã được Lễ tối cổ của họ, cả những điều nghịch hẳn cùng nhau, khởi hấn cùng nhau giữa Hội-Nghị của Liên-Hiệp Quốc chẳng hề khi nào xảy ra, nếu có xảy ra là tại họ vô lễ cùng nhau  mà chớ! Do nơi vô-lễ ấy, mà nhân-loại chịu thống-khổ hai phen Đại-chiến hoàn-cầu, mấy Em nghĩ: Họ vô-lễ cùng nhau cho đến mức họ đập bàn ghế ra khỏi Hội Nghị của quốc-tế, là tại họ thiếu Lễ, mà LỄ LÀ NHẠC.”

         Sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe để Hoà, vì:

– Nhạc làm cho phong-hóa, luân-lý tốt đẹp, dịu dàng, mà không phải một mình nước Pháp, mà các liệt quốc Âu-Châu đều cũng nói.

           – Giờ phút này Qua Thánh-lịnh cho mấy Em đi các nơi cốt-yếu đặng mấy Em đem cái ngôn-ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương-Lương đã làm cho tan vỡ một đạo-binh hùng-tráng của Hạng-Võ, đánh tan-nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ-nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn, duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi.

           – Giờ phút này Qua giao cho mấy Em một sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe ống tiêu Thiêng-liêng đặng tinh-thần nòi giống mấy em đứng dậy định tương-lai vinh quang cho mình. Với cái giọng ngọt dịu của mâý em, làm cho thiên-hạ thức-tỉnh, diệt tiêu bớt hung-hăng bạo ngược. Trái lại đem đến một con đường hòa-huỡn, cao quí, tốt đẹp, êm-dịu; đem lại cái đạo-đức tinh-thần  chiến thắng để cứu-vãng sanh mạng lòai người. Bởi giờ phút này họ đang đi đến con đường diệt-vong mà chớ!” 

Vi diệu Nhạc là Âm thinh sắc tướng:

           –Từ thử Đạo Cao Đài dùng Lễ-Nhạc và ai cũng cho âm thinh sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Đạo Nho là Lễ Nhạc, mà chính Đạo Tam-Kỳ là Nho-Tông Chuyển Thế  thì phải truy tầm nguyên lý của nó mà xác nhận cho đúng nghĩa là thế nào.

             –Đòi phen chúng ta không hiểu được cho uyên thâm khi dâng lễ cho Chí Tôn lúc “Nhạc Tấu Quân Thiên”, hết lớp trống qua lớp đờn bảy bài thì lâu quá có khi phải chồn chân rồi nản chí, chính Bần Đạo cũng vậy, vì nghĩ rằng Chí Tôn tư-vị quôc dân Việt-Nam nên tiền định chi chi cũng làm gương mẫu cho toàn Đại-Đồng Thế Giới mà có Lễ Nhạc này luôn luôn khi dâng lễ, thì ý nghĩa ấy ắt cao trọng lắm là phải.

           – Bởi cớ cho nên khi mới khai Đạo, Bần Đạo đến tại Thánh Thất Thủ Đức của ông Thơ tạo lập, Bần Đạo không tin nên hỏi Đức Lý Giáo Tông.

Nguyên-lý:

           -Kể từ phôi-thai càn-khôn vạn-vật này, Chí Tôn là khối sanh quang, biến thành hai khối sanh khí, hai khối ấy tụ lại thành một khối lớn tương hiệp nhau mới nổ sanh tiếng “Âm”. Người ta gọi là “ầm” hay nghe tiếng “Ni”. Đạo Phật sửa lại thành “úm”(úm ma ni bát ri hồng). Nhờ tiếng nổ ấy bát hồn mới vận-chuyển biến sanh vạn vật và loài người. Tiếng ấy bay ra nghe đến đâu thì khí sanh quang đến đó, tức là có sự sống đến, bằng chẳng nghe được thì nơi ấy tiêu diệt nghĩa là chết mất mà thôi.

Vì sao phải đờn bảy bài ?

Đức Chí-Tôn dạy:

– Thầy thích nghe những bản âý

– Vì nó có ý-nghĩa của sự Tạo thiên lập địa, là buổi mới có  Trời đất.  

– Đảo ngũ cung có ý-nghĩa là qui trở lại, tức là qui cổ: đó là Vạn thù qui nhất bổn.

 

Nếu lấy những bài đó hiến lễ thì Thầy tư-vị

dân-tộc Việt-Nam sao ?

       Đức Chí-Tôn phán dạy rằng:

       -Trên thế-gian này chưa có nền Âm-nhạc cổ nào để rước Thầy mà đủ ý-nghĩa như âm-nhạc cổ của Việt-Nam

 – Nên Thầy chọn nó làm tiêu-biểu cho toàn cầu,

 – Cho nhân loại noi theo” (18-5-Bính-Dần 1.926)

 Nhạc  là cái gì đặt bên trên âm-thanh. Thanh  là một tiếng kêu nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có văn-vẻ, tiết-điệu thì gọi là Âm . Khi âm đó đưa tới Đức gọi là Nhạc.

           Con vật mới biết thanh mà chưa biết âm (tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết âm mà chưa biết nhạc. Chỉ có bậc quân-tử mới biết được Nhạc tức là  cái đức của âm-thanh. Cái Đức đó là Hoà. “Nhạc dữ thiên địa đồng hoà” 樂 與 天 地 同 和

 

 

32- NHO 儒

NHO là nguồn đạo-lý phát xuất từ Đức Thánh Khổng-Phu-Tử là người sáng lập nên Đạo nhân-luân làm giềng mối trật-tự, kỷ cương, từ trong gia-đình loáng ra ngoài xã-hội không đâu là không cần ích đến.

NHO 儒 là gì? Nhìn dạng chữ ta thấy rõ hai phần đủ nói lên cái lý Âm dương không xa lìa nhau. Bên trái là bộ nhân 人 nhân là người, bên phải là chữ nho hay là nhu nhu là sự cần yếu,  nhưng trong chữ nhu này có thể còn thấy hai yếu-tố kết-hợp nữa: Trên là chữ vũ 雨 là mưa, dưới chữ nhi 而 là mày; như vậy chữ nhu là ý nói rằng của này mày có quyền sử-dụng, như nước mưa mà trời đã ban thí cho nhân-loại vậy.

Tóm lại, kẻ được gọi là Nho-sĩ hay thông-nho là kẻ ấy rất cần-ích cho mọi người. Bởi trong  chữ Nho nó cấu tạo tất cả là ba  yếu-tố, như vậy chứng tỏ đây là con số 3 tròn đầy: thể hiện con người đứng trong Tam-tài: thiên, địa, nhân; chỉ có người đức-hạnh hoàn-toàn mới xứng đáng là bậc “Thông Nho”, cho nên kẻ ấy phải hiểu biết:    Trên thông thiên-văn. Dưới đạt địa-lý. Giữa quán nhân-sự.

Nay Đạo Cao-Đài được lập tại nước Việt-Nam, Đức Thượng-Đế đến lấy “Nho-Tông chuyển thế” mà cốt tủy của đạo Nho là lấy Nhơn-Nghĩa làm đầu; vì thế người Cao-Đài Phải:

– Hằng ngày thực-hành theo chủ-nghĩa Đạo Nho tức là  tròn Nhơn-đạo “Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi”

– Còn việc tu-luyện thì theo Tiên-Đạo: luyện Tinh, Khí, Thần. “Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh”.

– Con đường trở về đạt ngôi Phật-Đạo.

Tại sao có chuyện như vậy? Bởi nay Tam-Kỳ Phổ Độ, tôn-chỉ là Qui nguyên Tam-giáo phục nhất Ngũ chi.

Qua lời dạy của Đức Hộ-Pháp,Giáo-Chủ Đạo Cao Đài trong quyển “phương tu Đại-Đạo” rằng:

          “Phép Tu chẳng phải luyện nội tinh-thần theo đạo hạnh mà thôi, mà cái thân thể mình đây cũng phải tùy tùng phù hợp Đạo-tâm, thể Đạo chơn-chánh bởi gương mình, hễ chúng sanh ngó Đạo nói mình, xem mình cho là Đạo mới phải”

          Thế nên: “Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho

người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử”.      

Rồi từ bước đi lên trên nấc thang tiến hóa, cho đến cái Đạo ở Đại-học là làm sáng cái đức sáng, làm mới con người và dừng ở chỗ chí thiện. Có câu “Đại-học chi Đạo Tại minh minh-đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư chí thiện”.

“Khuôn luật của  Đạo Cao-Đài là lo về phần Thế đạo tức là Nho-Tông chuyển thế. Mà Nho-Tông chuyển thế tức nhiên Đạo của Tổ phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu-lý của Nho-Tông mới có thể làm mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng, chúng ta đã ngó thấy Nho Tông của chúng ta là một nền Tôn-giáo xã-hội, đặc điểm của nó là Đức Chí-Tôn đến lập trường Nho-tông trị  thế.

           Thế nên, tinh-ba của Nho-Tông là gì ?

           Phải chăng cái chiến-thuật của nó là “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” tức nhiên cái tôn chỉ cao thượng của Đức Mạnh-Tử là câu trên: “Đại học chi Đạo, tại Minh Minh đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư Chí thiện”.

           Nhưng thế nào là tu thân ?

           Từ trước, vấn đề tu thân đã bàn qua nhiều rồi, nay dẫn từ thượng cổ tới giờ, đức Thánh-nhân lấy hai chữ “tu thân” làm căn bản. Hai chữ tu thân đã có từ lâu, nếu chúng ta xem lịch-sử của Nho-Tông thấy nó đã xuất hiện từ đời Huỳnh-Đế, có trên không biết mấy ngàn thế-kỷ  trước Thiên-Chúa giáng sanh.

            Vậy rất là tối cổ, phương pháp tu thân dù thời đại nào cũng có, chí hướng của các Tôn-giáo là phải tu thân lấy mình, dầu cá nhân, dầu xã hội hay toàn thể nhơn loại cũng vậy, tâm đức con người bao giờ cũng có sự mâu thuẫn. Hễ họ nghe thấy điều nào hay, điều nào thiện đặng họ nhìn một cách chơn thật, nhưng họ không làm. Còn biết chê cái dở, cái ác mà họ lại làm; hai cái đó nghịch cảnh với cái Tâm, không có một vị Thánh nào ở thế gian tìm nguyên lý nó cho  đặng.

           Bởi vậy tâm lý con người hay xu ác mà xa thiện, vì cớ cho nên các vị Giáo-Chủ lập nên Tôn-giáo dạy phải làm thế nào gọi là tu thân. Dầu cá nhân hay toàn thể nhơn loại cũng phải lấy hai chữ “Tu thân” làm gốc và chính nó

khởi đương cho sự lập đức là “tại minh  minh đức” vậy.

           Nếu cả thảy đều biết nỗi khổ của nhơn loại mà làm phương Tu thân, lập đức thì cái giá trị của thiên hạ thực hiện một cách dễ-dàng và chính những tâm hồn ưu-ái vì Đạo, vì Thầy và vì nhân-loại phải đem cái đức thiêng liêng ấy rải khắp cả thiên hạ thì mới cứu khổ được”.

 

 

33- NHÂN

Nhân là Người, giống khôn nhất trong loài động vật.

Tiếng đối lại với mình; như tha nhân  người khác, chúng nhân  mọi người, vô nhân ngã chi kiến  là không có phân biệt mình với người …thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bực tu được nhân

không . Thánh nhân khi chế tác thành chữ đều có dụng ý rất tinh vi: nghĩa là bắt chước theo tượng hình của trời đất mà chế ra VĂN, ứng dụng theo hình thanh mà chế ra TỰ.

Chữ Nhân 人 là người, ứng dụng theo thuyết Thiên địa Âm dương và sách Lễ ký nói: con người là đức lớn của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự hội tụ linh khí (quỉ thần) của non sông đất nước và tinh túy của năm chất: Kim, Mộc,Thủy, Hỏa, Thổ.“nhân giả thiên địa chi đức, âm dương chi giao,quỉ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã”.

Chữ nhân 人: cách cấu tạo theo thuyết âm dương:

– Một phết bên trái  (丿) biểu thị cho Dương

– Một nhấn bên phải (  ) biểu thị cho Âm.

Chữ nhân do cả hai thành phần vừa nêu trên họp lại, tức là do âm dương phối hợp mà sinh ra. Như lời Kinh Hôn phối:

Cơ sanh hóa Càn khôn đào tạo,

Do Âm dương hiệp đạo biến thiên.

Con người nắm vững chủ quyền,

Thay Trời tạo thế giữ giềng nhân luân.

Như vậy con người được tạo hóa sanh ra tất cả đều bình đẳng, đầy đủ cả thể xác và linh hồn, nhưng ý-thức tâm linh mỗi người không giống nhau. Có người sinh ra là hiểu biết ngay, có người cần phải học hỏi mới hiểu biết được. Vì thế Thánh nhân là người “Thể Thiên hành hóa”: trên thể lòng Trời, dưới phù chánh đạo, nên mới lập ra qui tắc, phương pháp, lễ nghi để làm mực thước cho con người chu toàn nhân đạo, đó là đạo làm người: trung-hiếu, nghĩa-nhân, hòa-ái, kỉnh vì. Khi con người chu toàn nhân đạo có thể góp phần vào việc giúp đỡ hoàn chỉnh cái đạo của trời đất, nâng đỡ cho dân sinh: lập đức, lập công, lập ngôn để lại cho đời, thì người đó đã đạt đến bậc Đại nhân.

Có nhiều chữ NHÂN, tuy đồng âm nhưng dị nghĩa:

1- Chữ 人 là người, có hai nét là do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Âm, nét phải là chân Dương. Nếu chữ nhân 人(người) hợp với chữ nhị 二 (là hai) thành ra chữ thiên 天. Trong chữ Nhị thì nét nhứt trên chỉ trời, nét nhứt dưới chỉ đất, giữa là chữ nhân đặt vào, như vậy chỉ có người mới được dự vào chuyện của trời đất để hoàn thành Tam tài: Thiên- Nhân- Địa. Người là sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp có lời dạy rằng: “Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu này. Chúng ta ngó thấy hiện hữu phải vận hành, phải xao động, bởi nó là động vật, nó phải hoạt động, nếu không hoạt động là chết”.

2- Nhân  仁   Nhân là gì? -Là lòng nhân, hào hiệp, phóng khoáng. Theo phép Lục thư thì chữ nhân 仁 do hai chữ: Nhân là người 人và nhị 二 là hai, ghép lại mà thành, là nói lòng nhân của người, biết thương người mến vật,  thể hiện đức háo sanh của Thượng Đế. Nếu đem chữ Nhị 二 và nhân ghép lại thành ra chữ nguyên  là đứng đầu tất cả. Phép lục thư có nói:

“Nguyên dĩ Nhị dĩ nhân. Nhân dĩ nhân dĩ nhị”

元 以 二 以 人.  仁  以 人 以 二

– Chữ nguyên 元 lấy chữ nhị và chữ nhân ghép lại.

– Chữ nhân 仁 thì lấy chữ nhân 人 và chữ nhị mà nên.

– Ở trời gọi là nguyên, nên quẻ Càn có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh; mà chữ nguyên đứng đầu.

– Ở người thì chữ Nhân đứng đầu trong năm thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Người linh hơn vạn vật là ở đức Nhân “nhân sở dĩ linh ư vạn vật giả nhân dã”人 所以 靈 於萬 物 者仁也

            3-Nhân 因 là đầu mối của sự việc, là hột giống.

Cấu tạo chữ Nhân gồm chữ Đại大 ở trong và bao quanh ngoài là bộ Vi 囗. Đấy cho thấy điểm khởi đầu nó quan trọng dường nào. Chữ đại 大 là lớn về vật thể. Ví như hột xoài, có lớp vỏ bao, phần trong là chủng tử, là giống, chính nó khi gieo xuống đất để được một cây con mới ra đời. Suy ra chữ “Nhân quả” nhà Phật cho biết rằng Phật rất sợ quả nên không gầy nhân. Còn chúng sanh cứ nhắm mắt gây nhân, rồi khi gặt hái kết quả xấu thì mới kêu la.

Kết luận: Phật sợ nhân, chúng sanh sợ quả, là thế.

4-Nhân 姻 là chỉ về hôn nhân, nhân duyên. Có bộ Nữ 女 (gái) đứng trước chữ nhân thứ ba 因. Điều này cho thấy rằng trong việc hôn nhân thì vai trò chính là Nữ-phái. Thế mà hầu như ít ai chú ý dạy riêng về phần học vấn, đạo đức, nhân cách cho nữ phái. Nay là thời Hạ nguơn thì đạo đức đã suy đồi trầm trọng, ảnh hưởng ngoại lai rất nhiều, nhưng chỉ ảnh hưởng cái bóng dáng bên ngoài, xấu xa nhơ nhuốt, mà điều tốt nếu có cũng bị khuất trong cái lố lăng, tệ hại. Nếu rác bên ngoài đang thời kỳ kêu cứu, thì rác trong tư tưởng giờ cũng tương đương. Những nhà đạo đức sẽ kêu cứu cùng ai? Trách nhiệm về ai?

Đức Hộ-Pháp đã than dài: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng? Ước ao cả thảy biết điều trọng hệ bí-mật đó mà Thương-yêu lẫn nhau, Thương lún Thương càn đi, rồi ngày kia coi có lầm chăng? Bần-Ðạo quả quyết, Ấn Hộ Pháp, Bần-Ðạo nắm trong tay, nói chẳng hề sai chạy. Bần Ðạo mong ước cả thảy con cái của Chí-Tôn, đừng tưởng mang thi hài nầy mà Nam Nữ phân biệt đa nghe.!  Biết đâu trong đám Nữ nầy, có kẻ đã làm Cha, làm Anh của người nào đó. Giả cuộc đừng coi trọng hệ, cả thảy nên hiểu và từ đây noi theo lẽ thiệt, đừng mơ sự giả, đó là điều mơ vọng ước ao của Bần Ðạo hơn hết”.

 

 

34-  NHŨ  乳

            Nhũ là vú, tức là phần nằm trên ngực của người đàn bà dùng cho con bú. Chữ nhũ  乳 gồm các phần sau: Có hai phần: phía trên bên là bộ trảo 爫 là móng vuốt và dưới là chữ khổng 孔 (cái lỗ), nghĩa là trong vú có nhiều lỗ, chính là nơi phát xuất những tia sữa cho trẻ con bú; nhưng lỗ này không tính vào Cửu khiếu trong châu thân con người, vì đó là mạch sữa, ứng duyên mà phát sinh, rồi cũng ứng duyên mà tàng ẩn. Tinh huyết của mẹ biến thành giọt sữa. Khi con còn măng sữa, nhờ sữa mẹ mà nuôi lớn nên người. Con gái hễ đến tuổi 16 thì đôi nhũ bắt đầu phát sinh, nhưng đến tuổi 49 (7×7) thì đôi nhũ bắt đầu suy giảm, mạch sữa cũng bắt đầu đóng kín và kinh nguyệt cũng bắt đầu ngưng hẳn.. Vú người con gái là do khí Tiên Thiên và Hậu Thiên (Hà đồ -Tiên Thiên và Lạc thư –Hậu thiên) phát sinh ra.Sữa là nguồn sống từ mẹ truyền cho con

Thánh giáo của Bát Nương cho hay Ðại Từ Phụ trở pháp về quyền cầm mạng của nhơn sanh và Lục Nương cho biết về sự chuyển pháp làm cho các Ðấng vui mừng

Diêu Trì Từ Mẫu đẹp dạ không cùng, nhưng vì cái mừng ấy mà làm cho Người đổ lụy ngâm bài than nầy:

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,
Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.
Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,
Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ còn.
Lợt điểm Thánh tâm trần tục khảo,
Vẻ tươi bợn thế nét dò đon.
Thà xưa ví bẳng nay gìn vậy,
Lòng mẹ ngại ngùng con hỡi con!

Nhị ca ôi! Bài thi làm cho cả Cung Diêu Trì đều đổ lụy. Mấy anh nên lấy nó làm phép hằng tâm, thì bước vinh diệu thiêng liêng không lạc nẻo.

 

 

35-  NHỰT 日

Xét kỹ Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung Thánh danh Thượng Trung Nhựt, Ngài là Người nắm chữ Kiền 乾 trong tay rồi. Chữ Kiền phân tích ra thì phần bên trái có trên một chữ thập, dưới có một chữ thập, giữa là chữ nhựt. Như vậy có phải Ngài đã mang chữ Nhựt  nơi mình có đủ uy-tín để làm Anh Cả của nhân-loại và toàn cầu không? Ngài là Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt. Để rồi Ngài mới “thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên thế giái, Lục Thập thất Địa cầu và Thập Điện Diêm Cung đặng cầu siêu cho cả nhân loại” được chứ! Nhưng mặt trời chỉ có một; có nghĩa là trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người không hai lòng. Nhưng đây là những mơ vọng vì “Chữ Nhựt” mà ông Thái-Ca-Thanh đã bỏ Đạo và tách khỏi Tòa-Thánh để về quê lập lên phái Minh-Chơn-lý, rồi chính ông Thượng Chánh Phối-sư Thượng Tương Thanh viết thơ khuyên ông Ca nên trở lại Tòa-Thánh cùng chung lo việc Đạo, nhưng trớ trêu thay, ông Ca không trở lại mà ông Nguyễn Ngọc Tương lại tiếp tục ra đi để mở ra phái “Ban Chỉnh-Đạo” Bến Tre  cho đến ngay nay.

Lời thơ ông Tương khuyên ông Ca như vầy:

“… Anh sẽ thấy rõ các sự Anh đã làm trong một năm rưỡi nay, đối với đạo-đức ra sao, thế nào, xa đạo-đức bao nhiêu dặm, chừng ấy Anh hết lầm nghe Cơ Bút Hậu giang nữa. Biết được sự thiệt rồi, mau mau tự nhiên Anh sẽ bãi hết các cuộc Anh đương gầy, giải chức Thái Đầu sư mới của Anh. Vì Anh sẽ thấy rõ chữ NHỰT trong Đạo hiệu Thái-Ca-Thanh của Anh. Đó là một cái lắt-léo của Cơ để cho Anh biết mà phân biệt chơn giả đó. Trong lòng Anh thiệt hết giận rồi, tự nhiên Anh cũng sẽ thấy rõ ràng là không có Thần hay Tiên Thánh nào xúi Anh thêm nghịch, dạy Anh chia lìa, đốc Anh truyền rao nhục mạ Tây-Ninh rồi lại gia phong cho Anh và các vị theo giúp Anh, hối đốc lập dựng Thánh Thất Cầu Vỹ mà làm Toà Thánh để nhóm Hội-Thánh Tây Ninh, mượn nhà Anh mà làm Hiệp-Thiên-Đài, Anh sẽ thấy rõ ràng là cơ cám dỗ nương cái hơi phiền-phức của Anh và chư vị kia mà phát hiện những sự ấy đặng giúp cho mấy Anh Em được thoả

tình tư tưởng”…

Có lẽ vì ông Thái-Ca-Thanh thích được chữ Nhựt của Đức Lê văn Trung là THƯỢNG TRUNG NHỰT, nên ông tách ra lập Chi phái ở Cầu Vỹ (Mỹ tho) và lấy danh là Thái Ca Nhựt ngay, mà khiến ông Tương phải hết lời khuyên nhủ. Nhưng Thầy đã nói rồi, Trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người chẳng hai lòng, qua bài Thi:

Mặt NHỰT hồi mô thấy xẻ hai?

Có thương mới biết Đấng Cao-Đài,

 

36- PHÁP 法

Chữ Pháp 法 nghĩa là phép, là phương pháp; cũng có nghĩa là một sự mầu nhiệm (huyền pháp, tâm pháp…) Phân tích sẽ thấy có hai phần: bên trái bộ thủy là nước, tức nhiên những chữ nào bất cứ mà có bộ thủy này đều có liên quan đến nước.Bên phải chữ khử  nghĩa là dùng nước để khử trược. Như nước pháp mà trong Tôn giáo dùng vào việc Tắm Thánh, Giải oan gọi là Ma-Ha-thủy nên có câu “Ma Ha thủy năng hủy oan khiên giải trừ nghiệt chướng chi đọa”. Một âm là khứ chỉ việc đã qua như quá khứ, khứ hồi. Bộ thuỷ có 3 nét ứng với Tam tài, chữ khử có 5 nét là lý Ngũ-hành; cộng 3 và 5 là 8 là một Bát quái vô hình, tức là một yếu-tố để chứng tỏ đây là Hư vô Bát-Quái.

Pháp là chủ của vạn-linh:

Kinh Phật-Mẫu có câu:

                “Thiên-cung xuất vạn-linh tùng Pháp

                “Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh”

Bởi do nơi Pháp, vạn-linh mới chủ tướng biến hình, do nơi Pháp mới sản-xuất vạn-linh, cả huyền-vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp, chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của vạn linh, vì cớ cho nên Đạo giáo minh-tả rõ rệt Tam châu Bát bộ thuộc về quyền Hộ Pháp”.

Quyền-hành của Hộ-Pháp:

1-Sao gọi là Tam châu? “Trong Tứ Đại Bộ châu ở phần thiêng-liêng thì Hộ-Pháp nắm ba châu: Đông thắng thần châu, Tây Ngưu hạ châu, Nam-thiệm bộ châu, đều thuộc về quyền hạn của Hộ-Pháp; còn Bắc Cù Lư châu để cho các phần chơn hồn quỉ vị họ định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Họ có một quyền-năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỉ-vị ăn-năn tu học đặng đoạt vị. Ba bộ châu kia do quyền-hạn của Hộ-Pháp giáo-hóa, duy có Bắc Cù Lư châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho họ tự-do làm gì thì làm: khôn nhờ dại chịu.

2- Bát bộ là gì ? – Là nơi Bát phẩm chơn-hồn chớ có chi đâu ! Tám hồn là: vật-chất-hồn, thảo-mộc-hồn, thú cầm hồn, nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh-hồn, Tiên Hồn, Phật-hồn. Tám bộ ấy thuộc quyền HỘ PHÁP THIÊN-VỊ  nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ-quan tận độ chúng sanh không còn ai khác hơn Hộ-Pháp. Chính Hộ-Pháp trách nhiệm ấy.

Đạo phục của ĐỨC HỘ-PHÁP:

Bộ Tiểu phục thì toàn bằng hàng vàng (màu Đạo), đầu đội Hỗn-Nguơn-Mạo màu vàng, bề cao một tấc ngay trước trán chính giữa có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo là Bình Bát vu, cây phất chủ, Bộ Xuân thu, ngay trên ba Cổ pháp ấy có chữ Pháp 法 (PCT)

 

Hộ-Pháp là người của cung Hỗn-Nguơn-Thiên (số11),

thế nên trên bàn thờ của Hộ-Pháp có cả thảy 11 cúng phẩm, đúng ra đó là quẻ Bát-Thuần-Càn, chứng tỏ Ngài là người đã thay Trời tạo thế trong buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này, từ đó những vấn-đề có liên-quan cũng phải đúng vào con số biểu-tượng là 11, mới đúng thời, đúng lúc đó vậy. Chiếc Mão của Ngài đội có tên là “Hỗn-Nguơn-Mạo”.            Bề cao một tấc trước trán (số 1).

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến-vi hữu-tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, người mang số này có tánh chuyên nhất và cầm quyền vi chủ. Số 1 là số động, nó vốn là lý Thái-cực suy ra nên nó huyền-diệu, nhiệm-mầu, hiện biến.Ngôi số 1 thuộc về ngôi Phật chủ quyền cai trị và giáo-hóa vạn-linh.

           Tại sao phải đặt trước trán?

– Bởi Đạo là lấy chính trung, nên chi đặt ở trán là điểm giữa của mặt. Lại nữa chính giữa “có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo” là Xuân thu,Phất chủ và Bình Bát vu.

Nay đứng đầu của Tam-giáo thì có ngôi “Chưởng Pháp của ba phái là Thích, Đạo, Nho. Nghĩa là mỗi phái là một vị, mà ba Đạo vẫn khác nhau; nội dung, ngoại dung đều khác hẳn, luật-lệ vốn không đồng chỉ nhờ luật-lệ làm cơ qui nhứt”.

 

 

 

            “Mỗi Chưởng-Pháp phải có ấn riêng:

             – Thái Chưởng-Pháp thì Bình-Bát-vu,

             – Thượng Chưởng-pháp thì cây Phất-chủ,

             – Ngọc Chưởng-Pháp thì bộ Xuân thu.

Hiệp một gọi là Cổ pháp. Ba cái Cổ-pháp ấy vốn của Hộ Pháp hằng kỉnh trọng. Nơi  Mão Tiểu-phục của Người phải có ba Cổ-Pháp ấy” (PCT)

(xem thêm về Cổ-Pháp).

Đức Hộ-Pháp là Người của Cung Hỗn-Nguơn Thiên, nên kinh Đại Tường có câu:

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo-chủ,

                 Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

                 Tái sanh sửa đổi chơn truyền,

                 Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

“Hộ-Pháp là thể các Đấng trọn lành, Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu-dắt các chơn hồn lên tột phẩm-vị của mình, tức là nâng-đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa-vị, cũng như chư Thần, Thánh, Tiên, Phật điều-đình Càn Khôn thế giới cho an-tịnh”.

           “Chơn đi hia, trên chót mũi hia có chữ “PHÁP”.

Chữ Pháp 法 thấy có hai phần ấy là Âm Dương tương hiệp. Với nền Tôn-giáo, chỉ duy các Chức-sắc Đại Thiên phong mới được phép mang hia hoặc giày vào chầu lễ Chí-Tôn, nhưng các giày hay hia này chỉ dành riêng sử dụng trong lúc chầu lễ Chí Tôn mà thôi. Trước mũi hia có  chữ “Pháp 法” chỉ nghĩa rằng Ngài Chưởng-quản “Chi Pháp” là một trong ba chi “Pháp- Đạo- Thế”.

 

 

Tiếp theo >

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment