Những trận hải chiến nổi tiếng trong lịch sử – Phần 5

Phần 5 : Những trận hải chiến nổi tiếng thời cận đại – Châu Á thế kỷ 19

haichienluthuan_KTO_470_BXGM

Biên dịch : hongsonvh

Trận chiến sông Áp lục – Một phần của chiến tranh Giáp Ngọ năm 1894-95

TOA_map01_s

Hoàn cảnh lịch sử của trận chiến sông Áp lục

Trung Quốc dưới ách thống trị của Triều đình nhà Thanh ( Thanh Đình) khoảng gần 2 thế kỷ, trải qua gần 1 thế kỷ dưới các đời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long thì đất nước này khá ổn định, tuy nhiên càng về cuối thì Trung Quốc ngày càng tụt dốc không phanh, một trong những ngyên nhân là do sự hủ bại của Thanh Đình. Đặc biệt là khoảng giữa thế kỷ 19 đổ lại Trung Quốc ngày càng trở nên bại hoại với đối nội là những cuộc khởi nghĩa triền miên của người nông dân như phong trào Thái Bình Thiên Quốc, khởi nghĩa của người Niệm, người Tạng, người Miêu… đối ngoại thì liên tục thất trận và bị xâu xé bởi Liên quân bát cường quốc. Tuy nhiên vào thời điểm này cũng không thể phủ nhận rằng ở Trung Quốc lúc đó không có các điểm sáng, và một trong những điểm sáng đó chính là Hạm đội Bắc Dương, hạm đội này được thành lập trong thời trị vì của Từ Hy Thái Hậu, có lẽ nguyên nhân chính của việc thành lập hạm đội Bắc Dương là do Từ Hy Thái Hậu đã cảm thấy được sự nguy hiểm của một đế quốc trẻ trung và bạo tàn ở sát ngay bên nách mình, đó chính là Đế quốc Nhật Bản – Đế quốc mặt trời mọc. Và một phần nào đó bà ta cũng có tham vọng thông qua hạm đội này để thống trị vùng biển phía Bắc Trung Quốc qua đó mà có thể giải quyết một số mâu thuẫn đối nội.

Còn về phía Nhật bản, chỉ sau khoảng 30 năm kể từ cải cách của Thiên Hoàng Minh Trị nước Nhật Bản đã tiến bộ môt cách khủng khiếp và có xu hướng trở thành một nước công nghiệp hiện đại, nhưng buồn thay nước Nhật Bản lại là một hòn đảo cô độc và hiếm tài nguyên thiên nhiên. Chính vì vậy mà Nhật Bản lại có ý nhòm ngó sang bờ biển phía Bắc của Trung Quốc và cụ thể hơn là người Nhật muốn chiếm lấy Triều Tiên – một quốc gia đang nằm trong sự bảo hộ của Trung Quốc. Ý định của người Nhật có lẽ là lấy Triều Tiên làm bàn đạp để qua đó từ từ chiếm Mãn Châu rồi nuốt dần Trung Quốc, và lịch sử đã từng chứng minh rằng người Nhật Bản đã làm như vậy ở thế kỷ 17, chỉ có sự suất sắc đến mức tuyệt vời của Đô đốc hải quân Triều tiên Lý Thuấn Thần mới chặn bước được tham vọng của họ mà thôi. Chính vì vậy mà cuộc đối đầu giữa Trung Quốc ( dưới sự thống trị của Thanh Đình) và Nhật Bản là không thể tránh khỏi, và điểm nhấn của cuộc chiến tranh này ( chiến tranh Giáp Ngọ) chính là cuộc đối đầu giữa hai hạm đội mạnh nhất nhì châu Á, hạm đội Bắc Dương và hạm đội Nhất Bản chính cuộc đối đầu này sẽ quyết định kết quả cuối cùng của cuộc chiến. Hạm đội Bắc Dương tuy đông tầu hơn, súng lớn hơn nhưng do một loạt lý do đã thua te tua đến mức hoàn toàn bị xóa sổ. Ham đội Nhật Bản tuy yếu hơn nhưng người Nhật có lòng quyết tâm cao hơn lại được dẫn dắt bởi vị Đô đốc tài ba keyuki đã đánh một trận ở sông Áp Lục làm bại xương sống hạm đội Bắc Dương, đánh trận nữa ở Uy Hải Vệ xóa sạch hạm đội này và qua đó dành chiến thắng trong cuộc chiến Giáp Ngọ. Không biết thế nào chứ theo em thì bại trận trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ hóa ra lại là một điều may mắn cho người Trung Quốc bởi vì nếu kết quả ngược lại thì có lẽ Thanh Đình vẫn thống trị Trung Quốc cho tới tận ngày nay hé hé

Vài nét về Hạm Đội Bắc Dương

Hạm đội Bắc Dương là một trong bốn hạm đội hiện đại của hải quân Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Hạm đội này nhận được sự hậu thuẫn rất lớn từ Lý Hồng Chương, Tổng đốc Trực Lệ. Hạm đội Bắc Dương trở thành một thế lực ở vùng Đông Á trước cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất. Hạm đội Bắc Dương vào cuối những năm 1880 được coi là ?omạnh nhất châu Á? và mạnh thứ 8 trên thế giới?.

Hạm đội Bắc Dương được thành lập vào năm 1871, khi bốn con tàu từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc di chuyển về phía bắc để tuần tra vùng biển phía Bắc. Hạm đội Bắc Dương bước đầu bị coi là yếu nhất trong bốn Hạm đội của Trung Quốc (Thanh Đình) trong khu vực, nhưng sự việc ngày càng thay đổi khi Lý Hồng Chương đã ưu tiên phân bổ phần lớn các quỹ hải quân cho Hạm đội Bắc Dương. Năm 1884, vào đêm trước của Cuộc chiến Trung-Pháp, Hạm đội Bắc Dương đã trở thành hạm đội lớn thứ 2 của Thanh Đình và dần dần thu hẹp khoảng cách với Hạm đội Nam Dương lúc đó đang đóng tại Thượng Hải. Đến năm 1890 nó đã hạm đội lớn nhất trong bốn hạm đội của Trung Quốc.

Không giống với các hạm đội khác của Trung Quốc, nòng cốt của Hạm đội Bắc Dương bao gồm chủ yếu là các thiết giáp hạm được đóng ở nước Đức và Anh đặc biệt là các kỳ hạm Định Viễn và Trấn Viễn được mua từ nước Đức. Những thế mạnh của Hạm đội Bắc Dương đã trở thành một điều hiển nhiên, bởi vì người Đức là sức mạnh đang nổi lên trở thành đối thủ của người Anh (hiện đang thống trị đại dương) trong xây dựng lực lượng hải quân mới.

Vào lúc này Hạm đội Bắc Dương đang ở đỉnh cao của nó với gồm 78 chiếc tàu, với tổng trọng tải lên tới 83.900 tấn. Tuy nhiên, việc đóng thêm các tàu mới gần như hoàn toàn bị đình đốn vào năm 1888 do nhà Thanh chi tiêu quá nhiều vào các khoản mục khác và người ta còn nói rằng quỹ chi dùng cho hải quân đã được sử dụng để sửa chữa và xây dựng cung điện Di hòa viên sau khi bà ta không còn quan tâm đến việc xây dựng hải quân nữa. Do thiếu kinh phí, việc duy trì đội tàu và đào tạo nhân sự cơ bản cơ bản trở nên bế tắc, và điều này cuối cùng đã góp phần vào thất bại của Hạm đội Bắc Dương trong Trận chiến sông Áp Lục với Hải Quân Nhật Bản.

Trong cuộc chiến tranh Trung ” Pháp Hạm đội Bắc Dương đã được cất giấu kỹ lưỡng của ở ngoài tầm với của Hạm đội Viễn đông của Đô đốc Amédée Courbet (Tháng 8 năm 1884-tháng 4 năm 1885). Tuy nhiên, việc này cũng làm nổi bật nổi bật thủ đoạn của chính phủ Pháp vào giữa các năm 1883 và 1885. Hạm đội Bắc Dương vốn phải nhận bàn giao các thiết giáp hạm Định viễn, Trấn viễn và Tề viễn vào đầu năm 1884, đây là ba tàu chiến hiện đại được đóng tại nhà máy đóng tàu ở Đức. Trong tháng 12 năm 1883, khi cuộc chiến với Trung Quốc dường như ngày càng có khả năng trở thành hiện thực, người Pháp đã thuyết phục chính phủ Đức để làm chậm trễ việc bàn giao ba tàu này. Chúng (ba chiếc Định viễn, Trấn viễn và Tề viễn) đã không thể đến được Trung Quốc cho đến tận mùa thu năm 1885 khi mà Chiến tranh Trung-Pháp đã kết thúc.
Vào cuối tháng 6 năm 1884, sau khi những có những tin tức về trận tập kích Bắc Lê, đô đốc Pháp Sébastien Lespès, chỉ huy Hạm đội Viễn Đông, đã lượn lờ ở ngoài khơi Che-foo thuộc Vịnh Petchili với các tàu chiến Pháp La Galissonnière, Triomphante, Volta và Lutin trong khi Hạm đội Bắc Dương đang nằm ở neo tại bến cảng Che-foo. Mặc dù chiến tranh đã rõ ràng sắp xảy ra, Pháp và Trung Quốc về vẻ bề ngoài vẫn duy trì hòa bình, và Lespès bị cấm không được tấn công Hạm đội Bắc Dương, mà Hạm đội này đang nằm chờ kết quả của những nỗ lực ngoại giao để giải quyết cuộc khủng hoảng này. Vào ngày 03 Tháng 7 năm 1884 chỉ huy của Hạm đội Bắc Dương, Đô đốc Đinh Nhữ Xương. rút tàu của mình từ Che-foo về Pei-ho, nơi có một bến cảng được phòng thủ tốt để bảo vệ chúng khỏi bị tấn công từ các tàu của Pháp. Hạm đội Bắc Dương vẫn ở Pei-ho và trở nên gần như hoàn toàn vô dụng trong suốt cuộc chiến tranh Trung-Pháp.

Trong tháng 2 năm 1885 Hạm đội Bắc Dương miễn cưỡng phái hai con tàu của nó, chiếc Chaoyong và chiếc Yangwei, để tham gia cùng với một số tàu của Hạm đội Nam Dương để thành lập một lực lượng xung kích nhằm phá bỏ sự phong tỏa của người Pháp ở Đài Loan. Hai chiếc tàu này căng buồm đến Thượng Hải để gia nhập với các tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Dương, nhưng gần như ngay lập tức chúng bị gọi quay về bởi Lý Hồng Chương, người cho rằng cần thiết phải có chúng để canh chừng những hành động của Nhật Bản tại Hàn Quốc. Kết quả là Hạm đội Nam Dương đã mất hai tầu chiến tại trận phá vây này – Trận Shipu (Ngày 14 tháng hai năm 1885). Thái độ ích kỷ của Lý Hồng Chương đã không bị quên lãng và cũng không bao giờ được tha thứ, và trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất Hạm đội Nam Dương đã có rất ít các cố gắng để cứu viện cho Hạm đội Bắc Dương.

Cấu thành của hạm đội Bắc Dương năm 1894

Năm 1894, vào đêm trước của cuộc chiến tranh với Nhật Bản, Hạm đội Bắc Dương là hạm đội mạnh nhất ở châu Á. Nó chỉ là một trong bốn hạm đội của Trung Quốc nhưng chỉ mình số lượng tầu của nó đã ngang bằng với toàn bộ số tầu của hạm đội Nhật Bản. Niềm tự hào của Hạm đội Bắc Dương là các thiết giáp hạm Định viễn và Trấn viễn do người Đức đóng.

Giữa các năm 1881 và 1889 Hạm đội Bắc Dương mua một lèo tám tầu tuần dương hạm thiết giáp, phần lớn trong số chúng được đóng ở nước Anh hoặc nước Đức. Hai tuần dương hạm Chaoyong và Yangwei gia nhập hạm đội vào năm 1881 và đã được thận trọng giữ để không tham gia vào chiến sự trong Chiến tranh Trung-Pháp bởi Lý Hồng Chương, là sản phẩm của xưởng đóng tầu Laird, Birkenhead. Ba con tầu tuần dương do người Đức đóng là các chiếc, Jiyuan, Jingyuan và Laiyuan hoàn thành vào năm 1887 tại xưởng đóng tầu Vulcan – Stettin. Một cặp tuần dương hạm hộ vệ, chiếc Chingyuan và chiếc Zhiyuan được đóng bởi nhà thầu Armstrong năm 1887 tại xướng đóng tầu mới có tên là Elswickcủa nó. Cặp thứ hai là một lớp tầu được biết đến như là lớp “Elswick Cruisers”, tàu được đóng để xuất khẩu theo một thiết kế thông thường. Những tàu tuần dương có tốc độ cao (25 hải lý/h) và vũ khí mạnh, nhưng không được chấp nhận bởi Hải quân Hải quân Hoàng gia Anh Quốc bởi chúng bị coi là “yếu về cấu trúc”. Xem ra điều này đã được chứng minh là đúng đắn khi cả hai cặp tầu của Trung Quốc đã bị đắm trong cuộc chiến Trung-Nhật, và điều tương tự như vậy xảy ra với cặp tầu Nhật Bản (Yoshino và Takasago) trong cuộc chiến Nga-Nhật 1904. Đội tàu được đóng ở nước ngoài còn được gia nhập bởi chiếc thiết giáp hạm Pingyuan vào năm 1889, đây là một sản phẩm của xưởng đóng tầu Foochow và ban đầu nó được đặt tên là Yard Longwei.

Hạm đội Bắc Dương cũng còn có sáu pháo hạm không có bọc thép do người Anh đóng, được giao hàng vào năm 1879. Các pháo hạm này có các chi tiết kỹ thuật giống hệt nhau, và chúng được đặt tên tương ứng là Zhenbei ( Guard phía bắc), Zhendong (Guard phía đông), Zhennan ( Guard phía Nam), Zhenxi ( Guard phía tây), Zhenbian ( Guard biên giới) và Zhenzhong ( Guard nội địa). Bốn con tàu đầu tiên trong lớp này ban đầu được giao cho Hạm đội Nam Dương, nhưng Lý Hồng Chương rất ấn tượng với chất lượng của chúng và ông ta đã đưa chúng lên cho Hạm đội Bắc Dương, sau đó đền bù cho Hạm đội Nam Dương bằng bốn pháo hạm cũ kỹ đã phục vụ trong Hạm đội Bắc Dương kể từ năm 1876.

Hạm đội Bắc Dương cũng sở hữu một thê đội tàu nhỏ phóng ngư lôi. Người ta không có con số chính xác một cách chắc chắn, bởi vì đội tầu này không được liệt kê một cách có hệ thống, nhưng có một số chi tiết được biết đến như, Bốn tàu phóng ngư lôi 16 tấn được đóng vào năm 1883 tại xưởng đóng tầu Vulcan, Stettin cùng lúc với các thiết giáp hạm Định viễn và Trấn viễn. Bốn con tàu phóng ngư lôi này được đặt tên tương ứng là Định viễn số 1 và số 2 và Trấn viễn số 1 và số 2, chúng đã bị trì hoãn giao hàng và phải nằm lại bến cảng của Đức trong Chiến tranh Trung-Pháp cùng với các con tàu mẹ, và chỉ được gia nhập vào Hạm đội Bắc Dương vào tháng 10 năm 1885.

Thiết giáp hạm

Tên Loại Đóng tại Thông số kỹ thuật
Định viễn Thiết giáp hạm 1882, Vulcan, Stettin 7.430 tấn, 14,5 hải lý, bốn pháo Krupp 12-in và hai pháo Krupp 6-in
Trấn viễn Thiết giáp hạm 1882, Vulcan, Stettin 7.430 tấn, 14,5 hải lý, bốn pháo Krupp 12-in và hai pháo Krupp 6-in

Tuần dương hạm

Tên Loại Đóng tại Thông số kỹ thuật
Chaoyong
tuần dương hạm bọc thép 1881, Laird, Birkenhead 1.350 tấn, 15 knots, hai pháo 10-in, bốn pháo bắn nhanh 12-cm, hai súng 1 in, 3 ống phóng ngư lôi cố định
Yangwei
tuần dương hạm bọc thép 1881, Laird, Birkenhead 1.350 tấn, 15 knots, hai pháo 10-in, bốn pháo bắn nhanh 12-cm, hai súng 1-in, 3 ống phóng ngư lôi cố định
Jiyuan
tuần dương hạm bọc thép 1884, Vulcan, Stettin 2.440 tấn, 15 knots, hai pháo 8-in, một pháo 6-in, 4 pháo 3-in, 6 súng 2-in, 4 ống phóng ngư lôi 15-in
Jingyuan
tuần dương hạm bọc thép 1887, Vulcan, Stettin 2.440 tấn, 15 knots, hai pháo 8-in, một pháo 6-in, 4 pháo 3-in, 6 súng 2-in, 4 ống phóng ngư lôi 15-in
Laiyuan
tuần dương hạm bọc thép 1887, Vulcan, Stettin 2.440 tấn, 15 knots, hai pháo 8-in, một pháo 6-in, 4 pháo 3-in, 6 súng 2-in, 4 ống phóng ngư lôi 15-in
Zhiyuan
tuần dương hạm bọc thép 1887, Armstrong, Elswick 2.355 tấn, 18 knots, ba pháo 8,2-in, hai pháo 5,9-in, 8 súng 2,2-in, 4 ống phóng ngư lôi 18-in
Jingyuan
tuần dương hạm bọc thép 1887, Armstrong, Elswick 2.355 tấn, 18 knots, ba pháo 8,2-in, hai pháo 5,9-in, 8 súng 2,2-in, 4 ống phóng ngư lôi 18-in
Pingyuan
tuần dương hạm bọc thép 1889, Foochow Yard 2.355 tấn, 18 knots, ba pháo 8,2-in, hai pháo 5,9-in, 8 súng 2,2-in, 4 ống phóng ngư lôi 18-in

pháo hạm
Tên Loại Đóng tại Thông số kỹ thuật
Zhenbei pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb
Zhenbian pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb
Zhendong pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb
Zhennan pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb
Zhenxi pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb
Zhenzhong pháo hạm 1879, Laird, Birkenhead 440 tấn, 10 knots, một pháo Armtrong 35-tấn, hai súng 22-lb

Tầu phóng ngư lôi
Tên Loại Đóng tại Thông số kỹ thuật
Định viễn 1 Tầu phóng ngư lôi 1883, Vulcan, Stettin 15,7 tấn, hai ống phóng ngư lôi 14-in
Định viễn 2 Tầu phóng ngư lôi 1883, Vulcan, Stettin 15,7 tấn, hai ống phóng ngư lôi 14-in
Trấn viễn 1 Tầu phóng ngư lôi 1883, Vulcan, Stettin 15,7 tấn, hai ống phóng ngư lôi 14-in
Trấn viễn 2 Tầu phóng ngư lôi 1883, Vulcan, Stettin 15,7 tấn, hai ống phóng ngư lôi 14-in

Thông tin thêm về con tầu thiết giáp hạm chủ lực của hạm đội Bắc dương

Ảnh chụp chiếc thiết giáp hạm Định viễn - Kỳ hạm của Hạm đội Bắc Dương

Tên: Định viễn
Đặt hàng: 1881
Đóng bởi: Stettiner AG Vulcan, Stettin, Đức
Đặt lườn: 31 Tháng Ba 1881
Hạ thủy: Ngày 28 tháng 12 năm 1881
Hoàn thành: 1884
Hoạt động: Ngày 29 tháng 10 năm 1885
Số phận: Bị đánh đắm ngày 10 Tháng Hai 1895
Đặc điểm chung
Trọng tải: 7.144 longton(7.259t) Chuẩn
7.355 longton (7.473 t) đầy tải
Chiều dài: 94,5 m (310 ft 0 in)
Chiều ngang: 18,4 m (60 ft 4 in)
Mớn nước: 5,94 m (19 ft 6 in)
Lực đẩy: 2-trục ba động cơ pit tông hơi nước, 7.500 shp
2 nồi hơi
1.000 tấn than đá
Tốc độ: 15,4 knot (17,7mph; 28,5km / h)
Tầm hoạt động: 4.500hải lý (8.300km) ở tốc độ 10 kn (12 mph, 19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 363
Vũ khí: ? 4 pháo 305 mm (12 in)
? 2 pháo 150 mm (6 in)
? 2 pháo 57 mm
? 2 pháo 47 mm
? 8 pháo 37 mm
? 3 ống phóng ngư lôi 356 mm (14 in)
Bọc thép: ? Belt: 355 mm (14 in)
? Ổ pháo: 305 mm (12 in)

Thiết kế

Chiếc Định viễn là một chiếc tầu được thiết kế theo kiểu tầu bọc thép có tháp pháo. Nó được công nhận là một trong những chiếc tầu chiến tiên tiến nhất của thời gian đó, nó có chất lượng ngang bằng hoặc thậm chí còn tốt hơn so với bất kỳ con tàu nào trong các hạm đội của Anh và Đức khi nó được đóng. Nó có chiều dài 94,5 mét (298ft, 5in), rộng 18,4 mét (60ft, 4in) và độ mớm nước 5,94 mét (19 ft, 6 in). Nó được bảo vệ bởi một lớp giáp dày 30-centimetre (1ft). Các chuyên gia nói rằng con tàu có thể chịu đựng được mọi loại hỏa lực hiện có tại thời điểm đó.

Chiếc Định viễn có tải trọng tối đa 7.670 tấn, động cơ 6.000 hp (4.500 kW) và tốc độ 14,5 hải lý (27 km) / giờ, và tầm hoạt động khoảng 4.500 hải lý (8.330 km) với tốc độ 10 hải lý (19 km / h).

Vũ khí

Vũ khí chính của con tầu là bốn khẩu pháo 305 mm calibre của hãng Krupp được bố trí thành hai khẩu đội và mạn phải phía trước của amidships. Các khẩu súng có tầm bắn lên tới 7,8 km, với vận tốc của viên đạn là 500 mét/ giây. Một cặp hai pháo Krupp 150 mm calibre đã được đặt trong các ụ súng ở mũi tầu, các khẩu pháo này có tầm bắn lên tới 11.000 mét. Ngoài ra còn có 6 khẩu 37 mm súng và ba ống phóng ngư lôi nằm trên mực nước. Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm khoảng 363 sỹ quan và thủy thủ.

Hai tàu phóng lôi cũng được chở trên tàu, ở phần cơi ra của con tầu để làm tăng sức chiến đấu của nó. Để đáp ứng nhu cầu trên tàu, 20 bộ khử muối có thể cung cấp nước ngọt hàng ngày cho trên 300 người.

Lịch sử

Sau khi đàm phán với cả hai chính phủ Anh và tiếng Đức, năm 1881 Thanh đình đã chọn nhà máy đóng tàu Stettiner Maschinenbau AG Vulcan của Đức để đóng con tầu tiên tiến này với chi phí là 1,7 triệu tael bạc (6.200.000 mark bằng vàng của Đức). Thân tàu được đặt vào ngày 31 tháng 3 năm 1881 và nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 12 năm 1881 và bắt đầu được thử nghiệm trên biển vào ngày 2 tháng 5 năm 1883.

Việc giao chiếc tầu Định viễn đáng lẽ là vào năm 1884 và do một thủy thủ đoàn người Đức, nhưng nó bị trì hoãn do một yêu cầu từ phía người Pháp vì họ đang có một cuộc xung đột với Trung Quốc mà đỉnh điểm là Chiến tranh Trung-Pháp (1884-1885). Con tầu Định viễn là một tàu chiến rất mạnh và vượt trội bất cứ tàu chiến nào của Phá, nên nó đã có thể tạo ra lợi thế cho Hạm đội Trung Quốc đặc biệt là trong Trận Foochow nếu nó được tham gia.
Vào năm 1885 cuối cùng thì chiếc Định viễn cũng căng buồm đến Trung Quốc. Cũng trong năm 1885 Hạm đội Bắc Dương chính thức được thành lập tại Uy Hải Vệ và thiết lập căn cứ tại Đảo Liugongdao, việc này đánh dấu sự thành lập hạm đội hiện đại đầu tiên của nhà Thanh.

Vào giữa thập niên 1890, Nhà Thanh cảm thấy mệt mỏi và mất đi tham vọng dẫn đầu trong cuộc chạy đua vũ trang của hải quân, ngược lại họ đã hải quân Nhật Bản dần dần vượt lên. Vì vấn nạn tham nhũng trong nội bộ Thanh Đình cùng với thiếu kinh phí và kiệt sức nên trong Chiến tranh Trung-Nhật Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã có thể chiếm ưu thế trước Hải quân Bắc Dương. Chiếc Định viễn phục vụ như là chiếc kỳ hạm của Đô đốc Đinh Nhữ Xương trong Trận chiến sông Áp Lục ngày 17 tháng 9 1894. Trong trận chiến này, do một lỗi kỹ thuật khi đóng tàu, đô đốc Đinh Nhữ Xương và nhiều sỹ quan của ông đã bị thương vong do phát bắn đầu tiên của họ khi họ đang đứng trên đài chỉ huy. Sau đó Hạm đội Bắc Dương đã quay trở về căn cứ ở đảo Liugongdao. Đầu năm 1895, người Nhật bao vây Hạm đội Bắc Dương cả trên đất liền và từ mặt biển. Ngày 5 tháng 2 năm 1895, chiếc Định viễn đã bị hư hỏng nghiêm trọng sau khi bị trúng một quả ngư lôi Nhật Bản và sau đó là trúng tiếp đạn hỏa pháo. Thuyền trưởng Liu Buchan của tầu Định viễn đã ra lệnh cho đánh đắm con tầu này.

Thiết giáp hạm thứ hai của Trung Quốc – chiếc Trấn viễn

Ảnh chụp chiếc thiết giáp hạm Trấn Viễn của Hạm đội Bắc Dương

Sự nghiệp ở Hải quân Bắc Dương
Tên: Trấn viễn
Đặt hàng: 1882
Nhà đóng tầu: Stettiner Vulcan AG, Stettin, Đức
Đặt lườn: 1 Tháng Ba năm 1882
Hạ thủy: Ngày 28 tháng 11 năm 1882
Hoàn thành: 1884
Hoạt động: Ngày 01 tháng 3 năm 1885
Số phận: Bị bắt giữ bởi HQ Nhật Bản năm 1895
Sự nghiệp ở Hải quân Nhật Bản
Tên: Chin-en
Vào biên chế: 1895
Số phận: Bị tháo dỡ vào năm 1914
Đặc điểm chung
Tải trọng: 7.220 longton (7.336t) tiêu chuẩn
7.670 longton (7.793 t) đầy tải
Chiều dài: 98,89 m (324 ft 5 in)
Chiều rộng 17,98 m (59 ft 0 in)
Tầm nước: 6,1 m (20 ft 0 in)
Lực đẩy: 2-trục pittông ba động cơ hơi nước, 7.500 shp
2 nồi hơi
1.000 tấn than đá
Tốc độ: 15,4 knot (17,7mph; 28,5km / h)
Tầm hoạt động: 4.500hải lý (8.300km) ở tốc độ 10 kn (12 mph, 19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 363
Vũ khí:
? 4 súng Krupp 305 mm (12 in) / 25 có khóa nạp đạn (2 – 2)
? 2 súng Krupp 150 mm (6 in) / 35 có khóa nạp đạn (2 – 1)
? 6 súng 37 mm (1 in)
? 3 ống phóng ngư lôi
Thiết giáp: ? Belt: 355 mm (14 in)
? Ổ pháo: 305 mm (12 in)

Chiếc Trấn viễn là một tầu chiến bọc thép có tháp pháo được người Đức đóng cho Hạm đội Bắc Dương tại thế kỷ 19, con tàu chị em của nó là chiếc Định Viễn. Chiếc Trấn viễn được đóng với lớp giáp dày tới với 14-inch (360 mm) và súng Krupp hiện đại, đây là chiếc tầu chiến hiện đại hơn bất kỳ chiếc tầu chiến nào được đóng cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản tại thời đó.
Chiếc Trấn viễn có tải trọng lên tới 7.670 tấn và có tốc độ 15,4 knots (29 km / h), ở tốc độ trung bình 10 knots (19 km / h) nó có tầm hoạt động lên tới 4.500 hải lý (8.300 km). Trang bị vũ khí của nó bao gồm 4 pháo Krupp có cỡ nòng 12 inch (305 mm) có khóa nạp đạn và hai khẩu pháo nhỏ hơn 5,9 inch (150 mm) trong hai khẩu đội pháo ở phía đầu và phía đuôi của con tầu. Ngoài ra con tầu còn được bổ sung 6 súng 37 mm và ba ống phóng ngư lôi ở trên mực nước. Tổng số thủy thủ đoàn là 363 sĩ quan và thủy thủ.

Chiếc Trấn viễn được đóng bởi xưởng đóng tầu Stettiner Vulcan AG, thuộc Stettin nước Đức (Nay là thành phố Szczecin, Ba Lan). thân tàu được đặt lườn vào tháng 3 năm 1882, nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 11 năm 1882 và bắt đầu thử nghiệm trên biển vào tháng 3 năm 1884.

Quá trình phục vụ chiến đấu

Chiếc Trấn viễn đã tham gia chiến đấu ở trận chiến sông Áp Lục, trận đánh này diễn ra vào ngày 17 tháng 9 năm 1894, giữa Hải quân Nhật Bản và Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật. Hải Quân Nhật Bản đã bắt giữ chiếc Trấn viễn sau khi kết thúc trận Uy Hải Vệ vào ngày 17 tháng 2 năm 1895. Vào năm 1896 /7 nó được cải tiến và tham gia chiến đấu trong suốt cuộc Chiến tranh Nga-Nhật 1905 /07 như là một tàu tiền tuyến hạng 2 dưới cái tên Chin-en, đây là tên ban đầu của con tầu (tiếng Trung Quốc) được chuyển sang tiếng Nhật bản, chiếc tầu Trấn viễn bị tháo dỡ vào năm 1914.

Ảnh chụp chiếc TDH Chaoyong (Siêu dũng) của HĐ Bắc Dương

Ảnh chup chiếc TDH ChingYuen (Tề Viễn) của HĐ Bắc Dương

Vài nét về Hải Quân Đế Quốc Nhật Bản

Nước Nhật Bản thời kỳ này vừa tiến hành công cuộc cải cách Duy Tân dưới sự lãnh đạo của Thiên hoàng Minh Trị, người Nhật Bản cực kỳ ưu tiên chú trọng đến việc xây dựng hải quân, và họ muốn tạo ra được lực lượng lục quân và hải quân theo kiểu tiên tiến, hiện đại và hiệu quả. Nhật Bản đã gửi nhiều sỹ quan quân đội ra nước ngoài để đào tạo, và người Nhật Bản rất chịu khó đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu tương đối và các chiến thuật của lục quân và hải quân của các cường quốc châu Âu.

Hải quân Đế quốc Nhật Bản được mô phỏng theo mô hình Hải quân Hoàng gia Anh, mà Hải quân Anh quốc là lực lượng hải quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ ( Người Nhật thường tự gọi nước Nhật Bản là Đất nước mặt trời mọc ?” còn người Anh thường tự cho là Mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh, trong WWII Hải quân của đất nước Mặt trời mọc đã quật chết toi lực lượng hải quân ở châu Á của Đất nước Mặt trời không bao giờ lặn). Cố vấn Anh đã được gửi đến Nhật Bản để đào tạo, tư vấn cho các cơ sở giáo dục về hải quân; trong khi đó học sinh học nghề hàng hải lũ lượt được gửi đến Vương quốc Anh để nghiên cứu và quan sát các hoạt động của Hải quân Hoàng gia. Thông qua sự luyện tập và các khóa học được giáo viên của Hải quân Hoàng gia Anh quốc hướng dẫn, người Nhật Bản đã dần dần có một lực lượng hải quân chuyên nghiệp có tay nghề cao về thật bắn và điều khiển tầu biển.

Ở giai đoạn bắt đầu thù địch, Hải quân Đế quốc Nhật Bản có một hạm đội gồm 12 tàu chiến hiện đại, ( chiếc Izumi được bổ xung vào trong thời gian chiến tranh), một tàu khu trục nhỏ (chiếc Takao), 22 tàu phóng ngư lôi, và rất nhiều tầu thương mại được trang bị vũ khí và chuyển đổi cho mục đích chiến đấu.
Nhật Bản vẫn chưa có đủ các nguồn lực để đóng hoặc mua được các thiết giáp hạm có trọng tải lớn và do đó họ lên kế

hoạch để sử dụng “Jeune Ecole” làm học thuyết ưa thích, đó là dùng tàu chiến nhỏ và nhanh, đặc biệt là các tàu tuần dương và tàu phóng lôi, để chống lại các loại tầu lớn hơn và tất nhiên là cũng kém nhanh nhẹn hơn.

Nhiều tàu chiến lớn của Nhật Bản đã được chế tạo tại xưởng đóng tàu Anh và Pháp (tám chiếc do người Anh đóng, ba chiếc do người Pháp đóng và hai chiếc do người Nhật Bản tự đóng) và 16 tàu phóng ngư lôi như đã được biết là được đóng ở Pháp và lắp ráp tại Nhật Bản.

Vài nét về các tầu chiến Nhật Bản đã tham dự trận chiến sông Áp Lục

Chiếc kỳ hạm- tuần dương hạm Nhật Bản Matsushima

Tranh vẽ chiếc Kỳ hạm - TDH Matsushima của Hạm đội Nhật Bản

Tên: Matsushima
Đặt hàng: Năm 1886
Đóng tại: Société Nouvelle des Forges Chantiers et de la Mé***erranée, La Seyne-sur-Mer, Pháp
Đặt lườn: Ngày 17 tháng 2 năm 1888
Hạ thủy: Ngày 22 tháng 1 năm 1890
Hoàn thành: 05 Tháng 4 năm 1892
Số phận: Chìm sau một vụ nổ ngẫu nhiên vào ngày 30 tháng 4 năm 1908
Đặc điểm chung
Thứ hạng: Tầu tuần dương lớp Matsushima
Tải trọng: 4.217 longton (4.285t)
Chiều dài: 91,81 m (301 ft 3 in) w / l
Chiều rộng: 15,6 m (51 ft 2 in)
Độ mớm nước: 6,05 m (19 ft 10 in)
Lực đẩy: 2- trục pittông; 6 nồi hơi; 5.400 hp (4.000 kW), 680 tấn than đá
Tốc độ: 16,5 knot (19,0mph; 30,6km / h)
Thủy thủ đoàn: 360
Vũ khí:
? 1 súng Canet 320 mm (13 in)
? 12 súng 120 mm (4,7 in)
? 6 súng 47 mm
? 2 súng 37 mm
? 9 súng 1 pounder
? 4 ống phóng ngư lôi 360 mm (14 in)
Thiết giáp: Boong: 50 mm (2 in)
Tháp pháo: 300 mm (12 in)
Lá chắn súng: 100 mm (4 in)

Khấu súng Canet gun 320 mm (13 in) trên boong chiếc Matsushima

Matsushima là chiếc tàu thứ hai trong lớp Matsushima-class của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, đây là lớp tuần dương hạm được tăng cường lớp bảo vệ. Cũng giống như các bà chị của nó (các tầu Itsukushima và Hashidate) tên của nó được lấy từ một trong ba danh thắng nổi tiếng nhất ở Nhật Bản, trong trường hợp này, là quần đảo Matsushima gần Sendai trong tỉnh Miyagi.

Là xương sống của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong thời gian cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, Những chiếc tuần dương hạm lớp Matsushima được dựa trên các nguyên tắc của Jeune Ecole được truyền đạt bởi cố vấn quân sự kiêm kiến trúc sư hải quân người Pháp Emile Bertin.

Các con tầu lớp Matsushima được đóng bởi Société Nouvelle des Forges Chantiers et de la Mé***erranée tại xưởng đóng tàu hải quân Pháp.

Chính phủ Nhật Bản không có đủ các nguồn lực hay ngân sách để đóng một thiết giáp hạm lớn để đối đầu với các thiết giáp hạm hạng nặng của Hải quân Bắc dương. Thay vào đó, người Nhật Bản đã chấp nhận các lý thuyết tiên tiến trong việc sử dụng các tầu chiến nhỏ hơn, nhanh hơn, với lớp thiết giáp mỏng hơn và nhiều súng có cỡ nòng nhỏ hơn nhưng có tầm bắn xa hơn, cùng với chỉ một khẩu súng Cannet đơn lớn tới 320 mm (12,6 in) Canet súng. Chiếc Matsushima có điếm khác với hai chiếc tàu chị em của nó là khẩu súng 320 mm được gắn phía sau boong chính của con tầu, chứ không phải là phần phía trước của con tầu. Thiết kế này cuối cùng đã được chứng minh là mang tính chất phi thực tế, vì sức giật của một khẩu súng lớn là rất lớn đối với một con tầu nhỏ như vậy và thời gian nạp đạn của khẩu súng này lại dài đến mức phi thực tiễn, tuy nhiên các tuần dương hạm lớp Matsushim đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ của chúng so với Hạm đội Trung Quốc vốn được trang bị nghèo nàn và chỉ huy quá kém cỏi.

Quá trình phục vụ chiến đấu

Chiếc Matsushima đến Sasebo vào ngày 19 tháng 10, 1892 đây là một phần của cuộc hành trình thử nghiệm cuối cùng của nó, từ tháng 6 -> 11 năm 1893, các chiếc Matsushima, Takachiho và Chiyoda đã thực hiện một chuyến hành trình dài 160 ngày, vượt qua 7000 hải lý ngoài khơi bờ biển Trung quốc, Hàn Quốc và Nga.

Sau khi bắt đầu Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, chiếc Matsushima là kỳ hạm của Đô đốc Itō Sukeyuki. Nó đóng vai trò trung tâm trong Trận chiến sông Áp Lục, nơi một vụ đấu súng đã giết chết 90 thủy thủ đoàn của nó chiếm tới hơn một nửa số thương vong của người Nhật trong trận đánh. Trong trận chiến, chiếc Matsushima bắn ra chỉ có 4 phát đạn từ khẩu 320 mm của nó, chiếc Itsukushima bắn 5 phát đạn, và Hashidate bắn 5 phát. Dường như là trong các phát đạn này dường như chỉ có một phát trúng trực tiếp vào một con tàu nào đó trong hạm đội Trung Quốc. Chiếc Matsushima được nhìn thấy trong chiến dịch quân sự tiếp theo khi Hạm đội Nhật bản phát động cuộc tấn công vào Uy Hải Vệ.

Chiếc Matsushima là một trong những con tầu của hạm đội Nhật Bản đã tham gia vào Cuộc xâm lược Đài Loan năm 1895, và cũng tham gia chiến đấu vào ngày 3 tháng 6 năm 1895 ở trận pháo kích vào pháo đài ven biển của Trung Quốc tại Keelung (Cửu long?).

Sau khi kết thúc chiến tranh, chiếc Matsushima được tái cơ cấu như là một tầu tuần dương hạng 2 vào ngày 21 Tháng 3 năm 1898. Hoàng tử Arisugawa Takehito (1862-1913) sau đó được bổ nhiệm làm thuyền trưởng, tiếp theo sau ông ta là Uryū Sotokichi.

Từ ngày mùng 3 tháng 5 tới 15 tháng 9 năm 1898, chiếc Matsushima được giao nhiệm vụ tuần tra các tuyến đường biển giữa Đài Loan và Manila. Trong thời kỳ này đã xảy ra những căng thẳng cao độ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ trong khi cuộc chiến Tây Ban Nha-Hoa Kỳ đang diễn ra.

Ảnh chiếc tầu bọc thép Fuso của Hạm đội Nhật Bản

Tên gọi: Fusō
Đặt hàng: 1875
Nhà sản xuất: Samuda Brothers, Cubitt Town, London
Đặt thân lườn: 24/09/1875
Hạ thủy: 1877/04/17
Hoạt động: Tháng 1 năm 1878
Ngừng hoạt động: 01/04/1908
Kết cục: bị tháo dỡ năm 1910
Đặc điểm riêng
Loại tầu: tàu chiến bọc thép lớp Fusō
Trọng tải: 3.717 tấn
Chiều dài: 67,06 m (220,01 ft)
Chiều rộng: 14,63 m (48,00 ft)
Tầm nước: 5,49 m (18,01 ft)
Động cơ: 2-trục pittông máy chạy bằng hơi; 8 nồi hơi,
3.500 shp (2.610 kW)
Tốc độ: 13 knots (24 km / h)
360 tấn than
Phạm vi:
4.500 hải lý (8.000 km) tại tốc độ 10 knots (19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 377
Vũ khí trang bị:
4 súng cỡ nòng 240 mm/20
4 súng cỡ nòng 170 mm/25
4 súng 7,5 mm
2 súng máy Nordenfelt
2 ống ngư lôi 35,6 mm
Thiết giáp:
Xung quanh 100-230 mm
Ổ pháo 200 mm
Vách ngăn 175 mm

Ảnh chiếc Tuần Dương Hạm Izumi của Hải Quân Nhật Bản

Phục vụ ở Hải Quân Chile
Tên: Esmeralda
Nhà sản xuất: W. G. Armstrong & Company, United Kingdom
Đặt thân lườn: 5 tháng 4 1881
Hạ thủy: 6 tháng 6 1883
Hoàn thành: 15 Tháng 7 năm 1884
Hoạt động: 16 tháng 10, 1884
Kết cục: Bán cho Nhật Bản, 15 tháng 11 1894
Phục vụ ở Hải Quân Nhật Bản
Đặt mua: năm 1894
Đổi tên: Izumi
Kết cục: bị dỡ bỏ ngày 01 tháng 4 1912
Đặc điểm riêng
Loại: Tuần dương hạm có tăng cường bảo vệ
Trọng tải: 2.930 longton (2.977t)
Chiều dài: 82,29 m (270 ft) w / l
Chiều rộng: 12,8 m (42 ft)
Tầm nước: 5,64 m (18 ft 6 in)
Động cơ đẩy: Hai trục động cơ hơi nước theo chiều dọc
6.083 hp (4.536 kW)
12 nồi hơi
600 tấn than
Tốc độ: 18,25 knots (21,0 mph; 33,8 km / h)
Thủy thủ đoàn: 300
Vũ khí trang bị:
? 2 súng 254 mm (10 in)
? 6 súng 152 mm (6 in)
? 2 súng 6 pounder
? 5 súng 2 pounder
? 2 súng máy
? 3 ống phóng ngư lôi 380 mm (15 in)
Thiết giáp:
ở boong có độ dốc 25 mm (0,98 in)
ở phần boong phẳng 12 mm (0,47 in)

Ảnh chiếc tuần dương hạm Takechiho của Hạm đội Nhật bản

Tên: Takachiho
Đặt mua: Năm 1883
Nhà sản xuất: W. G. Armstrong & Company, Vương quốc Anh
Đặt thân lườn: Ngày 27 tháng 3 năm 1884
Hạ thủy: Ngày 16 tháng 5 năm 1885
Hoàn thành: Ngày 01 Tháng 12 1885
Kết cục: Trúng ngư lôi và chìm ngày 17 Tháng 10 năm 1914
Đặc điểm riêng
Loại: Tuần dương hạm có tăng cường bảo vệ
Trọng tải : 3.650 longton (3.709t)
Chiều dài: 91,4 m (299 ft 10 in)
Chiều rộng 14 m (45 ft 11 in)
Tầm nước: 6,4 m (21 ft 0 in)
Động cơ đẩy: 2-trục động cơ piston;
6 nồi hơi, 7.604 hp (5.670 kW)
Tốc độ: 18,5 knots (21,3mph; 34,3km / h)
Phạm vi hoạt động: 9.000hải lý (17.000km) Tại tốc độ 13 knot (24 km / h)
Thủy thủ đoàn: 357
Vũ khí trang bị:
? 2 súng 260 mm (10 in) (sau này là 150 mm)
? 6 súng 150 mm (5,9 in)
? 2 súng 6 pounder
? 10 súng Nordenfelt
? 4 súng máy Gatling
? 4 ống phóng ngư lôi 380 mm (15 in)
Thiết giáp:
? Boong: 50-75 mm (2-3 in)
? Các khu vực đặt súng: 37 mm (1,5 in)
? Tháp điều khiển: 37 mm (1,5 in)

Học thuyết Jeune École, học thuyết được người Pháp sáng chế nhưng lại được người Nhật, người Đức lấy làm sách gối đầu giường

Học thuyết Jeune École là một khái niệm chiến lược của Hải quân được phát triển trong thế kỷ 19. Nó ủng hộ việc sử dụng các tầu chiến nhỏ, được trang bị mạnh mẽ để chống lại một hạm đội tàu chiến lớn hơn, và tấn công các tầu thương mại có khả năng có đặt dấu chấm hết cho nền thương mại của quốc gia đối thủ. Ý tưởng được phát triển bởi các nhà lý luận hải quân Pháp: chính phủ Pháp có lực lượng hải quân lớn thứ hai trên thế giới vào thời gian đó, và các nhà lý luận mong muốn có một chiến lược thích hợp để chống lại sức mạnh của hải quân Anh được coi là mạnh nhất thời đại bấy giờ.

Dùng tầu chiến nhỏ chống lại tàu chiến lớn

Một trong những người ủng hộ đầu tiên học thuyết École Jeune là vị tướng pháo binh Henri-Joseph Paixhans, người phát minh ra Hải pháo Paixihans bắn đạn nổ cho tàu chiến trong thập niên 1820. Ông ủng hộ việc sử dụng những khẩu súng mạnh mẽ trên nhiều tàu chiến hơi nước nhỏ để có thể phá hủy những tàu chiến lớn hơn nhiều.

Sau đó, Hải quân Pháp phát triển khái niệm này một cách công phu hơn nữa khi họ thử nghiệm ngư lôi và tàu phóng ngư lôi. Hải quân Pháp trở thành một trong những người ủng hộ mạnh mẽ của hệ thống chiến đấu này vào cuối thế kỷ 19. Những thành công của Hải quân Pháp chống lại Hải Quân Trung Quốc (Hạm đội Nam Dương) trong Chiến tranh Trung-Pháp năm 1883-1885 cũng làm người ta lạc quan với xu hướng sử dụng tiềm năng của tàu ngư lôi để chống lại các tầu hải quân thông thường.

Người Pháp cũng rất tích cực trong việc phát triển một hạm đội tàu ngầm, một lần nữa họ cố gắng dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật để bù lại số ưu thế về chiến hạm của người Anh. Vào đầu thế kỷ 20, Pháp “chắc chắn là lực lượng hải quân đầu tiên có một lực lượng tàu ngầm có hiệu quả”.

Biện pháp để chống lại học thuyết Jeune École là phải tập hợp một số lượng lớn tàu chiến cỡ trung bình và trang bị mạnh, đây là loại tầu được thiết kế chuyên để ngăn chặn và tiêu diệt các đội tầu phóng ngư lôi nhỏ, nhanh nhẹn (từ ?o khu trục? theo tiếng Pháp là contre-torpilleur), thuật ngữ này theo tiếng Anh được gọi là Torpedo Destroyer hoặc Destructor, và qua thời gian người ta chỉ còn đơn giản gọi chúng là Destroyer ?” Tầu khu trục

Tấn công vào nền thương mại của kẻ thù (Binh pháp Tôn tử gọi là rút củi đáy nồi phải ko các bác?) cũng là một phần của học thuyết ?o Jeune École? nó bao gồm kế hoạch công kích các tàu thương mại của đối phương để cản trở nền thương mại và phá hoại nền kinh tế của họ, một lần nữa đây lại là một chiến thuật được thiết kế một cách đặc biệt để chống lại Vương quốc Anh.
Tàu tấn công, chẳng hạn như chiếc Dupuy de Lome được thiết kế một cách đặc biệt cho vai trò này. Tầu Dupuy de Lome là một tuần dương hạm bọc thép được đặt hàng vào năm 1888, nó có tốc độ tối đa là 23 kts và được thiết kế để tấn công các tàu thương mại của đối phương trong thời gian đột phá phong tỏa.
Ảnh hưởng của Học thuyết “Jeune École”

Học thuyết “Jeune École” đặc biệt ảnh hưởng đến sự phát triển lực lượng hải quân của các quốc gia nhỏ trong thế kỷ 19 như Nhật Bản và nước Đức trong thế kỷ 20, đặc biệt khi họ cố gắng áp dụng nó để bù đắp cho những yếu kém trong việc không có những thiết giáp hạm hạng nặng có giáp dày và súng lớn.

Diễn biến trận đánh

Ngày Ngày 17 tháng 9 năm 1894
Vị trí Gần cửa sông Áp Lục – biển Hoàng Hải
Kết quả Nhật Bản chiến thắng quyết định
Các bên tham chiến

Hạm đội Bắc Dương

Chỉ huy
Đinh Nhữ Xương
Liu Buchan
Sức mạnh
2 thiết giáp hạm hạng nặng
7 tuần dương hạm
1 tầu hộ vệ
2 pháo hạm
2 tầu phóng ngư lôi
Thương vong và thiệt hại
850 người thiệt mạng
500 người bị thương
5 tàu chìm
3 tàu bị hư hỏng

Hạm đội Đế quốc Nhật Bản

Chỉ huy
Sukeyuki Ito
Tsuboi Kozo
Sức mạnh
1 thiết giáp hạm hạng nhẹ
8 tàu tuần dương hạng nặng
1 tầu hộ vệ
1 pháo hạm
1 tuần dương hạm nhẹ
Thương vong và thiệt hại
190 người thiệt mạng
200 người bị thương
4 tàu bị hư hỏng

Trận chiến sông Áp Lục – Trận biển Hoàng Hải diễn ra vào ngày 17 tháng 9 1894 giữa Hạm Đội Bắc Dương ?” Trung Quốc với Hạm đội Đế quốc Nhật Bản, và đây là trận hải chiến lớn nhất trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất. Con sông Áp Lục tạo thành một biên giới thiên nhiên giữa Trung quốc và Triều Tiên, dù thực có tên là trận chiến sông Áp Lục nhưng trận chiến thực sự lại nổ ra ở phía cửa con sông này và trong biển Hoàng Hải. Hạm đội Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đô đốc Sukeyuki Ito đã cố gắng phá rối cuộc đổ bộ của quân đội Trung Quốc được bảo vệ bởi một hạm đội dưới sự chỉ huy của Đô đốc Đinh Nhữ Xương.

Trận chiến kéo dài khoảng 1 ngày. Trong khi đây không phải là trận chiến đầu tiên có ứng dụng các kỹ thuật Tiền-Dreadnought trên quy mô rộng (Trận Foochow năm 1884 giữa Hạm đội Pháp và Hạm đội Trung Quốc đã diễn ra trước đó), vẫn có những bài học quan trọng cho các nhà phân tích hải quân để xem xét.

Trên giấy tờ, hạm đội Trung Quốc có các tàu hạng nặng và có nhiều súng cớ nòng mười inch và tám-inch (203 mm). Tuy nhiên, các pháo thủ của tàu Trung Quốc đã không được tổ chức thực hành thuật súng trong nhiều tháng trước, và các đội pháo thủ Trung Quốc cũng không chuẩn bị để đối mặt với sự căng thẳng khi nổ súng. Sự tham nhũng dường như cũng đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng; nhiều quả đạn dường như chỉ được nhồi đầy bằng mùn cưa hoặc nước, một số sĩ quan Trung Quốc đã bỏ chạy khỏi khu vực chiến sự, một chiếc tàu dường như đã sử dụng súng của nó để lưu trữ dấm chua, và ít nhất trong một trường hợp, một cặp súng 10-inch (254 mm) dường như đã bị bán ra thị trường chợ đen để lấy tiền mặt.
Vào thời gian này, người Nhật đã khá tự tin vào khả năng của chính họ. Tuy nhiên người Trung Quốc vẫn có một số cố vấn và giảng viên người nước ngoài. Đặc biệt là thiếu tá người Đức Von Hanneken đã được bổ nhiệm làm cố vấn hải quân cho Đô đốc Đinh Nhữ Xương. W. F. Tyler, một thiếu úy trong lực lượng dự bị của Hải quân Hoàng gia kiêm sĩ quan hải quan Anh được bổ nhiệm làm trợ lý của Von Hanneken. Philo McGiffen trước đây là một trong nhân viên mật mã trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ và kiêm luôn là một giảng viên tại học viện hải quân Wei-Hải-Wei Trung Quốc được bổ nhiệm đển chiếc Chen Yuen như là một cố vấn kiêm đồng chỉ huy.

Trước khi trận chiến với Hạm Đội Nhật Bản nổ ra, các tàu thuyền và vũ khí của hạm đội Trung Quốc đã được kiểm tra, và các tàu đã được sơn lại. Philo McGiffin lưu ý rằng vào thời điểm đó, các tàu của Trung Quốc đã được sơn thành mầu xám ?” để tạo khả năng tàng hình, mặc dù các bức ảnh hiện đại cho thấy một thân tầu mầu tối và phần trên cao có mầu sáng, do đó có lẽ chỉ có phần màu trắng ở phía trên con tầu và các mới được sơn lại màu xám, còn phần vỏ tầu vẫn giữ màu đen. McGiffen cũng lưu ý rằng phần lớn trong số thuốc súng dự trữ đã ?o được lưu cữu đến mười ba năm và đã bị hỏng” Các lớp vải mỏng che phủ các khẩu đội pháo trên một số con tàu đã bị bỏ ra, và chúng đã vỡ ra từng mảng khi trúng đạn. Chiếc Tsi Yuen trở về cảng sau khi giao chiến với Hạm Đội Nhật Bản đã cho thấy một loạt vấn đề.

Đô đốc Sukeyuki Ito chỉ huy Hạm đội Nhật Bản ở trên chiếc tàu tuần dương Matsushima, chiếc này được hai chiếc tàu thông báo hạm làm hộ tống; đó là hai chiếc tầu Sei-kyo do thuyền trưởng người Anh John Wilson chỉ huy và chiếc pháo hạm Akagi. Tổng tham mưu trưởng Hải quân Nhật Bản, Đô đốc Kabayama Sukenori cũng cùng làm một chuyến thanh tra trên chiếc Saikyō. Phần còn lại của hạm đội chính bao gồm các tuần dương hạm Chiyoda, Itsukushima, Hashidate, Fusō và Hiei. Một hải đội tầu xung kích có tốc độ cao, bao gồm các tuần dương hạm Yoshino, Takachiho, Akitsushima và Naniwa dẫn đầu các tàu của Nhật Bản.

Đội tầu Nhật Bản tiến về phía đội tầu Trung Quốc với hải đội xung kích ở hàng đầu theo đội hình dòng phía sau (line astern formation) với các tầu thông báo hạm tiến lên ở mạn trái của hải đội thứ hai, đây là hải đội chính có những tầu xương sống của hạm đội. Người Trung Quốc chia tầu thành hai hải đội trong đội hình sát cánh nhau với phần lớn các tàu chiến tập trung vào trong hải đội một, “hải đội xung kích đầu tiên” bao gồm các chiếc Tsi Yuen, Kuang Chia, Chih Yuen, King Yuen, Dingyuan, Chen Yuen, Lai Yuen, Ching Yuen, Chao Yung và Yang Wei. Hải đội thứ hai, “Hải đội chính”, bao gồm các chiếc Kuang Ping và Ping Yuen cùng với một vài pháo hạm hoặc tàu phóng ngư lôi.

Việc tạo đội hình dòng phía sau (line astern formation) ngăn cản việc các thiết giáp hạm Trung Quốc đóng ở phía trung tâm bắn vào tầu Nhật Bản vì có những tầu nhỏ chắn giữa họ và đối thủ của họ trong lúc này. Đồng thời, những tầu nhỏ hơn, trang bị yếu hơn các tàu bọc thép đã bắt đầu trúng những pháo lớn có tầm bắn xa từ tàu chiến của Nhật Bản. Ngoài ra, khi các hải đội Nhật tách ra, với Phi đội xung kích dẫn đầu quay về phía nam của hạm đội Bắc Dương trong khi đó hải đội chính di chuyển chậm hơn và giữ hướng tiến thẳng vào đánh vỗ mặt Hạm đội xung kích của Trung Quốc, các thiết giáp hạm của Trung Quốc trong hải đội chính bị buộc phải phân tán hỏa lực ở giữa hai nhóm.

Một số giải thích khác nhau đã được đưa ra để giải thích tại sao hạm đội Bắc Dương đã không thay đổi hình của mình để phản ứng với các chiến thuật Nhật Bản hiệu quả hơn. Theo các ghi chép của Trung úy Hải quân Hoàng gia William Ferdinand Tyler, một cố vấn của chiếc Dingyuan (Định viễn), đây có vẻ là ghi chép tốt nhất có trình độ và căn cứ nhất. Nó nói rằng “Đô đốc Đinh Nhữ Xương ra lệnh cho tàu của mình đổi hướng theo cách mà đã có thể làm lộ chiếc kỳ hạm của ông, nhưng làm cho phần còn lại của đội tầu ở trong một vị trí tốt để nổ súng vào hạm đội Nhật Bản ” Tyler nói vậy, tuy nhiên,. rằng thuyền trưởng của chiếc Dingyuan cố tình không chấp nhận mệnh lệnh này hoặc không thông báo nó đển phần còn lại của đội tàu.
Chiếc Dingyuan nổ súng vào tầu Nhật Bản khi khoảng cách giữa các con tầu là khoảng 6.000 yard (5.500 m). Điều này hoá ra là một loạt bắn tai hại một cách không đáng có đối với chiếc kỳ hạm của Trung Quốc. Khi Hải quân Đức mang chiếc Dingyuan đi để bắn thử súng vào năm 1883 (chiếc Dingyuan được đóng ở Đức) Họ ghi nhận rằng súng chính của con tầu không nên được bắn từ một hướng thẳng phía trước (ahead bearing). Bắn từ một phía hướng thẳng phía trước dẫn đến sự hư hỏng đài chỉ huy (có thể là do sức giật khủng khiếp của khẩu súng), và Đô đốc Đinh Nhữ Xương đã trở thành một nạn nhân từ phát bắn đầu tiên của tầu mình cùng với một số sỹ quan khác trên đài chỉ huy

Hạm đội Trung Quốc đã nổ súng vào các tầu Nhật Bản khi họ đi qua từ mạn trái sang mạn phải vượt qua mũi của các tàu Trung Quốc. Họ không tạo ra được thiệt hại đáng kể nào vào tầu Nhật Bản từ các khẩu súng 12 inch (305 mm) và 8,2 inch (208 mm) của họ. Tại khoảng cách 3000 yard (2700 m) (tầu Trung Quốc lúc này khả năng đã hết đạn), người Nhật tập trung hỏa lực của họ vào cánh phải của dòng tầu Trung Quốc, với những loạt bắn dữ dội vào đầu tiên là chiếc Chao Yung và sau đó là chiếc Yang Wei.
Cả hai tàu này bắt đầu bốc cháy và một số người đã quy nguyên nhân là do có quá nhiều các lớp dầu sơn bóng và được sơn trong nhiều năm. Trong mọi lý do thì đây chỉ các tầu gỗ đã lỗi thời chỉ được bảo vệ vùng thân tàu với chỉ một lớp giáp kim loại. Chúng không thể chịu nổi đạn pháo hiện đại của Nhật Bản. Người Nhật Bản có toan tính về việc phân chia một cách nhịp nhàng hải đội xung kích ra để bao vây cánh phải của tuyến tầuung Quốc theo một kiểu quây vòng tròn nhưng sự xuất hiện kịp thời của các chiếc Kuang Ping và Ping Yuen cùng với hai chiếc pháo thuyền Fu Lung (đóng tại Schichau) và tầu phóng ngư lôi Choi Ti, một chiếc tầu được đóng bởi Yarrow đã làm tầu Nhật Bản phải đổi hướng sự cơ động.

Các tàu tuần dương tốc độ cao của người Nhật vượt qua mạn trái và sau đó theo lệnh của Ito được điều đến để hỗ trợ cho chiếc Hiei, Saikyō và Akagi nên không thể theo kịp với dòng tầu chính và sau đó đã tham gia vào tấn công các tầu cánh trái của tuyến Trung Quốc. Ngay từ đầu trận đánh cột tín hiệu của chiếc Dingyuan đã bị phá hủy, việc này đã gây nhiều nhầm lẫn hơn nữa trong các tàu của Trung Quốc. Hạm đội Trung Quốc phần nào đã dự đoán được tình hình xảy ra và lập thành ba cặp đôi để các tầu cùng hỗ trợ lẫn nhau và tiếp tục cuộc chiến.

Hạm đội Nhật Bản, về phần nó đã tàn phá Hạm đội Trung Quốc mặc dù họ còn trúng nhiều đạn hơn đội tầu Trung Quốc, nhưng với đạn pháo tốt hơn. Nhật Bản làm bốc cháy nhiều vỏ tàu của Trung Quốc và đã làm chìm hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho tám con tầu của hạm đội Bắc dương hoặc toi ngay trong thời gian trận chiến hoặc nghím trong thời gian sau đó.

Hậu quả của trận sông Áp Lục

Người Nhật Bản đã đánh chìm 5 tàu chiến Trung Quốc đánh hỏng nặng 3 chiếc khác, giết khoảng 850 thủy thủ Trung Quốc và làm bị thương 500 người. Chiếc Ting Yuen có nhiều thương vong nhất trong số những con tầu vẫn còn nổi được của Trung Quốc với 14 người chết và 25 người bị thương.
Tầu Trung Quốc đã đánh bị thương ngiêm trọng bốn tàu chiến Nhật Bản ?” chiếc kỳ hạm Matsushima là con tầu phải chịu những tổn thất tồi tệ nhất với hơn 100 người chết và bị thương sau khi bị trúng một phát đạn pháo hạng nặng của Hạm Đội Trung Quốc; chiếc Hiei cũng bị hư hỏng nặng và phải từ giã trận chiến, chiếc Akagi bị cháy lớn và có những mất mát lớn về nhân sự; chiếc Saikyō, bị thúc dục bởi Đô đốc Kabayama Sukenori đã tiến lên phía trước là trúng liên bốn phát đạn pháo 12 inch (305 mm) kết quả là nó không còn có thể kiếm soát được nữa và phải ra khỏi cuộc chiến, tổng số là khoảng 180 thủy thủ Nhật Bản bị giết chết và hơn 200 người bị thương.

Hạm đội Trung Quốc phải chạy đến và nghỉ ngơi tại thành phố Port Arthur và sau đó nó quay trở lại Uy Hải Vệ, nơi nó cuối cùng bị tiêu diệt bởi một đợt tấn công kết hợp từ cả đất liền và trên biển. Người Nhật Bản có thể đã rút lui vì e ngại các tầu ngư lôi của Trung Quốc tấn công vào ban đêm và cũng vì lý do thiếu đạn dược.

Trong khi Nhật Bản chắc chắn đã gây nhiều thiệt hại hơn rất nhiều cho hạm đội Trung Quốc, thì nhiều người nước ngoài tại thời điểm đó lại tin rằng chiến thắng đã thuộc về người Trung Quốc. Phía Trung Quốc đã tiến hành đổ bộ binh lính một cách thành công, và người Nhật, ít nhất là một bộ phận của hộ, đã phải rút lui vì đã cạn đạn dược. Nhiều người tin vào những hành động nhanh chóng của các cố vấn người nước ngoài trong hạm đội của Trung Quốc (đáng chú ý nhất McGiffin) để có thể đưa ngay những tàu bị hư hại nặng nề nhất của Trung Quốc quay trở lại chiến đấu cho đến hết chiến dịch – nhưng điều này đã không xảy ra. Những nghiên cứu sau đó cho thấy rằng các tàu Trung Quốc chiến đấu theo cặp là kế hoạch họ đã đặt ra thời gian trước đó để đối phó với việc liên lạc bị mất do khói và những nhầm lẫn trong trận đánh. Đồng thời, cũng phải công bằng mà lưu ý rằng Hạm Đội Trung Quốc phải chịu thất bại vì chất lượng đạn dược quá kém, ví dụ đặc biệt là nhiều phát đạn bắn từ chiếc Ping Yuen đã trúng vào chiếc kỳ hạm của Nhật Bản chiếc Matsushima nhưng không nổ bởi vì chúng đã được đổ đầy bằng xi măng chức không phải là thuốc nổ cực mạnh, đây chính là của tệ nạn tham nhũng biển thủ công quỹ hải quân. Người ta đã thay thế thuốc đạn bằng xi măng từ lúc ở nhà máy quân giới Tientsin. ( cũng theo một nguồn tin trong tạp chí Thế Giới Ngày Nay nói rằng Hải Quân Bắc Dương không có đủ kinh phí để mua thuốc súng, đạn dược và nâng cấp các khẩu pháo có tầm bắn xa hơn vì Từ Hy Thái Hậu dùng ngân quỹ của hải quân để chi vào tu bổ cung Di Hòa Viên làm nơi ăn chơi đàn đúm ?” sau này cung DHV bị liên quân bát quốc đốt khi tấn công Bắc kinh cháy cả tháng trời mới tắt)
Chính phủ Trung Quốc đã hoàn toàn đổ lỗi thất bại của trận đánh này lên vai của Lý Hồng Chương và Đô đốc Đinh Nhữ Xương. Tuy nhiên, vào ngày 27 Tháng 10 năm 1894, Đô đốc Freemantle, Đô đốc hạm đội Anh đã gặp gỡ Đô đốc Đinh tại Wei-Hải-Wei và thấy Đinh “vẫn mang đầy những vết bỏng vì bị thương trong trận sông Áp Lục” và viên Đô đốc người Anh này đã mô tả ông ta là một người đàn ông “dũng cảm và yêu nước”.

Mặc dù có những cách đánh giá khác nhau về trận đánh này như chung cuộc Trận chiến sông Áp Lục trong trí nhớ của người Trung Quốc là một nỗi thua trận nhục nhã ?” đây âu cũng lại là một trong những nguyên nhân làm cho Thanh Đình suy yếu, và kích thích lòng tự tôn dân tộc của người Trung Quốc, khiến họ vùng lên làm cuộc cách mạng năm Tân Hợi để dành chính quyền về tay người Hán. Hạm đội Bắc Dương đã ngừng tồn tại như là một đơn vị chiến đấu có hiệu quả, và cuối cùng Nhật Bản đã hoàn toàn tiêu diệt hạm đội này trong trận tập kích Wei-Hải-Wei và hoàn toàn đánh bại Trung Quốc trong Chiến Tranh Trung-Nhật lần thứ nhất và vươn lên làm bá chủ Đông Á.

Những trận Hải chiến trong Chiến tranh Nga – Nhật 1904 -1905

frn.MPR.1905.RUS.JPN.wrx.Ctq31

Chiến tranh Nga-Nhật diễn ra từ ngày 10 tháng 2 năm 1904 – 5 tháng 9 năm 1905 hay còn được gọi là Chiến dịch Mãn Châu theo một số nguồn tài liệu tiếng Anh, là một cuộc xung đột lớn giữa 2 đế quốc đầy tham vọng là Đế quốc Nga và Đế quốc Nhật Bản về vấn đề Mãn Châu và Triều Tiên. Các chiến trường chính nơi diễn ra các hoạt động quân sự là ở mền Nam Mãn Châu, đặc biệt là khu vực xung quanh Bán đảo Liêu Đông và Mukden, cùng với các vùng biển xung quanh như biển Triều Tiên, Nhật Bản, và Hoàng Hải.

Người Nga không ngừng theo đuổi một tham vọng để có một cảng biển nước ấm ở Thái Bình Dương để làm quân cảng cũng như hải cảng thương mại của họ. ở Thái Bình Dương lúc đó người Nga đã lập được một cảng biển ở Vladivostok nhưng cảng này chỉ hoạt động vào mùa hè, nhưng Port Arthur sẽ hoạt động cả năm. Từ cuối cuộc chiến Trung-Nhật đến năm 1903, các cuộc đàm phán giữa chính phủ của Sa hoàng Nga và Nhật Bản đã tỏ ra bế tắc. Nhật Bản đã chọn giải pháp chiến tranh để duy trì sự thống trị độc quyền của họ tại Triều Tiên.

Kết quả của các chiến dịch quân sự là quân đội hiện đại non trẻ của Nhật Bản liên tục gặt được các chiến thắng trước các đạo quân của người Nga được gửi đến để chống lại họ, đây là điều bất ngờ đối với các nhà quan sát trên thế giới. Chiến thắng của người Nhật đã thay đổi đáng kể cán cân quyền lực ở Đông Á, dẫn đến một đánh giá lại các cách tiếp cận của Nhật Bản lên chính trường thế giới. Một chuỗi những lúng túng và những thất bại đã làm dân Nga bất mãn với chính phủ của Sa hoàng một chính phủ hoạt động không hiệu quả và đầy rẫy tham nhũng, và điều này đã được chứng minh như là một nguyên nhân chính của cuộc Cách mạng Nga năm 1905.

Nguồn gốc của cuộc chiến tranh Nga-Nhật

Sau khi tiến hành công cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868, chính phủ Thiên Hoàng Minh Trị bắt tay vào một nỗ lực để du nhập các ý tưởng phương Tây như công nghệ tiên tiến và các thói quen của người châu Âu. Đến cuối thế kỷ 19 Nhật Bản đã nổi lên từ một quốc đảo cô lập và tự chuyển đổi thành một quốc gia công nghiệp hiện đại hóa trong một thời gian rất ngắn. Người Nhật muốn bảo vệ chủ quyền của họ và muốn được công nhận một cách bình đẳng với các cường quốc phương Tây.
Nước Nga, một đế quốc lớn đầy quyền lực và tham vọng ở phía Đông châu Âu. Đến năm 1890 nó đã mở rộng vùng kiểm soát của mình đến Trung Á đến Afghanistan, thu phục luôn các quốc gia trong tiến trình mở rộng của nó. Đầu thế kỷ 20 Đế quốc Nga trải dài từ Ba Lan ở phía tây đến bán đảo Kamchatka ở phía Đông. Với việc xây dựng tuyến Đường sắt xuyên Siberi đến cảng Vladivostok, Nga hy vọng sẽ củng cố hơn nữa ảnh hưởng và sự hiện diện của họ trong khu vực này. Điều này chính xáclà những gì Nhật Bản lo ngại, vì họ coi Triều Tiên (và ở một mức độ thấp hơn là Mãn Châu) như một vùng đệm bảo vệ Đế quốc của họ.

Nhật Bản luôn coi chính phủ Triều Tiên luôn phải có xu hướng thân Nhật, đây là một phần thiết yếu của an ninh quốc gia của Nhật Bản, bởi sự bùng nổ dân số của Nhật Bản và nhu cầu phát triển kinh tế cũng yếu tố để xác định chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Người Nhật muốn, ít nhất, là phải giữ được Triều Tiên trung lập, nếu nó không nằm dưới ảnh hưởng của Nhật Bản. Chiến thắng của Nhật Bản trước Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật đã dẫn đến Hiệp ước Shimonoseki theo hiệp ước đó thì Trung Quốc mất quyền kiểm soát của họ ở Triều Tiên và phải nhượng lại Đài Loan, Bành Hồ và Bán đảo Liêu Đông (Port Arthur) cho Nhật Bản.

Tuy nhiên, người Nga, có tham vọng riêng của họ trong khu vực này đã thuyết phục Đức và Pháp tăng cường áp lực về phía Nhật Bản qua can thiệp của Tam cường quốc, Nhật Bản phải từ bỏ chủ quyền của họ trên bán đảo Liêu Đông và nhận được bồi thường tài chính lớn hơn.

Nga xâm lấn

Trong tháng 12,1897, một hạm đội của Đế Quốc Nga xuất hiện ngoài khơi Port Arthur. Sau đó 3 tháng, vào năm 1898, một cuộc thương lượng được tổ chức giữa Trung Quốc và Nga theo đó Nga được thuê cảng Arthur, Đại Liên và các vùng nước xung quanh. Cuộc hội đàm này cũng nhất trí rằng thời hạn thuê các cảng có thể được gia hạn theo thoả thuận. Người Nga thấy rằng họ không nên để mất thời gian mà phải ngay lập tức chiếm đóng và củng cố Port Arthur thành cảng nước ấm của họ ở bờ biển Thái Bình Dương, và cảng này có một giá trị chiến lược tuyệt vời. Một năm sau đó, để củng cố vị trí của mình, người Nga bắt đầu xây dựng một tuyến đường sắt mới từ Cáp Nhĩ Tân đi qua Mukden tới Port Arthur. Sự phát triển của đường sắt là một yếu tố góp phần tạo ra cuộc nổi loạn Nghĩa Hòa Đoàn và các ga đường sắt tại Tiehling và Lioyang bị đốt cháy. Người Nga cũng bắt đầu tìm đường đến Triều Tiên, và vào năm 1898 họ đã mua nhượng quyền khai thác mỏ và lâm nghiệp gần sông Áp Lục và Tumen, việc này gây nhiều lo lắng Nhật Bản và họ đã quyết định tấn công trước khi tuyến đường sắt Trans-Siberian đã hoàn thành.

Chiến tranh

Tuyên bố của chiến tranh

Nhật Bản đã công bố tuyên chiến ngày 08 tháng 2 1904. Tuy nhiên, ba giờ trước khi bản tuyên chiến của Nhật Bản đến được tay Chính phủ Nga, Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã tấn công Hạm đội Viễn Đông của Nga tại Port Arthur. Sa hoàng Nicholas II đã choáng váng bởi tin tức về cuộc tấn công này. Ông ta không thể tin rằng Nhật Bản sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh mà không có một tuyên bố chính thức, và các bộ trưởng của ông ta đã đảm bảo rằng Nhật Bản sẽ không gây chiến. Nga tuyên chiến với Nhật Bản tám ngày sau đó. Tuy nhiên, những yêu cầu tuyên chiến trước khi chiến sự bắt đầu đã không được thực hiện đúng theo luật pháp quốc tế cho đến sau khi cuộc chiến kết thúc vào tháng 10 năm 1907, và nó có hiệu lực đến ngày 26 Tháng 1 năm 1910.Montenegro cũng tuyên chiến với Nhật như là một cử chỉ hỗ trợ tinh thần cho nước Nga để tỏ lòng biết ơn sự ủng hộ Nga trong cuộc đấu tranh của Montenegro chống lại Đế quốc Ottoman. Tuy nhiên, vì lý do hậu cần và khoảng cách, sự đóng góp của Montenegro cho cuộc chiến tranh được giới hạn ở những công dân Montenegro phục vụ trong Quân đội Nga.

Liệt kê các trận đánh chính trong chiến tranh Nga ?” Nhật

– 1904 Trận Port Arthur, 08 tháng 2: trận hải chiến Không quyết định
– 1904 Trận vịnh Chemulpo, 09 tháng 2: trận hải chiến Nhật Bản chiến thắng
– 1904 Trận sông Áp Lục, 30 Tháng tư – 1 Tháng 5: Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Nanshan, 25 tháng năm – 26 tháng 5, Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Telissu, 14 Tháng Sáu – 15 tháng 6, Nhật chiến thắng
– 1904 Trận đèo Motien, Ngày 17 tháng 7, Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Ta-Shih-Chiao, Ngày 24 tháng 7, Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Hsimucheng, 31 tháng 7, Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Hoàng Hải, Ngày 10 tháng 8: trận hải chiến Nhật Bản chiến thắng chiến lược / chiến thuật không phân thắng bại
– 1904 Trận ngoài khơi Ulsan, Ngày 14 tháng 8: trận hải chiến Nhật Bản chiến thắng
– 1904-1905 Cuộc vây hãm Port Arthur, 19 tháng tám – 2 tháng 1: Nhật chiến thắng
– 1904 Trận Liêu Dương, 25 Tháng tám – 3 tháng 9: bất phân thắng bại
– 1904 Trận Shaho, 5 tháng mười-17 tháng 10: bất phân thắng bại
– 1905 Trận Sandepu, 26 Tháng một – 27 tháng một: bất phân thắng bại
– 1905 Trận Mukden, 21 tháng hai – 10 tháng 3: Nhật chiến thắng
– 1905 Trận Tsushima, 27 tháng năm – 28 tháng 5 trận hải chiến: Nhật chiến thắng

Kết cục của chiến tranh Nga ?” Nhật

Những thất bại của Quân đội và Hải quân Nga làm tan mất sự tự tin của người Nga. Trong suốt năm 1905, chính phủ Nga hoàng đã bị rung chuyển bởi Cách mạng. Sa hoàng Nicholas II lựa chọn đàm phán hòa bình để ông ta có thể tập trung vào những vấn đề nội bộ.

Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt đứng ra làm trung gian hòa giải, và có được một Giải Nobel Hòa bình cho nỗ lực của ông. Sergius Witte dẫn đầu phái đoàn Nga và Nam tước Komura, người tốt nghiệp Harvard, dẫn đầu đoàn đại biểu Nhật Bản. Hiệp ước Portsmouth được ký ngày 05 tháng 9 năm 1905 tại Quân xưởng Hải Quân Portsmouth ở Kittery, Maine (Hoa Kỳ). Witte trở thành Thủ tướng Nga cùng năm đó.

Nga công nhận Triều Tiên sẽ nằm trong khu vực ảnh hưởng của Nhật Bản và chấp nhận rút khỏi Mãn Châu. Nhật Bản làm quốc gia bảo trợ Hàn Quốc vào năm 1910, với rất ít phản đối từ các cường quốc khác.

Nga cũng đã ký kết về quyền thuê 25 năm của mình với cảng Port Arthur, bao gồm các căn cứ hải quân và bán đảo xung quanh nó. Nga cũng nhượng lại nửa phía Nam đảo Sakhalin cho Nhật Bản. Nó đã được lấy lại bởi người Liên Xô vào năm 1952 theo Hiệp ước San Francisco sau Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, sự giao nộp miền Nam Sakhalin cho Liên Xô đã không được tán thành bởi phần lớn các chính trị gia Nhật Bản.

03 trận Hải chiến lớn của serries các trận đánh trong Chiến tranh Nga – Nhật 1904 /05, đó là các trận:

  1.  Trận Hải chiến cảng Port Arthur
  2.  Trận Hải chiến vịnh Chemulpo
  3. Trận Hải chiến Tsushima ( tiếng Việt trận Hải chiến Eo biển Đối Mã)

Trận hải chiến cảng Port Arthur

rj_war

Ngày 8-9 tháng 2 năm 1904

Nơi Gần cảng Port Arthur, Mãn Châu
Kết quả Hòa về chiến thuật bế tắc, Nhật Bản chiếm lợi thế về chiến lược
Các bên tham chiến
Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Đô đốc Heihachiro Togo
Phó Đô đốc Shigeto Dewa
Sức mạnh
6 thiết giáp hạm Tiền-Dreadnought
9 tuần dương hạm bọc thép,
một số tàu hộ tống
Thương vong
90 người chết và bị thương
Đế quốc Nga
Chỉ huy
Oskar Victorovich Stark
Sức mạnh
7 thiết giáp hạm Tiền -Dreadnought
5 tàu tuần dương,
một số các tàu hộ tống
Thương vong
150 người và bảy tàu bị hư hỏng

Trận Port Arthur diễn ra ngày 08 -> 09 tháng 2 năm 1904 là trận khởi đầu của Chiến tranh Nga-Nhật. Nó được bắt đầu bằng một cuộc tập kích bất ngờ vào ban đêm bởi một hải đội tầu khu trục Nhật Bản vào hạm đội Nga đang thả neo tại Cảng Port Arthur, Mãn Châu, và trận đánh tiếp tục diễn ra trên phần lớn bề mặt của Cảng Port Arthurvào buổi sáng của ngày hôm sau. Trận đánh kết thúc mà không có một bên nào dành được chiến thắng quyết định, và các cuộc giao tranh để tranh giành cảng Port Arthur tiếp tục diễn ra tới tận tháng 5 năm 1904. Thất bại tại Port Arthur đối với người Nga và đặc biệt là đối với Sa hoàng Nicholas II ?” là một tai họa thảm khốc cho Đế chế của Nga Hoàng; tất cả những người Nga, từ giới quý tộc cho tới tầng lớp bình dân, thậm chí cả những người nông nô được giải phóng đã mất niềm tin vào quân đội của họ; đây là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc Cách mạng Nga năm 1905, Và được ghi nhớ rất lâu cho tới tận khi xảy ra những thất bại thảm họa còn tệ hại hơn nhiều trong Chiến tranh thế giới I.

Giai đoạn trước trận chiến

Giai đoạn mở đầu của Chiến tranh Nga-Nhật bắt đầu với cuộc tập kích bất ngờ do Hải quân Đế quốc Nhật Bản tiến hành chống lại Hạm đội Thái Bình Dương của Nga đóng căn cứ tại Port Arthur và tại vịnh Chemulpo. Kế hoạch ban đầu của Đô đốc Togo là đột kích nhanh vào Port Arthur bằng Hải đội 1 của Hạm đội liên hợp, hải đội này bao gồm sáu chiếc tầu chiến lớp tiền Dreadnought, đó là các chiếc Hatsuse, Shikishima, Asahi, Fuji, và Yashima, Dẫn đầu là chiếc soái hạm Mikasa, và Hải đội thứ 2 bao gồm các tuần dương hạm bọc thép Iwate, Azuma, Izumo, Yakumo và Tokiwa. Những con tàu dẫn đầu và tàu tuần dương này được hộ tống bởi 15 tàu khu trục và khoảng 20 tàu phóng ngư lôi nhỏ hơn. Hải đội dự bị bao gồm các tàu tuần dương Kasagi, Chitose, Takasago, và Yoshino. Với lực lượng lớn được đào tạo và vũ trang tốt, và có ưu thế về tính bất ngờ, Đô đốc Togo hy vọng tạo ra một đòn đánh gục hạm đội Nga ngay sau khi cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa các chính phủ Nhật Bản và Nga.

Về phía Nga, Đô đốc Stark có các tầu chiến tiền Dreadnought các chiếc Petropavlovsk, Sevastopol, Peresviet, Pobeda, Poltava, Tsesarevich, và Retvizan, được hỗ trợ bởi các các tuần dương hạm hạng nhẹ và loại được tăng cường giáp bảo vệ như Pallada, Diana, Askold, Novik, Và Boyarin. Toàn bộ số tầu bè trên đều dựa vào các pháo đài của căn cứ hải quân đã được tăng cường ở Port Arthur. Tuy nhiên, hệ thống phòng thủ của Port Arthur cũng không được mạnh mẽ như họ mong muốn, bởi vì có quá ít các khẩu đội pháo bờ biển có thể hoạt động được vì phần lớn kinh phí cho việc cải thiện phòng thủ đã được chuyển tới để tăng cường cho căn cứ ở gần Dalny, và hầu hết các sỹ quan được mời đến để dự một bữa tiệc kỷ niệm được tổ chức bởi Đô đốc Stark vào đêm 9 tháng 2 năm 1904.

Đô đốc Togo đã nhận được thông tin sai lệch từ điệp viên người địa phương được cài cắm ở trong và xung quanh cảng Arthur rằng các đơn vị đồn trú ở các pháo đài bảo vệ cảng đã được cảnh giác, ông không muốn có nguy cơ xảy ra với các tầu chủ lực của mình từ các khẩu đội pháo binh bờ biển Nga và do đó chúng có thể chặn đội tàu chiến chủ lực của mình lại. Thay vào đó, lực lượng tàu khu trục được tách ra thành hai hải đội tấn công, một hải đội với các tốp tầu nhỏ số 1, 2, và 3 tấn công Port Arthur, và hải đội kia, với các tốp tầu thứ 4 và thứ 5 tấn công các căn cứ hải quân của Nga tại Dalny.
Cuộc tấn công đêm 8-9 tháng 2 năm 1904

Vào khoảng năm 22:30 ngày 08 tháng 2 năm 1904, hải đội tầu tấn công cảng Port Arthur gồm 10 khu trục hạm chạm trán tàu khu trục tuần tra của Nga. Người Nga đã theo lệnh không phải để bắt đầu chiến đấu mà quay sang liên lạc để báo cáo về tổng hành dinh. Tuy nhiên, do kết quả của cuộc gặp gỡ này là hai tàu khu trục Nhật Bản đã bị tụt lại phía sau và phần còn lại trở nên bị phân tán. Vào khoảng 0.028, ngày 9 tháng 2 năm 1904, bốn tàu khu trục Nhật Bản đầu tiên tiếp cận cảng Port Arthur mà không bị nhìn thấy, và bắn ra một loạt tấn công bằng ngư lôi vào chiếc Pallada ( trúng vào giữa con tầu làm nó bốc cháy, và làm nó bị lật úp) và chiếc Retvizan ( tạo ra một lỗ thủng ở mũi của nó). Các tàu khu trục Nhật Bản khác đã không thành công, vì họ đến quá muộn để được hưởng lợi từ tính bất ngờ, và thực hiện các cuộc tấn công một cách đơn lẻ hơn là có sự kết hợp theo nhóm. Tuy nhiên, họ đã có thể vô hiệu hóa chiếc tàu mạnh nhất của hạm đội Nga, chiếc thiết giáp hạm Tsesarevich. Chiếc tàu khu trục Nhật Bản Oboro thực hiện các đợt tấn công mới nhất, khoảng 0.2:00, vào lúc này người Nga đã hoàn toàn tỉnh táo, và các đèn pha và súng của họ đã trở nên chính xác và chặt trẽ khiến các đợt tấn công bằng ngư lôi trở nên là không thể.

Mặc dù đây là một cuộc đột kích bất ngờ có các điều kiện thuận lợi lý tưởng, kết quả thu được lại tương đối nghèo nàn. Trong tổng số mười sáu ngư lôi được bắn ra, chỉ có ba quả là trúng đích, số còn lại hoặc bị trượt hoặc không phát nổ. Nhưng may mắn cũng không đến với người Nga trong chừng mực nào đó khi hai trong ba quả ngư lôi đã đánh vào những tàu chiến tốt nhất của họ: các chiếc Retvizan và Tsesarevich đã không thể tham chiến được tới hàng tuần, cũng như là chiếc tàu tuần dương Pallada.

Trận đánh trên mặt nước vào ngày 09 tháng 02 năm 1904

Sau cuộc tấn công vào ban đêm, Đô đốc Togo đã gửi cấp dưới của mình, Phó Đô đốc Shigeto Dewa, cùng với bốn chiếc tàu tuần dương để làm nhiệm vụ trinh sát nhiệm vụ vào lúc 0.8:00 để nhòm ngó vào các tầu đối phương đang neo ở Port Arthur và đánh giá thiệt hại. Vào khoảng 0.9:00 Đô đốc Dewa đã tới đủ gần để quan sát hạm đội Nga qua lớp sương mù buổi sáng. Ông quan sát thấy 12 tàu chiến và tàu tuần dương, ba hoặc bốn trong số đó dường như bị thương nặng nề hoặc mắc cạn. Các tàu nhỏ hơn bên ngoài lối vào bến cảng đang tập hợp một cách rõ ràng là rất lộn xộn. Dewa tiến đến gần cảng vào khoảng 7.500 yard (6.900 m), nhưng tàu Nhật Bản không quan sát được gì nhiều, ông được thuyết phục rằng các cuộc tập kích vào ban đêm đã thành công và làm hạm đội Nga bị tê liệt và quay lại báo cáo với Đô đốc Togo.

Không biết rằng Hạm đội Nga đã sẵn sàng cho trận chiến, Dewa hối thúc Đô đốc Togo rằng thời điểm này vô cùng thuận lợi để hạm đội chính tấn công chớp nhoáng. Mặc dù Togo đã ưu tiên thu hút hạm đội Nga ra khỏi sự bảo vệ của các khẩu đội pháo trên bờ, kết luận sai lầm theo hướng lạc quan của Dewa đã tạo nguy hiểm cho Hạm đội Nhật Bản. Đô đốc Togo ra lệnh cho hải đội đầu tiên tấn công vào bến cảng, hải đội thứ ba làm dự bị ở phía sau.

Khi tiến đến gần Port Arthur người Nhật lại chạm trán với chiếc tuần dương hạm Nga Boyarin đang làm nhiệm vụ tuần tra. Chiếc Boyarin bắn vào chiếc Mikasa ở tầm bắn cực đại, sau đó quay đầu và bỏ chạy. Vào lúc 11:00, ở khoảng cách khoảng 8.000 yard (7.000 m), cuộc chiến bắt đầu nổ ra giữa hai đội tầu Nhật Bản và Nga. Người Nhật tập trung các khẩu súng 12 in của họ bắn vào các khẩu đội pháo bờ biển trong khi sử dụng các khẩu 8 và 6 in của họ để bắn vào các tàu Nga. Bị bắn trả dữ dội từ cả hai mặt, nhưng người Nhật đã bắn cháy các chiếc Novik, Petropavlovsk, Poltava, Diana và Askold. Tuy nhiên, người Nhật nhanh chóng nhìn thấy một cách hiển nhiên rằng Đô đốc Dewa đã thực sự mắc một lỗi nghiêm trọng. Trong năm phút đầu tiên của trận đánh chiếc Mikasa bị trúng một phát đạn đập nảy, thế là nó nổ tung làm bị thương ngườ kỹ sư trưởng, viên trung úy cầm cờ, và năm sĩ quan khác và phá tung cây cẩu ở phía sau.

Vào lúc 12:20 Đô đốc Togo đã quyết định đảo ngược chiều của Hạm đội Nhật Bản và thoát khỏi cái bẫy (xơi đạn chéo cánh xẻ từ tầu chiến và pháo bờ biển của Nga). Đó là một sự cơ động cao, đầy rủi ro vì hạm đội Nhật Bản trở thành mục tiêu cho các khẩu đội pháo bờ biển Nga. Mặc dù bị bắn phá dữ dội, các thiết giáp hạm Nhật Bản hoàn thành quá trình cơ động và nhanh chóng rút ra khỏi vùng nguy hiểm. Các chiếc Shikishima, Iwate, Fuji, và Hatsuse tất cả đều bị hư hại. Một vài phát đạn cũng đã chiếc tuần dương hạm của Hikonojo Kamimura khi nó đang quay đầu. Tại thời điểm này chiếc Novik tiến tới gần chiếc tuần dương hạm Nhật Bản vào khoảng 3.300 yard (3.000 m) và bắn ra một loạt ngư lôi. Tất cả các bị trượt và chiếc Novik nhận được một cúbđánh trả nặng nề dưới mực nước.

Kết quả của trận đánh

Trận hải chiến cảng Arthur như vậy là đã kết thúc một cách bất phân thắng bại. Người Nga có 150 thương vong và khoảng 90 về phía Nhật Bản. Mặc dù không có tàu nào bị đánh chìm ở cả hai phía nhưng số tầu bị hư hỏng là rất nhiều. Tuy nhiên, người Nhật thoải mái sửa chữa lại tàu của họ và các ụ nổi ở Sasebo có đầy đủ các phương tiện cho họ tiến hành sửa chữa, trong khi hạm đội Nga chỉ có khả năng sửa chữa rất hạn chế ở Port Arthur.

Rõ ràng là Đô đốc Dewa đã phạm sai lầm là không cho tầu trinh sát của ông đủ gần, và trong tình huống này, Đô đốc Togo phản đối việc tấn công đối phương trong tầm của pháo bờ biển của người Nga là hoàn toàn hợp lý.
Bản tuyên chiến chính thức giữa Nhật Bản và Nga được ban bố vào ngày 10 tháng 02 năm 1904, một ngày sau khi trận chiến xảy ra. Cuộc tấn công được tiến hành chống lại một kẻ thù có số lượng khiêm tốn, không chuẩn bị trước lại đang trong thời bình như vậy là thu được kết quả ít ỏi so với trận Trân Châu Cảng.
Hành động tiếp theo của hải quân hai phía tại cảng Port Arthur, từ tháng 2 -> tháng 12 năm 1904
Ngày 11 Tháng 2 năm 1904, tàu tha? mìn Nga Yeneisei bắt đầu thả thủy lôi ở lối vào cảng Port Arthur. Một trong những quả mìn bất ngờ phát nổ phá hủy bánh lái của con tàu làm nó chìm nghỉm cùng với 120 thành viên trong số 200 thủy thủ đoàn của con tầu. Chiếc Yeneisei bị chìm cũng mang theo chiếc bản đồ duy nhất chỉ ra vị trí của các thủy lôi. Chiếc Boyarin được gửi đến để điều tra sự cố cũng lại vấp phải thủy lôi và phải bỏ cuộc mặc dù nó vẫn nổi được. Nó bị chìm hai ngày sau đó sau khi vấp phải một quả thủy lôi thứ hai. ( Đúng là đen thì cái đèn nó cũng đen)

Đô đốc Togo lại mò đến từ Sasebo lần nữa vào ngày 14 Tháng 2 năm 1904, với tất cả các tàu trừ chiếc Fuji. Sáng ngày 24 tháng 2 1904, một nỗ lực đã được thực hiện để đánh đắm năm chiếc tàu vận tải cũ để chặn lối vào của cảng Port Arthur, khóa hạm đội Nga bên trong (đánh không xong thì ông nhốt mày lại). Kế hoạch này bị phá hoại bởi chiếc Retvizan, chiếc này vẫn cứ ở bên ngoài cảng. Trong lúc nhập nhoạng người Nga nhầm các tàu vận tải cũ này là tàu chiến, và thế là viên thống đốc Yevgeni Alekseyev sung sướng gửi điện tín đến cho Sa hoàng rằng lực lượng hải quân của mình đã chiến thắng một trận rất lớn. Sau khi ánh sáng ban ngày xuất hiện và sự thật được tiết lộ, một bức điện thứ hai ngay lập tức được gửi đi. (ông này mắc cái tội là làm nhà vua cụt cả sướng)

Ngày 08 tháng 3 năm 1904, Đô đốc Nga Stepan Makarov đến Port Arthur để thay thế Đô đốc Stark không may mắn và nâng cao tinh thần chiến đấu của Nga. Ông ta chọn chiếc tầu vừa được sửa chữa Askold làm kỳ hạm của mình. Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1904, Hạm đội Nga đã sẵn sàng và họ nổ súng tấn công các hải đội của Nhật Bản đang bao vây xung quanh nhưng hiệu quả là ít ỏi. Tối ngày 10 tháng 3 năm 1904, người Nhật đã cố gắng tiến hành một mưu kế là gửi bốn tàu khu trục tới gần cảng (làm mồi nhử). Người Nga đã mắc bẫy, và gửi ra sáu tàu khu trục để cố gắng đuổi theo, trong lúc đó tầu Nhật Bản thả thủy lôi ở lối vào bến cảng và tiến vào vị trí để chặn đường trở về của các tàu khu trục Nga. Hai trong số các khu trục hạm Nga bị đánh chìm, bất chấp nỗ lực của Đô đốc Makarov đến để giải cứu họ.

Ngày 22 tháng ba năm 1904, các chiếc Fuji và Yashima đã bị tấn công bởi hạm đội Nga dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Makarov, và chiếc Fuji đã buộc phải rút về Sasebo để sửa chữa. Dưới sự chỉ huy của Đô đốc Makarov, Hạm đội Nga cảm thấy tự tin hơn và được đào tạo tốt hơn. Để trả lời ngày 27 tháng 3, 1904, Togo lại cố gắng để chặn lối vào cảng Port Arthur, lần này bằng cách sử dụng bốn tàu vận tải cũ hơn chứa đầy đá và bê tông. Cuộc tấn công lại thất bại như lần trước và các tàu vận tải bị đánh chìm ở quá xa so với lối vào cảng.

Ngày 13 tháng 4 năm 1904, Đô đốc Makarov (người bây giờ đã chuyển sang lấy chiếc Petropavlovsk làm kỳ hạm của mình) Rời cảng để đi đến sự trợ giúp của một hải đội tàu khu trục ông đã gửi về trinh sát phía bắc để Dalny. Ông đi cùng với các chiếc Askold, Diana, Novik , Poltava, Sevastopol, Pobieda, và Peresvyet. Hạm đội Nhật Bản chuẩn bị sẵn sàng để giao chiến và Makarov rút lui để bảo vệ các khẩu đội pháo bờ biển tại cảng Arthur. Tuy nhiên, khu vực đã bị thả thủy lôi bởi người Nhật. vào lúc 0.9:43 chiếc Petropavlovsk vấp vào ba quả thủy lôi phát nổ và chìm trong vòng hai phút. Thảm họa này giết chết 635 sĩ quan và thủy thủ cùng với Đô đốc Makarov (ông này còn không may hơn cả ông trước). Vào lúc 10:15, chiếc Pobieda cũng bị què quặt bởi một quả thủy lôi. Ngày hôm sau, Đô đốc Togo ra lệnh tất cả các tầu phải treo cờ rủ, và tiến hành một ngày tang lễ để thể hiện sự tôn trọng với đối thủ đã chết của mình.

Ngày 3 tháng 5 năm 1904, Đô đốc Togo tiến hành lần cố gắng thứ ba và là lần cuối cùng của ông để ngăn chặn lối vào cảng Arthur, lần này với tám tàu vận tải cũ. Nỗ lực này cũng thất bại, nhưng Togo lại tuyên bố nó là một thành công, bởi vì nó mở đường cho quân đội Nhật Bản lần thứ hai xâm nhập vào đất Mãn Châu. Mặc dù Port Arthur đã bị chặn, đồng thời với sự thiếu chủ động của người kế nhiệm của Makarov, tổn thất của hải quân Nhật Bản vẫn bắt đầu tăng lên, chủ yếu là do các thủy lôi của Nga. Ngày 15 tháng 5, hai tàu chiến của Nhật Bản, các chiếc Yashima 12.320 tấn và Hatsuse 15.300 tấn bị chìm trong một bãi thủy lôi của Nga ngoài khơi Port Arthur sau khi mỗi chiếc ít nhất vấp vào hai quả thủy lôi, loại khỏi vòng chiến một phần ba lực lượng tàu chiến của Nhật Bản, đây là một ngày tồi tệ nhất cho Hải quân Nhật Bản trong chiến tranh.

Hơn nữa các hoạt động hải quân từ Port Arthur dẫn hai nỗ lực đột phá vòng vây của người Nga. Nỗ lực đầu tiên được tiến hành vào ngày 23 tháng 6 năm 1904, và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 8, mà kết quả là Trận hải chiến Hoàng Hải, đó là những trận chiến không phân thắng bại về mặt chiến thuật. Sau đó Hạm đội Nga không thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nữa để thoát ra khỏi cảng của họ, trong khi hạm đội Nhật Bản chiếm ưu thế trong vùng biển trong thời gian chiến tranh. Nhưng thủy lôi đặt bởi các tầu thả mìn Nga là một vấn đề đau đầu cho phía Nhật Bản và kết quả là người Nhật phải chịu tổn thất nhiều hơn nữa. Ngày 18 tháng 9 năm 1904, chiếc pháo hạm Heien 2.150 tấn vấp một thủy lôi của Nga ở phía tây của Port Arthur và chìm. Cùng số phận với nó là chiếc tàu tuần dương Saien 2.440 tấn vào ngày 30 tháng 11 trong cùng một bãi mìn, và vào ngày 13 tháng 12, tàu tuần dương Takasago 4.160 tấn, bị chìm trong một bãi mìn của Nga ở một vài dặm về phía nam của Port Arthur, trong dùng súng của nó để hỗ trợ quân đội Nhật Bản bao vây cảng.

Ảnh hạm đội Thái Bình Dương – Hải Quân Nga ở cảng Port Athur

Battleship_Petropavlosk

Chiếc Thiết giáp hạm Petropavlosk
Tên Petropavlosk
Nhà sản xuất: Galerniy Yard, Saint Petersburg, Nga
Đặt thân lườn: Tháng 1 năm 1893
Hạ thủy: Ngày 1 tháng 11 năm 1894
Hoàn thành: 1897
Hoạt động: 1897
Kết cục: Bị đánh chìm bởi thủy lôi ngoài khơi Port Arthur, Ngày 13 tháng 4 năm 1904
Đặc điểm riêng
Lớp tầu: Tầu thiết giáp lớp Petropavlovsk
Trọng tải: 11.354 longton (11.536t)
Chiều dài: 112,5 m (369 ft 1 in)
Chiều rộng: 21,3 m (69 ft 11 in)
Tầm nước: 8,6 m (28 ft 3 in)
Động cơ đẩy: 2 trục ba động cơ hơi nước mở rộng
14 trụ nồi hơi đốt than
Công suất 10.600 shp (7.900 kW)
1.310 tấn than
Tốc độ: 16,8 knots (19,3mph; 31,1km / h)
Phạm vi hoạt động: 3.790hải lý (7.020km)
Thủy thủ đoàn: 662
Vũ khí trang bị:
? 4 súng 12 in (300 mm)
? 12 súng 6 in (150 mm)
? 10 súng 47 mm (1,9 in)
? 28 súng 37 mm (1,5 in)
? 6 – ống phóng ngư lôi
Thiết giáp:
Giáp lớp Harvey
Giáp bọc vành đai: 8-12 in tại (200-300 mm)
Tháp pháo: 10 in (250 mm)
Tháp pháo giữa: 5 in (130 mm)
Tháp điều khiển: 9 in (230 mm)

HIJMS_Suwo

Chiếc thiết giáp hạm Pobieda của Hải Quân Nga – sau này là chiếc Suwo của Hải quân Nhật Bản
Phục vụ trong Hải Quân Nga
Tên: Pobieda
Nhà sản xuấtr: Xưởng đóng tầu Baltic, Saint Petersburg, Nga
Đặt thân lườn: Ngày 1 tháng 8 năm 1898
Hạ thủyt: 24 tháng 5 năm 1900
Hoạt động: 31 tháng 7 1902
Kết cục: Bị đánh chìm để khỏi bị bắt vào ngày 7 tháng 12 năm 1904
Phục vụ trong Hải quân Nhật Bản
Tên: Suwo
Được trục vớt vào tháng 10 năm 1905
Hoạt động: Tháng 10 năm 1908
Ra khỏi biên chế: 1922
Kết cục : bị tháo dỡ năm 1946
Đặc điểm riêng
Loại tầu: Lớp tầu thiết giáp hạm Peresviet
Trọng tải: 13.500 longton (13.717t)
Chiều dài: 129,2 m (424 ft)
Chiều rộng: 21,8 m (71 ft 6 in)
Tầm nước: 8,3 m (27 ft 3 in)
Động cơ đẩy: 3 trục pittông mở rộng gấp ba lần theo chiều dọc của động cơ (VTE)
30 nồi hơi Miyabara
14.500 shp (10.800 kW)
Tốc độ: 16 knots (18mph; 30km / h)
Phạm vi hoạt động: 6.000hải lý (11.000km) Tại tốc độ 10 knot (12 mph, 19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 732
Vũ khí trang bị:
? 4 súng 254 mm (10 in)
? 10 súng 152 mm (6 in)
? 16 súng 12 pounder
? 21 súng 3 pounder
? 8 súng 1 ½ pounder
? 2 ống phóng ngư lôi
Armour:
Viền đai: 230 mm (9 in)
Boong: 70 mm (2,76 in)
Tháp chỉ huy: 254 mm (10 in)

Vài nét về Hạm đội Nhật Bản trong trận Port Arthur

800px-Japanese_battleship_Mikasa

Chiếc thiết giáp hạm Mikasa của Hải quân Nhật Bản
Đặt hàng: 26 tháng 9 năm 1898
Nhà sản xuất: Vickers, Barrow-in-Furness, Vương quốc Anh
Đặt thân lườn: 24 Tháng Một 1899
Hạ thủy: Ngày 08 tháng 11 1900
Hoạt động: Ngày 01 tháng 3 năm 1902
Ngừng hoạt động: 20 tháng 9 1923
Tình trạng: Chuyển đổi như là một đài tưởng niệm
Đặc điểm riêng
Trọng tải: 15.140 tấn
Chiều dài: 131,67 m (432,0 ft) LOA
Chiều rộng: 23,23 m (76,2 ft)
Độ mớm nước: 8,28 m (27,2 ft)
Động cơ đẩy: Hai Trục piston VTE động cơ hơi nước; 25 nồi hơi, 15.000 shp (11.190 kW)
Tốc độ: 18,25 knot (33,8 km / h)
Phạm vi hoạt động: 7.000 hải lý (13.000 km) @ 10 knots (19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 860
Vũ khí trang bị:
? 4 súng 12-inch (305 mm) 40-calibres (Ban đầu);
? 4 súng 12 inch 45-calibres (Từ 1908)
? 14 súng QF 6 inch (152 mm) (Casements)
? 20 súng 3-inch (76 mm)

HIJMS_Hatsuse

Chiếc thiết giáp hạm Hatsuse của Hải quân Nhật Bản
Tên: Hatsuse
Đặt hàng: 1897
Nhà sản xuất: Armstrong Whitworth, Vương quốc Anh
Đặt thân lườn: 1898/01/10
Hạ thủy: 1899/06/27
Hoạt động: 1901/01/18
Tham gia biên chế: 1.901
Ra khỏi biên chế 1905
Tấn công: 1905/05/21
Kết cục: Trúng thuỷ lôi năm 1904/05/15
ở toạ độ 38 ° 37”N 121 ° 20”E38,617 ° 121,333 ° Đ.
Đặc điểm riêng
Lớp tầu: Lớp thiết giáp hạm Shikishima
Trọng tải: 15.255 tấn
Chiều dài: 126,5 m (415,03 ft)
134 m (439,63 ft) tổng thể
Chiều rộng: 23,4 m (76,77 ft)
Tầm nước: 8,29 m (27,20 ft)
Động cơ đẩy: Hai Trục piston VTE động cơ hơi nước; 25 nồi hơi, 14.500 shp (10.810 kW)
Tốc độ: 18 knots (33 km / h)
1.722 tấn than;
Phạm vi hoạt động: 7.000 hải lý (13.000 km) @ ở tđ 10 knots (19 km / h)
Thủy thủ đoàn: 836
Vũ khí trang bị:
? 4 súng 12-inch (305 mm) (2×2)
? 14 súng 6-inch (152 mm) QF
? 20 súng 3 pounder
? 12 súng 2,5 pounder
? 5 ống phóng ngư lôi 18-inch (457 mm)
Thiết giáp:
? 100-229 mm giáp vỏ chính của tầu
? 63-100 mm giáp sàn tàu;
? 50-254 mm tháp pháo, cửa pháo
? 200-360 mm, khu vực đặt đại bác
? 75-356 mm chỉ huy tháp

Trận Hải chiến Chemulpo

chemulpo

Ngày diễn ra: Ngày 09 tháng 2 năm 1904

Địa điểm: Ngoài khơi vịnh Chemulpo,Triều tiên)
Kết quả: Nhật Bản chiến thắng về quân sự
Tham chiến

Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Chỉ huy
Uryu Sotokichi
Sức mạnh
2 Tuần dương hạm bọc thép,
4 1 tàu tuần dương có gia cố giáp
1 thông báo hạm,
8 tàu phóng ngư lôi
Thương vong
Không có thương vong được báo cáo từ phía Nhật Bản
1 tàu phóng lôi và khoảng 30 người thương vong theo nguồn của Nga

Hải quân Đế quốc Nga

Chỉ huy
Vsevolod Rudnev
Sức mạnh
1 tàu tuần dương có gia cố giáp
1 pháo hạm
Thương vong
33 người chết, 97 người bị thương; cả hai tàu đều bị tự đánh đắm sau trận chiến

Trận vịnh Chemulpo là một trận hải chiến trong Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), diễn ra vào ngày 9 Tháng 2 năm 1904, ngoài khơi bờ biển ngày nay là Inchon, Hàn Quốc.

Bối cảnh

Giai đoạn mở đầu của Chiến tranh Nga-Nhật bắt đầu với một cuộc đột kích bất ngờ do Hải quân Đế quốc Nhật Bản chống lại Hạm đội Thái Bình Dương của Nga có căn cứ tại Port Arthur, Vladivostok và tại Chemulpo (nay là một phần của Inchon, Hàn Quốc). Quyền chỉ huy của các hoạt động quân sự tại vịnh Chemulpo được trao cho Thiếu tướng ha?i quân Uryu Sotokichi, cùng với sáu tàu tuần dương, 3-8 tàu phóng ngư lôi (tùy thuộc vào nguồn), cùng thông báo hạm Chihaya, ba tàu vận tải và 2.500 bộ binh. Chemulpo cũng có tầm quan trọng chiến lược, vì nó là cảng chính cho của Seoul ?” Thủ đô của Triều Tiên, và đây cũng là con đường chính được sử dụng trước đây để xâm lược Triều Tiên và Mãn châu của Quân Đội Nhật Bản trong Chiến tranh Trung-Nhật năm 1894. Tuy nhiên, Chemulpo với ảnh hướng của dòng thủy triều lớn, bãi lầy cũng rất rộng lớn cùng với các con kênh quanh co và hẹp, đặt ra một số thách thức về mặt chiến thuật cho cả hai kẻ tấn công và phòng thủ.
Con tàu tuần dương được gia cố giáp Chiyoda đã được gửi đến Chemulpo trong 10 tháng cùng năm để canh chừng chiếc tuần dương hạm bọc thép Varyag và chiếc pháo hạm Koriezt cũ kỹ của người Nga, lúc đó cũng đang thả neo tại Chemulpo để bảo vệ các quyền lợi của người Nga ( tại Triều Tiên).

Sau khi chiếc tầu vận tải Nga Sungari đến Chemulpo ngày 7 Tháng 2 năm 1904, nó đã báo cáo rằng có nhìn thấy của một lực lượng lớn các tầu chiến Nhật Bản đang đến gần, chiếc pháo hạm Korietz được lệnh đi Port Arthur để báo cáo và nhận chỉ thị mới. Trong buổi sáng sớm ngày 8 tháng 2 năm 1904, chiếcKorietz nhìn thấy chiếc Chiyoda ngoài roadstead Chemulpo, và tưởng lầm nó cho một con tàu Nga đồng đội, chiếc này bắn một loạt súng chào. Khi lại gần hơn , thủy thủ đoàn của chiếc Korietz nhận ra sai lầm của họ thì các khẩu súng chưa được nạp đạn lại. Chiếc Chiyoda phản ứng bằng cách phóng ra một quả ngư lôi. Cả hai bên đều bắn trượt, nhưng có thể nói rằng đây là lần đấu súng thực sự đầu tiên trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật, và người ta cũng không rõ rằng bên thực sự nổ súng trước. Chiếc Korietz rút lui trở lại cảng Chemulpo. Sau đó vào sáng ngày 8 tháng 2 năm 1904, chiếc Chiyoda đã gặp hải đội của Đô đốc Uryu ở ngoài lối vào Chemulpo, và nó báo cáo rằng có một số tàu chiến từ các nước trung lập đang thả neo trong vịnh này, chúng bao gồm các chiếc HMS Talbot (Vương quốc Anh), Pascal (Pháp), và Elba (Italy). Một tàu chiến Mỹ tên là Vicksburg (thuyền trưởng là William A. Marshall) cũng có mặt, nhưng nó lại buông neo ở phía trên của bến cảng. Đô đốc Uryu lý luận rằng nếu người Nga vẫn buông neo ở giữa các tàu trung lập thì họ không thể tấn công tàu vận tải của người Nhật, trong khi người Nga bước ra và chấp nhận trận chiến, ông ta đã có một lực lượng thừa đủ để đối phó với họ. Mặt khác, cũng là đi ngược lại với luật pháp quốc tế nếu tấn công người Nga khi họ đang thả neo tại một cảng trung lập. Đô đốc Uryu gửi tin nhắn yêu cầu các thuyền trưởng của các chiếc HMS Talbot, Pascal và Elba di chuyển nơi neo đậu của mình, và hứa hẹn rằng cuộc tấn công sẽ không xảy ra trước 16:00

Trận đánh

Đô đốc Uryu ra lệnh cho các tàu tuần dương Chiyoda, Takachiho, Asama và các tàu phóng ngư lôi của ông ta đi ngược lên theo con kênh cùng các tầu chở quân để đổ quân và trang thiết bị lên bờ, trong khi đó các tàu tuần dương Naniwa, Niitaka và Akashi được tổ chức thành lực lượng dự bị. Ba chiếc tầu phóng ngư lôi nấp ở sườn bên phải của chiếc Niitakaị.

Vào lúc 18:00, ngày 8 tháng 2 năm 1904, tầu chở quân Nhật Bản buông neo tại Chemulpo, bên cạnh các tầu của người Nga, và đổ bộ các binh sĩ trong bốn tiểu đoàn của Sư đoàn 12 IJA (Lục quân Đế Chế Nhật Bản) đợt đổ quân này kéo dài cho đến đêm. Để làm cho thần kinh của người Nhật Bản thêm căng thẳng, các chiếc$ Varyag và Korietz không có hành động quân sự nào, nhưng vẫn tiếp tục khẩn trương chuẩn bị cho trận chiến. Việc đổ bộ hoàn thành 0.3:00 vào ngày 09 tháng 2 năm 1904, và tất cả các tàu chiến và tàu vận tải Nhật lại rút khỏi cảng trừ chiếc Chiyoda.

Sau này chuyển lá tối hậu thư cho chiếc Varyag và các tầu trung lập tàu (với các tầu trung lập thì chỉ là ở mức yêu cầu), bao gồm các tàu tuần dương Anh Talbot, tàu tuần dương Pháp Pascal, tầu Ý Elba, và pháo hạm Hoa Kỳ USS Vicksburg cùng tầu thả mìn Pompey

Nội dung thư của người Nhật gửi đến các tầu chiến trung lập

Gửi tới từ tuần dương hạm Naniwa ” Hải quân Đế Quốc Nhật Bản

Vịnh Chemulpo ngày 08 tháng 2 năm 1904.
Thưa các Ngài: Tôi xin trân trọng thông báo với các Ngài rằng, chiến tranh giữa 2 Đế quốc Nhật Bản và đế quốc Nga đã xảy ra và hiện tại tôi sẽ tấn công những chiếc The Man of War (chỉ tầu chiến) của Chính phủ Nga, hiện đang đóng tại cảng Chemulpo bằng lực lượng dưới sự chỉ huy của tôi, trong trường hợp các tầu chiến của người Nga tại Chemulpo từ chối yêu cầu của chúng tôi là phải rời cảng Chemulpo trước giờ trưa của ngày 9 tháng 2 năm 1904 (thực chất là bắt tầu của người Nga phải đầu hàng), và tôi trân trọng đề nghị các Ngài tránh xa khỏi các hành động quân sự của chúng tôi ở trong cảng để khỏi ảnh hưởng đến tầu của các bạn. Cuộc tấn công của chúng tôi sẽ không diễn ra trước 4:00 pm. ngày 9 tháng 2 năm 1904, để các Ngài có đủ thời gian để thực hiện theo các yêu cầu nêu trên.

Nếu có bất kỳ vận tải hoặc tàu thuyền thương gia quốc tịch của bạn trong cảng Chemulpo hiện nay, tôi yêu cầu bạn truyền đạt cho họ thông báo trên.
Tôi rất vinh dự được phục vụ quý Ngài,
S. URIU

Một hội nghị đã nhanh chóng được triệu tập ở trên chiếc Talbot bởi thuyền trưởng Rudnev và các thuyền trưởng của tàu chiến trung lập (trừ chiếc pháo hạm USS Vicksburg), và người ta đã quyết định rằng người Nga sẽ chiến đấu theo cách của họ ở ngoài khơi.

Vào buổi trưa, thuyền trưởng Denis Bagly của chiếc HMS Talbot sang chiếc Naniwa cầm theo lá thư có chữ ký của tất cả các thuyền trưởng trung lập ngoại trừ thuyền trưởng của chiếc tàu USS Vicksburg, WA Marshall, từ chối yêu cầu đổi nơi thả neo, trên cơ sở rằng cảng Chemulpo là một cảng trung lập.

Thất thế về số lượng và hỏa lực nhưng vẫn từ chối lời khuyên từ các thuyền trưởng trung lập là nên đầu hàng, vào lúc 11:00 ngày 09 tháng 2, 1904, thuyền trưởng của chiếc Varyag cố gắng thực hiện một cuộc phá vây tiến ra biển khơi.

Ảnh hai chiếc tầu chiến của Nga chiếc Varyag và chiếc Korietz tiến vào trận chiến với kẻ thù mạnh hơn gấp bội

Những ghi chép từ Nhật ký của con tầu Varyag:

– 1.1:10 Tất cả tập trung trên boong chiếc “Varyag”.
– Tiến ra biển vào lúc 11:20, chiếc “Korietz” ở cách khoảng 1 cable (200 mét) phía sau (chiếc “Varyag”). Các thủy thủ đoàn của tầu chiến Anh và Ý đã tung hô, cổ vũ người Nga; thậm trí trên tàu tuần dương Ý Elba quốc ca Nga còn được cử hành

-Vào lúc 11:25 còi báo động trên chiếc ?oVaryag” vang lên. Các tuần dương hạm Nhật Bản Asama, Naniwa, Takachiho, Chiyoda, Akashi và Niitaka xuất hiện từ hướng phía Bắc từ đảo Richy. Tầu phóng ngư lôi xuất hiện ở phía các tàu tuần dương hạm Nhật Bản.
– 11:45 Chiếc “Varyag” khai hỏa với các súng mạn trái.
– 11:47 Chiếc Asama khai hỏa tất cả các súng8 in, sau đó tất cả các tầu của Hải đội Nhật Bản đều nổ súng.
– Một trong những phát đạn đầu tiên của Nhật Bản đã trúng vào chiếc tuần dương hạm “Varyag”, phá hủy phía bên trái của con tầu ở phía trước đài chỉ huy của thuyền trưởng, làm phòng bản đồ bốc cháy và làm đứt các dây chão của con tầu. Viên chuẩn uý sĩ quan hoa tiêu Công tước Alexey Nirod bị giết chết ngay lập tức, tất cả thủy thủ đoàn trong trạm hoa tiêu số số 1 đã bị giết hoặc bị thương.

Chiếc Varyag bốc cháy trong làn đạn của kẻ thù

-Súng 10,2 in số 3 bị hư hại tất cả các pháo thủ đã chết hoặc bị thương, chuẩn uý chỉ huy khẩu đội pháo này – Gubonin bị thương, nhưng từ chối rời vị trí cho đến khi ông ta ngã gục, cháy lớn ở phần mũi tầu và phần boong lái tầu của sỹ quan ( và được dập tắt bởi chuẩn uý Chernilovsky-Sokol). Vẫn một phát đạn gây ra cháy và làm hỏng các khẩu súng 10,2 in số 8 và số 9, súng 75mm số 21, khẩu 47mm số 27 và số 28. Những viên đạn khác đã gần như bị phá hủy các khẩu đội súng chủ lực ở phía trên, đồng thời phá hủy nặng nề trạm hoa tiêu số 2, làm hư hại các súng số 31 và số 32, lửa cháy lan sang phòng thay đồ của nhân viên ?

– Lúc 12:05 khi con tầu đi ngang qua đảo Yo-dol-mi thì ổ bánh lái bị hư hại. Đồng thời, thuyền trưởng Rudnev đã bị sốc khi một mảnh đạn văng vào đầu, phát đạn này bắn trúng cột buồm mui. Nhân viên thô?i kèn hiệu và tay trống, những người đứng cạnh ông đã bị giết chết tươi, người tài công phụ Snegirev bị thương nặng ở lưng, và liền kề đó viên sỹ quan quân nhu Chibisov lại bị thương nhẹ quá. Từ lúc này con tầu được chỉ huy từ khoang lái, nhưng mệnh lệnh vẫn tiếp tục được ban bố, do đó máy móc được sửa chữa kịp thời. Tại thời điểm này con tàu tuần dương được lái một cách khó khăn.

-12:15 Con tầu sẵn sàng thoát ra ngoài phạm vi hỏa lực của đối phương để sửa chữa khi nó có thể dập tắt các đám cháy ở những nơi khác nhau và chúng (các đám cháy) bắt đầu lan đến khu vực phòng máy, đây là điều làm cho chiếc tàu tuần dương rất khó lái. Gần đảo Yo-dol-mi thì động cơ của nó mới được phục hồi.

– Con tầu tuần dương bị đẩy vào tương đối bất lợi khi bánh lái bị vỡ ở vị trí khoảng 15-20 ° bên phía trái.

– Khoảng cách với đối phương đã rút ngắn xuống vào khoảng 28-30 cable (5.600 ?” 6.000 mét) , lửa cháy to hơn, đạn địch bắn vào nhiều hơn.

– Cùng trong lúc này một viên đạn cỡ lớn bắn trúng bên trái của con tầu ở dưới mực nước, nước biển đổ vào qua một hố đen khổng lồ, làm hầm lò số 3 bắt đầu hoàn toàn ngập nước, nước tiếp tục tràn vào các lò khác. Chỉ huy trưởng và các sỹ quan phụ trách cho đặt các bản vá lỗ thủng dưới, nước được bơm ra một cách khẩn trương, mực nước giảm liên tục, nhưng con tàu tuần dương tiếp tục nghiêng về phía bên trái.

– Một phát đạn nữa phá xuyên qua boong sỹ quan, xuyên thủng sàn tầu làm con tầu bị thương nặng và làm thức ăn dự trữ trong khoang thực phẩm bốc cháy. Sau đó, nó tạo thành một chỗ thắt ở khu giường bệnh, khu ytế bị các mảnh vỡ văng vào, chúng liền bắt lửa và bắt đầu cháy rất to. Thiệt hại nghiêm trọng đã buộc chúng tôi (người viết nhật ký) phải ra khỏi phạm vi lửa cháy trong một thời gian dài, đó là lý do tại sao chúng tôi đến được vũng biển ở tốc độ cao, với lửa cháy ở phía trái và mũi tầu.

– Trong suốt trận chiến với một phát đạn 10,2 in ở khẩu súng số 12 ở mũi của của chiếc tàu tuần dương Asama đã bị phá hủy và bốc cháy, chiếc Asama phải chặn lửa cháy trong một thời gian. tháp pháo trên của cô rõ ràng đã bị hư hỏng, vì vậy nó không thể tham gia đến hết trận đánh.

– Gần 12:40 con tàu tuần dương tìm cách thả neo và đạn của người Nhật Bản trở thành nguy hiểm cho tàu trung lập ở trong vịnh, hai tàu tuần dương đuổi theo chúng tôi ngừng bắn và quay về với phần còn lại của hải đội ở ngoài khơi đảo Yo-dol-mi.

– 12:45 Khoảng cách tới tầu Nhật Bản ngày càng gia tăng, làm cho các phát bắn của chúng tôi trở nên vô hiệu, vì vậy chúng tôi cũng ngừng bắn.

Mặc dù các bản ghi nhật ký của người Nga nói rằng họ có gây thiệt hại cho chiếc Asama, Hồ sơ của phía Nhật Bản lại nói rằng chiếc Asama không có thiệt hại gì.

Không thể phá vỡ nổi sự phong tỏa của Hải đội Nhật Bản vào giữa buổi chiều, các chiếc Korietz và Varyag lúc này đã thương vong nặng nề phải quay trở lại bến cảng tại Chemulpo lúc 13:15, tại đó cả hai phải tránh ở gần các tàu chiến trung lập. Vào 16:00, chiếc Korietz bị đánh đắm bởi thủy thủ đoàn của nó bằng cách cho nổ tung hai kho đạn. Những mảnh vỡ của con tàu bay lên và rơi xuống một cách nguy hiểm ở gần các tàu trung lập. Lo sợ có một vụ nổ nữa lớn hơn tạo ra những thương vong tiềm tàng, các thuyền trưởng của các tàu chiến trung lập hối thúc Rudnev (thuyền trưởng của chiếc Varyag) rằng không thể cho nổ tung chiếc Varyag theo cách tương tự. Vào lúc 18:10, bị đánh đắm bởi thủy thủ đoàn của mình, chiếc Varyag nghiêng về phía trái của nó và chìm. Thuyền viên từ Varyag được chuyển lên chiếc tầu vận tải Nga Sungari, chiếc này vẫn đã ở lại phía sau cảng trong trận đánh, và nhóm lửa đốt chiếc tuần dương hạm để ngăn chặn nó rơi vào tay người Nhật Bản.

Kết quả của trận đánh

Trận Chemulpo là một chiến thắng quân sự cho phía Nhật Bản. Thương vong của người Nga trên chiếc Varyag là nặng nề, tất cả 12 khẩu súng 6 in, tất cả các khẩu 12 pounder, và các khẩu 3 pounder của con tầu đều không thể hoạt động, nó đã trúng 5 phát đạn nghiêm trọng hoặc ở dưới mực nước. hoặc ở khu vực chỉ huy và làm các quạt thông gió của nó bị thủng, và thủy thủ đoàn đã chỉ ra tại ít nhất năm vụ cháy nghiêm trọng. Trên tổng số thủy thủ đoàn trên sổ sách là 580 người có 33 bị thiệt mạng và 97 người bị thương Hầu hết các trường hợp bị thương nghiêm trọng của người Nga được điều trị tại bệnh viện của Hội Chữ thập đỏ tại Chemulpo. Các thủy thủ đoàn của Nga, ngoại trừ bị thương nặng, được trở về nước Nga trên các tàu chiến trung lập và được coi là những anh hùng. Mặc dù bị cháy nghiêm trọng, chiếc Varyag đã không bị nổ tung lên, sau đó nó được trục vớt bởi người Nhật Bản và được biên chế vào Hải quân Đế Quốc Nhật Bản như một tàu để đào tạo thủy thủ với cái tên mới ” Soya – Đậu nành”.

Trận Hải chiến Tsushima

TsuShima_Strait

Hải quân Đế quốc Nga

Chỉ huy
Zinovy Rozhestvensky
Nikolai Nebogatov
Oskar Enkvist
Sức mạnh
8 tàu thiết giáp hạm
3 tàu chiến ven biển
8 tàu tuần dương
9 tàu khu trục
Thương vong
4.380 người chết
5.917 bị bắt
21 tàu bị đánh chìm (7 tầu thiết giáp hạm)
7 tầu bị bắt giữ
6 chiếc bị giải giáp

Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Chỉ huy
Tōgō Heihachirō
Kamimura Hikonojō
Shigeto Dewa
Sức mạnh
4 tàu thiết giáp hạm
27 tàu tuần dương
21 tàu khu trục
Cộng với 37 tàu phóng ngư lôi, pháo hạm, và tàu hỗ trợ
Thương vong
117 người chết
583 người bị thương
3 tàu phóng ngư lôi đánh chìm

Trận Tsushima hoặc Trận eo biển Tsushiman là trận hải chiến có ý nghĩa quyết định, đây là trận chiến trên biển diễn ra giữa các hạm đội tàu chiến bọc thép hiện đại trong các ngày 27-> 28 tháng 5 năm 1905 (Ngày 14-> 15 tháng 5 theo lịch Julian sau này được sử dụng rộng rãi tại Nga) tại Eo biển Tsushima ở vùng biển giữa Triều Tiên và miền nam Nhật Bản. Trong trận đánh hạm đội Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đô đốc Tōgō Heihachirō đã tiêu diệt hai phần ba hạm đội Nga dưới sự chỉ huy của Đô đốc Zinovy Rozhestvensky trong lúc này họ đang tiến hành một chuyến hành trình trên biển dài hơn 18.000 hải lý (33.000 km) để đến được vùng Viễn Đông. Nhà sử học Edmund Morris gọi nó là trận hải chiến lớn nhất kể từ trận Trafalgar.

Trước Chiến tranh Nga-Nhật, các liệt cường đóng tàu chiến của họ với các khẩu đội pháo chủ yếu là hỗn hợp giữa các loại súng 152 mm (6-inch), 203 mm (8-inch), 254 mm (10 inch) và 305 mm (12 inch), với concept rằng các thiết giáp hạm sẽ tác chiến theo một đội hình dòng tầu chiến, với việc các tầu chiến của hai bên sẽ dàn vị trí tương đối gần nhau (đây là chiến thuật được kế thừa từ các chiến thuật hải quân thế kỷ 18 -> 19). Trận đánh đã chứng minh rằng các khẩu súng lớn sẽ tạo thêm lợi thế về phạm vi bắn trong trận hải chiến hơn so với các khẩu đội pháo hỗn hợp với các kích cỡ khác nhau.

Xung đột ở Viễn Đông

Ngày 08 tháng 2 năm 1904 các tầu khu trục hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào Hạm đội Viễn Đông của Nga neo tại Port Arthur; 3 tàu chiến của người Nga gồm 2 thiết giáp hạm và một tàu tuần dương, bị hư hại trong cuộc tấn công. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật đã bắt đầu, mục tiêu đầu tiên của người Nhật là đảm bảo an toàn cho con đường biển để chuyển quân và đồ cung cấp sang đại lục châu Á do đó cho phép nó có thể tiến hành một cuộc chiến tranh trên bộ ở Mãn Châu. Để làm được điều này, rất cần thiết đối với người Nhật là phải hóa giải được sức mạnh hải quân của người Nga ở phía Đông. Lúc đầu, lực lượng hải quân Nga đã phải nằm im và không thể tấn công vào tầu Nhật Bản, kết quả là quân Nhật không gặp mấy khó khăn để đổ bộ lên Triều Tiên , nhưng người Nga dường như đã được hồi sinh bởi sự xuất hiện của Đô đốc Stepan Makarov và họ đã đạt được một thành công đáng khích lệ khi chống lại quân Nhật. Tuy nhiên, chiếc soái hạm Petropavlovsk của Đô đốc Makarov đã vấp phải một quả thủy lôi, mà kết quả là vị đô đốc Nga đã chết, và người kế nhiệm Makarov đã thất bại trong việc ngăn chặn Hải quân Nhật Bản; như vậy, người Nga đã bị giam chân một cách có hiệu quả ở cảng Port Arthur. Vào tháng 5, người Nhật đã đổ bộ lực lượng bộ binh lên Bán đảo Liêu Đông và vào tháng 8 họ bắt đầu cuộc bao vây các căn cứ hải quân của người Nga. Trong tháng 8, các nhà lãnh đạo Nga cuối cùng đã quyết định rút phần còn lại của Hạm đội Thái Bình Dương đang đóng ở Port Arthur ra và sát nhập chúng với hải đội Vladivostok và sau đó tung chúng ra thách chiến với người Nhật Bản. Tuy nhiên, cả hai hải đội của Hạm đội Thái Bình Dương của Đế Quốc Nga đã bị phân tán sau các trận đánh ở biển Hoàng Hải và Ulsan vào các ngày 10 tháng 8 và 14 tháng 8 năm 1904. Những gì còn lại của lực lượng hải quân Nga cuối cùng đã bị chìm đắm trong cảng Port Arthur.

Hạm đội Thái Bình Dương thứ 2

Khi Hạm đội Thái Bình Dương thứ nhất không còn hoạt động một cách có hiệu quả sau cái chết của Đô đốc Makarov và người Nhật Bản ngày càng thắt chặt vòng vây xung quanh Port Arthur, người Nga đã phải xem xét việc gửi một phần Hạm đội Baltic đến Viễn Đông. Kế hoạch của Nga là tiếp viện cho Port Arthur bằng đường biển, liên lạc với Hạm đội Thái Bình Dương đầu tiên, sau đó áp đảo Hải quân Nhật và bằng mọi giá làm chậm việc tiến vào Mãn Châu của người Nhật Bản cho đến khi quân tiếp viện của Nga có thể đến kịp qua hệ thống đường sắt xuyên Siberia, sau đó áp đảo lực lượng Nhật Bản ở Mãn Châu. Khi tình hình ở vùng Viễn Đông ngày càng xấu đi, Sa hoàng (được sự khuyến khích của người anh em họ của mình (Kaiser Wilhelm II Hoàng Đế Đức), cuối cùng đã đồng ý hình thành Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai trong đó bao gồm năm đội tầu của Hạm đội Baltic, tức là lấy mất 11 trong 13 tàu chiến của nó để thành lập hạm đội TBD 2). Hạm đội khởi hành ngày 15 tháng 10 năm 1904 đến cảng Port Arthur dưới sự chỉ huy của Đô đốc Zinovy Rozhestvensky.

Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai khởi hành đi qua Biển Bắc. Với những tin đồn có các tàu phóng ngư lôi của Nhật Bản ở Biển Bắc(thật là hài hước, người Nhật không có căn cứ tại châu Âu vậy làm sao họ có thể tung tầu phóng ngư lôi vào biển Bắc nhỉ), một số tàu ủa Nga đã nổ súng vào tầu đánh cá Anh ở ngoài khơi Dogger Bank, làm cho Hải quân Hoàng gia phải tăng cường giám sát hạm đội Nga cho đến khi hai bên ra được một thỏa thuận ngoại giao. Bị cấm sử dụng Kênh đào Suez bởi người Anh, người Nga tiến hành đi vòng qua châu Phi và khoảng tháng tư – tháng năm 1905 hạm đội đã thả neo tại Vịnh Cam Ranh. Chuyến đi kéo dài và gian khổ, làm tinh thần của các thủy thủ đoàn bắt đầu suy giảm. Người Nga nhận được mệnh lệnh là phải phá vỡ cuộc phong tỏa ở cảng Port Arthur, nhưng thành phố đã thất thủ vào ngày 02 tháng 1 năm 1905 nên cảng Vladivostok của người Nga được trở thành điểm đến của Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai (Đây là một sai lầm cực kỳ khủng khiếp của các lãnh đạo Nga vì muốn đến được cảng Vladivostok thì Hạm đội Nga phải vượt qua vùng biển do người Nhật kiểm soát ).

Người Nga phải khởi hành đi qua một trong ba eo biển để có thể đến được Vladivostok: đó là các eo biển La Perouse, Tsugaru, và Tsushima. Đô đốc Rozhestvensky chọn con đường đi qua Tsushima trong một nỗ lực nhằm đơn giản hóa tuyến đường của mình. Đô đốc Tōgō, đang đóng tại căn cứ hải quân ở Pusan, Triều Tiên cũng tin rằng đi qua Tsushima là con đường sẽ được người Nga ưu tiên lựa chọn. Eo biển Tsushima là vùng nước ở phía đông của Đảo Tsushima, đây là nhóm đảo nằm ở giữa đảo Kyushu Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên, là con đường ngắn nhất và thẳng nhất đến Vladivostok từ Đông Dương. Hai tuyến đường khác đòi hỏi hạm đội Nga phải đi tầu về phía đông của Nhật Bản. Các Hạm đội Liên hợp Nhật Bản và Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai của Nga được gửi qua từ Châu Âu, sẽ chiến đấu với nhau trong eo biển giữa Triều tiên và Nhật Bản gần quần đảo Tsushima.

Hạm đội Nhật được thực hành tác xạ thường xuyên kể từ đầu cuộc chiến (và họ cũng đúc rút được nhiều kinh nghiệm chiến đấu qua cuộc chiến Trung ?” Nhật lần I), họ tiếp tục nâng cao khả năng tác xạ bằng cách sử dụng đạn có sub-calibre cho các khẩu pháo của họ. Người Nhật có các pháo thủ tài giỏi và thông thạo thuật súng, họ cũng thường xuyên bắn trúng mục tiêu hơn. Hơn nữa, người Nhật sử dụng chủ yếu là đạn nổ hạng nặng được nhồi bằng chất nổ shimose (một loại chất nô? mạnh do người Nhật chế tạo), được thiết kế để phát nổ khi tiếp xúc với boong và vỏ của tàu Nga. Người Nga sử dụng đạn xuyên giáp với thuốc nổ thông thường, và cầu chì của chúng không có độ tin cậy cao. Các phát đạn của Nhật Bản gây ra thiệt hại nhiều hơn cho tàu Nga tương ứng với số phát đạn mà người Nga bắn vào tàu Nhật Bản, làm cho phần cấu trúc trên của boong, các lớp sơn vỏ tầu và số lớn than lưu trữ trên các boong tầu bắt lửa. (Các tầu của hạm đội Nga phải thường mua than trên biển từ các tàu buôn trên hầu hết chuyến đi dài của mình do thiếu các cảng căn cứ trên cuộc hành trình để tiếp nhiên liệu). Đạn của người Nhật cũng được bắn chính xác hơn bởi vì họ trên tàu của họ các máy đo khoảng cách (rangefinder) có công nghệ tiên tiến hơn hơn so với hầu hết các thiết bị cùng loại trên các tàu Nga.

Do phải tiến hành một cuộc hành trình dài tới 18.000 dặm (mà chu vi của trái đất chỉ dài khoảng 20 000 dặm tương đương với 40.000 km thôi), Hạm đội Nga đã trở nên ở một tình trạng quá mệt mỏi và thiếu thốn cho một trận hải chiến hải (Khổng Minh ?” Gia Cát đã có câu quân kỵ chạy ngày trăm dặm giương cung bắn không thủng tấm vải lụa). Ngoài các bốn chiến hạm mới nhất lớp thiết giáp hạm Borodino, các tàu chiến còn lại được thiết kế lớn hơn và có cấu trúc yếu kém hơn. Các chuyến đi dài và thiếu các công tác bảo trì làm cho đáy tầu của họ trở yếu vì bị rêu và hà gỉ, chúng làm giảm đáng kể tốc độ của hạm đội Nga. Các tàu Nhật Bản có thể chạy với vận tốc lên đến 16 knots (30 km / h), nhưng hạm đội Nga chỉ có thể đạt đến 9 knots (17 km / h). Đô đốc Tōgō đã sử dụng khả năng cơ động cao của hạm đội của mình làm lợi thế, ông ta đã hai lần sử dụng thành công chiến thuật ” crossing T”. Cuối cùng, Hạm đội Nga có những thiếu sót đáng kể trong thiết bị và huấn luyện. Những thử nghiệm về chiến thuật sử dụng và tránh né ngư lôi chủ yếu của họ đã bộc lộ những sai lầm mà đây chính là những thiếu sót về mặt công nghệ.

Hướng di chuyển của hạm đội hai bên

Hạm đội Nhật được thực hành tác xạ thường xuyên kể từ đầu cuộc chiến (và họ cũng đúc rút được nhiều kinh nghiệm chiến đấu qua cuộc chiến Trung ?” Nhật lần I), họ tiếp tục nâng cao khả năng tác xạ bằng cách sử dụng đạn có sub-calibre cho các khẩu pháo của họ. Người Nhật có các pháo thủ tài giỏi và thông thạo thuật súng, họ cũng thường xuyên bắn trúng mục tiêu hơn. Hơn nữa, người Nhật sử dụng chủ yếu là đạn nổ hạng nặng được nhồi bằng chất nổ shimose (một loại chất nô? mạnh do người Nhật chế tạo), được thiết kế để phát nổ khi tiếp xúc với boong và vỏ của tàu Nga. Người Nga sử dụng đạn xuyên giáp với thuốc nổ thông thường, và cầu chì của chúng không có độ tin cậy cao. Các phát đạn của Nhật Bản gây ra thiệt hại nhiều hơn cho tàu Nga tương ứng với số phát đạn mà người Nga bắn vào tàu Nhật Bản, làm cho phần cấu trúc trên của boong, các lớp sơn vỏ tầu và số lớn than lưu trữ trên các boong tầu bắt lửa. (Các tầu của hạm đội Nga phải thường mua than trên biển từ các tàu buôn trên hầu hết chuyến đi dài của mình do thiếu các cảng căn cứ trên cuộc hành trình để tiếp nhiên liệu). Đạn của người Nhật cũng được bắn chính xác hơn bởi vì họ trên tàu của họ các máy đo khoảng cách (rangefinder) có công nghệ tiên tiến hơn hơn so với hầu hết các thiết bị cùng loại trên các tàu Nga.

Do phải tiến hành một cuộc hành trình dài tới 18.000 dặm (mà chu vi của trái đất chỉ dài khoảng 20 000 dặm tương đương với 40.000 km thôi), Hạm đội Nga đã trở nên ở một tình trạng quá mệt mỏi và thiếu thốn cho một trận hải chiến hải (Khổng Minh ?” Gia Cát đã có câu quân kỵ chạy ngày trăm dặm giương cung bắn không thủng tấm vải lụa). Ngoài các bốn chiến hạm mới nhất lớp thiết giáp hạm Borodino, các tàu chiến còn lại được thiết kế lớn hơn và có cấu trúc yếu kém hơn. Các chuyến đi dài và thiếu các công tác bảo trì làm cho đáy tầu của họ trở yếu vì bị rêu và hà gỉ, chúng làm giảm đáng kể tốc độ của hạm đội Nga. Các tàu Nhật Bản có thể chạy với vận tốc lên đến 16 knots (30 km / h), nhưng hạm đội Nga chỉ có thể đạt đến 9 knots (17 km / h). Đô đốc Tōgō đã sử dụng khả năng cơ động cao của hạm đội của mình làm lợi thế, ông ta đã hai lần sử dụng thành công chiến thuật ” crossing T”. Cuối cùng, Hạm đội Nga có những thiếu sót đáng kể trong thiết bị và huấn luyện. Những thử nghiệm về chiến thuật sử dụng và tránh né ngư lôi chủ yếu của họ đã bộc lộ những sai lầm mà đây chính là những thiếu sót về mặt công nghệ.

Trận đánh

Kế hoạch chiến đấu của người Nhật Bản

Sơ đồ kế hoạch chiến đấu của người Nhật Bản ở trận Tsushima

Chiến thuật Hải quân

Thiết giáp hạm, tuần dương hạm và các loại tàu khác được sắp xếp thành các đơn vị, mỗi đơn vị lại được chỉ huy bởi một sĩ quan cao cấp (tương đương với cấp Đô đốc). Tại trận Tsushima, Đô đốc Tōgō là sĩ quan tổng chỉ huy tại chiếc Mikasa (Các đơn vị khác được chỉ huy bởi Phó đô đốc, Chuẩn đô đốc, thiếu tướng hải quân còn cấp thuyền trưởng và chỉ huy trưởng lãnh trách nhiệm chỉ huy các đơn vị tầu khu trục). Tiếp theo trong dòng sau chiếc Mikasa là đến các thiết giáp hạm Shikishima, Fuji và Asahi. Sau đó là hai chiếc tuần dương hạm bọc thép.

Khi Đô đốc Tōgō đã quyết định thực hiện một lượt rẽ bên trái theo thứ tự, ông làm như vậy để bảo toàn chuỗi đội hình các tầu chiến của mình, tức là kỳ hạm của Mikasa vẫn luôn luôn phải dẫn đầu (điều này cho thấy rằng Đô đốc Tōgō muốn các đội tầu mạnh nhất của ông tham chiến trước tiên). Khi ngoặt theo thứ tự có nghĩa là mỗi tàu sẽ ngoặt chiếc nọ sau chiếc kia mà vẫn theo sau các con tàu ở phía trước. Hiệu quả mỗi tàu sẽ lần lượt đổi hướng trên cùng một vùng biển một cách hiệu quả (đây là một điều thường gây nguy cơ bị thương vong khi đang cơ động hơn vì nó tạo ra cho hạm đội đối phương cơ hội để nhắm mục tiêu trong khu vực này). Có thể Tōgō đã ra lệnh cho tàu của mình lần lượt đổi hướng “cùng nhau” nghĩa là các tàu đã thực hiện các cơ động đảo hướng đồng thời và rồi lại tiếp tục đảo ngược lại. Chiến thuật cơ động này được thực hiện giống như động tác của hạm đội Pháp-Tây Ban Nha trong trận Trafalgar, Nếu bố trí các tàu tuần dương dẫn đầu đội hình tốc độ của hạm đội Nhật Bản sẽ nhanh hơn nhưng nó có thể phá vỡ trình tự của battleline và gây ra sự nhầm lẫn và làm thay đổi các kế hoạch chiến đấu. Đây là điều mà Đô Đốc Tōgō rất muốn tránh.
Tiếp xúc đầu tiên

Vì người Nga muốn không bị phát hiện để đi vào được Vladivostok, khi họ tiếp cận vùng biển Nhật Bản họ đã cố gắng tránh ra bên ngoài các con đường vận chuyển thường xuyên để làm giảm cơ hội bị phát hiện. Vào đêm 26/27 tháng 5, hạm đội Nga tiếp cận Eo biển Tsushima.

Trong đêm tối mù sương, một làn sương mù dày đặc che phủ eo biển, tạo cho người Nga một lợi thế. Tuy nhiên lúc 02:45, tàu tuần dương trinh sát Shinano Maru của Nhật Bản đã quan sát thấy ba chiếc đèn ở tại môt cái gì đó mà người ta cho là một chiếc tàu ở xa đường chân trời và con tầu này tiến lại gần để điều tra. Đây hóa ra lại là những chiếc đèn định hướng trên con tàu bệnh viện Oryol. Lúc 04:30, chiếc Shinano Maru tiếp cận con tàu này, và nó thấy rằng con tàu không có súng và dường như đây là một con tầu trinh sát. Chiếc Oryol lại nhầm chiếc Shinano Maru là một tàu khác của người Nga và nó đã không cố gắng thông báo cho hạm đội – thay vào đó, thay vào đó nó lại đánh tín hiệu để thông báo cho con tàu của Nhật Bản rằng đã có tàu khác của Nga ở gần đó. Chiếc Shinano Maru sau đó nhìn thấy đội hình gồm mười chiếc tàu khác của Nga trong sương mù. Hạm đội Nga đã bị phát hiện, và cơ hội để lẻn đến Vladivostok mà không bị phát hiện đã biến mất.

Lúc 04:55, thuyền trưởng Narukawa của chiếc Shinano Maru truyền tin bằng radio cho Đô đốc Tōgō ở Masampo rằng “Địch quân đang ở trong ô vuông 203?. Vào lúc 05:00, đài bắt sóng của người Nhật đã bắt được tín hiệu thông báo của các tầu Nga rằng họ đã phát hiện thấy tàu tuần dương trinh sát Nhật Bản đang theo dõi họ. Đô đốc Tōgō nhận được thông báo này vào lúc 05:05, và ngay lập tức ông bắt đầu để chuẩn bị cho hạm đội tầu chiến của mình tiến ra.

Bắt đầu trận đánh

Bản đồ trận đánh Tsushima

Lúc 06:34, trước khi khởi hành với Hạm đội Liên hợp, Đô đốc Tōgō đánh điện tín bằng dây thép nhắn tin cho bộ trưởng hải quân Nhật Bản tại Tokyo:

” Tôi vừa nhận được tin rằng hạm đội đối phương đã bị nhìn thấy. hạm độ
của chúng tôi sẽ thẳng tiến ra biển để tấn công kẻ thù và tiêu diệt chúng. “

Đồng thời toàn bộ hạm đội Nhật Bản tiến ra biển, với Đô đốc Tōgō ở chiếc kỳ hạm Mikasa ở hàng đầu và khoảng trên bốn mươi tàu chiến tiến ra để tấn công người Nga. Trong khi đó, tàu trinh sát Nhật Bản đang theo dõi tầu Nga gửi các báo cáo cứ vài phút một lần về đội hình và tất nhiên về cả các tầu chiến của Nga. Eo biến đang có sương mù làm giảm tầm nhìn và thời tiết rất xấu. Vào khoảng 1:40, cả hai hạm đội nhìn thấy nhau và chuẩn bị để tấn công vào đối phương. Cũng tại 01:55, Đô đốc

Tōgō ra lệnh treo cờ tín hiệu Z :

” Số phận của Đế quốc phụ thuộc vào kết quả của trận đánh này, tất cả mọi người hãy làm hết sức nhiệm vụ của mình. “

Hạm đội Nga trong đội hình hành tiến phải hứng chịu đạn của Nhật Bản

Lúc 02:45, tầu của Đô đốc Tōgō vượt qua chữ  T Nga, cho phép ông ta nổ các súng bên mạn tầu, trong khi người Nga chỉ có thể đáp trả bằng tháp súng phía trước của họ.

Chiến đấu trong ánh sáng ban ngày

Người Nga khởi hành từ hướng nam-tây nam đến bắc-đông bắc; hạm đội Nhật từ hướng tây về phía đông bắc. Đô đốc Tōgō ra lệnh cho hạm đội lần lượt chuyển hướng theo thứ tự, theo đó cho phép các tàu của mình có hướng di chuyển tương tự như của người Nga, mặc dù sự cơ động này tạo rất nhiều nguy hiểm khi tàu chiến của ông ta quay vòng hình chữ U, nhưng rồi cơ động này đã thành công. Lúc 14:08, kỳ hạm của Nhật Bản Mikasa bị bắn trúng ở khoảng cách 7.000 mét, đồng thời nó cũng trả lời ở khoảng cách 6.400 mét. Các pháo thủ Nhật Bản với thuật bắn cao hơn hắn đã gây thiệt hại nặng nề và làm cho hầu hết các thiết giáp hạm Nga bị tê liệt. Trận hải chiến bắt đầu nổ ra ở khoảng cách gần, Tōgō ngay lập tức giành được ưu thế của việc tấn công bất ngờ.

Dường như không thể, ngay cả việc đếm xem có bao nhiêu viên đạn bắn trúng vào tầu của chúng tôi. Đạn pháo dường như được bắn như trút vào chúng tôi hết phát này lại phát khác. Các tấm thép và các phần tầu ở phía trên boong đã bị phá tan tành, và các mảnh văng gây ra nhiều thương vong, những chiếc thang sắt bị bắn nát như cám, và khẩu súng theo đúng nghĩa đen đã bị quăng ra khỏi gía đỡ của họ. Thêm vào đó, đã có những ngọn lửa có nhiệt độ cao một cách bất thường lan ra từ các chất lỏng sau các vụ nổ, mà dường như chúng cháy lan vào tất cả mọi thứ. Tôi thực sự nhìn thấy một tấm thép bắt lửa từ một phát đạn.

Sĩ quan Nga chỉ huy người Nga, Vladimir Semenoff, trên chiếc kỳ hạm mang tên Vasilyevich Suvorov.

Một phát đạn bắn trúng trực tiếp vào kho đạn của chiếc thiết giáp hạm Borodino từ chiếc tàu chiến Nhật Bản Fuji khiến nó nổ tung và tỏa lên không trung hàng ngàn feet khói và làm kẹt tất cả thủy thủ đoàn của nó trên tàu khi chiếc Borodino chìm xuống biển. Con tàu Nhật Bản bị chỉ thiệt hại nhẹ. Đô đốc Rozhestvensky đã bị loại khỏi trận chiến bởi một mảnh đạn trong hộp sọ của ông ta. Vào buổi tối, Chuẩn Đô đốc Nebogatov đã tiếp nhận quyền chỉ huy hạm đội Nga. Người Nga mất các chiếc tàu chiến Knyaz Vasilyevich Suvorov, Oslyabya, Imperator Aleksander III và Borodino trong ngày 27 tháng 5.

Tấn công đêm

Vào ban đêm, khoảng 08:00, khoảng 37 tàu phóng ngư lôi và 21 tàu khu trục Nhật Bản được tung ra để tấn công người Nga. Các tàu khu trục tấn công vào đội tiên phong, trong khi các tàu phóng ngư lôi tấn công vào phía đông và phía nam của hạm đội Nga. Người Nhật đã tiếp tục các cuộc tấn công của mình một cách tích cực cho ba giờ mà không ngưng nghỉ, và kết quả là vào ban đêm đã có một số vụ va chạm giữa các tàu nhỏ và tàu chiến Nga. Người Nga bây giờ bị phân tán thành các nhóm nhỏ và cố gắng phá vây về phía Bắc. Vào lúc 11:00, dường như là người Nga đã biến mất, nhưng rồi họ lại tiết lộ vị trí của mình cho kẻ thù đuổi theo truy sát khi họ bật sáng các đèn pha của họ – mỉa mai thay, những chiếc đèn pha được bật để phát hiện những kẻ tấn công. Chiếc thiết giáp hạm cũ Navarin vấp phải một quả thủy lôi và buộc phải dừng lại, và sau đó nó đã phải nhận 4 phát ngư lôi và bị đánh chìm. Trong số thủy thủ đoàn gồm 622 người chỉ có ba người sống sót được vớt bởi người Nhật.

Các tầu khu trục của Nhật Bản được tung ra để tấn công hạm đội Nga ở trận đánh đêm

Chiếc tàu chiến Sisoy Veliki bị hư hỏng nặng bởi một quả ngư lôi ở phía đuôi, và bị đánh đắm ngày hôm sau. Hai chiếc tuần dương hạm bọc thép – Đô đốc Nakhimov và Vladimir Monomakh – Đã bị hư hại nặng: trước đó do ngư lôi Nhật Bản đánh vào mũi tầu, và sau này va chạm mạnh với một tàu khu trục của Nhật Bản. Cả hai con tầu này đều bị đánh đắm bởi các đội thủy thủ của chúng vào sáng hôm sau, chiếc Đô đốc Nakhimoff đã bị chìm với phần đầu của nó chổng lên trên mặt nước ở ngoài khơi đảo Tsushima. Các cuộc tấn công đêm đã làm người Nga hoàn toàn bị kiệt sức, khi họ đã mất hai thiết giáp hạm và hai tàu tuần dương bọc thép, trong khi người Nhật chỉ mất ba tàu phóng ngư lôi.

Tín hiệu XGE và người Nga đầu hàng

Trong đợt tấn công đêm, Đô đốc Tōgō đã có thể cho nghỉ ngơi hạm đội tầu thiết giáp chính của ông. Vaò lúc 09:30, những gì còn lại của hạm đội Nga được nhìn thấy ở phía bắc. Hạm đội của Đô đốc Tōgō tiến hành bao vây còn lại của Đô đốc Nebogatov ở phía Nam của đảo Takeshima. Lúc 10:34, nhận thấy tình hình của mình là vô vọng, Đô đốc Nebogatov ra lệnh cho sáu chiếc tàu còn lại đầu hàng theo lệnh của. XGE, Một tín hiệu đầu hàng theo quy ước Quốc tế, đã được treo lên, phải đến tận 10:53 người Nhật Bản mới đồng ý chấp nhận sự đầu hàng. Nhận thấy rằng cuộc chiến đã trở thành vô ích, Nebogatov không muốn hy sinh cuộc sống của các thủy thủ Nga để cứu lấy danh dự của mình. Vị đô đốc Nga già nua này đã quyết định như vậy mặc dù biết rằng đầu hàng là xấu hổ và nhục nhã, ngay cả khi ông biết rằng có thể bị kết án tử hình khi quay trở về Nga. Ông nói với người đàn ông của mình

” “Các bạn còn rất trẻ và các bạn sẽ là những người mà trong một ngày nào đó lấy lại danh dự và vinh quang cho Hải quân Nga. Cuộc sống của 2.400 người trong những con tàu quan trọng hơn danh dự của tôi.” “

Đối với Rozhestvensky, ông bị bỏ tù trong một bệnh viện của Nhật Bản. Đô đốc Tōgō người đã chiến thắng sau đó tới thăm ông ta ở đó, nơi Tōgō an ủi Rozhestvensky lúc này vẫn còn bị thương với những lời hiền triết.

“Bị đánh bại là một số phận chung của một người lính. Không có gì phải xấu hổ về trong nó. Điểm tuyệt vời là cho dù trong tình huống nào chúng ta vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của chúng ta. ”

Trong trường hợp này, cả Nebogatov lẫn Rozhestvensky đều không bị xử bắn khi họ trở về Nga. Tuy nhiên, cả hai người bị đem ra xét xử và bị bỏ tù cho một vài năm trước khi họ cuối cùng được ân xá bởi Sa hoàng, tuy nhiên danh tiếng của họ đã bị mất hết.

Đến tận tối nhày 28 tháng 5, các tàu Nga đơn lẻ bị truy đuổi bởi tầu Nhật Bản cho đến khi họ bị tiêu diệt hoặc bị bắt giữ. Ba tàu chiến Nga đến được Vladivostok; chiếc tàu tuần dương Izumrud đã trốn thoát khỏi quân Nhật mặc dù Nebogatov đã đầu hàng, nó bị tự đánh đắm bởi người Nga sau khi bỏ chạy và bị mắc cạn gần bờ biển Siberia. Một số con tàu đã trở về được tới nước Nga hoặc bị giải giới.

Hậu quả

Thiệt hại của người Nga

Đó là một tổn thất nặng nề cho nước Nga, nó đã mất gần như tất cả tàu chiến của nó, hầu hết các tàu tuần dương và tàu khu trục của nó, và kết quả của trận đánh này là sự kết thúc của cuộc chiến tranh Nga-Nhật về phía hoàn toàn có lợi cho người Nhật Bản. Người Nga bị thiệt mạng 5.917 người và 4.380 người bị bắt, trong đó có 2 đô đốc và 1.862 người bị giải giới.

Thiết giáp hạm

Người Nga đã mất tất cả 8 thiết giáp hạm của họ và tất cả 3 tàu chiến nhỏ hoạt động ở vùng ven biển trong trận đánh, hoặc bị đánh chìm hoặc bị bắt bởi người Nhật, hoặc tự bị đánh đắm để ngăn chặn để khỏi rơi vào tay kẻ thù. Bốn tàu đã bị phá hủy trong khi chiến đấu với đối phương trong trận đánh ban ngày vào ngày 27 tháng 5: đó là các chiếc Knyaz Vasilyevich Suvorov, Imperator Aleksander III, Borodino và Oslyabya. Chiếc Navarin bị đắm trong trận đánh đêm ngày 27-> 28 tháng 5, trong khi các chiếc Đô đốc Sissoi Veliky và Đô đốc Ushakov bị đánh đắm hoặc tự đánh đắm vào ngày hôm sau. Bốn chiến hạm khác dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Nebogatov buộc phải đầu hàng và kết thúc cuộc đời như các chiến lợi phẩm của cuộc chiến. Nhóm này chỉ có một chiếc tàu chiến hiện đại, chiếc Oryol, cùng với các thiết giáp hạm cũ như chiếc Imperator Nikolai I và hai chiếc tầu nhỏ đi ven biển như thiết giáp hạm Đại Đô đốc Tổng Graf Apraxin và Đô đốc Senyavin. Chiếc tàu chiến nhỏ ven biển Đô đốc Ushakov từ chối đầu hàng và bị tự đánh đắm bởi thủy thủ đoàn của nó.

Tàu tuần dương

Người Nga bị mất 4 trong 8 tuần dương hạm của họ trong trận chiến, ngoài ra 3 chiếc bị giải giới bởi người Mỹ, chỉ có một trong số những chiếc cuối thoát đến Vladivostok. Các chiếc Vladimir Monomakh và Svyetlana bị đánh chìm vào ngày hôm sau, sau khi cuộc chiến ban ngày kết thúc. Chiếc tàu tuần dương Dmitri Donskoy chiến đấu chống lại sáu tuần dương hạm Nhật Bản và sống sót, tuy nhiên nó bị thiệt hại nặng nề nên nó phải bị tự đánh đắm. Chiếc Izumrud bị mắc cạn gần bờ biển Siberia. Ba chiếc tầu tàu tuần dương có gia cố giáp là các chiếc Aurova (Dạng Đông), Zhemchug, và Oleg chạy thoát về căn cứ hải quân Mỹ ở Manila và bị giải giới. Chiếc du thuyền vũ trang được phân loại như một tàu tuần dương, Almaz đã chạy thoát đến Vladivostok.

Tàu khu trục và Trinh sát

Người Nga mất 6 trong số 9 khu trục hạm của họ trong trận chiến, và 1 chiếc bị giải giới bởi người Trung Quốc, 2 chiếc cuối thoát đến Vladivostok. Năm tàu khu trục Buiny, Buistry, Bezupreshchny, Gromky và Blestyashchy bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 5 năm 1905, chiếc Byedovy cũng phải đầu hàng ngày hôm đó. Chiếc Bodry bị giải giới tại Thượng Hải. Hai tàu khu trục Grosny và Bravy chạy được đến Vladivostok.

Trong số các tàu phụ trợ, chiếc Kamchatka, Ural và Rus bị đánh chìm ngày 27 tháng 5, chiếc Irtuish bị mắc cạn, ngày 28 tháng 5, chiếc Koreya và Svir bị giải giới tại Thượng Hải và chiếc Anadyr chạy thoát tới Madagascar. Các con tàu bệnh viện Oryol và Kostroma cùng bị bắt và chiếc Kostroma được phóng thích ngay sau đó.

Thiệt hại của Nhật Bản

Phía Nhật chỉ mất ba tàu phóng ngư lôi (số 34, 35 và 69), 117 người chết và 500 người bị thương.

Hậu quả chính trị

Uy tín của Nga trong con mắt của thế giới đã bị thiệt hại và đó là một đòn nặng cho Triều đại Romanov. Gần như toàn bộ hạm đội Nga đã bị tiêu diệt trong trận chiến Eo biển Tsushima; chỉ còn chiếc du thuyền vũ trang tốc độ cao Almaz (Được phân loại như là một tàu tuần dương hạng 2) và hai khu trục hạm (Grozny và Bravy) là những tầu Nga duy nhất đến được Vladivostok. Darrell Zemitis đã cho rằng sự nhục nhã về chính trị của những mất mát của cuộc chiến này là một đóng góp trực tiếp cho cuộc Cách mạng 1905 ở Nga. Trong quấn The Guns of August nhà sử gia Barbara Tuchman lập luận rằng thất bại của người Nga làm mất ổn định cán cân quyền lực ở châu Âu, làm cho các nước thuộc Liên minh phe trục trở nên táo tợn hơn và góp phần quyết định để họ gây ra cuộc chiến tranh thế giới năm 1914.

Trận đánh này có ảnh hưởng văn hóa và chính trị một cách sâu sắc đến Nhật Bản. Đây là thất bại đầu tiên của một quyền lực phương Tây (châu Âu) trước một quốc gia thuộc phương Đông (Châu Á), đây là cuộc chiến đầu tiên sử dụng đầy đủ các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong thời đại đó ở cả mức độ chiều sâu và chiều rộng. Nó cũng phá hủy huyền thoại về sự thống trị của chủng tộc người da trắng, đang được chấp nhận một cách rộng rãi trong xã hội phương Tây vào lúc đó. Chiến thắng này đã làm cho Nhật Bản trở thành 1 trong 6 quốc gia có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới trong khi lực lượng hải quân Nga đã xuống dốc một cách không phanh với một thứ hạng còn thấp hơn so với Đế Quốc Áo Hungary.

Chiến thắng này làm cho người Nhật Bản ngày càng tự tin và làm tăng sự cực đoan trong các quan điểm chính trị và quân sự của người Nhật, và nó làm cho người Nhật Bản ngày càng có xu hướng chọn các giải pháp quân sự để giải quyết các mâu thuẫn trên thế giới đồng thời giới Quân phiệt Nhật ngày càng có tiến nói lớn hơn trong chính phủ (Đây là một trong những nguyên nhân chính để Nhật Bản tham gia chiến tranh thế giới II ở hàng ngũ phe trục):

“Tạo ra một huyền thoại mà nó đã ám ảnh các nhà lãnh đạo Nhật Bản trong bốn mươi năm Một vị đô đốc người Anh từng nói,” Phải mất ba năm để đóng một con tàu, nhưng phải mất đến 300 năm để xây dựng một truyền thống.. ?o người Nhật Bản đã cho thấy rằng chiến thắng này đã giải quyết được một vấn đề (phải giải quyết trong hàng trăm năm) chỉ trong một vài năm … tất cả đã quá dễ dàng khi ta nhìn vào chiến thắng thyết phục của Tōgō trước một trong những cường quốc của thế giới và điều này đã thuyết phục giới quân sự Nhật Bản rằng với nhiều tàu chiến hơn nữa., và với các tầu chiến lớn hơn cùng với những thủy thủ được đào tạo tốt hơn, người Nhật bản có thể sẽ có được những chiến thắng tương tự trên khắp Thái Bình Dương và có lẽ không có sức mạnh nào có thể chống lại lực lượng hải quân Nhật Bản, thậm chí cả Anh và Hoa Kỳ??. ”
Theo Geoffrey Regan (nhà sử học) thì trận hải chiến Tsushima gây ra hậu quả:

“Kết quả (của trận đánh này) gây ra một điều hiểu lầm. Chắc chắn lực lượng hải quân Nhật đã thực hiện tốt nhiệm vụ của họ, nhưng đối thủ của nó đã bị xuy yếu, và người Nhật không phải là không thể bị đánh bại? chiến thắng của Tōgō cuối cùng sẽ đưa họ vào một cuộc chiến tranh mới” đó là Thế chiến thứ hai.

Cuộc chạy đua hải quân với việc ra đời lớp chiến hạm Dreadnought

Chiến thắng của Nhật Bản tại Tsushima dườngnhư đã khẳng định tầm quan trọng chiến lược của một hạm đội hải quân dựa trên các lớp thiết giáp hạm hiện đại, và trong tháng 10 năm 1905 White Hall đã cho phép đặt thân sườn của chiếc thiết giáp hạm HMS Dreadnaught, khi được ra mắt vào năm 1906 nó tiếp tục kích thích các cuộc chạy đua hải quân giữa Anh và Đức trong những năm trước năm 1914. Cuối cùng thì các hạm đội Anh và Đức đã phải gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn trong trận hải chiến bất phân thắng bại Trận Jutland.

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s