Late Imperial Chinese army (5)

QUÂN ĐỘI NHÀ THUẬN

Khi thành lập vương triều Thuận vào năm 1643, Lý Tự Thành có khoảng 6 vạn binh sĩ. Số binh sĩ này được tổ chức thành năm đạo quân, sau đó được chia thành các đơn vị nhỏ hơn, mỗi đơn vị này bao gồm 50 kị binh, 150 bộ binh và 30-40 phu dịch. Đạo quân lớn nhất có 100 đơn vị như vậy, 130 đơn vị còn lại được chia đều cho bốn đạo quân. Có lẽ lấy cảm hứng từ việc cùng họ với các hoàng đế nhà Đường, Lý Tự Thành đã cố gắng thể hiện tính chính danh của mình bằng việc dùng một loạt các chức hiệu thời Đường để phong cho thuộc hạ.

Trong công cuộc kiến quốc của mình, quân đội của Lý đã bị quân Minh đánh tan sau thất bại tại Tzu-t’ung vào năm 1638. Sau đó, ông đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Ma Shouying (Mã Châu Dĩnh), một lãnh tụ của phong trào Hồi giáo ở Tây Bắc Trung Hoa. Mã đã cho ông ta binh lính để xây dựng lại quân đội. Những tín đồ Hồi giáo chiếm vị trí quan trọng trong lực lượng Thuận quân, thậm chí có tin đồn cho rằng, Lý Tự Thành đã theo Hồi giáo. Các lực lượng Hồi giáo hợp tác với Lý Tự Thành đã tồn tại lâu hơn ông ta. Họ đã chiến đấu chống lại Mãn Châu cho đến tận khi bị Mạnh Kiểu Phương tiêu diệt vào năm 1650.

Ban đầu, trang bị của Nghĩa quân Thiểm Tây rất kém, nhưng họ đã phát triển một cách nhanh chóng và đến năm 1640, có một số lượng lớn hỏa khí đã được trang bị. Không chỉ đơn giản là cướp được của quân triều đình, họ còn tự đúc được hỏa khí cho riêng mình. Một viên quan Minh đã than thở: “Những gì chúng ta có (vũ khí) không thể sánh với chúng”. Chiến thắng của Lý Tự Thành trước Tả Lương Ngọc vào năm 1642 là nhờ những ưu thế về pháo binh. Kị binh của Thuận quân cũng rất mạnh mẽ. Một số nguồn cho rằng rất nhiều bộ binh Thuận quân đã sử dụng ngựa khi di chuyển. K’ou-shih pien-nien (?) đã mô tả cảnh tượng Thuận quân vượt sông trên lưng các con ngựa. Khi tiến vào Bắc Kinh năm 1644, Thuận quân có đồng phục là áo khoác xanh và mũ trắng.

Sấm vương Lý Tự Thành

Nghĩa quân ban đầu có kỉ luật khá tốt, sau khi Bắc Kinh thất thủ, tính kỉ luật suy giảm nghiêm trọng. Lý Tự Thành không muốn sử dụng lại các viên quan nhà Minh vì những ác cảm về nạn tham nhũng. Ông tổ chức trưng thu và đã lấy được được rất nhiều tài sản có được nhờ tham nhũng của các viên chức nay. Cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn tồn tại dai dẳng. Không đủ tiền để nuôi quân, những người lính trở thành kẻ cướp. Cho rằng chiến tranh đã kết thúc, rất nhiều binh sĩ đã chiến đấu một cách miễn cưỡng khi Mãn Châu tấn công xuống phía Nam. Thuận quân sụp đổ hoàn toàn trong trận chiến với Mãn Châu tại Sơn Hải quan. Quân Mãn Châu được cư dân Bắc Kinh chào đón như nhưng người giải phóng.

THANH TRIỀU (1644-1842)

Trung Hoa vào tháng 11  năm 1644, Màu vàng là lãnh thổ Nam Minh, màu đỏ là nước Đại Tây của Trương Hiến Trung, màu nâu là Đại Thuận của Lý Tự Thành, màu xanh là Mãn Thanh

Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục Trung Hoa, Mãn Châu phải mất một thời gian để ổn định tình hình. Trịnh Thành Công, con trai của hải tặc nổi tiếng – Trịnh Chi Long, vẫn đang duy trì thế lực của mình ở vùng duyên hải Đông Nam. Ông cố gắng tập hợp lực lượng và xây dựng phong trào thân Minh ở đây. Năm 1655, với 250.000 người và 2.300 tàu thuyền, ông phát động một cuộc Bắc tiến với tham vọng khôi phục nhà Minh. Mãn Thanh đã phái một hạm đội ra ngăn chặn. Tuy nhiên do thiếu kinh nghiệm hàng hải, hạm đội này đã bị một cơn bão đánh tan. Năm 1659, Trịnh Thành Công bao vây Nam Kinh, một trận chiến lớn trên đất liền đã nổ ra, Mãn Châu đã đẩy được Trịnh Thành Công ra khỏi đại lục.

Bản đồ khu vực kiểm soát của Trịnh Thành Công, màu đỏ là những khu vực ông từng chiếm giữ, màu hồng là khu vực kiểm soát.

Ông rút đến Đài Loan, lúc này đang bị người Hà Lan chiếm đóng với những công trình phòng thủ kiên cố như pháo đài Zeelandia. Sau chín tháng vây hãm, Trịnh Thành Công đã giành lại được Đài Loan từ tay Hà Lan. Đáng tiếc, ông mất ngay sau đó. Những người kế nhiệm ông giữ được Đài Loan thêm 20 năm nữa thì bị quân Thanh tiêu diệt. Đài Loan là một hòn đảo nghèo, tình hình càng trở nên khó khăn hơn cho nghĩa quân khi quân Thanh cố gắng cô lập hòn đảo. Chính quyền của Trịnh Thành Công không đủ khả năng tài chính để duy trì một lực lượng quân đội cũng như tàu thuyền đủ mạnh để quay trở lại đại lục. Năm 1664, nhà Thanh đã kiểm soát được hoàn toàn bờ biển Đông Nam. Tiếp đó vào năm 1683, họ chiếm được Đài Loan.

Tập tin:Zeelandia model.JPG

Mô hình phục chế thành Zeelandia

 

Năm 1673, “Loạn Tam phiên” (Tam phiên chi loạn) đã bùng nổ ở phía Nam Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng này nổ ra do những sai lầm của vị hoàng đế trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm: Khang Hi. Để nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh người Hán, các vị hoàng đế tiền nhiệm đã trao cho họ khá nhiều quyền lực. Thế lực của các phiên vương này đã khiến cho Khang Hi e ngại đến mức ông quyết định phải áp chế họ. Vị phiên vương quyền lực nhất là Ngô Tam Quế. Ông được giữ lại quyền chỉ huy quân đội sau chiến dịch xâm chiếm Miến Điện và đã biến vùng đất phía Tây Nam thành vương quốc của riêng mình. Thế lực của Ngô Tam Quế ngày càng lớn mạnh nhờ lợi nhuận từ các mỏ khoáng sản và các tuyến đường thương mại. Ông xưng đế, lập ra nhà Chu và tuyên bố sẽ chiếm đóng toàn cõi Trung Hoa. Nhưng các vị tướng người Hán khác vẫn trung thành với nhà Thanh. Năm 1676, với việc hai đồng minh chính là Vương Phụ Thần và Cảnh Tinh Trung phản bội, thế lực của Ngô Tam Quế suy yếu nhanh chóng. Ông mất vào năm 1678, cháu của ông là Ngô Thế Phan lên kế vị. Quân Thanh đánh đến Côn Minh, thủ phủ của chính quyền họ Ngô. Năm 1681, Ngô Thế Phan tự tử, cuộc nổi dậy bị dập tắt.

Nội loạn ở Trung Hoa cuối thế kỉ 17 (Wu San-kuei: Ngô Tam Quế, Keng Ching-chung: Cảnh Tinh Trung, Wang Fu-ch’en: Vương Phụ Thần, Shang Chih-hsin: Thượng Chi Tín, Ch’ing: Thanh)

Mặc cho những tai tiếng trước đây khi mở cửa cho Mãn Thanh vào Trung nguyên cũng như việc lập ra một triều đình mới (triều Chu), Ngô Tam Quế vẫn tự nhận mình là một người trung thành với nhà Minh. Những người lính của ông để tóc kiểu Hán. Họ sử dụng mũ trắng, cờ trắng với ý nghĩa để tang vua Minh. Quân đội của Ngô Tam Quế còn có một lực lượng tượng binh bao gồm 45 con voi. Không rõ đơn vị này được hình thành từ bao giờ, có lẽ những con voi này được cung cấp nhờ mối liên hệ với Miến Điện.

Sau thất bại của loạn Tam phiên, đa phần lãnh thổ Trung Quốc được sống trong thái bình dưới sự cai trị của một loạt các vị hoàng đế tài năng như Khang Hi (1661-1722), Ung Chính (1723-36) và Càn Long (1736-96). Những pháp lệnh được áp dụng một cách cứng rắn, tham nhũng được kiểm soát và áp lực thuế lên người dân tương đối nhẹ. Trong phần lớn thế kỉ 18, Trung Quốc đã có một thời kì thịnh vượng chưa từng thấy. Bắt đầu từ thời Khang Hi, đế chế đã có thể thực hiện được một loạt các chiến dịch quân sự mở rộng lãnh thổ và đã trở thành đế quốc rộng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Một trong những mối đe dọa từ bên ngoài đầu tiên xuất hiện đến từ Nga. Người Nga từ Siberia di chuyển sang phía Đông và phía Nam. Vào năm 1652, họ xâm nhập thung lũng Amur (Hắc Long Giang) ở Mãn Châu, tàn sát một loạt các bộ lạc bản địa đang là chư hầu của nhà Thanh. Nhà Thanh đã đuổi họ đi nhưng hai năm sau họ quay lại. Người Nga cố gắng dùng thuyền đi dọc sông Sungari, một nhánh của Amur, để tiến vào Mãn Châu. Vào mùa xuân năm 1658, họ bị một đội tàu pháo của nhà Thanh chặn lại và phải chịu thất bại nặng nề. Trong năm 1685, một trận chiến lại nổ ra tại pháo đài Albazin của Nga ở Amur. Những căng thẳng được giải quyết trong một cuộc đàm phán vào năm 1689 giữa đại sứ Nga và viên đại học sĩ nhà Thanh: Sách Ngạch Đồ, người đang được hậu thuẫn bởi một đội quân hùng hậu gồm 15.000 người và 50 khẩu pháo. Người Nga, lúc này chỉ có 2000 quân trong khu vực, đã phải đồng ý hòa bình. Thỏa thuận này, hay còn được biết dưới cái tên “Hiệp ước Nerchinsk”, là hiệp định đầu tiên giữa Trung Quốc và một cường quốc châu Âu. Người Trung Quốc rõ ràng đã đạt được một thắng lợi to lớn về ngoại giao khi quyền cai trị miền Bắc Mãn Châu của họ được công nhận và duy trì cho đến tận những năm 1850.

Quân Thanh tấn công pháo đài Albazin (có thể thấy những bị binh quân Thanh bên góc dưới bên trái)

Đông Mông Cổ (hay còn được gọi là Khalka) đã liên minh với Mãn Châu từ trước khi người Mãn Châu chinh phục Trung Hoa. Tuy nhiên, xa hơn về phía Tây, một nhóm các bộ tộc độc lập được gọi là Oirats đã chiếm vùng lưu vực Tarim và Tây Tạng, thành lập một quốc gia thù địch luôn muốn gây chiến với nhà Thanh. Năm 1686, đại hãn Cát Nhĩ Đan (Galdan khan) đã phát lệnh tấn công Khalka, chính thức với nhà Thanh. Năm 1696, vua Khang Hi tổ chức một cuộc hành binh vào Mông Cổ. Cát Nhĩ Đan cố gắng lẩn tránh nhưng đã bị bao v­ây rồi đánh bại tại Jao Modo (gần Ulan Bator ngày nay). Ông đã trốn thoát được nhưng đã bị bắt lại trong năm tiếp theo.

Một hình ảnh mô tả kị binh Mãn Chân, có thể thấy những kị sĩ đi đầu đang bắn súng

Chiến thắng này đã cho phép nhà Thanh kiểm soát hầu hết Mông Cổ hiện đại. Tuy nhiên, ở phía Tây, Jungars, một trong những gia tộc Oirat, đã dần dần xây dựng lại sức mạnh. Năm 1755, chiến tranh lại nổ ra một lần nữa. Hai năm sau, một đội quân nhà Thanh dưới sự chỉ huy của Triệu Huệ đã tiến vào thung lũng lli. Người Jungars bị tiêu diệt hoàn toàn và những đồng minh Hồi giáo tại Tarim của họ cũng chịu chung số phận vào năm 1759. Biên giới nhà Thanh đã được mở rộng đến tận hồ Balkhash và dãy Pamir, nơi mà nhà Đường, đã không thể xâm nhập.

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: