ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA – CHIẾN LŨY VĨ ĐẠI GIỮA SÀI GÒN XƯA

Thành Gia Định hay còn được gọi là Phụng Thành, Phượng Thành là tên một tòa thành cổ của Việt Nam do vua Minh Mạng ra lệnh xây mới sau khi thành Bát Quái bị phá dỡ. Thành tồn tại từ năm 1836 đến 1859 thì bị phá hủy khi người Pháp chiếm được thành từ tay quan quân nhà Nguyễn.
Năm 1830, Lê Văn Duyệt cho sửa thành Bát Quái. Tiếc thay việc sửa thành, cộng thêm tư thù khi còn trẻ với Lê Văn Duyệt (Lê Văn Duyệt đã cho xử chém Huỳnh Công Lý, cha đẻ một quý phi được vua Minh Mạng sủng ái), vua Minh Mạng đã vu khống cho Lê Văn Duyệt tội nhị tâm (hai lòng) cho quân sang bằng mồ mả sau khi ông mất, làm Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) tức giận đứng lên đánh chiếm lấy thành Bát Quái và biến nơi đây thành căn cứ chính cho cuộc nổi dậy của mình từ năm 1833 đến 1835. Sau khi đánh bại Lê Văn Khôi vào năm 1835, Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái để xây thành mới năm 1836.
Thành mới có tên là Thành Phụng hay thành Gia Định được xây dựng ở Đông Bắc thành cũ. Thành vuông vức, mỗi cạnh khoảng 450m, tổng diện tích khoảng hơn 0,2km2 (hơn 20 ha). Thành Gia Định mới cũng được xây dựng theo kiến trúc Vauban nhưng nhỏ hơn nhiều, dễ bị bắn phá hơn và chỉ có 4 pháo đài 4 góc so với 8 pháo đài của thành Bát Quái cũ. Tường thành cao 20 thước dài trên 475 thước được làm từ đá granite, gạch và đất. Xung quanh thành có hào nước bao bọc.
Ngày 17-2-1859, quân Pháp mở cuộc tấn công thành thành Gia Định và một ngày sau thì chiếm được thành. Án sát Lê Tứ, Hộ đốc Vũ Duy Ninh tự vẫn, Đề đốc Trần Trí, Bố chính Vũ Thực và Lãnh binh Tôn Thất Năng đem quân rút về Tây Thái, huyện Bình Long. Ngày 8-3-1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy Thành và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại Thành (dấu tích duy nhất còn lại đến ngày nay là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son).

Năm 1860, những rắc rối trong việc bang giao với Trung Hoa khiến chính phủ Anh và Pháp phải mở một cuộc viễn chinh mới tại quốc gia đó. Do vậy, tất cả lực lượng Pháp tại Viễn Đông liền được dùng vào cuộc chiến, nên không những quân Pháp phải triệt thoái khỏi Đà Nẵng mà tại Sài Gòn cũng chỉ còn để lại một đội quân nhỏ (khoảng 800 người) lo việc phòng thủ.
Theo GS. Nguyễn Thế Anh, thì khi đó, chính phủ Pháp đã muốn rút quân ra khỏi Việt Nam, nhưng khi nghe tướng Charles Rigault de Genouilly biện hộ và Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp là Chasseloup Laubat tán đồng, thì chính phủ Pháp liền thay đổi quyết định. Vì thế ngay khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết ngày 25-10-1860, vua nước Pháp là Napoléon III, liền cử Đề đốc Léonard Charner thống lĩnh toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông, để hoàn thành nhanh việc chiếm cứ Nam Kỳ.
Và mục tiêu đầu tiên của viên tướng này là phải tấn công Đại đồn Chí Hòa, vì đây là một vật cản lớn cần phải phá bỏ để có thể tiến chiếm các nơi khác …

Nguyên do khi thành Gia Định mất, Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương vào Nam với chức kinh lược đại thần để điều khiển mọi việc. Ngay khi nhậm chức, Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương đã cho tu bổ, xây dựng vững chắc, quy mô hơn phòng tuyến đồn lũy, hình thành rõ nét Đại đồn Chí Hòa và cho người dò la. Biết rõ đối với súng đạn có sức tàn phá rất mãnh liệt của người Pháp, quân Việt dù đông, dù can đảm tới đâu cũng không thể giáp chiến được, ông lựa chọn chiến lược nửa công nửa thủ, tức dựng chiến lũy để bảo vệ quân Việt khỏi súng địch và bao vây dần quân Pháp. Ông truyền lệnh xây nhiều pháo đài và đắp lũy ở phía Bắc Sài Gòn. Những đồn lũy đầu tiên của Đại đồn được xây dựng ngay sau khi thành Gia Định thất thủ ngày 14-2-1859. Theo Monographie de la province de Gia Đinh (chuyên khảo về tỉnh Gia Định – 1902), thì Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Hiệp đã sai lính đắp đồn Tiền trên đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám) đi Tây Ninh. Đồn Hữu (phải) và đồn Tả (trái) hai bên.
Bản đồ quân sự mà Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên tổng hành dinh tướng Charner (chỉ huy lực lượng Thủy Quân Lục Chiến đánh Đại đồn Chí Hòa) vẽ, là hình ảnh rõ nhất về Đại đồn Chí Hòa. Đại đồn Chí Hòa lớn gấp 15 lần thành Gia Định, cụm đồn lũy Chí Hòa chỉ tính riêng khu vực chính (Đại đồn) đã gần 3km2 (300 ha). Đại đồn lớn đến mức trong Lịch sử cuộc viễn chinh Nam kỳ năm 1861, Léopold Pallu gọi đó là thành (Citadelle).
Theo bản đồ của Léopold Pallu, đại đồn có hình thang dài, đáy lớn lõm ở giữa (theo hình thế một con rạch tự nhiên chảy ra kênh Nhiêu Lộc – con rạch này giờ không còn), cắt qua Cách Mạng Tháng Tám hiện nay ở đoạn đường Bắc Hải. Đáy nhỏ nằm khoảng khu vực đường Trương Công Định, Bàu Cát (Tân Bình). Đại đồn nằm dài theo đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám – trên bản đồ hiện nay chiều dài này khoảng gần 3km). Bản đồ vẽ rất rõ đồn gồm 5 khu vực ngăn cách nhau theo chiều ngang này, mỗi khu vực như một thành lũy riêng biệt, qua lại bằng những cánh cổng lớn chắc chắn như cổng thành. Có lẽ thiết kế này để phòng khi khu vực nào thất thủ, quân đồn trú có thể rút sang khu vực khác và thực tế đã xảy ra như vậy khi Pháp tấn công Đại đồn sau này. Bằng chứng cho thấy, một năm sau, 16-4-1860, Pháp đánh chiếm khu vực chùa Cây Mai (góc Nguyễn Thị Nhỏ – Hồng Bàng hiện nay) và chùa Kiểng Phước (theo học giả Vương Hồng Sển và nhà văn Sơn Nam, góc Lý Thường Kiệt – Nguyễn Chí Thanh, có thể ở khu vực Trường ĐH Y dược TP.HCM hiện nay) mà lính Việt lúc ấy đang đóng quân. Rồi người Pháp tổ chức đánh chiếm tiếp đồn Tiền nhưng gặp sự chống trả mạnh mẽ của quân dân Đại đồn nên đã tổn thất nặng, phải co cụm trở về.
Riêng khu vực cuối cùng có thêm một tường bao bên trong và hai Đồn lớn bên ngoài, theo bản đồ hiện nay một ở khoảng ngã tư Bảy Hiền và một ngay cạnh vòng xoay Lăng Cha Cả. Bản đồ ghi fort des Mandarins (Đồn chỉ huy). Đầm Sen gần Đại đồn được tận dụng che chắn cạnh dài phía nam Đại đồn. Và thực tế, khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công, họ đã phải đánh vòng qua khu đầm này, nơi 13 đồn lũy dày đặc quanh đại đồn và áp sát Sài Gòn – Chợ Lớn
Thật ra, không chỉ co cụm trong khu vực 3km2 Đại đồn, tướng Nguyễn Tri Phương còn cho xây dựng thêm hàng loạt Đồn lũy mới bảo vệ đại đồn từ vòng ngoài với phạm vi kiểm soát rất rộng, hàng trăm km2. Cụ thể, thay cho đồn Cây Mai và đồn Kiểng Phước bị mất, bên cạnh đồn Hữu rất lớn cách đồn Cây Mai gần 2km (đã bị Pháp chiếm), ông cho xây dựng 4 Đồn khác gần như áp sát 2 đồn cũ, có Đồn chỉ cách 400, 500m. Hai chiến lũy dài khoảng 5km nối các đồn với nhau để bảo vệ nhau cùng với bảo vệ từ xa cạnh phía nam dài 3km. Mặt bắc đồn cũng có 4 đồn nằm cạnh các con rạch: 1 Đồn nằm ở khu vực cầu Lê Văn Sỹ hiện nay, 2 đồn hai bên cầu Kiệu (3 đồn này cách thành Gia Định thất thủ khoảng 3km). Một đồn khác rất lớn mà bản đồ quân sự của Léopold Pallu ghi fort Annammite (đồn An Nam) nằm giữa rạch Vàm Thuật và cầu kinh Thanh Đa (ước đoán ở khúc nối rạch Lăng và rạch Cầu Sơn, khoảng đường Nguyễn Xí – Bình Thạnh hiện nay). Đồn này án ngữ con đường quan trọng đi Biên Hòa, nối với lực lượng quân Việt ở thành Biên Hòa chưa bị chiếm lúc đó. Hai đồn khác, một nằm sát khu vực chỉ huy của bộ phận chỉ huy Đại đồn (Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Hiệp, Phạm Thế Hiển – bản đồ ghi là des Mandarins), nay là khoảng ngã tư Bảy Hiền và một nằm gần khu vực vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay. Phía sau đại đồn, về hướng bắc cũng có 3 đồn lớn: Thuận Kiều (ở Tân Thới Nhứt, Q.12 hiện nay) và Tây Thới (xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn), Rạch Tra (nằm giữa địa Hóc Môn – Củ Chi) nhằm hỗ trợ Đại đồn cũng như rút quân về phía Tây Ninh khi cần thiết.
Quân Pháp bị cụm đồn lũy Chí Hòa vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp. Tuy có đôi lần quân Việt giành được thắng lợi, nhưng cũng không thể diệt nổi quân Pháp là vì súng đạn họ tinh xảo và bắn được xa hơn. Quân Pháp nhận xét: “Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hể chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản”. Theo nhà văn Phan Trần Chúc, một vị tướng Pháp lúc đó khen ngợi: “Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị Nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Totleben ở Sébastopol, Denfert Rochereau ở Belfort, Osman Pacha trong trận Plevna”.

Có ý kiến cho rằng sau khi mất thành Gia Định năm 1859, nhà Nguyễn chủ trương “thủ để hòa”, nhưng chắc chắn lực lượng quân dân Việt khu vực Đại đồn Chí Hòa do Nguyễn Tri Phương chỉ huy không chỉ thủ mà thực tế đã có lúc tấn công dữ dội lực lượng quân Pháp đang chiếm đóng khu vực bên ngoài thành Gia Định và dọc kinh Bến Nghé. Hai tháng sau khi Gia Định thất thủ, 6g sáng 10-4-1859, một nhóm quân Việt từ đồn Tiền đi Chợ Lớn đã bất ngờ đụng một tiểu đội Pháp. Hai bên dàn quân và nổ súng vào nhau, cả hai bên đều có người chết nhưng không rỏ bao nhiêu.
Kể lại đôi lần chiến thắng này, nhà văn Phan Trần Chúc viết:
“Sau khi bao vây được quân Pháp, Nguyễn Tri Phương cho quân liều chết dưới mưa đạn để hãm đồn Cây Mai. Trong đêm 3 và 4-7-1860, 3.000 quân Việt của ông đã anh dũng chiếm được đồn Cây Mai do Đại úy người Tây Ban Nha Fernandez chỉ huy với 100 lính Tây Ban Nha và 60 lính Pháp. Trong tháng 11 cùng năm, quân Pháp lại tấn công dữ dội các pháo đài ở Gia Định nhưng quân nhà Nguyễn đã đánh lui được đối phương khiến quân Pháp bị thiệt hại nặng … Được tin thắng trận, vua Tự Đức tiếp tục ban thưởng cho các tướng sĩ ngoài mặt trận …”.
Cũng từ khu vực Đại đồn, các nhóm dân quân Việt đã nhiều lần đột nhập tận nơi quân Pháp trú đóng, như chiều 7-12-1860 nhóm này đã phục kích giết chết Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Barbé khi viên Sĩ quan này từ chùa Khải Tường (Trường THPT Lê Quý Đôn, Q.3 hiện nay – đường Lê Quý Đôn bên hông Trường THPT Lê Quý Đôn trước 1955, chính quyền Pháp đặt tên là đường Barbé) đến Đền Hiển Trung (nay thuộc khu vực Bộ Công an trên đường Nguyễn Trãi, Q.1).
Léopold Pallu viết: “Chiều hôm đó, Đại úy thủy quân Barbé cưỡi ngựa đi tuần tra như thường lệ. Bọn sát nhân rình rập trong một bụi cây … Ông bị đột kích bằng giáo té ngay xuống ngựa. Bọn An Nam liền cắt đầu, bò qua các bụi rậm và cỏ cao trở về giới tuyến cũ của thành Kỳ Hòa (tên người Pháp gọi đại đồn Chí Hòa). Sáng hôm sau, người ta thấy phần thân thể còn lại (của Barbé) bị bỏ bên vệ đường …”.

Về quân số của hai bên cuối năm 1860 theo báo cáo của Trung úy Léopold Pallu:
– Về phía Pháp: Tính chung đội quân viễn chinh vừa kể trên với số quân Pháp – Tây Ban Nha có sẵn tại Sài Gòn khoảng 800 người (bị vây chặt tới nỗi sáu, bảy tháng liền không nhận được tin tức gì từ phía Pháp), thì lực lượng của Pháp chỉ có khoảng 5.000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại.
– Về phía Việt Nam: Phía Pháp (theo Léopold Pallu) ở Chí Hòa, quân Việt có tới 21.000 quân chính quy, 10.000 quân Dân dũng (vốn làm ở đồn điền nên còn gọi là lính Đồn điền, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”), và ở Biên Hòa có 15.000 quân từ miền Trung vào.
Nhưng theo GS. Trần Văn Giàu, chắc quân chính quy không đông như thế.
Vì khi Pháp đánh Đà Nẵng, gần sát Kinh đô mà quân Triều đình ở đó chỉ có 3.200 người, thì ở Gia Định xa xăm, không thể có hơn 2 vạn được, có thể chỉ có dân quân thì đông (chắn chắn như vậy). Sở dĩ Pháp “tăng” số quân của Nguyễn Tri Phương lên, trước hết là để tăng giá trị trận đánh của họ mà thôi.
Ngược lại, nếu quân Việt mà đúng như thế thì có lẽ tại Quân dân nhà Nguyễn cũng không nắm hết thực lực của địch nên chưa quyết định “Tổng tấn công” tái chiếm thành Gia Định, “Một cơ hội giải phóng đất nước đã bị bỏ qua”. Hầu hết các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa của chúng ta đã thốt lên tiếc rẻ về giai đoạn này như vậy.

Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner & là người trực tiếp tham dự trận Đại đồn Chí Hòa, sau này đã kể lại trong sách của mình đại để như sau:
“Mấy ngày trước khi giao chiến, Đề đốc Hải quân Leonard Charner đã giao cho Đại úy Hải quân De Surville điều khiển các chiến hạm neo dọc sông Sài Gòn. Trung tá Crouzat, thì được lệnh tìm đường tiến quân, và sau khi tìm được lối đi phía bên trái đồn Cây Mai, đã cho 2 Đại đội lính đến san phẳng, dưới hỏa lực của quân đối phương. Trên bộ, các đội lính viễn chinh khác bố trí dọc theo sông Đồng Nai để cầm chân quân Việt … Sau khi tất cả các cánh quân đã được bố trí xong, vị Tổng tư lệnh là tướng Charner liền quyết định thời điểm tấn công Đại đồn Chí Hòa là ngày 24-2-1861 … Sau mấy tuần chuẩn bị và sau khi nghe Đại tá Crouzat phúc trình công tác thám thính Đại đồn xong, 4 giờ sáng ngày 24-2-1861, được lệnh của Đề đốc Charner, đại bác của Pháp từ ‘phòng tuyến các Chùa’ và trên các tàu, đều nhắm vào Đại đồn Chí Hòa mà bắn. Đại bác của quân Việt từ Đại đồn rộ lên đáp trả. Hai bên đánh nhau bằng đại bác tới sáng.
Từ vùng chùa Cây Mai, Đề đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) dẫn quân tiến lên cùng với pháo nhẹ. Quân Việt trong đồn Hữu bắn cản lại, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca đều bị thương. Đại bác Pháp liền bắn khoảng 500 phát vào đồn Hữu, rồi cho bộ binh tấn công chiếm đồn. Phía Việt cho Voi trận xông ra ứng chiến, nhưng đội quân Voi tỏ ra không mấy hiệu quả trước đại bác, súng trường … Hai bên đánh nhau đến tối, nhưng Pháp chỉ mới tiến được 1000 m, còn 2000 m nữa mới đến được Đại đồn. Đêm đến, hai bên đều ngưng chiến. Năm giờ sáng hôm sau, quân Pháp tràn lên tấn công, xáp được gần Đại đồn. Song cách vách thành 100m thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ, nên tiến rất chậm. Quân Pháp lúc này bị bắn chết và bị thương rất nhiều.
Tuy vậy, quân Pháp vẫn quyết dùng thang và đứng trên vai nhau mà trèo lên vách Đồn. Trên Đồn và trong các lỗ châu mai, quân Việt bắn chém dữ dội. Phần lớn các thang tre của Pháp vác theo đều bị đánh gãy, nhưng cuối cùng vẫn có một số lính Pháp vào được Đại đồn. Hai bên xông vào đánh xáp lá cà, giành giật nhau từng khu vực một. Chống chọi được một lúc, tướng Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng, phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Ngày 28-2-1861, Pháp tấn công Thuận Kiều, Đại tá Crouzat bị thương, nhưng quan quân phải bỏ đồn Thuận Kiều, bỏ cả đồn Tây Thới mà chạy tán loạn về Biên Hòa, mất hầu hết khí giới và lương thực. Riêng Trương Định rút về Gò Công tiếp tục kháng Pháp …”.

Sĩ quan tham dự trận là Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu kể:
“Bốn giờ sáng ngày 24-2-1861, quân Pháp được lệnh tập họp. Đến 5 giờ 30 phút, đoàn quân bắt đầu lên đường. Khi ấy, pháo binh từ các chùa Barbet (chùa Khải Tường), Chochetons, Cây Mai đã bắn được một giờ rồi và các toán quân Việt cũng đã kéo nhau dàn ra các ngả đường để phòng ngự. (Trên đường), đại pháo do ngựa kéo bất thần nhả đạn vào đồn Redoute (sử Việt ghi là Đồn Hữu). Đối phương lập tức đốt khói để che và mặc dầu súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt, họ vẫn kháng cự quyết liệt … Pháo binh chịu trận trước tiên, chỉ trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn … mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế hơn, nhưng sức kháng cự của bọn An Nam không bị đánh tan và cũng không nao núng chút nào.
Trong khi đó, thương vong của ta càng lúc càng tăng lên: Đại tướng De Vassoigne, Đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez, Chuẩn úy Lesèble và Thượng sĩ Joly bị thương nặng. Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lịnh … Khi các quân lính Pháp đầu tiên nhảy được vào bên trong, trên các bệ bắn phía sau tường, thì họ thấy quân An Nam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân An Nam chỉ lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, họ giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay … những con người nhỏ thó ấy thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào, mà chỉ có một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Chỉ mấy phút sau là họ rút về phía đại quân có cờ đuôi nheo phấp phới bên trong thành Kỳ Hòa.
Trong trận đánh ngày 24-2-1861 này, quân An Nam đã chấp nhận đối đầu bằng đại pháo với ta, tuy họ yếu kém về mọi thứ, nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút nào cả: Nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nòng có khía của ta. Nhưng khi quân ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ chỉ thối lui chớ không chạy như quân Trung Hoa năm rồi, khoảng cách vẫn còn nhìn thấy nhau. Chuyện này cũng thấy ghi trong các phúc trình về những trận đánh trước đây ở Sài Gòn và Touranne …
… Suốt đêm đó thật yên lặng, hai bên không có một tiếng súng nào. Năm giờ sáng ngày 25-4-1861, pháo binh ta lên ngựa, mỗi người đều vào hàng ngũ của mình … Mười giờ tất cả đạo quân đã vào vị trí, cách xa mặt bắc của thành Kỳ Hòa khoảng 2000 thước. Hai cánh quân đánh bộ hai bên, giữa là pháo binh. (Khi hai bên) thôi đánh chiêng và cũng ngưng đánh trống, các đại pháo trong thành Kỳ Hòa bắn ra vang rền, tiếng nổ của súng địch có cường độ giống nhau nên rất dễ nhận, tiếng các quả đạn xé gió rít lên rồi im bặt, không có một tiếng động nào khác …
… Tiếng súng của quân Việt, lúc đầu thưa thớt, dần dần dồn dập hơn. Súng họ bắn mạnh và chính xác, nhất là về hướng bắn thì rất đúng. Quân Việt có lợi thế hơn vì mặt trời chiếu thẳng vào mắt quân Pháp. Pháo binh vừa đạt vị trí 1.000 thước đã thấy có thiệt hại. Bên Pháp đã có người và ngựa chết hoặc bị thương, một xe tải đạn có một bánh xe vỡ tan thành từng mảnh. Trung tá Crouzat thúc quân kéo súng rất nhanh đến vị trí 500 thước, rồi 200 thước, ở vị trí gần này tránh bớt được nhiều bất lợi do bị mặt trời chiếu vào mắt … Hai bên bắn nhau kịch liệt … trên ruộng không có chỗ nào ẩn núp, chỉ biết đưa thân cho súng đạn. Thiệt hại đã khá rõ, chỉ còn biết lợi dụng vào chiến thắng vừa đạt được hôm qua khích động quân sĩ để họ xông lên … Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) ra lịnh cho hai cánh quân tiến lên.
Sau khi vượt qua được 6 hàng hầm chông và 2 hào sâu, quân Pháp đến được bờ đất dựa tường thành thì hai bên lại đánh nhau kịch liệt nhất, chưa từng thấy giữa người An Nam và người Âu châu. Quân sĩ nào mà leo lên được tường thành, thì hoặc dùng thang, hoặc trèo lên vai các đồng đội, hoặc níu vào các cọc thấp của các bàn chông, họ bị bắn ngay trước mặt, hoặc bị nồi lửa của địch ném phỏng mặt mày, hoặc bị giáo đâm lọt ra ngoài. Những người trèo lên trước nhất trên tường thành, và trước khi bị đánh bật trở xuống, đều thấy một cảnh tượng khác hẳn khi trèo lên tường ngày hôm trước: Bên trong trên bệ đứng bắn, đầy lính phòng ngự, kẻ thì mang súng dài, kẻ thì mang giáo hay súng ngắn, rình quân ta bên ngoài trèo vào …
Ngay vào lúc ấy, tình thế trở nên nghiêm trọng, thì có lịnh ném lựu đạn.
Hai mươi quả được ném ra … (Rồi) ba lính thủy ném được móc câu dính cứng phía bên trong của tường thành. Bọn quân An Nam tháo gỡ không được vì vướng chà gai … Ba quân lính chui qua trước, một lính của tàu Renommée, bị giết ngay, hai người kia thì bị thương. Cả ba bị xô ngược ra phía sau và rớt xuống hào. Quân lính khác theo sau, trèo lên tường rồi nhảy xuống thềm đứng bắn vào bên trong, thềm thì trơn trợt vì máu me linh láng. Dọc chân tường la liệt xác quân An Nam bị giết vì mảnh đạn bộc phá hay bị bắn.
Quân An Nam ngưng đánh vì thấy rào gai bị phá thủng, rút ra xa vài phút trước khi quân Pháp ập vào, họ rút lui rất trật tự, rút thật chậm dọc theo bờ tường thành. Một nhóm quân lính của ta rượt theo, nhưng không ăn thua gì, vì quân Việt đã rút hết vào một lớp thành khác trước khi quân Pháp đuổi tới …
Khi liên quân theo vào, giao tranh đã xảy ra càng ác liệt … vì thế trong cái khoảng trống thảm thương này ngập tràn xác chết và bị thương … (Cuối cùng) tất cả quân An Nam người nào chạy không kịp đều bị giết sạch, trận chiến chấm dứt bằng một cảnh tượng tàn sát man rợ chưa từng thấy …”.

Nhận được tin Đại đồn thất thủ, triều đình nhà Nguyễn tức tốc phái Nguyễn Bá Nghi mang 4.000 quân vào chi viện. Nhưng viên tướng này, chỉ đến Biên Hòa thì cho dừng quân lại, cử người đi tìm gặp Đề đốc Charner để xin được nghị hòa và tâu về Huế rằng: “Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa thì không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau …”.

Trích báo cáo của Pháp: “Quân ta (Pháp) gồm 4.000 quân đã tấn công thành lũy. Chúng ta đã chiếm được thành nhưng Thiếu tướng Vassivigne bị 1 viên đạn bắn trúng cánh tay. Đại tá Palanca người Tây Ban Nha bị 1 viên vào bắp chân, nhiều Sĩ quan khác bị trọng thương. Người Nam tuy không có súng tốt nhưng dũng cảm hơn người Tây nhiều …”.
Theo báo cáo của Đề đốc Charner ngày 27-2-1861, thì phía quân Pháp có 12 người chết, 213 người bị thương. Nhưng theo Léopold Pallu, Sĩ quan phụ tá của Đề đốc Charner thì con số chết và bị thương là: 19 người tử trận, trong đó có 5 viên Sĩ quan Pháp và khoảng 300 người bị thương. Và theo báo Le Mémorial d’ Asie phát hành tháng 2-1861, thì con số thiệt hại của Pháp là: 16 người chết, 299 người bị thương, trong số đó có Thiếu tướng De Vassoigne, Đại tá Palanca, Đại tá Crouzat đều bị trọng thương, Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Testard chết ở bệnh viện …
Bên quân Việt, khoảng 1.000 người chết và bị thương, trong số đó có: Tham tán Phạm Thế Hiển, Lang trung Nguyễn Duy, Tán tương Tôn Thất Trĩ đều tử trận và Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương thì bị thương nặng. Ngoài ra, Đại đồn còn bị đối phương chiếm mất 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 trọng pháo các cỡ và rất nhiều lương thực …

Trong hình ảnh có thể có: thực vật và ngoài trời
Lính Pháp (trái), Việt (giữa) và Tây Ban Nha (phải) trong trú đóng khu vực đại đồn Chí Hòa và xung quanh đồn – Ảnh tư liệu

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Đại đồn Chí Hòa (màu cam – khu vực chỉ huy nằm gần Bà Quẹo – phía bắc đại đồn) và hệ thống đồn lũy xung quanh (đỏ). Giữa các đồn phía nam có thêm hai lũy dọc và ngang mà bản đồ ghi là phòng tuyến mới (nouvelle ligne). Bản đồ này vẽ thiếu đồn Tây Thới giữa đồn Thuận Kiều và Rạch Tra. Các điểm màu vàng là “phòng tuyến chùa” của liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Màu hồng là thành Gia Định thất thủ năm 1859 – Bản đồ hành quân của Léopold Pallu – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1892. Lúc này con rạch tự nhiên tạo nên góc lõm của đại đồn vẫn còn. Bên hông đại đồn là Đầm Sen. Khi tấn công đại đồn, liên quân Pháp – Tây Ban Nha phải đánh vòng qua đây – Ảnh tư liệu – Đồ họa Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ hiện nay – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Khu vực ngã tư Bảy Hiền về hướng Bà Quẹo hiện nay. Đây là khu vực trung tâm chỉ huy đại đồn Chí Hòa xưa – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Vòng xoay Lăng Cha Cả sáng 11-11. Khu vực này xưa cũng có đồn cạnh bên khu lăng mộ này để kiểm soát quân Pháp từ hướng Nam Kỳ Khởi Nghĩa và bảo vệ đồn chỉ huy ở ngã tư Bảy Hiền – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, xe môtô và ngoài trời
Charles Rigault de Genouilly, hình chụp khoảng năm 1870

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Đề đốc Hải quân Charner, hình vẽ khoảng năm 1880.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định ngày 17-2-1859 – Tranh vẽ của người Pháp về trận đánh này.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời
Sơ đồ Thành Gia Định

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định (thành Phụng) ở góc phải phía trên thành cũ và các con đường quanh thành hiện nay.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định 1867

Không có văn bản thay thế tự động nào.

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: