Những trận hải chiến nổi tiếng trong lịch sử – Phần 6

Chiến dịch U-boat trong Chiến tranh Thế giới I

German U boat

Biên dịch : hongsonvh

Chiến dịch U boat (Chiến tranh thế giới I 1914-1918) là chiến dịch Tầu ngầm U-boat của hải quân Đức tấn công vào các tuyến đường thương mại của Liên minh Trung tâm (hay còn gọi là các nước Đồng minh) trong Chiến tranh thế giới I. Nó diễn ra chủ yếu ở các vùng biển xung quanh các quần đảo thuộc Anh quốc và biển Địa Trung Hải.

Đế quốc Đức dựa vào nhập khẩu thực phẩm và sản xuất thực phẩm trong nước (đặc biệt là phân bón) còn Vương quốc Anh dựa rất nhiều vào nhập khẩu để nuôi dân của họ, và cả các nguyên liệu cần thiết để cung cấp ngành công nghiệp chiến tranh của họ, do đó với mục đích nhằm làm suy yếu đối phương, cả hai cường quốc đã tiến hành các cuộc phong tỏa vào nhau. Người Anh có lực lượng Hải quân Hoàng gia có ưu thế về số lượng và có thể hoạt động trên hầu hết các đại dương trên thế giới vì nước Anh là Đế quốc biển cả, Trong khi Kaiserliche Marine Hạm đội của Đế quốc Đức chủ yếu bị hạn chế ở German Bight, và họ phải sử dụng chiến thuật tấn công tầu thương mại và chiến tranh tàu ngầm không hạn chế ở nơi khác.

Thành công của cuộc phong tỏa vào nước Đức đã góp phần vào sự thất bại về mặt quân sự của Đức vào năm 1918, và là hiệu lực để thi hành việc ký kết Hiệp ước Versailles vào giữa năm 1919.

1914: Bước đầu của chiến dịch

Biển Bắc: giai đoạn ban đầu

Chuyến ra quân đầu tiên

Ngày 06 tháng 8 năm 1914, hai ngày sau khi nước Anh đã tuyên chiến với Đức, Tầu ngầm U-boat U-5, U-7, U-8, U-9, U-13, U-14, U-15, U-16, U-17, và U-18 của Hải quân Đế quốc Đức khởi hành từ căn cứ của họ tại Heligoland tấn công vào tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Anh trong biển Bắc ha?i và làm nổ ra chiến tranh tàu ngầm đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

Các tầu ngầm U-boat khởi hành đi về phía bắc, với hy vọng sẽ gặp hải đoàn của Hải quân Hoàng gia ở giữa Shetland và Bergen. Ngày 08 tháng 8 một trong các động cơ của U-9 bị vỡ và nó đã bị buộc phải trở về căn cứ. Cùng ngày, ngoài khơi Fair Isle, chiếc U-15 nhìn thấy các thiết giáp hạm Anh HMS Ajax, Monarch, và Orion đang di chuyển và nó bắn một quả ngư lôi vào chiếc Monarch. Phát bắn đã không trúng đích và sự thành công được mang đến chỉ là các chiến hạm tăng phải cường canh gác. Lúc bình minh sáng hôm sau, Hải đoàn tuần dương hạm hạng nhẹ số 1 làm nhiệm vụ bảo vệ các thiết giáp hạm, đã có va chạm với Tầu ngầm U-boat , chiếc HMS Birmingham nhìn thấy chiếc U-15 lúc đó đang nổi trên mặt nước. Không có bất kỳ dấu hiệu cảnh giới nào trên con tàu-U này và người ta có thể được nghe âm thanh của động cơ, như là thủy thủ đoàn đang tiến hành sửa chữa gì đó. Chiếc Birmingham ngay lập tức thay đổi hướng đi và đâm vào chiếc U-15 và cắt nó ra làm đôi.

Ngày 12 Tháng 8 bảy chiếc Tầu ngầm U-boat đã trở về Heligoland; chiếc U-13 cũng bị mất tích, và người ta nghĩ rằng nó đã đâm trúng một quả thủy lôi. Có thể nói mặc dù chuyến ra quân đầu tiên của tầu U Boat là một thất bại, nó gây cho Hải quân Hoàng gia một số lo lắng rằng nó đã chứng minh ước tính trước đó về bán kính hoạt động của Tầu ngầm U-boat là sai sự thật và đặt ra câu hỏi cho sự an toàn của Grand Fleed khi họ không được bảo vệ trong lúc neo đậu tại Scapa Flow. Mặt khác việc phá hủy dễ dàng chiếc U-15 bởi chiếc HMS Birmingham đã khuyến khích một niềm tin sai lầm rằng tàu ngầm không là một nguy cơ nghiêm trọng với tàu chiến khi chúng nổi trên mặt nước.

Thành công đầu tiên

Ngày 05 tháng 9 năm 1914, chiếc U-21 chỉ huy bởi Trung úy Otto Hersing đã làm nên lịch sử khi nó phóng ngư lôi vào chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ HMS Pathfindercủa Hải quân Hoàng gia. Kho đạn của chiếc tàu tuần dương này phát nổ, và con tàu bị chìm trong vòng bốn phút, lấy mạng 259 người trong thủy thủ đoàn của nó. Đây là chiến thắng chiến đấu đầu tiên của tàu ngầm hiện đại.

Các tầu ngầm U-boat của Đức đã gặp may mắn vào ngày 22 tháng Chín. Rất sớm vào buổi sáng ngày hôm đó, trong lúc quan sát trên cầu của chiếc U-9, chỉ huy của nó là Trung úy Otto Weddigen đã phát hiện một con tàu trên đường chân trời.

Weddigen ra lệnh cho chiếc tầu ngầm U-boat này lặn xuống ngay lập tức, và chiếc tàu ngầm tiến về phía trước để tăng cường điều tra.

Trung úy Otto Weddigen chỉ huy của chiếc U-9, người đã được trao tặng huy chương CrossIron hang I vì diệt một mớ các tuần dương hạm của Anh

Ở tầm gần hơn, Weddigen đã phát hiện ba chiếc tuần dương hạm bọc thép Aboukir, Cressy, và Hogue của Hải quân Hoàng gia. Ba chiếc tàu này không chỉ đơn thuần là những chiếc tầu cổ lỗ mà thủy thủ đoàn của chúng chủ yếu là những quân nhân dự bị, và như vậy chúng rất dễ dàng bị tổn thương, rõ ràng rằng có một quyết định rút chúng trở về đã năm trong các văn phòng đầy tính quan liêu của Bộ ha?i quân Anh và mệnh lệnh này đã không đến kịp với các con tàu. Weddigen bắn một phát ngư lôi vào Aboukir. Thuyền trưởng của các chiếc Hogue và Cressy giả định rằng chiếc Aboukir đã đâm vào một quả thủy lôi và xúm vào để hỗ trợ. Chiếc U 9 phóng hai quả ngư lôi vào chiếc Hogue, và sau đó nhấn chìm chiếc Cressy bằng hai quả ngư lôi tiếp theo khi chiếc tàu tuần dương này cố gắng để bỏ chạy. Ba tuần dương hạm bị đánh chìm trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, 1.460 thủy thủ Anh đã thiệt mạng.

Ảnh chiếc tầu ngầm U-9 anh hùng của Hải quân Đức, chiếc đã hạ một lèo 04 chiếc tuần dưong hạm của Ạnh

Kết thúc cuộc ra quân đầu tiên

Những mối quan tâm cũng đã được thiết lập một cách đầy đủ. Ngày 23 tháng 11 chiếc U-18 thâm nhập vào Scapa Flow với rất ít khó khăn. Tuy nhiên, bãi neo đậu đã vắng ngắt, Grand Fleed đã được phân tán để thả neo ở bờ biển phía tây của Scotland và Ireland. Cuối ngày hôm đó chiếc U-18 đã bị chặn lại trong Pentland Firth bởi tầu đánh cá tuần tra, và sau đó bị đâm và bị đánh chìm bởi tàu khu trục Garry.

Thành công cuối cùng của tầu U Boat trong năm đó là vào ngày 31 Tháng 12. Chiếc U-24 nhìn thấy chiếc thiết giáp hạm của Anh, chiếc HMS Formidable, đang di chuyển trong Channel và phóng ngư lôi của nó. Chiếc Formidable chìm với tổn thất là 547 người trong số thủy thủ đoàn. Chỉ huy của Hạm độiC-in-C của Anh tại Channel, Đô đốc Sir Lewis Bayly, đã bị chỉ trích vì không có những đề phòng thích hợp trong các tình huống huấn luyện, nhưng ông đã được xóa tội vì đây là sơ suất của cấp dưới. Bayly sau này phục vụ với sự đặc cách như là chỉ huy của các lực lượng chống tàu ngầm tại Queenstown.

Tại Địa Trung Hải: giai đoạn ban đầu

Giai đoạn đầu của chiến dịch U-boat tại Địa Trung Hải gồm các hành động của lực lượng tầu ngầm U-boat của Hải quân Áo-Hung (Kuk) chống lại người Pháp, lực lượng đã phong toả Eo biển Otranto. Lúc bắt đầu chiến sự Kuk có bảy Tầu ngầm U-boat đang làm nhiệm vụ tại thời điểm đó, 5 chiếc làm nhiệm vụ chiến đấu, 2 chiếc cho nhiệm vụ đào tạo, tất cả đều thuộc loại hoạt động ven biển, với phạm vi và độ bền hạn chế, phù hợp với hoạt động chiến đấu trong vùng biển Adriatic. Tuy nhiên họ đã gặt hái được một số thành công. Ngày 21 Tháng Mười Hai 1914, U-12 phóng ngư lôi vào chiếc chiến hạm lớp Dreadnought Jean Bart, khiến nó bị loại khỏi vòng chiến mãi mãi và vào ngày 27 tháng tư 1915 chiếc U-5 đánh chìm tàu tuần dương Leon Gambetta cùng với một tổn thất nặng nề về nhân mạng. Tuy nhiên, Kuk đã không thể tạo ra bất kỳ sự ngăn chặn nào vào tuyến đường giao thông của Đồng minh tại Địa Trung Hải khi họ vượt eo biển Otranto.

Chiếc tuần dương hạm của Pháp Leon Gambetta, bị đánh chìm ở Địa Trung Hải bởi tầu ngầm Áo với tổn thất cực lớn về nhân mạng, chỉ còn 137 trong tổng số 728 người của thủy thủ đoàn còn sống sót

Đôi nét về tàu ngầm trong Thế chiến Thứ nhất

Năm 1914 ưu thế chính của tầu ngầm U-boat là có thể lặn sâu, tàu nổi không có đủ phương tiện để phát hiện một tàu ngầm dưới nước, và không có phương tiện để tấn công ngay cả khi họ có thể phát hiện ra chúng, trong khi với ngư lôi U-boat đã có một vũ khí để có thể đánh chìm một tàu chiến bọc thép với một phát bắn của nó. ít rõ ràng, nhưng khả năng này ngày càng trở nên rõ ràng trong chiến dịch tầu ngầm. Trong khi lặn xuống nước tầu ngầm U-boat gần như bị mất tầm quan sát và di chuyển rất chậm , tàu ngầm thời kỳ này có một tốc độ rất hạn chế khi lặn sâu dưới nước và sức chịu đựng rất kém, do đó, chúng phải nhất thiết chiếm được vị trí thuận lợi trước khi tung ra một cuộc tấn công, trong khi ngay cả khi nổi trên mặt nước tốc độ của chúng (khoảng 15 hải lý) chậm hơn tốc độ di chuyển đường trường của hầu hết các tàu chiến và chỉ bằng một phần ba so với các tàu lớp Dreadnought hiện đại nhất.

Các tầu ngầm U-boat đã tạo được một số thành công ấn tượng, và đã có thể đuổi Grand Fleed ra khỏi căn cứ của nó để tìm kiếm một neo đậu an toàn hơn, nhưng Hải quân Đức đã không thể làm xói mòn lợi thế của Grand Fleed như họ đã mong đợi. Ngoài ra, trong hai hoạt động chính trên mặt nước thời kỳ này các tầu ngầm U-boat đã không thể tạo ra một chiếc bẫy hiệu quả, High Seas Fleet cũng không thể đẩy Grand Fleed vào một cái bẫy của U-boat. Trong khi tàu chiến ngày càng chạy ở tốc độ và với cách chạy hình zích zắc họ sẽ trở nên được tương đối an toàn và trong phần còn lại của cuộc chiến Tầu ngầm U-boat đã không thể tung ra một cuộc tấn công thành công nào vào một tàu chiến đang di chuyển theo cách này.
Đến cuối chiến dịch đầu tiên Tầu ngầm U-boat đã đánh chìm chín tàu chiến, trong khi họ đã bị mất năm chiếc trong số tầu ngầm của họ.

Các cuộc tấn công đầu tiên vào các tàu buôn

Các cuộc tấn công đầu tiên vào tàu buôn được bắt đầu vào tháng 10 năm 1914. Vào thời điểm đó không có một kế hoạch cụ thể cho một cuộc tấn công phối hợp các tầu U-boat chống lại tuyến đường vận chuyển Đồng minh. Người ta đã công nhận rằng tầu ngầm U-boat có một số hạn chế khi tham gia tấn công tầu buôn, và một chiến dịch như vậy đã làm ảnh hưởng đến các quốc gia trung lập. Trong sáu tháng sau khi mở ra cuộc chiến tấn công tầu hàng trong tháng 2 năm 1915, Tầu ngầm U-boat đã đánh chìm 19 tàu buôn với tổng cộng 43.000 tấn GRT(Gross Register Tonnage).

1915: Tấn công tầu chở hàng của Đồng Minh

Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế

Khu vực bóng mờ cho thấy "khu vực chiến sự" được người Đức công bố vào ngày 4 Tháng 2 năm 1915

Đến đầu năm 1915, tất cả các bên tham chiến đã mất đi hy vọng rằng cuộc chiến có thể dẫn đến thắng lợi một cách nhanh chóng, và bắt đầu xem xét các biện pháp tàn bạo hơn để cố chiếm được một lợi thế.

Người Anh, với sức mạnh áp đảo trên biển của họ, đã thiết lập một cuộc phong tỏa vào hải quân Đức ngay lập tức sau khi có sự bùng nổ của cuộc chiến trong tháng 8 năm 1914, và vào đầu tháng 11 năm 1914 tuyên bố đây là một khu vực chiến sự, với bất kỳ con tàu nào ra vào Biển Bắc thì chúng phải chấp nhận rủi ro. Cuộc phong tỏa được tiến hành nghiêm ngặt một cách lạ thường khiến thực phẩm thậm chí được coi là ” Mặt hàng lậu của chiến tranh”. Người Đức coi đây là một cố gắng rõ ràng để bỏ đói người dân Đức và bắt họ phải quy phục và (người Đức) muốn trả thù (người Anh) theo cùng một cách, và trong thực tế mức độ nghiêm trọng của cuộc phong tỏa của Anh đã không đi quá nước Mỹ,

Thậm chí về cơ bản người Đức không thể đối phó với sức mạnh hải quân Anh, và cách duy nhất để Đức có thể áp đặt một cuộc phong tỏa vào nước Anh là sử dụng U-Boat. Thủ tướng Đức, Theobald von Bethmann Hollweg, nghĩ rằng đó là một cuộc phong tỏa bằng tàu ngầm, dựa trên nguyên tắc “bắn mà không cần cảnh báo”, sẽ ngăn ca?n Hoa Kỳ và các quốc gia trung lập khác. Tuy nhiên, ông ta đã chấp nhận đâm lao thì phải theo lao khi sử dụng nguyên tắc này.

Để đối phó với tuyên bố của Anh trong tháng 11 năm 1914 rằng toàn bộ Biển Bắc bây giờ đã trở thành một khu vực chiến sự, vào ngày 04 tháng 2 năm 1915 Đô đốc Hugo von Pohl, Chỉ huy của Hạm đội Hight Seas Fleed, đã cho xuất bản một lời cảnh báo trong Deutscher Reichsanzeiger ( Đức Hoàng Công báo):

(1) Các biển xung quanh Vương quốc Anh và Ireland, bao gồm toàn bộ English Channel, tại thời điểm này được tuyên bố là khu vực chiến sự. Từ ngày 18 tháng hai trở đi bất cứ tàu buôn nào của đối phương bị bắt gặp trong vùng này sẽ đều bị tiêu diệt, đồng thời cũng không có các biện pháp ngăn chặn các mối nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng thủy thủ đoàn và hành khách.

(2) các tàu trung lập cũng sẽ phải đối mặt với rủi ro trong khu vực chiến sự, bởi các rủi ro nguy hiểm của cuộc chiến trên biển và kể từ ngày 31 tháng 1 do người Anh lạm dụng cờ của các quốc gia trung lập, nên không thể luôn luôn tiến hành các cuộc tấn công vào tàu đối phương mà không làm tổn hại đến tầu trung lập (ở khu vực chiến sự)
Trong thời gian đó, điều này sẽ đẩy các quốc gia ngoài châu Âu (như Brazil và Hoa Kỳ) vào cuộc chiến tranh ở phe Đòng minh.

Tầu U-boat của Đức giờ đây là lực lượng chủ yếu có căn cứ ở Ostend Bỉ, đây là nơi làm cho các tàu ngầm Đức tiếp cận dễ dàng hơn tới những tuyến đường biển trên khắp nước Anh. Người Đức đã sử dụng lợi thế này khi họ đưa về đó 20 Tầu ngầm U-boat để bắt đầu cuộc phong tỏa hải quân. Vào tháng Giêng, trước khi tuyên bố “chiến tranh tàu ngầm không hạn chế” như là một cuộc phong tỏa của tàu ngầm, tổng số tàu hàng lên tới 43.550 tấn đã bị đánh chìm bởi Tầu ngầm U-boat . Số bị đánh đắm sau đó tăng đều đặn tới 168.200 tấn bị đánh đắm trong tháng tám. Tấn công mà không có cảnh báo, tầu ngầm U-boat đã đánh chìm gần 100,000 GRT/ tháng, trung bình 1,9 tàu/ ngày.

Ngày 10 tháng 4 năm 1915 con tầu hơi nước của Anh, chiếc Harpalyce, một chiếc tàu cứu trợ của Bỉ và được đánh dấu rõ ràng như vậy, đã bị tấn công bằng ngư lôi mà không có cảnh báo bởi chiếc tầu ngầm UB-4 ở ngay gần đèn biển North Hinder, ngay bên ngoài dải vùng biển được tuyên bố là an toàn bởi von Pohl. Con tàu đang trên đường đến nước Mỹ để thu thập thực phẩm cho người Bỉ lúc này đang chết đói, và việc nó bị đánh chìm đã làm xúc động các công dân Mỹ và người Mỹ cũng cảm thấy bất bình về cái chết của Leon C. Thrasher, anh này bị chết đuối khi chiếc SS Falaba bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 3 năm 1915 bởi chiếc tầu ngầm U-28 (sự cố Thrasher).

Sự kiện chiếc RMS Lusitania

Chiếc RMS Lusitania mà việc nó bị đánh đắm bởi tầu UBoat đã làm xấu nghiêm trọng quan hệ bang giao Đức - Hoa kỳ

Ngày 7 tháng năm 1915, chiếc RMS Lusitania bị trúng ngư lôi của của chiếc tầu ngầm U-20, 8 dặm (13 km) ngoài khơi Old Head of Kinsale, Ireland, và chìm chỉ trong vòng 18 phút. Trong số 1.959 người trên tàu có 1.198 người đã thiệt mạng, 128 người trong số họ là công dân Mỹ.

Sau vụ việc, chính phủ Đức đã cố gắng biện minh cho nó với một loạt các tham số, mà vẫn còn tranh luận ngày hôm nay, nhưng nó vẫn gây sự phẫn nộ lớn ở Anh và Mỹ, và người Anh cảm thấy rằng người Mỹ muốn phải tuyên chiến với Đức. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson từ chối qua phản ứng, mặc dù sự mất mát to lớn của mạng người do chiếc Lusitania bị đắm yêu cầu một phản ứng dứt khoát từ phía người Mỹ.

Khi người Đức bắt đầu chiến dịch tàu ngầm chống lại nước Anh, Wilson đã cảnh báo rằng Hoa Kỳ mạnh mẽ yêu cầu chính phủ Đức phải ngừng ngay lập tức bất kỳ hành vi vi phạm quyền của người Mỹ. Được hỗ trợ bởi người cao cấp thứ nhì của Bộ Ngoại giao Robert Lansing, Wilson thể hiện rõ ràng yêu cầu của mình trong ba bị vong lục được gửi cho chính phủ Đức vào các ngày 13 tháng 5, ngày 09 tháng 6, và ngày 21 tháng 7 năm 1915.

Lưu ý đầu tiên khẳng định quyền của người Mỹ đi mọi nơi với tư cách là hành khách trên tàu buôn và kêu gọi người Đức từ bỏ chiến tranh tàu ngầm U-boat tấn công vào tầu hàng mà không quan tâm tới bất cứ cờ gì mà họ treo trên tầu.

Lưu ý thứ hai của Wilson bác bỏ lập luận của Đức rằng cuộc phong tỏa của Anh là bất hợp pháp, và là một cuộc tấn công tàn bạo và chết người vào dân thường vô tội, và cáo buộc của họ rằng chiếc Lusitania có chở vũ khí. William Jennings Bryan Wilson coi lưu ý thứ hai là quá khiêu khích và đã từ chức để phản đối việc người ta không kiểm duyệt nó.

Lưu ý thứ ba, trong ngày 21 Tháng 7, Hoa kỳ đưa ra tối hậu, cho thấy rằng họ sẽ coi bất kỳ vụ đánh đắm tầu nào tiếp theo là ” hành động cố tình không thân thiện”. Trong khi công chúng và lãnh đạo Hoa Kỳ chưa sẵn sàng cho chiến tranh, con đường dẫn đến một lời tuyên chiến đã được tạo ra như là một kết quả của việc chiếc Lusitania bị đánh chìm.

Tàu ngầm thả thủy lôi

Sự xuất hiện của những bãi mìn mới ngoài khơi bờ biển phía Đông của Anh trong tháng sáu năm 1915 đã gây bối rối cho Hải quân Hoàng gia vì lúc này mặt nước quá phức tạp, và ban đầu họ đã đổ lỗi cho tàu đánh cá trung lập. Tuy nhiên, ngày 02 tháng 7 khi chiếc tầu tuần duyên nhỏ Cottingham vô tình đâm phải chiếc U-boat nhỏ UC-2 ở ngoài khơi ven biển Great Yarmouth, và khi người ta vớt nó lên và thấy rằng đó là một tàu ngầm thả thủy lôi, nó được trang bị mười hai quả thủy lôi trong sáu chiếc máng.

Ngày 21 tháng 8 UC-5 trở thành chiếc tàu ngầm thả thủy lôi đầu tiên thâm nhập vào English Channel và thả 12 quả thủy lôi ngoài khơi Boulogne, một trong số đó đã đánh chìm chiếc tàu hơi nước William Dawson trong cùng ngày. Chiếc UC-5 thả 6 quả thủy lôi nữa ngoài khơi Boulogne và Folkestone ngày 07 tháng chín, một trong số đó đã đánh chìm chiếc Monarch. Nhiều quả thủy lôi nữa đã được thả ngoài khơi bờ biển phía đông nam bởi các chiếc UC-1, UC-3, UC-6, và UC-7.

Chiếc tầu ngầm thả thủy lôi UC5 khi bị mang về New York - Hoa Kỳ

Vài thông số chung của chiếc UC5: chiến công 29, trọng tải tối đa 200 tấn, tốc độ 6.49 knots (12.02 km/h) khi nổi. 5.67 knots (10.50 km/h) khi lặn, bán kính hoạt động 900 dặm với tốc độ 5 knots, độ lặn sâu thử nghiệm 50 m, vũ khí 6 ống phóng ngư lôi 100 cm, 120 quả thủy lôi, thủy thủ đoàn 14 người

Lại thêm một chiếc tầu ngầm thả thủy lôi nữa - chiếc UC1

Sự kiện chiếc SS Arabic

Ngày 19 tháng 8 năm 1915 Chiếc U-24 đánh chìm chiếc tầu chở khách White Star SS Arabic, ở ngoài lãnh hải của nước Mỹ, khoảng 50 dặm (80 km) về phía nam Kinsale. Nó bắn một quả ngư lôi duy nhất trúng vào phía sau con tầu chở khách, và chiếc này đã chìm trong vòng 10 phút, với tổn thất về sinh mạng của 44 hành khách và thủy thủ đoàn, 3 trong số đó là người Mỹ. Động thái tiếp theo là Mỹ có khả năng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đức,

Ngày 28 tháng 8 thủ tướng Đức đã ban hành lệnh mới tới các chỉ huy tàu ngầm và chuyển tiếp chúng tới Washington. Các mệnh lệnh mới nói rằng cho đến khi tiếp tục có các chỉ thị mới, tất cả các tàu khách chỉ có thể bị đánh chìm sau khi đã được cảnh báo và phải cứu tính mạng của hành khách và thuyền viên. Điều này được chứng minh là không được chấp nhận bởi các chỉ huy cao cấp của Hải quân, và vào ngày 18 tháng chín các đội tầu High Seas ( tầu U-Boat) được rút khỏi nhiệm vụ tấn công tầu hàng .

Hoạt động của tầu ngầm U Boat ở eo biển Dardanelles

Hải quân Đức đã gửi tàu ngầm đầu tiên của họ đến Địa Trung Hải để đáp trả Chiến dịch Dardanelles của Anh-Pháp, sau khi trở nên rõ ràng rằng đồng minh của họ Đế quốc Áo-Hung không có thể làm được gì nhiều để chống lại Đồng minh với lực lượng tàu ngầm nhỏ bé của họ, tuy rằng họ vẫn gặt hái được thành công trong việc bảo vệ biển Adriatic. Chiếc tầu ngầm U-boat đầu tiên được gửi đến là U-21 và hai tầu nhỏ hoạt động ven biển, UB-7 và UB-8. Chúng đã có được thành công ban đầu, chiếc U-21 đã đánh chìm các thiết giáp hạm tiền Dreadnought HMS Triumph và HMS Majestic của Hải quân Hoàng gia vào ngày 25 và ngày 27 tháng 5 trên con đường nó tới Constantinople, nhưng phải hạn chế nghiêm trọng các hoạt động của nó tại Dardanelles, nơi có nhiều tầu tuần tra nhỏ và lưới chống tàu ngầm lớn cùng với bom chìm đã hạn chế hoạt động của chúng.
Đến cuối tháng sáu 1915, người Đức đã lắp ráp thêm 3 tàu ngầm loại UB ở Pola, 2 trong số đó đã được chuyển giao cho Hải quân Áo. Họ cũng đã được lắp ráp 3 tầu ngầm thả thủy lôi loại UC I, và sau đó chúng nhận được ra lệnh chuyển đổi thành tàu vận tải để thực hiện việc giao một số lượng nhỏ vật tư quan trọng cho Thổ Nhĩ Kỳ.

Hoạt động của tầu U-Boat ở Địa Trung Hải (ĐTH)

Địa Trung Hải là một chiến trường hấp dẫn cho các hoạt động của Admiralstab Đức, một phần đáng kể hàng nhập khẩu của Anh đi ngang qua ĐTH, vùng biển này là cực kỳ quan trọng đối với hàng của Pháp và Ý, và tàu ngầm có thể hoạt động hiệu quả trong ĐTH ngay cả trong mùa thu và mùa đông, khi thời tiết nghèo nàn cản trở các hoạt động của tầu ngầm tại Đại Tây Dương và biển Bắc biển. Ngoài ra, có một số điểm nút cổ chai mà tầu vận tải phải vượt qua, chẳng hạn như Kênh đào Suez, Malta, Crete, và eo biển Gibraltar. Cuối cùng, Địa Trung Hải cung cấp những lợi thế như ít khi gặp phải tàu trung lập, chẳng hạn như tầu Mỹ hoặc Brazil, vì ít có công dân ngoài châu Âu đi lại ở vùng biển này.

Trong suốt mùa hè, người Đức đã lắp ráp một lố 4 chiếc tầu ngầm tại Cattaro cho các hoạt động chống lại tàu hàng ở Địa Trung Hải. Chiến dịch được tiến hành trong tháng mười năm 1915, khi các chiếc U-33 và U-39, tiếp theo sau là chiếc U-35, được lệnh tấn công các tầu vận tải khi chúng tiếp cận Salonika và Kavalla. Trong tháng này, 18 tàu bị đánh chìm với tổng số trọng tải 63.848 tấn. Người Đức đã quyết định cùng tháng đó tăng thêm quân tiếp viện bằng một chiếc U-boat lớn hơn nữa, chiếc U-38 khởi hành đi Cattaro. Kể từ lúc này Đức vẫn chưa có chiến tranh với Ý, mặc dù nước Áo vẫn đang ở tình trạng chiến tranh với Ý, các tàu ngầm Đức đã nhận được mệnh lệnh tránh tấn công tàu Ý tại phía đông Địa Trung Hải, nơi người Ý có thể chờ các hành động thù địch chỉ từ tàu ngầm của Đức. Khi hoạt động ở phía tây đến Cape Matapan, U-Boat Đức kéo cờ Áo, và đánh đắm tầu hàng mà không cần sử dụng biện pháp cảnh báo nào, kể từ lúc này tàu buôn lớn có thể bị tấn công trên con đường vận chuyển bởi tầu ngầm hoặc tàu tuần dương trinh sát.

Bộ Hải quân Đức cũng đã quyết định rằng tàu ngầm loại UB II sẽ là lý tưởng cho hoạt động ở Địa Trung Hải. Từ lúc này loại tầu ngầm mới là quá lớn để được vận chuyển bằng đường sắt tới Pola như tầu ngầm UB Type I, nên chỉ có các phần tháo rời của nó và công nhân Đức làm việc lắp ráp chúng được gửi đển thay thế. Điều này có nghĩa là sẽ thiếu công nhân để lắp ráp Tầu ngầm U-boat để phục vụ trong vùng biển nhà, nhưng đây lại có vẻ là hợp lý bởi những thành công tại Địa Trung Hải trong tháng 11, khi 44 tàu hàng bị đánh chìm với tổng trọng tải lên đến 155.882 tấn. Tổng số tầu bị đánh chìm trong tháng 12 đã giảm xuống còn 17 tàu (73.741 tấn) mà vẫn là hơn quá nửa tổng trọng tải bị đánh chìm trong tất cả các vùng biển có hoạt động của UB vào thời điểm đó.

Trong tháng 11 năm 1915 chiếc U-38 lại gây ra một sự cố ngoại giao khi nó đã đánh chìm chiếc tàu hơi nước Ý Ancona trong khi nó căng cờ Áo, và làm mất mạng 40 công dân Mỹ. Một sự kiện tương tự xảy ra vào tháng ba 1916 đã ảnh hưởng tới quyết định của Ý tuyên chiến với Đức vào tháng tám năm 1916.

Biện pháp đối phó của Đồng minh

Biện pháp đối phó của Đồng Minh trong thời kỳ này đã thành công một cách hỗn độn.

Các biện pháp phòng thủ, chẳng hạn như tàu buôn có vũ trang và tư vấn cho họ để hoặc là đâm vào các tầu U Boat, hoặc ép chúng phải lặn xuống là hiệu quả nhất. Từ các tàu có vũ trang để tự vệ, bước tiếp theo là các tàu vũ trang với mục đích tham gia săn đuổi các tầu ngầm U-boat. Trong các cuộc đọ súng 2 tầu ngầm U-boat bị đánh chìm vào năm 1915 bởi các tầu đánh cá có trang bị vũ khí tấn công. Bước tiếp sau là trang bị vũ khí và người cho các con tầu với những khẩu súng được che dấu (để săn tầu ngầm), loại tầu này được gọi là tầu Q. Một biến thể theo ý tưởng trang bị vũ khí cho tàu nhỏ cùng với tầu ngầm hộ tống. Năm 1915 có 2 UB bị đánh chìm bởi tầu Q và 2 chiếc nữa bị đánh chìm bởi tàu ngầm hộ tống.

Các biện pháp tấn công tỏ ra có ít hiệu quả, những nỗ lực đã được thực hiện để sử dụng các tấm lưới để truy tìm và làm Tầu ngầm U-boat mắc vào lưới, và tiêu diệt chúng bằng thuốc nổ, nhưng cách này phần lớn gặp thất bại. các nỗ lực cũng được thực hiện để phong tỏa các tuyến đường như con đường qua Eo biển Dover với lưới và bãi thủy lôi, và chúng được gọi là Dover Barrage, thủy lôi được thả xung quanh các căn cứ U-boat, và các cơ sở của tàu ngầm để đón chúng ra vào cảng. Những biện pháp này đòi hỏi một chi phí rất lớn và rất nhiều nguyên vật liệu, nhưng đã gặt hái rất ít thành công. Chỉ có 2 chiếc tầu ngầm U-boat bị đánh chìm bởi những biện pháp này vào năm 1915.

Vào đầu thời kỳ này British Merchant Marine đã có một hạm đội thương thuyền với tổng trọng tải lên đến 21.000.000 GRT. Trong sáu tháng chiến tranh tàu ngầm không hạn chế hạn Tầu ngầm U-boat đã chìm ¾ triệu tấn vận chuyển của Đồng Minh, với tốc độ này thì khó mà tiêu diệt được hạm đội thương thuyền của Anh, trong khi số tầu được đóng mới, và bổ sung từ các tàu bị tịch thu đã thừa đủ để bù đắp mất mát này. Mặt khác, các vi phạm nghiêm trọng của tầu ngầm U-Boát vào các nước trung lập như Na Uy và Hà Lan, đã đẩy nước Mỹ tham gia vào chiến tranh. Thất bại này cùng với các hạn chế chủ yếu khác nhau đối với các tầu U-boat vũ trang ở khu vực Đại Tây Dương đã làm chiến dịch phải tạm dừng, mặc dù nó vẫn tiếp tục với gây ra những trở ngại nhỏ trên Địa Trung Hải và các nơi khác, những nơi có ít khả năng tấn công phải tầu trung lập.

Bom chìm – Depht Charge

Bom chìm, hay “thả mìn” như nó được đặt tên ban đầu, lần đầu tiên được bàn tới vào năm 1910, và được phát triển thành thực tế khi Tổng tư lệnh của Hải quân Hoàng gia, Đô đốc Hạm đội Sir George Callaghan yêu cầu sản xuất cho mình trong năm 1914. Công việc thiết kế được thực hiện bởi Herbert Taylor tại HMS Vernon Torpedo và Mine School tại Portsmouth nước Anh, và là loại bom chìm đầu tiên có hiệu quả, “Type D”, đã được sản xuất hàng loạt trong tháng 1 năm 1916.

Cảnh chất bom chìm lênmôth tầu khu trục hộ tống - chiếc HMS Dianthus

Các tầu chống tàu ngầm ban đầu chỉ mang hai quả bom chìm, chúng được từ một chiếc dù ở đuôi tàu. Thành công đầu tiên là sự kiện đánh chìm chiếc U-68 ngoài khơi Kerry, Ireland, ngày 22 tháng ba 1916 bởi tàu Q Farnborough. Đức đã trở thành nhận thức của các phụ trách các cuộc tấn công chiều sâu sau không thành công trên U-67 ngày 15 tháng tư 1916, và chiếc U-69 ngày 20 tháng 4. Các chiếc UC-19 và UB-29 là những chiếc tầu ngầm loại khác bị đánh chìm bởi bom chìm trong năm 1916.

1916: Hạm đội High Seas Fleed, Địa Trung Hải, Mỹ, và vùng biển Bắc cực

Năm 1916, Hải quân Đức cố gắng một lần nữa sử dụng Tầu ngầm U-boat để làm xói mòn ưu thế về số lượng của Grand Fleed, chúng phân đoạn hoạt động thu hút Grand Fleed vào một cái bẫy của U-boat. Bởi vì Tầu ngầm U-boat có tốc độ chậm hơn nhiều so với hạm đội tầu chiến, hoạt động này yêu cầu U-boat lập trước nơi phục kích, sau đó cơ động hạm đội tầu chiến để dử Grand Fleed tiến về phía họ.

Một số các hoạt động này đã được phân đoạn vào tháng ba và tháng tư năm 1916, nhưng đã không thành công. Trớ trêu thay, trận đánh của các hạm đội lớn đó đã diễn ra, Trận Jutland, vào tháng 5 năm 1916 mà không có sự tham gia của U-boat, các hạm đội đã chạm trán và tấn công lẫn nhau một cách tình cờ, và không có bất cứ đội tầu U-boat nào ở gần khu vực chiến sự. Một loạt các hoạt động được tiếp tục trong tháng 8 và tháng 10 năm 1916, tương tự không có hiệu quả và chiến thuật này đã bị loại bỏ để các U Boat tiếp tục tham gia tấn công tầu hàng .

Người Anh cũng nhận thức được rằng có nguy cơ về các cái bẫy U-boat cho Grand Fleed, mặc dù họ không có phương tiện để tìm xem các bẫy này có thể được đặt ở đâu. Tuy nhiên Jellicoe đã phát triển một chiến thuật phản ứng cho trường hợp này. Đối mặt với một hạm đội Đức đang quay lưng rút lui, ông ta sẽ giả định rằng có một cái bẫy tàu ngầm và tránh đuổi theo chúng, nhưng lại di chuyển ở tốc độ cao để tấn công vào bên sườn của đối phương, trước khi đối phương kịp triển khai và nổ súng, mục đích là để tránh phải chiến đấu ở vùng biển được lựa chọn bởi kẻ thù, và buộc bất cứ Tầu ngầm U-boat nào đang hiện diện phải nổi lên mặt nước nếu chúng dự định bám sát họ.

Vùng biển Địa Trung Hải

Trong năm 1916 các vụ tấn công tầu hàng tiếp tục không suy giảm tại Địa Trung Hải. Đồng minh đã không có biện pháp đối phó hiệu quả, các sắp xếp phức tạp để hợp tác giữa hải quân các quốc gia khác nhau có nghĩa là phản ứng bị phân mảnh và không có sự hợp tác, trong khi các biện pháp chính được các lực lượng đồng minh ưa chuộng cho mối đe doạ của tầu ngầm U-boat là rào chặn tầu ngầm tai Otranto (Otranto Barrage) có rất ít hiệu quả.

Chỉ có hai Tầu ngầm U-boat bị tiêu diệt trong tại rào chặn này trong thời gian diễn ra tất cả các hoạt động của U-Boat, trong khi đó các đội tầu buôn chịu tổn thất rất lớn. Năm 1916 quân Đồng minh đã mất 415 tàu, chiếm tải trọng 1.045.058 GRT, một nửa trong số tất cả các tàu Đồng Minh bị đánh chìm tại tất cả các chiến trường.

Tám trong số một tá tầu U-boat ghi nhiều thành tích nhất đã đạt danh hiệu “Ách” khi phục vụ trong đội tàu nhỏ ở Pola, bao gồm chỉ huy có thành tích cao nhất trong số đó, K / L Arnauld de la Perière.

Ảnh thuyền trưởng Arnauld de la Perière " Ách" đầu bảng của tầu UBoat tại Địa Trung Hải, bác này sau chết vì tai nạn máy bay năm 1941

Tại Hoa kỳ

Năm 1916, người Đức hoàn tất việc lắp ráp hai tàu ngầm vận tải , chúng được sử dụng như những tầu phá vỡ phong tỏa. Mục đích sử dụng chúng là để vận chuyển những hàng hoá có giá trị cao từ các quốc gia trung lập như Mỹ, tuy vẫn duy trì một thái độ trung lập nghiêm ngặt, nhưng vẫn có những hoạt động hàng với Đức như với bất kỳ quốc gia nào khác. Chiếc đầu tiên của các con tàu này, chiếc Deutschland, khởi hành vào mùa hè năm 1916 và đã tạo ra một hình ảnh thuận lợi vào công chúng Mỹ. Nó đã thực hiện một chuyến đi thành công thứ hai vào mùa thu năm đó. Chiếc chị em của nó, chiếc Bremen, đã kém may mắn, nó biến mất ngay trong chuyến đi đầu tiên mà không ai rõ nguyên nhân.

Chiếc tầu ngầm vận tải Deutschland, một trong những chiếc tầu ngầm lớn nhất thế giới thời WW I với trọng tải 2.272 tấn, nó có nhiệm vụ đột phá vòng phong tỏa của Anh để sang các nước trung lập

Một hình ảnh tạo ấn tượng rất xấu đã được tại ra bởi hành trình của chiếc tầu ngầm U-53 dưới sự chỉ huy của K / L Hans Rose. Sau khi tiếp nhiên liệu tại Newport, Rhode Island, Rose tiến hành đột kích tầu buôn của Đồng Minh đang vận chuyển ngoài khơi bờ biển Canada và Hoa Kỳ. Mặc dù đây là ở biển quốc tế, và mặc dù Rose đã tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp quốc tế, nhưng hành động này được xem là một sỉ nhục đối với Mỹ, đặc biệt là khi tàu chiến Mỹ đã buộc phải bó tay đứng đứng nhìn trong khi tàu buôn gần đó bị đánh chìm.

Vùng biển Bắc cực

Trong mùa thu năm 1916, Tầu ngầm U-boat trong hạm đội Hight Seas tấn công các tầu vận chuyển cho nước Nga. Năm Tầu ngầm U-boat hoạt động trong Biển Barent giữa Bắc Cape và Kola inlet. Ngoài ra, hai tầu ngầm thả thủy lôi lớp UE1 cũng đặt các bãi mìn trong Biển Trắng. Những chiếc tầu ngầm U-boat đã đánh chìm 34 tàu (19 chiếc trong số đó là của Na Uy) trước khi mùa đông băng đóng vùng này và làm các hoạt động vận tải phải ngừng lại.

Năm 1917: Quay trở lại chiến tranh tàu ngầm không hạn chế

khu vực bóng mờ cho thấy khu vực tàu ngầm hoạt động không hạn chế được công bố bởi người Đức vào ngày 01 tháng hai năm 1917

Ngày 22 tháng 12 1916, Đô đốc von Holtzendorff chuẩn bị một bản giác thư mà nó đã trở thành một tài liệu quan trọng cho việc quay trở lại chiến tranh không hạn chế của U-boat vào năm 1917. Holtzendorff đề xuất phá vỡ phong tỏa của Anh bằng cách đánh chìm 600.000 tấn / tháng, dựa trên một nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Fuss vào tháng hai năm 1916, người đã chứng minh rằng nếu số tàu buôn bị đánh chìm ở mức như vậy, nước Anh sẽ phải dừng tuyến vận chuyển và bị buộc phải thương lượng hòa bình trong vòng 6 tháng, trước khi người Mỹ có thể hành động. Ngay cả khi có sự can thiệp một cách “vô tổ chức và vô kỷ luật” của người Mỹ, Holtzendorff đảm bảo với Kaiser (Đức Hoàng) “thần xin đảm bảo với Majesty của thần với tư cách một quân nhân rằng sẽ không có một người Mỹ nào có thể đặt chân lên lục địa này.”
Ngày 09 Tháng một 1917, Kaiser đã có 1 cuộc họp với Thủ tướng Bethmann-Hollweg và các nhà lãnh đạo quân đội tại Schloss Pless để thảo luận về các biện pháp để cải thiện tình hình chiến sự đang ngày càng trở nên tồi tệ đối với người Đức, chiến dịch quân sự của họ tại Pháp đã sa lầy, và khoảng 190 sư đoàn của Đồng minh đang chiếm ưu thế so với 150 của người Đức, đã có một khả năng thực sự là một cuộc tấn công của quân đồng minh sẽ thành công. Trong khi đó, hải quân Đức đã bị giam chân tại cảng nhà Kiel, và cuộc phong tỏa của Anh đã gây ra một sự khan hiếm thực phẩm và gây ra tử vong cao do suy dinh dưỡng. Các nhân viên quân sự thúc giục Kaiser phải mở rộng phạm vi hoạt động của hạm đội tàu ngầm để tấn công các tầu vận chuyển hàng hóa đến Anh, Hindenburg đưa ra lời khuyên tới Kaiser rằng “chiến tranh phải được đi đến một kết thúc có nghĩa là với bất cứ phương tiện nào càng sớm càng tốt.” Kaiser đã ký hợp hợp pháp hóa cho việc tiếp tục chiến tranh tàu ngầm không hạn chế vào ngày 01 tháng 2 năm 1917, Bethmann-Hollweg, người đã phản đối quyết định này, cho biết: ” nước Đức thế là hết”.

Ngày 27 tháng 1, Đô đốc Beatty cho thấy quan điểm là “Điểm mấu chốt nằm ở thực tế là chúng ta phải phong tỏa đối phương để họ phải quỳ gối, hoặc họ cũng sẽ làm như vậy với chúng ta”

105 tàu ngầm Đức đã sẵn sàng cho chiến dịch trên vào ngày 1 tháng hai: 46 chiếc trong Hạm đội Hight Seas Fleed, 23 chiếc ở Flanders, 23 tại Địa Trung Hải, 10 trong biển Baltic, và 3 tại Constantinople. Công tác đóng tầu đảm bảo rằng, bất chấp những thiệt hại, có ít nhất 120 tàu ngầm đã được sẵn sàng cho phần còn lại của năm 1917. Giai đoạn đầu của chiến dịch là một thành công lớn, gần 500.000 tấn tàu bị đánh chìm vào tháng hai và tháng ba, và 860.000 tấn trong tháng tư, làm cho dự trữ lúa mì của nước Anh giảm đi còn có đến 6 tuần. Trong tháng 5 thiệt hại vượt quá 600.000 tấn, và trong tháng sáu là 700.000 tấn. Đức chỉ bị mất có 9 tàu ngầm trong ba tháng đầu tiên của chiến dịch.

Ngày 03 tháng 2, để trả lời cho chiến dịch tàu ngầm không hạn chế mới, tổng thống Wilson đã cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Đức và tuyên chiến với 06 tháng 4.

Phản ứng của Đồng Minh

Chiến dịch chiến tranh tàu ngầm không hạn chế mới đã thu được những thành công ban đầu. Trong tháng 1 năm 1917, trước khi chiến dịch này diễn ra, Anh đã mất 49 tàu, trong tháng hai, sau khi nó nổ ra, 105 tầu, và tháng ba, 147 tầu. Trong tháng ba 25 % trên tổng số tàu Anh đang chở hàng bị đánh chìm.

Hải quân Anh không có biện pháp đáp trả một cách có hiệu quả cho cuộc tấn công của Đức. Mặc dù đã được chứng minh là các tầu hộ tống đã thu được thành công trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, các đoàn công voa đi qua Channel giữa Anh và Pháp, và các đoàn công voa Hà Lan, Pháp, Scandinavia và Biển Bắc, ban đầu từ chối xem xét việc tăng cường hộ tống. Tăng cường hộ tống sẽ gây ra sự chậm trễ nghiêm trọng về tốc độ vận chuyển và được cho là nhằm vào các mục tiêu riêng, gây ra một sự mất mát về lực lượng để thực hiện hộ tống lớn hơn tổn thất gây ra bởi các tầu U Boat. Điều này không được ưa thích bởi cả thuyền trưởng tầu buôn lẫn tầu hải quân, và họ thường chế giễu biện pháp phòng thủ thụ động này. Mãi cho đến ngày 27 tháng 4 thì Bộ Hải quân mới chuẩn y đoàn hộ tống cho đoàn công vao đầu tiên xuất phát từ Gibraltar, ngày 10 tháng 5 năm 1917.

Trong tháng tư, Chuẩn Đô đốc Mỹ William Sims tới London như là đầu mối liên lạc của Hải quân Mỹ. Ông bị làm mất tinh thần bởi thông báo của Bộ Hải quân Anh rằng Đức sẽ giành chiến thắng trong chiến tranh nếu các tàu ngầm của họ không bị chặn lại, và ông này ngay lập tức đánh điện tín cho Washington để yêu cầu các tàu khu trục của Hải quân Hoa kỳ xuất phát đến Queenstown, Ireland, từ đó họ có thể tuần tra ở phía tây.

Khi các tầu buôn của các nước Đồng Minh bị đánh chìm, tàu Brazil đã tiếp nhận các tuyến đường đã bị bỏ trống. Tuy nhiên, điều này dẫn đến việc các tàu Brazil đi vào vùng biển có sự hoạt động của Tầu ngầm U-boat . Khi chính sách chiến tranh tàu ngầm không hạn chế của nước Đức được thông qua kết quả là tàu của Brazil đã rất nhanh chóng bị đánh chìm, việc này đã làm cho quốc gia này tuyên chiến với các cường quốc Trung Tâm (Đức – Áo).

Trong tháng Năm và Tháng Sáu một hệ thống hộ tống tầu vận tải vượt Đại Tây Dương được thành lập, và sau đó kể từ tháng bảy thiệt hại hàng tháng không bao giờ vượt quá 500.000 tấn, mặc dù chúng vẫn còn vượt 300.000 tấn ở trong các tháng còn lại của năm 1917. Việc hộ tống thành công ngay lập tức trên các tuyến đường nó được sử dụng và nó dẫn đến việc giảm tổn thất trong vận chuyển, với Tầu ngầm U-boat cũng dễ dàng để tìm ra chúng (tầu UB) hơn. Việc các tàu chiến hộ tống các đoàn công voa tăng cường va chạm và tấn công Tầu ngầm U-boat, dẫn đến sự gia tăng số lượng Tầu ngầm U-boat bị phá hủy. Tổn thất tàu ngầm Đức là khoảng 5 -> 10 chiếc mỗi tháng, và họ nhanh chóng nhận được sự cần thiết phải tăng cường đóng mới các tầu ngầm, thậm chí phải đóng thêm các chiến hạm nổi. Tuy nhiên, công việc đóng tầu đã bị trì hoãn bởi sự thiếu hụt lao động và vật liệu.

Hoạt động đầu tiên của hải quân Mỹ

Một loạt các cuộc chạm trán bất phân thắng bại nổ ra trong Thế chiến thứ nhất có liên quan đến tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Đức. Người Mỹ khoác lác là đã đánh chìm ít nhất hai Tầu ngầm U-boat của Đức trong các chiến dịch có sự tham gia của họ. Trong hoạt động quân sự ngày 15 Tháng Mười 1917, một tàu khu trục của Hải quân Mỹ đã bị đánh hỏng nặng bởi một tàu ngầm của Đức. Trong hoạt động ngày 17 tháng 11 năm 1917, chiếc Tầu ngầm U-boat đầu tiên của Đức bị đánh chìm bởi tàu chiến Mỹ trong thế chiến I.

Năm 1918: Năm cuối cùng

Vào cuối năm 1917 tổn thất về tầu buôn của Đồng Minh ở mức trên 6.000.000 GRT cho cả năm. Tuy nhiên thiệt hại các tháng cuối năm đã giảm xuống còn khoảng 300.000 GRT/ tháng, và không bao giờ tăng lên được đến mức như vào mùa xuân năm 1917. Với việc thành lập một hệ thống hộ tống toàn diện đoàn, thiệt hại về vận tải của Đồng minh đã giảm đến mức không còn là thiết yếu, trong khi thiệt hại của U-boat lại tăng lên đến mức đáng báo động. Từ 48 tầu ngầm U-boat bị mất trong các năm đầu tiên đến tháng hai năm 1917 thế mà chỉ cho đến cuối năm này đã có thêm 61 chiếc bị tiêu diệt.

Câu trả lời chính là sự hợp lý của hệ thống đoàn hộ tống, trong đó tập trung lực lượng vào để bảo vệ cũng tương tự như tập trung lực lượng vào để tấn công. Các tầu U-boat vũ trang đã không tìm được cách hóa giải thành công khi gặp phản ứng như vậy trong Thế chiến thứ nhất. Chỉ duy nhất một nỗ lực được thực hiện để tiến hành hoạt động theo nhóm, mục đích là để tung ra một cuộc tấn công của một nhóm U Boat vào bất kỳ đoàn công voa nào mà chúng gặp phải, 6 Tầu ngầm U-boat khởi hành tháng 5 năm 1918 trong đội hình một nhóm được chỉ huy bởi K / L Rucker trong chiếc U-103. Họ gặp phải một vài đoàn công voa có hộ tống và thành công trong việc đánh chìm 3 tàu hàng, nhưng mất 2 chiếc trong số họ, bao gồm cả U-103 bị đâm bởi chiếc tầu chở quân Olympic. Rucker đã phát hiện ra sự mất kiểm soát từ vị trí tầu của mình ở trên biển và sự nản lòng cao độ đã làm người Đức không có thêm bất cứ thử nghiệm nào thêm.

Tầu ngầm tuần dương

Cuối cuộc chiến, các nhà lãnh đạo cao cấp của Đức quyết định leo thang chiến tranh tàu ngầm tới tận bờ biển của Mỹ bằng cách sử dụng Tầu ngầm U-boat lớn lớp U-151. Lớp U-151 mang 18 quả ngư lôi 105 mm và hai súng ở boong, và chúng có tầm hoạt động khoảng 25.000 hải lý (46.300 km). Bảy chiếc được chế tạo trong năm 1916, ban đầu chúng là những Tầu ngầm U-boat vận tải loại lớn để vận chuyển vật liệu đến và đi từ những địa điểm mà tầu nổi của Đức không thể tiểp cận, Chẳng hạn như Hoa Kỳ, và 6 chiếc đã được trang bị cho nhiệm vụ chiến đấu vào năm 1917. Chúng là những Tầu ngầm U-boat lớn nhất của Thế chiến I.

Chiến dịch ở Hoa kỳ

Chiếc U-151 khởi hành từ Kiel ngày 14 tháng tư 1918 được chỉ huy bởi Heinrich von Korvettenkapitän Nostitz und Jänckendorff, nhiệm vụ của nó là tấn công các tàu Mỹ. Nó đã tới Chesapeake Bay ngày 21 tháng năm, nơi nó thả các quả thủy lôi ngoài khơi Capes Delaware, và cắt đứt đường cáp điện báo ngầm dưới nước dùng để kết nối New York với Nova Scotia.

Ngày 25 Tháng Năm, nó chặn ba chiếc tầu schooners của Mỹ ở ngoài khơi Virginia, bắt thủy thủ đoàn của các con tầu này làm tù binh sau khi đánh chìm chúng. Ngày 2 tháng sáu năm 1918 được biết đến bởi một số nhà sử học như “là một ngày chủ nhật đen tối”, chiếc U-151 đánh chìm sáu tàu Mỹ và làm hư hại hai chiếc khác ngoài khơi bờ biển New Jersey trong khoảng thời gian chỉ một vài giờ đồng hồ. Ngày hôm sau chiếc tàu chở dầu Herbert L. Pratt húc vào một quả thủy lôi trước đó được thả bởi chiếc U-151 trong khu vực nhưng sau đó con tầu đã được vớt. Chỉ có 13 người chết trong bảy vụ đắm tầu, nguyên nhân cái chết của họ được gây ra là bởi một xuồng cứu sinh bị lật úp. Chiếc U-151 trở lại Kiel, ngày 20 Tháng 7 năm 1918 sau một cuộc hành trình dài 94 ngày và với một khoảng cách là khoảng 10.915 dặm (17.566 km), nó đánh chìm 23 tàu với tổng trọng 61.000 tấn, và phải chịu trách nhiệm về thảm họa đắm tàu của 4 chiếc khác vì trúng thủy lôi mà nó thả.

Ảnh chiếc UBoat số 151, chiếc đã từng làm loạn cả bờ biển Hoa kỳ vào năm 1918

Được khuyến khích bởi sự thành công của chiếc U-151, các chiếc U-156, U-117, và chiếc tầu ngầm tuần dương U-139 cỡ lớn đã xuất phát với các nhiệm vụ tương tự, nhưng Hải quân Mỹ đã sẵn sàng để tiếp đón họ, và mùa săn bắn đã không có kết quả tốt đẹp. Chiếc U-156 đã bị mất với tất cả thủy thủ đoàn trên hành trình trở về khi nó đụng phải một quả thủy lôi ngoài khơi Bergen, Na Uy, ngày 25 tháng chín năm 1918. Một bộ ba các chiếc tàu ngầm tầm xa, U-155, U-152, và chiếc tầu ngâm tuần dương U-139 phải đi xuyên qua Đại Tây Dương theo cách của họ trong tháng 11 năm 1918 khi chiến tranh đã kết thúc.

Một vài chuyến đi dài của tầu ngầm tuần dương cũng được tiến hành về phía nam tới Azores và bờ biển châu Phi, nơi chúng thoải mái hoạt động tấn công các tầu buôn của Đồng minh trong khu vực mà không bị cản trở, mặc dù một chiếc, chiếc U-154 đã bị trúng ngư lôi của tàu ngầm Anh HMS E35 ngoài khơi bờ biển của Bồ Đào Nha tháng 5 năm 1918.

Biện pháp đối phó cuối cùng

Vào năm 1918 các biện pháp của Đồng Minh để chống tàu ngầm đã tiếp tục trở nên hiệu quả hơn.
Máy bay bắt đầu đóng một vai trò ngày càng hiệu quả trong việc tuần tra các khu vực lớn một cách nhanh chóng. Trong khi chúng có ít hiệu lực ít khi tấn công (chỉ có một tầu U Boat đã được xác nhận là bị đánh chìm bởi tấn công đường không) sự hiện diện của máy bay đã buộc U-boat phải lặn sâu xuống và trở thành bị mù và không cơ động được, hoặc nguy cơ máy bay đi cùng với tàu chiến tuần tra để săn tầu ngầm. Trong năm 1918 các đoàn công voa được hộ tống bởi máy bay tuần tra đã không bị mất một con tàu nào, và tầu ngầm U-boat ngày càng bị buộc phải hoạt động vào ban đêm hoặc vượt quá phạm vi của máy bay.

Năm 1918 Hải quân Hoa Kỳ bắt tay vào một kế hoạch khổng lồ để tạo ra một rào chắn trên các tuyến đường quá cảnh Biển Bắc. Rào chắn biển Bắc (Northern Barrage ) được thả hơn 70.000 quả thủy lôi trong mùa hè năm 1918. Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1918, 6 Tầu ngầm U-boat bị đánh chìm bởi biện pháp này.

Hải quân Hoàng gia cũng phát triển Tàu ngầm lớp R, Thiết kế như một tàu săn tầu ngầm, với tốc độ cao và hệ thống thiết bị dò dưới nước (sophisticated hydrophone system). Tuy nhiên những thiết bị này đã được ra đời quá muộn để đưa vào hành động và chúng đã không lập nên được chiến công nào.

Đến cuối năm, đội tầu hàng của Đồng minh bị thiệt hại 2 ¾ triệu GRT trong cả năm, Tầu ngầm vũ trang U-boat mất 69 chiếc trong năm 1918, năm tồi tệ nhất của nó.

Ảnh thật cuả một chiếc tầu ngầm lớp R - trên mũi và tháp của nó có ký hiệu R3 - Kẻ săn lùng sát thủ

Sự tham gia của Nhật Bản

Bắt đầu từ tháng tư năm 1917, Nhật Bản, một đồng minh của Anh Quốc, đã gửi tổng cộng 14 tàu khu trục đến Địa Trung Hải với các tàu tuần dương làm kỳ hạm, chúng có căn cứ tại Malta và đóng một vai trò quan trọng trong việc hộ tống đoàn công voa và bảo vệ họ chống lại tàu ngầm của đối phương. Các tàu Nhật rất hiệu quả trong việc tuần tra và hoạt động chống tàu ngầm. Tuy nhiên, trong số 9 tàu ngầm của hải quân Áo-Hung bị tiêu diệt, 5 chiếc bị đánh chìm bởi các đơn vị hải quân Ý (U-13, U-10, U-16, U-20, và U-23), 1 bị đánh chìm bởi liên quân Ý Pháp (U-30), 1 bởi Hải quân Hoàng gia Nauy (U-3), Trong khi hải quân Nhật Bản không đánh chìm được chiếc tầu ngầm nào thì họ lại bị mất một trong những khu trục hạm (tàu khu trục Nhật Bản Sakaki trúng ngư lôi của chiếc U-27).

Sự tham gia của Brazil

Ngày 21 tháng mười hai năm 1917 chính phủ Anh yêu cầu sự có mặt của một đội tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân Brazil được đặt dưới sự kiểm soát Hải quân Hoàng gia và một hải đoàn đã được thành lập, chúng bao gồm các tuần dương hạm Rio Grande do Sul và Bahia, các tàu khu trục Paraiba, Rio Grande do Norte, Piauí, và Santa Catarina, cùng các tàu hỗ trợ Belmonte và các tàu kéo đi biển Laurindo Pitta, chúng được gọi là Divisão Naval em Operações de Guerra (Naval Division in War Operations) gọi tắt là DNOG. Đám này khởi hành vào ngày 31 tháng Bảy 1918 từ Fernando de Noronha thuộc Sierra Leone, chúng đến lúc Freetown ngày 09 tháng 8, và đi tới căn cứ hoạt động mới của chúng ở Dakar vào ngày 23 tháng Tám. Vào đêm 25 tháng 8 đám này tin rằng chúng đã bị tấn công bởi một chiếc tầu ngầm UBoat khi chiếc tàu tuần dương phụ trợ Belmonte nhìn thấy một ngư lôi bắn theo. Chiếc tàu ngầm này trở thành đích để bị đánh bằng bom chìm, và nó được báo cáo là đã bị đánh chìm bởi chiếc Rio Grande do Norte nhưng không bao giờ được xác nhận.

Các lực lượng của DNOG tuần tra tuyến tam giác Dakar – Cape Verde – Gibraltar, bị nghi là được sử dụng bởi Tầu ngầm U-boat để phục kích các đoàn công voa, cho đến ngày 03 tháng 11 năm 1918 khi nó (DNOG) khởi hành đi Gibraltar để bắt đầu hoạt động tại Địa Trung Hải mà không có các chiếc Rio Grande do Sul, Rio Grande do Norte, và Belmonte. Khi hải đoàn này đến Gibraltar, ngày 10 tháng 11, trong khi vượt qua eo biển Gibraltar, họ tưởng lầm ba chiếc tầu khu trục nhỏ của Hải quân Hoa Kỳ là Tầu ngầm U-boat nhưng không gây ra thiệt hại gì.

Kết thúc

Vào năm 1918, đội tầu ngầm U-boat đã bị thiệt hại lên tới mức không thể chấp nhận được, và tinh thần của các thủy thủ đoàn của chúng đã xấu đi đáng kể, vào mùa thu tình hình trở nên rõ ràng rằng các cường quốc Trung Tâm sẽ không thể giành chiến thắng trong chiến tranh.

Đồng Minh nhấn mạnh rằng một điều kiện tiên quyết thiết yếu cho bất kỳ hiệp ước đình chiến nào là tất cả các tàu ngầm của nó phải đầu hàng và vào ngày 24 tháng 10 năm 1918 tất cả các Tầu ngầm U-boat của Đức được lệnh phải chấm dứt hoạt động tấn công và trở về cảng nhà của họ. Đồng minh quy định rằng tất cả các tàu ngầm còn đủ khả năng đi biển phải đầu hàng ngay lập tức và những chiếc đang đóng dở dang trong nhà máy đóng tàu phải bị phá bỏ. Cuối cùng quan trọng vai trò của Tầu ngầm U-boat trong Thế chiến I được là sự đàn áp phong trào binh biến của Thủy binh Đức trong cùng tháng đó, khi chúng tuyên bố sẵn sàng “bắn mà không có cảnh báo vào bất kỳ con tàu nào có treo cờ đỏ” ( tựa như người Nga, khi nước Đức thua trận thì các Thủy binh Đức đứng dậy làm cách mạng XHCN, nhưng họ đã thất bại vì bị  đàn áp từ nhiều phía )

Thống kê tóm tắt

Trọng tải tầu hàng của Đồng minh và các nước trung lập bị đánh chìm bởi tàu ngầm U Boat trong Thế chiến I

Tháng 1914 1915 1916 1917 1918
Tháng một 47.981 81.259 368.521 306.658
Tháng hai 59.921 117.547 540.006 318.957
Tháng ba 80.775 167.097 593.841 342.597
Tháng tư 55.725 191.667 881.027 278.719
May 120.058 129.175 596.629 295.520
Tháng Sáu 131.428 108.855 687.507 255.587
Tháng Bảy 109.640 118.215 557.988 260.967
Tháng Tám 62.767 185.866 162.744 511.730 283.815
Tháng Chín 98.378 151.884 230.460 351.748 187.881
Tháng Mười 87.917 88.534 353.660 458.558 118.559
Tháng mười một 19.413 153.043 311.508 289.212 17.682
Tháng mười hai 44.197 123.141 355.139 399.212
Tổng số 312.672 1.307.996 2.327.326 6.235.878 2.666.942

Tổng cộng 12.850.814 tấn

Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế được bắt đầu vào tháng 2 năm 1917 và người Anh bắt đầu triển khai hộ tống toàn diện vào tháng 9 năm 1917. Thiệt hại nặng nhất mà Đồng minh phải chịu là trong tháng 4 năm 1917 khi một kỷ lục 881.027 tấn bị đánh chìm do Tầu ngầm U-boat lập.

Trong Thế chiến thứ nhất xấp xỉ 5.000 tàu buôn đã bị đánh chìm bởi tầu ngầm U-boat , với thủy thủ 15.000 Đồng Minh mất mạng (con số này có vẻ không được logic cho lắm vì nếu thế thì chỉ có 3 thủy thủ mất mạng cho 01 tầu buôn bị U Boat đánh đắm. Đây cũng chưa tính số thủy thủ của tầu chiến Anh thiệt mạng, ví dụ khi chiếc U-9 diệt 04 tầu tuần dương Anh thì có đến gần 2.000 thủy thủ Anh thiệt mạng rồi).

Lực lượng tàu ngầm Đức 1914-1918

1914 1915 1916 1917 1918
Số tầu có trong tay 24 29 54 133 142
Đóng mới bổ sung 10 52 108 87 70
Mất trong chiến đấu 5 19 22 63 69
Mất vì lý do khác 8 7 15 9??
Còn lại 29 54 133 142 134

– Tổng số tầu ngầm U-boat được đưa vào hoạt động: 351 chiếc
-Tổng số tầu bị đánh chìm trong chiến đấu: 178 (50%)
– Tổn thất khác: 39 chiếc (11%)
– Hoàn thành sau khi đình chiến: 45 chiếc
– Đầu hàng Đồng Minh: 179 chiếc
– Thủy thủ đoàn của Uboat thiệt mạng: 5.000 người

Ảnh chiếc tầu ngầm Đức U35 với môt khẩu súng bắn nhanh ở bên trái và một khẩu khác ở bên phải tháp điều khiển

Đây là ảnh đầy đủ của chiếc UB1, nó là tầu ngầm ven biển được nâng cấp thành tầu ngầm thả thủy lôi

Ảnh chụp chiếc U90 với một khẩu súng 105 ly nòng dài ở phía trước tháp chỉ huy, khẩu súng này có lẽ để triệt hạ tầu buôn vào những hôm có nhiều sương mù hoặc ban đêm

ảnh chiến đấu thực của tàu mỹ và U boat

Nguồn

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s