Những trận hải chiến nổi tiếng trong lịch sử – Phần 3

PHẦN 3: NHỮNG TRẬN HẢI CHIẾN THỜI KÌ CẬN ĐẠI CHÂU ÂU TK 16-19

victor1

Biên dịch : hongsonvh

Những trận hải chiến tiêu biểu cho chiến thuật dàn thành tuyến – Battle of the line
Chiến tranh Anh – Hà Lan

Ở cuối thời Trung Cổ và thời kỳ Phục Hưng, nước Anh cũng như các tỉnh hàng hải chính của các vùng đất thấp (Flanders và Hà Lan), vẫn chưa phải là những cường quốc về hải quân ở châu Âu, để có quyền hạn ngang bằng được với các quốc gia và đô thị như Bồ Đào Nha, Castile, Aragôn hoặc Venice. Trong Chiến tranh tôn giáo tại thế kỷ 16 giữa Triều đình Công giáo Habsburg với các quốc gia mới đổi theo đạo Tin lành. nước Anh dưới sự cai trị của Nữ Hoàng Elizabeth I đã xây dựng được một lực lượng hải quân mạnh mẽ, được dự định để thực hiện những chuyến đi dài ngày, hoặc tổ chức để cướp bóc các đoàn convoy của Đế chế Tây Ban Nha, ví dụ điển hình là những cuộc tấn công của Francis Drake. Những cuộc tấn công này được tài trợ bởi Hoàng gia

hoặc các quý tộc cao cấp, bước đầu có lợi nhuận vô cùng cao, cho đến khi có sự nâng cấp của hải quân và các hệ thống tình báo của Tây Ban Nha đã dẫn đến một loạt những thất bại tốn kém. Một phần của những lý do tạo ra sự thù địch của Tây Ban Nha với nước Anh là sự hỗ trợ của Elizabeth cho Cuộc cách mạng Hà Lan Cuộc bằng cách ký Treaty of Nonsuch vào năm 1585 với nước Hà Lan mới của Liên hiệp các Vùng đất thấp. Trong chiến tranh Anh-Tây Ban Nha người Hà Lan chỉ đóng một vai trò phụ vì lãnh thổ của họ đã hoàn toàn bị chiếm đóng trong cuộc chiến chống lại quân đội triều đình Habsburg.

Tuy nhiên vào cuối thế kỷ đó, mối quan hệ giữa Anh-Tây Ban Nha bắt đầu được cải thiện, dẫn đến hiệp ước hòa bình vào 1605, kết thúc phần lớn các hoạt động cướp biển và dẫn đến một sự bỏ bê của Hải quân Hoàng gia. Việc không thành công của chiến tranh Anh-Tây Ban Nha năm 1625 chỉ là một thay đổi trong chính sách tạm thời. Trong cùng thời gian này Hà Lan tiếp tục cuộc xung đột của họ với Triều đình Habsburg, bắt đầu thực hiện những đợt tấn công ở khoảng cách xa, không chỉ là rất thành công trong các hoạt động cướp biển, đô đốc Piet Heyn năm 1628 trở thành một người duy nhất thành công trong việc bắt giữ một lượng lớn hạm đội kho báu Tây Ban Nha, mà còn thay thế Bồ Đào Nha chở thành các thương nhân châu Âu chính ở châu Á. Họ (người Hà Lan) tiếp quản hầu hết các cứ điểm thương mại của Bồ Đào Nha ở Đông Ấn, tạo điều kiện cho họ kiểm soát mảng thương mại cực kỳ sinh lợi, đó là gia vị. Điều này trùng hợp với một tốc độ tăng trưởng rất lớn của hạm đội tầu buôn Hà Lan (chắc có bác nào còn nhớ người ta gọi họ là gã đánh xe trên biển cả), họ đã có thể có của đóng hàng loạt lớp tầu rẻ tiền Fluyt. Một cách nhanh chóng Hà Lan đã có các đội tàu buôn lớn nhất châu Âu, và một vị trí thống trị tại châu Âu, đặc biệt là thương mại vùng Baltic. Mặc dù có vẻ không được ngoạn mục cho lắm, nhưng dần dần sức mạnh của hải quân Hà Lan đã tăng trưởng.

Từ tháng 1 năm 1631 Charles I của Anh tham gia vào một số thỏa thuận bí mật với Tây Ban Nha, để chống lại sức mạnh trên biển của người Hà Lan. Ông cũng bắt tay vào một chương trình xây dựng lớn của hải quân, thi hành thu thuế tiền tàu để đóng những tàu mạnh mẽ như HMS Sovereign of the Seas. Tuy nhiên chính sách của Charles đã không hoàn toàn thành công. Lo sợ nguy hiểm đến quan hệ tốt đẹp của mình với phó vương Hà Lan đầy quyền lực Frederick Henry, Hoàng tử của xứ Orange (Hé hé chính vì vậy mà người ta gọi Hà lan là da cam đây mà), sự giúp đỡ của ông tới Tây Ban Nha là hạn chế và chỉ cho phép quân đội Habsburg trên đường đến Dunkirk để sử dụng tầu vận tải của Anh; năm 1636 và 1637 ông đã thực hiện một số nỗ lực để giành lấy quyền đánh bắt cá trích ở Bắc Hải từ ngư dân Hà Lan, cho đến khi sự can thiệp của hải quân Hà Lan ông ta đã bị buộc phải chấm dứt các hành động như vậy. Năm 1639 một đội tàu vận tải lớn của Tây Ban Nha tìm cách tị nạn và thả neo ở Downs thuộc Anh, Charles đã không dám bảo vệ nó chống lại một cuộc tấn công của người Hà Lan; kết quả trận Downs làm suy yếu cả quyền lực trên biển của Tây Ban Nha lẫn uy tín của Charles.

Cuộc nội chiến Anh, Bắt ngay sau đó, làm suy yếu nghiêm trong vị trí của hải quân Anh. Hải quân của nó cũng bị chia rẽ như trong nội bộ quốc gia vậy. Hà Lan bắt đầu có sự vượt trội về đất đai mà họ đã chiếm được trên biển, thậm chí còn tước đoạt nhiều lãnh thổ thương mại hàng hải của Anh ở các thuộc địa Bắc Mỹ của nó. Giữa 1648 và 1651 tuy nhiên tình hình lại đảo ngược hoàn toàn. Năm 1648 Liên Bang các Tỉnh (Hà lan) ký kết Hòa ước Münster với Tây Ban Nha, và phần lớn quân đội và hải quân Hà Lan đã ngừng các chiến dịch. Điều này dẫn đến một cuộc xung đột giữa các thành phố lớn Hà Lan và Phó vương mới William II của Orange, đưa nước Cộng hòa đến bờ vực của nội chiến chiến, cái chết bất ngờ của phó vương năm 1650 chỉ làm tăng thêm những căng thẳng chính trị. Trong khi đó Oliver Cromwell (Huân tước bảo trợ nước Anh) đã thống nhất quốc gia của mình vào Khối Thịnh vượng chung Anh và trong một vài năm đã tạo ra một lực lượng hải quân hùng mạnh, mở rộng số lượng tàu thuyền và cải thiện rất nhiều tổ chức và kỷ luật. Anh đã sẵn sàng để thách thức sự thống trị thương mại của người Hà Lan.

Tâm trạng của người Anh là khá xung đột khi nghĩ về phía người Hà Lan. Điều này bắt nguồn một phần từ mặc cảm: người Hà Lan đã cho thấy mình vô ơn đối với sự trợ giúp của họ (người Anh) để chống lại người Tây Ban Nha, và người Hà Lan đã phát triển mạnh hơn cả người Anh, người cựu bảo hộ của họ; người Hà Lan đánh bắt phần lớn cá trích ngoài khơi bờ biển phía Đông của nước Anh, họ đuổi người Anh ra khỏi Đông Ấn bằng những cuộc thảm sát tàn bạo như vụ Thảm sát ở Amboyna trong khi khăng khăng chống lại các nguyên tắc của thương mại tự do để phá vỡ hệ thống thuế ở các thuộc địa của Anh. Nhưng có cũng những điểm mới của cuộc xung đột: sự xuy thoái của người Tây Ban Nha vào cuối của cuộc chiến tranh Ba mươi năm năm 1648, các thuộc địa thuộc sở hữu của Bồ Đào Nha, và thậm chí hệ thống thuộc địa của Tây Ban Nha bị bao vây có thể bị chiếm đoạt. Người Hà Lan sau năm 1648 nhanh chóng thay thế người Anh trong thương mại ở vùng Iberia truyền thống của họ. Cromwell sợ ảnh hưởng của phe Orangist và người Anh lưu vong tại Cộng hòa Hà Lan vì Phó vương đã luôn luôn ủng hộ nhà Stuart, người Hà Lan ghét cay ghét đắng việc xử trảm Charles I.

Đầu năm 1651 Cromwell đã cố gắng để giảm bớt căng thẳng bằng cách gửi một phái đoàn đến Hague và đề xuất rằng nước Cộng hoà Hà Lan gia nhập Khối thịnh vượng chung và Hà Lan sẽ giúp người Anh trong việc chinh phục hầu hết thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ. Hành động này che dấu cố gắng kết thúc việc Hà Lan mở rộng lãnh thổ bằng chiến tranh. Phe chủ hòa trong chính quyền Hà Lan không thể có được một câu trả lời cho lời mời đầy bất ngờ và quá xa vời này được. Những kẻ ủng hộ nhà Stuart Orangists xúi giục đám thường dân để sách nhiễu các thành viên của phái đoàn. Khi đoàn quay trở lại Anh Quốc, cảm nhận sâu sắc thái độ không hài lòng với người Hà Lan, người Anh quyết định theo đuổi một chính sách đối đầu. ( Những người anh em cùng chiến tuyến với nhau trong mấy chục năm nay lại trở mặt đánh nhau trong khoảng thời gian tổng cộng hơn 100 năm qua bốn cuộc chiến tranh, chủ yếu bằng hải quân)

Trận Hải chiến Lowestoft

Sơ đồ đội hình tuyến chiến đấu ( Line of the battle) của Anh và Hà Lan trong trận Lowestoft

Ngày Ngày 13 tháng 6 1665
Vị trí gần Lowestoft, Anh
Kết quả Anh chiến thắng quyết định
Các bên tham chiến
Anh
Chỉ huy
James Stuart, Duke of York
Sức mạnh
109 tàu chiến
Thương vong và thiệt hại
1 tầu Anh bị tiêu diệt
300-500 lính thiệt mạng
Cộng Hòa Hà Lan
Chỉ huy
Jacob van Wassenaer Obdam
Sức mạnh
103 tàu chiến
Thương vong và thiệt hại
17 tàu Hà Lan bị tiêu diệt
2000 -2500 lính bị giết
2.000 bị bắt làm tù binh

Trận hải chiến Lowestoft diễn ra vào ngày 13 tháng 6 (lịch mới) năm 1665 trong cuộc chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ 2.

Một hạm đội gồm hơn một trăm tàu của các Tỉnh Hà Lan dưới sự chỉ huy của Chuẩn-Đô đốc Jacob van Wassenaer Obdam tấn công một hạm đội của Anh có kích cỡ tương đương dưới sự chỉ huy của James Stuart, Duke of York ở địa điểm bốn mươi dặm về phía đông của cảng Lowestoft vùng Suffolk, Anh. Người Hà Lan đang ngăn chặn một cách tuyệt vọng một cuộc phong tỏa thứ hai của người Anh vào các cảng của họ sau khi đợt phong tỏa đầu tiên đã bị phá vỡ do người Anh thiếu nguồn cung cấp. Chính trị gia hàng đầu của Hà Lan, Johan de Witt, ra lệnh cho đô đốc Van Wassenaer tấn công mãnh liệt vào hạm đội Anh trong khoảng thời gian gió Đông ổn định mà khoảng thời gian này có thể tạo cho người Hà Lan lợi thế thời tiết (Weather gage). Tuy nhiên Van Wassenaer có lẽ cảm giác rằng hạm đội của ông vẫn còn quá kém trong việc đào tạo và chưa đủ mạnh để thực sự thách thức người Anh trong một trận chiến chính quy, ông cho hoãn trận đánh cho đến gió đổi chiều để tìm một cuộc đối đầu nhỏ trong một vị trí phòng thủ dưới gió vị trí mà từ đó ông có thể rút quân một cách nhanh chóng và trở về mà không công khai tỏ ra bất tuân mệnh lệnh. Thái độ của ông đã phải trả giá bằng 17 tầu chiến tronghạm đội của mình và cuộc sống của chính bản thân ông.

Trong ngày 11 Tháng 6 Van Wassenaer nhìn thấy hạm đội Anh bao gồm 109 tàu chở 4.542 súng và 22.055 lính thủy, hạm đội này bao gồm ba hải đội.

James tự mình chỉ huy đội tiên phong, hải đội có lá cờ đỏ,

Prince Rupert of the Rhine chỉ huy trung tâm, hải đội có lá cờ màu trắng

Edward Montagu, 1st Earl of Sandwich chỉ huy lực lượng hậu quân, hải đội có lá cờ màu xanh lam.

Hạm đội Hà Lan gồm 103 tàu chở 4.869 súng và 21.613 lính thủy chia thành không ít hơn bảy hải đội:
Hải đội đầu tiên (từ Hải quân của Amsterdam) chỉ huy bởi Van Wassenaer trên chiếc Eendracht;
Hải đội thứ hai chỉ huy bởi chuẩn Trung-Đô đốc Johan Evertsen trên chiếc Hof van Zeeland;
Hải đội thứ ba (từ Hải quân của Maas) chỉ huy bởi chuẩn Đô đốc Egbert Bartholomeusz Kortenaer trên chiếc Groot Hollandia;

Hải đội thứ tư (hạm đội Frisia) chỉ huy bởi Đô đốc Auke Stellingwerf trên chiếc Sevenwolden;
Hải đội thứ năm (từ Hải quân của các phố Bắc) chỉ huy bởi Phó Đô đốc Cornelis Tromp trên chiếc Liefde;
Hải đội thứ sáu (hạm đội Zealandic) chỉ huy bởi Phó Đô đốc Cornelis Evertsen the Elder trên chiếc Vlissingen

Và hải đội thứ bảy chỉ huy bởi Phó Đô đốc Volckert Schram trên chiếc Wapen van Nassau.

Lý do cho việc hạm đội bị chia thành nhiều hải đội là do chúng được tập hợp từ các Hạm đội nhỏ thuộc các tỉnh của Hà Lan, và rất nhiều đô đốc mới được chỉ định gần đây ?” để khẳng định rằng họ có các hải đội riêng của họ; các hạm đội của Amsterdam và Maas (là Rotterdam) Sau đó chia hạm đội của họ thành các hải đội có kích thước bằng với những người có các đội tàu nhỏ hơn.

Trong ngày 11 Tháng 6 biển rất bình lặng và trận chiến không thể diễn ra. Trong Ngày 12 tháng 6 gió lại bắt đầu thổi ?” và thổi từ phía đông, tạo cho Van Wassenaer lợi thế thời tiết (Weather gage). Tuy nhiên, ông này chỉ đơn giản là không ra lệnh tấn công, bất chấp mệnh lệnh rõ ràng của cấp trên là phải làm điều đó trong những điều kiện như vậy. Buổi sáng tiếp theo gió đã quay sang phía tây và bây giờ hạm đội của ông đã tiếp cận với các hạm đội của đối phương.

Trận đánh

Một bức tranh về một góc của trận hải chiến Lowestoft

Vào buổi sáng sớm ngày 13 tháng 6, Hạm đội Hà Lan đã chiếm vị trí về phía đông nam của hạm đội Anh. Hầu hết các nhà sử học Anh giả thiết Van Wassenaer (người mà trong ngày 12 tháng 6 đã gửi tất cả các đồ bạc và vật dụng có giá trị khác của mình về nhà như là để cho thấy rằng ông ta có bao nhiêu sự tự tin ?” chưa gì đã chuẩn bị làm đám ma thì thua là phải) đã thực hiện một rẽ ngang đột ngột về phía tây, cố gắng để lấy lại lợi thế thời tiết ?” hoặc có thể gọi là vị trí đầu gió (Weather gage), và người Anh đánh bại cố gắng đó của ông ta. Nếu vậy, phải có gió thổi từ phía tây nam – nếu không thì không thể có được vận động uyển chuyển này – nhưng điều này làm cho nó khó để giải thích làm cách nào hạm đội Anh bơi được về phía nam, có thể người Anh đã nhanh hơn người Hà Lan. Một giải thích khác phù hợp hơn với các nguồn tài liệu từ Hà Lan, là có gió thổi từ phía tây bắc và Van Wassenaer cố gắng giao chiến với người Anh từ ở một vị trí phòng thủ dưới gió, chiến thuật ưa thích của ông ta. Trên thực tế cả hai hạm đội đi qua các đường vát đối diện và sau đó quay ngược lại. Lần lượt HMS Great Charity (ban đầu nó là chiếc tầu của thống đốc Amsterdam tên là Groote Liefde bị bắt giữ trong Trận Portland năm 1653) đã bị cô lập và bị đột kích boong tầu và bắt giữ bởi thuyền trưởng Jan de Haen, viên đô đốc này sau đó, ngay lập tức quay trở lại với chiến lợi phẩm của mình để về Hà Lan, rõ ràng là hành động này sẽ bị cấm sau khi trận chiến này.

Sau đó là phần thứ hai của trận đánh. Mặc dù người Anh đã có một số vấn đề trong việc kiểm soát liên lạc của đội hình chiến đấu, người Hà Lan bây giờ hoàn toàn thất bại trong việc duy trì một đội hình tuyến chiến đấu (Line of battle). Theo lý thuyết của họ đang ở vị trí dưới gió đã có thể sử dụng súng với phạm vi bắn lớn, cho phép họ có thể tiêu diệt đối phương từ một khoảng cách an toàn để tránh bị chiến thuật đột kích boong của người Anh bằng đạn xích. Trong thực tế một số hải đội bắt đầu chặn tầm nhìn của nhau, các đô đốc và các thuyền trưởng quá hăng hái với trận đánh bỏ lại những tầu ít nhiệt tình và tàu cũ ở phía sau một cách nhanh chóng, trong khi các tàu của công ty (Đông Ấn) ?” chưa từng bao giờ được đào tạo trong chiến thuật ?” một lối hành xử cứ như thể không có tàu của đồng đội ở bên cạch và điều này gây ra rối loạn một phần của tuyến tầu của người Anh để vượt qua một số tàu Hà Lan nặng hơn, những tầu đang chỉ cố gắng để thoát khỏi lực lượng chính của họ. Sau đó họ sẽ tuyên bố họ đã cố tình tìm cách trực tiếp tấn công đối phương theo mệnh lệnh chung. Một số tàu khác đã ở trong một phạm vi tối ưu cho các tầu Anh để tập trung bắn vào họ và đã thiệt hại nặng. Cuộc sống của vị chỉ huy trẻ của hạm đội Frisia, Chuẩn Đô đốc Auke Stellingwerf, đã chấm dứt khi ông bị bắn hai phát đạn. Chuẩn Đô đốc Kortenaer kỳ cựu, có lẽ là có quyền chỉ huy cao nhất của Hà Lan lúc đó, không may bị thương ở hông bởi một phát đạn hình cầu. Sỹ quan hoa tiêu Ate Stinstra tạm quyền chỉ huy tàu của Kortenaers. Van Wassenaer bấy giờ cố gắng đình chỉ cơ cấu chỉ huy theo hải đội, hy vọng bằng cách đặt tất cả các tàu chiến trực tiếp theo mệnh lệnh của chính mình để mang lại một tính mạch lạc hơn với các lực lượng của Hà Lan. Điều này tuy nhiên lại chỉ tạo nên thêm những rắc rối.

Một lần nữa cả hai hạm đội lại quay ngược trở lại. và bây giờ một điều kỳ lạ xảy ra và đã được chứng minh rằng rất khó để giải thích. Sau khi phía sau vận động uyển chuyển tầu của hậu quân Anh rõ ràng cần phải ở phía bắc của đội hình trung tâm. Tuy nhiên, tất cả các nguồn tài liệu lại nhất trí rằng nó tạo ra một thứ tự đảo ngược của hạm đội Anh và rằng đội hậu quân của Anh lại ở phía nam của đội hình trung tâm. Các giải pháp truyền thống của Anh để giải thích điều này là hạm đội của họ đồng loạt đi vát theo gió thổi tức là mỗi tàu cá thể cùng lúc quay ngược trở lại và làm ngược thứ tự của hạm đội, thay vì quay một đằng khác. Nếu đúng thì điều này có thể được coi là một kỷ lục thật sự duy nhất cho thời đó. Nguồn tài liệu của Hà Lan đề xuất một lời giải thích khác: trong khi thực hiện lần quay thứ ba hạm đội Hà Lan bị mất tất cả sự gắn kết, vì gió đột ngột quay sang phía tây nam. Sau đó gió lại thổi tiếp vào đội tiên phong và trung tâm của người Anh. Đội hậu quân Anh, cố tránh khỏi một đám đông tầu đang bị mất liên lạc (tầu Hà Lan), bơi phía sau hạm đội Hà Lan ở phía nam. Một đội tầu nhỏ tách ra từ đội tầu tiên phong sau đó hoàn toàn đóng cửa cái bẫy, ngăn chặn ý định quay trở lại bờ biển Hà Lan. Kịch bản này giải thích tại sao tất cả các vận động đều ngừng lại và lý do tại sao một số đội tàu nhỏ Anh theo báo cáo rõ ràng đang cố gắng giong buồm về phía tây, theo đó sẽ không thể giải thích được nếu họ không được đến phía đông của hạm đội Hà Lan.

Nếu thực sự là bị bao vây người Hà Lan đã có thể ở một vị trí vô vọng. Các lực lượng chính của Anh ở về phía tây của họ, và có thể có vị trí đầu gió (weather gage) ngăn chặn đột kích lên boong là một chiến thuật khả thi. Phía hậu quân Anh, bắn từ một vị trí dưới gió, có thể đã bị hư hỏng tầu của Hà Lan không bị đánh trả. Người Hà Lan lại một lần nữa có vị trí đầu gió so với đội hậu quâm Anh, một số tàu của họ kiên trì ở lại phía đông để tấn công nó (Hậu quân Anh). Qua hành động này chiếc kỳ hạm Montague đã bị đột kích lên boong và tạm thời bị chiếm giữ bởi thủy thủ đoàn của chiếc Oranje, được chỉ huy bởi thuyền trưởng Bastian Senten, người đã tấn công cả chiếc kỳ hạm Ang, Royal Prince, cho đến khi Rupert tự mình trên chiếc Royal James đến cứu và chiếm lại con tàu. Tại thời điểm đó toàn bộ trận chiến dường như đã hóa thành một trận melee ( ẩu đả, hỗn chiến) khổng lồ. Trong trận đánh Bá tước của Marlborough và Bá tước của Portland (các sỹ quan Anh) đã thiệt mạng. Một vài giờ sau đó khoảng giữa trưa Montague kéo lá cờ màu xanh lam lên đỉnh cột buồm giữa của ông ?” ( Một dấu hiệu để hải đội của tôi theo sau) – và thực tế là phần lớn các thuyền trưởng của đội hậu quân Anh theo sau lãnh đạo của họ khi ông đi thẳng đội hình tuyến của Hà Lan và đã phá xuyên qua nó (nhiều khả năng ông đã đi qua một khoảng cách) tạo ra hiệu quả phân chia hạm đội Hà Lan và bao quanh một phần của hạm đội này (nếu theo truyền thống kịch bản của Anh thì đúng tới giờ lần đầu tiên chỉ một phần của hạm đội Hà Lan bị bao vây).

Ngoài những vấn đề về định vị người Hà Lan có một bất lợi về cấu trúc tầu: trên ở các tầu trung bình của súng của họ là loại nhẹ hơn. Đặc biệt là tám tàu lớn nhất của Anh hầu như được coi như là không thể chìm ( Unsinkable ) và có thể nhấn chìm chiếc tầu nhỏ nhất của người Hà Lan chỉ với một loạt pháo mạn duy nhất. Do đó các tàu lớn hơn của Hà Lan phải cố gắng để bảo vệ những chiếc bé hơn. Chiếc kỳ hạm Hà Lan Eendracht đọ súng với chiếc Royal Charles. James (Tư lệnh hạm đội Anh) đã gần như bị giết bởi một chuỗi đạn xích của Hà Lan, phát đạn này đã lấy đầu nhiều phụ tá của ông, trong số đó có Lord Falmouth. Khoảng ba giờ vào buổi chiều trận đấu tay đôi giữa Royal Charles và Eendracht đã kết thúc bất ngờ khi Eendracht phát nổ, giết chết Van Obdam và tất cả thủy thủ đoàn. Kortenaer là chỉ huy cao cấp thứ hai, mặc dù bị thương nặng nhưng ông ta vẫn chưa chết và các đô đốc khác lại không biết hoàn cảnh của ông ta. Bấy giờ hạm đội Hà Lan đã không còn có những mệnh lệnh có hiệu quả nữa. Sau khi chiếc Eendracht phát nổ, những chiếc tầu Anh ngay lập tức trở nên phấn khích, trong khi nhiều thuyền trưởng Hà Lan nản chí, một số tàu Hà Lan bỏ chạy một chút sau đó, tiếp theo của tàu Kortenaer Groot Hollandia bây giờ dưới sự chỉ huy của Stinstra. Không cần quá nói rằng tất cả những điều này có hiệu quả tiêu cực lên tinh thần của người Hà Lan. Vào buổi tối phần lớn các tầu của hạm đội Hà Lan đã tẩu thoát an toàn, cứu mạng sống hoàn toàn cho 40 tàu, hay theo Phó Đô đốc Cornelis Tromp và chuẩn Đô đốc Johan Evertsen, cả hai đều có mệnh lệnh không đúng với chỉ thị ( chỉ ra sự nhầm lẫn ở phía Hà Lan ?” mệnh lệnh được truyền đạt bằng cách đánh tín hiệu cờ, các đội tầu Hà lan mới tập hợp nên nhầm lẫn là điều có thể), họ đã thoát ra an toàn và lập lại hạm đội, do đó ngăn ngừa được thảm họa lớn hơn nữa xảy ra, mặc dù 16 tàu khác đã bị mất. Anh chỉ bị mất có một tàu, chiếc HMS Great Charity đã được đề cập ở trên. Tám tàu Hà Lan bị chìm do người Anh; sáu trong số này đã bị đốt cháy trong hai vụ việc riêng biệt khi họ có vướng mắc vào nhau trong khi chạy trốn và bị bắt lửa bởi tầu hỏa công: Điều này xảy ra với chiếc Tergoes mắc vào chiếc Maarseveen và chiếc tầu buôn Swanenburg, và cũng như vậy với chiếc Koevorden, Stad Utrecht và Prinse Maurits. chiếc Oranje được nói tới ở đoạn trước đã phát nổ sau khi bị lây lan đám cháy từ một tàu khác, sau một nỗ lực để dập tắt đám cháy đã tiến hành nhiều đợt tấn công lên boong và chiếm chiếc HMS Charles, sau đó nó đã ngăn cản các tợt tấn đầu tiên của thủy thủ đoàn của chiếc Mary dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Jeremy Smith (Mary mất 99 lính thủy trong thủy thủ đoàn của nó), một trong những chiếc thuộc hải đội của York, và sau đó các tầu HMS Royal Oak, Es*** và Royal Katherine quây vào tấn công nó. Theo một số nguồn tin thì chiếc Oranje mất đi một nửa trong số 400 thủy thủ đoàn của nó khi ngừng kháng cự, một số thủy thủ người gốc Senten bị thương (những lính thủy đánh thuê người Scotlan) đã bị bắt giữ bởi tầu Anh không lâu sau khi ngừng kháng cự. Ngoài số đó người Hà Lan còn bị, người Anh tiếp tục bắt giữ thêm chín tàu: Hilversum, Delft, Zeelandia, Wapen van Edam và Jonge Prins, tàu Nagelboom và tầu buôn Carolus Quintus, Mars và Geldersche Ruyter. Chiếc Tromp cũng bị bắt nhưng lại trốn thoát. Tám tàu cũ phải hủy sau đó vì các chi phí sửa chữa đã có thể vượt quá giá trị của chúng.

Người Anh mất một Sỹ quan chỉ huy cao cấp: Chuẩn Đô đốc Sampson, trong khi Phó Đô đốc Lawson bị thương trầm trọng. Các thuyền trưởng Anh đáng chú ý trong trận này bao gồm Thuyền trưởng của Hạm đội, William Penn, trên chiếc HMS Royal Charles, cựu cướp biển Christopher Myngs và George Ayscue. Luôn luôn là một bí ẩn tại sao hạm đội Anh không ít nhất là cố gắng theo đuổi Hà Lan. Một số giai thoại được kể để giải thích điều này. Theo nguồn tin của Penn, ông ta nghe được từ James rằng ông này (James) đang chờ đợi một trận đánh lớn vào ngày hôm sau – kể từ khi ông tin rằng người Hà Lan đã ổn định lại khi họ tập hợp được với nhau. James bị thương đến mức suýt chết, sau đó có thể ông đã hoàn toàn bị mất tinh thần. Có truyền thuyết kể rằng vợ của James đã ra lệnh cho Lord Henry Brouncker là phải giữ an toàn cho chồng của bà, ông này đã tuân lệnh bằng cách cho John Harman thuyền trưởng của chiếc kỳ hạm một mệnh lệnh giả để dừng chiếc Charles lại trong đêm. Trong mọi trường hợp thì chiếc Royal Charles vẫn hạ buồm trong buổi tối và phần còn lại của hạm đội Anh tập hợp theo sau.

Kết quả của trận đánh một phần gây ra bởi một sự mất cân bằng về sức mạnh về hỏa lực (Người Hà Lan có nhiều súng, nhưng người Anh có súng to hơn), làm cho Hà Lan bắt tay vào một chương trình đầy tham vọng mở rộng, đóng tàu nặng hơn nhiều với súng to hơn. Người Anh đã không tận dụng lợi thế của chiến thắng của họ. Họ không bao giờ cố gắng phong tỏa được một cách hiệu quả bờ biển Hà Lan và không thể ngăn chặn được các đội tầu VOC trở về từ Đông Ấn (Trận Vågen). Các Hạm đội bây giờ trở nên cân bằng nhau cả về chất lượng và chất lượng, một lần nữa gặp nhau tại tại Trận Bốn Ngày vào tháng Sáu 1666.

Trận hải chiến bốn ngày

Các chiến hạm HMS Swiftsure, Seven Oaks và Loyal George của Anh bị bắt giữ và treo cờ Hà Lan

Ngày Ngày 01 tháng 6–Ngày 04 tháng 6 1666
Vị trí gần Bắc Forland, Anh
Kết quả Hà Lan chiến thắng
Các bên tham chiến
Anh
Chỉ huy
George Monck
Sức mạnh
79 tàu chiến
Thương vong và thiệt hại
10 tàu bị mất,
~ 1.500 người chết,
1.450 người bị thương,
1.800 bị bắt
Hà Lan
Michiel de Ruyter
Sức mạnh
84 tàu
Thương vong và thiệt hại
4 tàu bị mất,
~ 1.500 người chết,
1.300 người bị thương

Trận Bốn Ngày là một hải chiến của cuộc chiến tranh lần thứ hai giữa Anh-Hà Lan. Trận đánh đã diễn ra từ ngày 01 tháng 6 tới ngày 04 tháng 6 năm 1666 trong lịch cũ (11 tháng Sáu-14 tháng Sáu lịch mới) ngoài khơi bờ biển Flemish và biển nước Anh, nó là một trong những trận hải chiến dài nhất trong lịch sử.
Trong tháng sáu 1665 hạm đội Anh đã đánh bại hoàn toàn người Hà Lan trong trận Lowestoft, nhưng không tận dụng triệt để lợi thế của chiến thắng. Hạm đội gia vị của Hà Lan, chất đầy với những hàng hóa đắt tiền đã cố gắng một cách an toàn để trở về nhà sau trận Vågen. Hải quân Hà Lan đã được cải tiến rất nhiều thông qua việc mở rộng chương trình xây dựng lớn nhất trong lịch sử của nó. Trong tháng 8 1665 nó đã bị hạm đội Anh một lần nữa thách thức, mặc dù không có trận đánh lớn mang ý nghĩa quyết định. Năm 1666 thì người Anh lại trở nên lo âu để tìm cách tiêu diệt hải quân Hà Lan một cách hoàn toàn trước khi nó có thể phát triển trở thành quá mạnh và (Hải quân Anh) đã cố gắng tuyệt vọng để kết thúc kiểu tấn công đột kích của Hà Lan, các cuộc tấn công này sẽ làm sự sụp đổ nền thương mại của Anh.

Sau khi có thôngg tin rằng hạm đội Pháp dự định tham gia với hạm đội Hà Lan ở Dunkirk, người Anh quyết định phải ngăn chặn hành động này bằng cách chia tách hạm đội của họ. Lực lượng chính của họ sẽ cố gắng để tiêu diệt hạm đội Hà Lan đầu tiên, trong khi một hải đội dưới quyền của Prince Rupert được gửi đến chặn Eo biển Dover chống quân Pháp – những người đã thực tế không tham gia.

Vào giai đoạn đầu của trận chiến hạm đội của Anh có 56 tàu, dưới sự chỉ huy của George Monck, 1st Duke of Albemarle, ông cũng là người chỉ huy hải đội cờ đỏ, ít hơn 84 chiếc của hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của Chuẩn – Đô đốc Michiel de Ruyter. Trận đánh kết thúc với sự rút lui thành công của người Anh sau khi cả hai hạm đội đã tiêu tốn phần lớn đạn dược của họ.

Người Hà Lan gây ra thiệt hại đáng kể vào hạm đội Anh. Người Anh đã đánh cược rằng nhiều đội thủy thủ của nhiều tàu tiền tuyến (ship of the line) mới đóng Hà Lan sẽ không có đầy đủ quân số và chưa được đào tạo nhuần nhuyễn, nhưng họ tự lừa dối mình với hy vọng hão của họ: người Anh bị mất mười tàu, với trên 1.000 người thiệt mạng trong đó có hai Phó đô đốc, Sir Christopher Myngs và Sir William Berkeley, trong khi khoảng 2000 người Anh đã bắt làm tù binh. thiệt hại của Hà Lan là bốn tàu bị phá hủy bởi cháy và hơn 1.550 người thiệt mạng, trong đó có Chuẩn – Đô đốc Cornelis Evertsen, Phó đô đốc Abraham Van der Hulst và Chuẩn đô đốc Frederik Stachouwer.

Ngày đầu tiên

Vào ngày đầu tiên Monck đi trong đội hình tiên phong với Hải đội cờ trắng của George Ayscue phía sau ông ta và Hải đội cờ màu xanh của Thomas Teddiman hình thành đội hậu quân, (Monck) ngạc nhiên khi các đội tàu Hà Lan neo gần Dunkirk. Mặc dù điều kiện thời tiết bất lợi Monck đã quyết định tấn công từ phía sau Hạm đội Hà Lan thuộc Chuẩn – Đô đốc Cornelis Tromp với hy vọng sẽ làm tê liệt nó trước khi các hạm đội trung tâm và tiên phong của Hà Lan có thể can thiệp. Sau khi gửi một tin nhắn đến Rupert, yêu cầu ông ta tham gia với mình nếu có thể, Monck mạnh dạn tấn công Tromp lúc này bỏ chạy trên bãi cát ngầm Flemish. Monck thì chiếm giữ vị trí phía tây bắc, để ứng chiến với các hải đội trung tâm của Hà Lan (do De Ruyter chỉ huy) và tiên phong (chỉ huy bởi Chuẩn -Đô đốc Cornelis Evertsen the Elder). Tromp quay trở lại, nhưng chiếc tàu của ông, chiếc Liefde đã va chạm với chiếc Groot Hollandia. Phó Đô đốc Berkeley đã thấy điều này và đột kích lên boong từ chiếc HMS Swiftsure. Ngay lập tức các chiếc Callantsoog và Reiger đến để cứu chỉ huy của họ, tiêu diệt quân đột kích Anh bằng đạn xích, chiếc Reiger sau đó cũng cố gắng để đánh đột kích bong chiếc Swiftsure. Berkeley thách thức lính thủy Hà Lan bằng cách reo hò: Chúng mày là chó, Chúng mày là lũ ma cà bông , chúng mày có nghe thấy không, nhảy lên tầu đi! nhưng thật chẳng la?nh ông ta bị thương vào cổ họng bởi một phát đạn súng hỏa mai, sau đó Swiftsure đã bị bắt. Trong phòng thuốc súng đô đốc đã được tìm thấy với cổ họng bị cắt của mình, ông đã cố gắng để cho nổ tung tàu nhưng thủy thủ đoàn của ông đã giết ông trước và rồi làm bột thuốc súng, sau trận đánh những người còn sống sót nói rằng người đã cắt cổ họng của chỉ huy của mình thuần túy là do quá thất vọng. Chiếc tầu hư hỏng HMS Seven Oaks (trước là chiếc Sevenwolden) bị bắt bởi chiếc Beschermer trong khi chiếc HMS Loyal George cố gắng giúp Swiftsure nhưng điều này chỉ dẫn đến việc cả hai tàu đều bị chiếm. Xác của Berkeley được ướp và sau đó được trưng bày ở Hague, sau đó trả lại Anh trong một cuộc ngưng bắn, kèm theo một bức thư của Thống đốc các Tỉnh ca ngợi đô đốc Berkeley vì lòng dũng cảm của ông. Chiếc HMS Rainbow, một trong hai chiếc đã đầu tiên để trinh sát phát hiện hạm đội Hà Lan đã bị cô lập và bỏ chạy đến cảng trung lập Ostend, và bị truy đuổi bởi mười hai tàu từ hạm đội của Tromp trong khi chiếc khác, Kent, rời chiến trường để tìm kiếm Hải đội của Rupert.

Cả hai hạm đội pháo kích vào nhau trong một đội hình trận chiến theo tuyến (battle of the line). Chiếc Hof van Zeeland và Duivenvoorde đã bắn trúng đạn cháy và bị đốt cháy. Người Hà Lan đã không biết sự tồn tại của loại đạn dược, bao gồm 2 chảo đồng trũng úp lại ở giữa đầy một chất dễ cháy, do đó, họ đã rất ngạc nhiên. May mắn cho họ là người Anh chỉ có một nguồn cung cấp nhỏ loại đạn này vì chi phí sản xuất cao.
Monck rút lui trong ban đêm, nhưng con tàu của Chuẩn đô đốc Harman, chiếc HMS Henry, trôi dạt đến đội hình tuyến của Hà Lan và đã bị bắt lửa bởi hai chiếc tầu hỏa công. Người giáo sỹ (đi trên tầu) hỏi Harman là có thể làm gì để cứu cuộc sống của họ, câu trả lời mỉa mai sau đó rằng một giáo sỹ tốt thì luôn sẵn sàng nhảy qua boong tầu, bởi sự kinh dị của ông làm vị mục sư sợ phát khiếp và ông này ngay lập tức làm theo lời khuyên của Harman cùng với một phần ba thủy thủ đoàn. Tất cả đều chết đuối. Harman đã chấm dứt sự hoảng sợ bằng sự đe dọa với một thanh kiếm đã được rút ra để đâm xuyên qua bất cứ người nào tỏ thấy độ muốn bỏ tàu dù là nhỏ nhất. Evertsen bây giờ bơi gần vào và hỏi xem Harman có muốn đầu hàng không?, câu trả lời đến tai ông ta một cách không quá bất ngờ rằng ông ta đã từ chối và la hét ( I””””m not up to it yet ). Mặc các cuộc tấn công lặp đi lặp lại của người Hà Lan, và mất đi hai cột buồm, một trong hai rơi xuống và nghiền nát chân của Harman, đám cháy đã được dập tắt và chạy Henry chạy thoát, và bắn những phát đạn cuối cùng của nó, hai phát trong số này đã trúng vào người Evertsen.

Ngày thứ hai

Sáng ngày thứ hai Monck đã quyết định tiêu diệt những người Hà Lan bằng một cuộc tấn công trực tiếp và khởi hành đến chỗ họ từ phía tây nam, nhưng De Ruyter trong chiếc De Zeven Provinciën bơi vượt qua tuyến của họ (người Anh) về phía đông nam, gây hư hại nặng cho hạm đội Anh và có được ưu thế đầu gió weather gauge. Chiếc HMS Anne, HMS Bristol và HMS Baltimore đã phải quay trở lại Thames. Sau khi bình tĩnh chờ đợi sửa chữa ông đã quay sang tấn công tầu Anh từ phía nam với cờ đỏ được giương lên, ra dấu cho tất cả hãy tấn công, nhưng chỉ khi ông tiếp cận đội hình tuyến của kẻ thù, những gì ông nhận thấy làm ông mất tinh thần rằng một phần của đội hậu quân dưới sự chỉ huy của Tromp cũng đã tách ra và bây giờ ở một vị trí đầu khác của đội hình tuyến của người Anh những người đã bao quanh Tromp. Thông thường việc này được giải thích bằng cách giả sử Tromp đã không tuân theo mệnh lệnh, nhưng mặc dù ông đã thực sự nổi tiếng vì sự cứng đầu cứng cổ của mình, thời gian này ông ta chỉ đơn giản là đã không nhìn thấy những lá cờ tín hiệu và người theo dõi về phía Hải đội trung tâm đã báo cáo nhầm lẫn một dấu xác nhận. De Ruyter đã giương cờ đỏ và phá vỡ rồi đi xuyên qua đội hình tuyến của đối phương với Phó Đô đốc Johan de Liefde, trong khi phần còn lại của hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của Aert van Nes lại hướng về phía nam. Ông ta cứu được tất cả các tàu của Tromp trừ chiếc Liefde bị cháy và Spieghel bị chìm và Phó Đô đốc Abraham van der Hulst vừa bị giết bởi một phát súng hỏa mai bắn trúng ngực và quay trở lại tham gia với van Nes và lực lượng chính rồi lại một lần nữa chọc thủng phòng tuyến đối phương, và nhận thấy một cách hơi tự mãn rằng lần thứ hai tàu Anh phải giạt ra xa.

Tromp, chuyển đổi sang tàu thứ tư của ông, sau đó đến gần De Ruyter để cảm ơn ông vì đã cứu viện đúng lúc. Cả hai người đã ở một tâm trạng xấu. Chuẩn đô đốc Frederick Stachouwer cũng đã bị giết. Ngày hôm trước tầu hư hỏng Hollandia đã được gửi về nhà cùng với chiếc Gelderland, Delft, Reiger, Asperen và Beschermer để gác ba chiếc tầu Anh bị bắt; bây giờ lại thêm chiếc Pacificatie, Vrijheid, Provincie Utrecht và Calantsoog bị hư hỏng cũng phải quay trở lại và chỉ có một ít tầu ở đội hậu vệ là vẫn còn nguyên vẹn. Bên cạnh đó, kẻ thù lại một lần nữa có được vị trí đầu gió weather gauge, những nguy hiểm đó ngay lập tức được tháo gỡ bởi George Ayscue, thấy hai đô đốc cùng nhau trong một vị trí dễ bị tổn thương, cố gắng cô lập họ, với nhiều khó khăn họ cố gắng để trở về lực lượng chính của họ.

Cả hai hạm đội bây giờ đã qua ba lần tấn công đối diện theo tuyến, trong lần thứ hai chiếc De Zeven Provinciën đã bị hư hại và De Ruyter rút lui khỏi cuộc chiến để sửa chữa tàu của ông. Sau đó ông bị một số nhà sử học buộc tội hèn nhát, nhưng ông đã có lệnh nghiêm ngặt bằng văn bản từ Thống đốc các Tỉnh và phải hành động một cách chính xác như vậy, để ngăn chặn sự lặp lại của những sự kiện trong trận Lowestoft, khi sự mất mát của người chỉ huy tối cao đã làm tan vỡ cơ cấu chỉ huy của Hà Lan. Chuẩn – Đô đốc Aert van Nes đã lãnh đạo hạm đội Hà Lan qua lần đối đầu thứ ba.

Rồi người Hà Lan lại ở một vị trí dưới gió súng của họ đã có một tầm bắn cao và một số tàu Anh bây giờ đã bị thiệt hại đáng sợ. Chiếc HMS Loyal Subject bị chuyển về cảng nhà và phải tự phá hủy. Chiếc HMS Black Eagle ( tên cũ là Groningen) giương cao cờ tai họa sẵn sàng tan rã trước khi có bất kỳ tàu nào có thể hỗ trợ.
Sau đó, khoảng ba giờ vào buổi chiều, một đội tầu Hà Lan khoảng mười hai tàu xuất hiện trên đường chân trời. Monck đã bị sốc, không phải vì sự kiện này là hoàn toàn bất ngờ nhưng vì lo sợ tồi tệ nhất của ông dường như trở thành sự thật. người Anh đã có được từ mạng lưới tình báo xuất sắc của họ rằng người Hà Lan dự định sẽ giữ một Hải đội mạnh thứ tư đằng sau như một chiến thuật dự phòng. Chắc chắn những con tàu mới phải là lực lượng xung kích tràn đầy mãnh lực. Monck ra lệnh kiểm tra số lượng tàu còn dùng được của hạm đội Anh. Khi nghe báo cáo chỉ có 29 tàu sẵn sàng cho cuộc chiến còn lại trong bọn họ, và Rupert vẫn biến mất mà không làm cho người ta nhìn thấy, ông quyết định rút lui. Trong thực tế, De Ruyter đã ngay trước khi trận đánh bị thuyết phục bởi các đô đốc khác chỉ sử dụng có ba hải đội. Monck không bao giờ nhận thấy rằng chiếc Rainbow đã biến mất – quả thật ông ta cũng không thể hiểu nơi Berkeley đã đi là đâu. Hơn một chục tàu chiếc tàu (chính xác là 12) đã được những người trong hải đội của Tromp tung ra và đuổi theo con mồi (chiếc HMS Rainbow) có ý định trốn thoát đến Ostend và lại ra nhập vào cuộc chiến. Toàn bộ hạm đội Anh chạy vát theo chiều gió về phía tây nam vào lúc bốn giờ. Chiếc tầu bị lạc đội hình St Paul (tên cũ Sint Paulus) bị bắt vào buổi tối

Ngày thứ ba

Vào ngày thứ ba Hạm đội của Anh tiếp tục rút lui về phía tây. Người Hà Lan tiến lên trên một mặt trận rộng, Van Nes vẫn chỉ huy, với hai mục đích là để bắt bất kỳ tầu lạc ngũ nào và để tránh pháo lớn lớn 32 pound ở phần đuôi tàu lớn. Vào buổi tối Rupert, khi ngày đầu tiên đã nhận được lệnh phải tham gia Monck, cuối cùng cũng xuất hiện với hai mươi chiếc tàu. Ông đã không thể tiếp cận với Monck vì trước đó ông đã cho tàu đi xa cũng như Wight để tìm kiếm hạm đội Pháp tưởng tượng. Monck đã ra lệnh cho hạm đội của mình để thiết lập một đội hình thẳng cho hải đội màu xanh lá cây phi đội cảnh báo rằng điều này sẽ làm họ bị trừng phạt bởi Galloper Shoal lúc thủy triều thấp. Chiếc HMS Royal Charles và HMS Royal Katherine gần như đã chạm đáy nhưng lại thoát được đúng lúc, Tuy nhiên chiếc HMS Prince Royal đã bị mắc kẹt. Phó Đô đốc George Ayscue, chỉ huy của hải đội trắng, kêu gọi với người của mình để giữ bình tĩnh cho đến khi lũ sẽ nâng con tàu; nhưng khi hai tàu hỏa công tiếp cận các thủy thủ đoàn đã khiếp sợ. Khi chiếc tầu Lambeth tấn công chiếc kỳ hạm và Ayscue đã phải đầu hàng Tromp trên chiếc Gouda, Lần đầu tiên và cuối cùng trong lịch sử của một đô đốc của Anh xếp hạng cao như vậy lại bị bắt trên biển. De Ruyter đã có mệnh lệnh rõ ràng để tiêu diệt bất cứ tầu chiến lợi phẩm, khi hạm đội Anh vẫn ở gần ông ta (Tromp) không thể không tuân theo lệnh chỉ huy và ra lệnh cho đốt cháy tầu Prince. Tromp đã không dám thực hiện bất kỳ sự phản đối nào mặc dù ông vẫn trái lệnh và gửi về nhà một số chiến lợi phẩm, nhưng sau đó ông tự do bày tỏ sự bất mãn của mình, trong 1681 ông vẫn đang cố gắng để có được bồi thường từ bộ trươ?ng ha?i quân của Amsterdam cho mệnh lệnh sai trái này.

Van Nes bây giờ vẫn cố gắng để ngăn chặn sự gia nhập của cả hai hạm đội Anh. Nhưng khi họ bơi lại từ cả hai phía sau của đội hình khóa đuôi của mình, De Ruyter lấy lại quyền chỉ huy và ra lệnh phải chờ đợi. Bằng cách này, ông lấy lại ưu thế đầu gió weather gauge.

Sáng sớm hôm sau hạm đội Anh có sự tăng cường của hơn năm tàu (các tầu Convertine, Sancta Maria, Centurion, Kent và Hampshire) và tầu hỏa công khác (Happy Entrance); Và ngược lại, sáu trong các tàu bị hư hại nhiều nhất đã được gửi về nhà để sửa chữa. Vì vậy, lực lượng chiến đấu bao gồm 23 tràn đầy sinh lực trong tổng số 60-65 chiếc lớp Man-of-war và 6 fireships, các tầu Anh tấn công trong đội hình tuyến vào ngày thứ tư với Sir Christopher Myngs bây giờ phụ trách các tầu tiên phong, Rupert phụ trách đội trung tâm và Monk của các đội hậu quân. Hạm đội Hà Lan bây giờ ở về phía tây nam của họ và bấy giờ giảm xuống còn 68 tàu (và một số 6 hoặc 7 tàu hỏa công), đã chiếm được ưu thế đầu gió weather gauge và tấn công rất mạnh. De Ruyter cố gắng để gây ấn tượng trên lá cờ của ông rằng cuộc chiến của ngày hôm đó sẽ quyết định cho toàn bộ cuộc chiến tranh . Người Anh tấn công và, dễ bị tổn thương từ một vị trí dưới gió.

Một cách ngập ngừng De Ruyter dự định phá đội hình tuyến chiến đấu của người Anh bằng cách đập vỡ nó tại ba vị trí và cắt hạm đội Anh thành nhiều phần trước khi tiêu diệt từng phần còn lại. Phó đô đốc Johan de Liefde trên chiếc Ridderschap và Myngs trên chiếc HMS Victory bắt đầu một trânh cận chiến, Myngs bị trúng hai viên đạn súng hỏa mai và không thể cứu được vết thương, chết trong ngày trở về London. Các tầu Anh đang cố gắng tập hợp lại để phá vỡ vòng vây ở phía nam bằng cách thực hiện bốn đợt tấn công nương theo chiều gió vào phía đối diện, nhưng Tromp và Van Nes đã bao quanh họ. Monck thì đeo ở phía bắc. Đội của Tromp đã bị chặn đường, chiếc Landman bị đốt cháy bởi một fireship. Van Nes buộc phải rút lui. De Ruyter, lúc này lo lắng nhiều hơn tại bất kỳ thời điểm khác trong cuộc chiến và cuộc chiến vì sợ bị thua, giương lên lá cờ đỏ và giong buồm qua Rupert Monck để tấn công từ phía sau. Khi Rupert cũng cố gắng làm như vậy với ông ta, ba phát đạn bắn rất nhanh đã thành công trong việc bắn tung cột buồm chiếc HMS Royal James của Rupert và toàn bộ Hải đội có cờ màu xanh lá cây rút ra khỏi trận đánh ở phía nam để bảo vệ và kéo chiếc kỳ hạm. Bây giờ không có gì ngăn cản De Ruyter từ việc tấn công Monck và các lực lượng chính của Anh đã bị chặn đường. Nhiều chiếc trong số các con tàu của Anh đã sắp hết bột thuốc súng sau ba ngày chiến đấu liên tiếp trong khi hầu hết các tàu Hà Lan vẫn có một nguồn cung cấp đầy đủ vì họ đã có một đội tầu vận chuyển đồ cung cấp tương đối lớn, các tầu vận tải có súng nhỏ và thuỷ thủ đoàn ít được đào tạo hơn, nên do đó bắn chậm hơn. Bốn tầu lạc ngũ đã bị bắt bởi người Hà Lan, đó là chiếc HMS Clove Tree (cựu tàu VOC Nagelboom), bị bắt do chiếc Wassenaar, HMS Convertine và HMS Es*** cùng với chiếc HMS Black Bull; cả hai bị bắt bởi chiếc Frisia của Chuẩn đô đốc Hendrik Brunsvelt ; HMS Black Bull sau đó bị chìm. De Ruyter nhìn thấy hạm đội Anh trốn thoát trong sương mù dày đặc và quyết định chia ra theo đuổi. Riêng hải đội của ông đã bị hư hại quá nặng, nhật ký hàng hải của ông chỉ nói của sự sợ hãi đối với các bãi cát ngầm ở Anh. Theo niềm tin tôn giáo sâu sắc De Ruyter giải nghĩa ở các bờ sương mù đột ngột một cách không lý giải nổi như là một dấu hiệu của Thiên Chúa, có ý nghĩa với ông rằng ( rằng ông chỉ nên hạ nhục đối phương để cho tạo niềm tự hào của mình nhưng không cho phép hủy diệt họ hoàn toàn). ( Bây giờ lại đến lượt Hà Lan bỏ qua cơ hội tận diệt đối phương)

Sau trận đánh

Đó là trận hải chiến lớn nhất của cuộc chiến Anh-Hà Lan lần thứ hai. Tuy nhiên, kết quả của nó là đôi khi được mô tả như là một trận chiến không có ý nghĩa quyết định, bởi vì cả hai bên ban đầu đều tuyên bố chiến thắng. Ngay sau khi trận chiến các thuyền trưởng của hải đội Anh Rupert, không thể thấy kết quả cuối cùng, buộc tội De Ruyter đã ra lệnh rút lui trước, sau đó thường được xem như là tạo ưu thế cho hạm đội của đối phương. Mặc dù hạm đội Hà Lan dần dần buộc phải theo đuổi đến cùng, họ đã cố gắng để làm tê liệt hạm đội Anh, và cũng bị mất những bốn tàu của họ, mặc dù chiếc Spieghel đã cố gắng không để chìm và đã được sửa chữa. Những người Hà Lan đương thời thể hiện chính kiến về vấn đề này trong một bài thơ châm chích nổi tiếng của nhà thơ Constantijn Huygens: là bị đánh đập – nhưng vẫn tồn tại
Hai tháng sau hạm đội Anh đã hồi phục và lại thách thức hạm đội Hà Lan một lần nữa, lần này họ (người Anh) có nhiều thành công hơn tại Bắc mui đất ở trong trận St James Day. Mặc dù điều này được chứng minh là một chiến thắng, đội tàu Hà Lan một lần nữa lại không bị phá hủy và các chi phí sửa chữa lớn sau trận trước đã cạn kiệt ngân khố nước Anh, do đó, trận bốn ngày thường được coi là một thắng lợi chiến thuật nhỏ nhưng lại là một thắng lợi chiến lược quan trọng cho Hà Lan.

Trận hải chiến ngày Thánh James – St. James’s Day Battle

sơ đồ trận hải chiến St James Day cho thấy các bên tham chiến bố trí đội hình tuyến chiến đấu (Line of battle)

Ngày 25 tháng 7 (Lịch Julian) hoặc Ngày 04 tháng 8 (Lịch Gregory), 1666
Vị trí gần Bắc Forland, Anh
Kết quả Anh thắng

Các bên tham chiến
Anh
Chỉ huy
Prince Rupert of the Rhine
George Monck, 1st Công tước của Albemarle
Sức mạnh
90 tàu, cộng thêm 16 fireships
Thương vong và thiệt hại
1 tiếng tàu (HMS Resolution) chìm, 300 bị giết
Cộng Hòa Hà Lan
Chỉ huy
Michiel de Ruyter
Sức mạnh
89 tàu, cộng thêm 20 fireships và 9 du thuyền

Thương vong và thiệt hại
2 tàu Hà Lan (Sneek và Tholen) bị thương
chết 800
thương vong 5.000

Trận Hải chiến St James Day diễn ra vào ngày 25 tháng 7 1666 ?” ngày thánh St James trong Lịch ****** sau đó được sử dụng tại Anh (Ngày 04 tháng 8 1666 trong lịch Gregory), trong cuộc chiến thứ hai Anh-Hà Lan và đó là cuọc hải chiến giữa hạm đội tàu của Anh, dưới sự chỉ huy của Prince Rupert of the Rhine và George Monck, 1st Công tước của Albemarle, và hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của Chuẩn – Đô đốc Michiel de Ruyter. Tại Hà Lan, trận chiến này được gọi là Trận Hai Ngày.

Ý định của người Hà Lan

Sau khi Hà Lan đã gây ra thiệt hại đáng kể vào hạm đội Anh trong trận Bốn Ngày, nhà chính trị gia hàng đầu của Hà Lan, Grand Pensionary ( Chức danh chỉ sau Phó vương Hà Lan ) Johan de Witt, ra lệnh cho Chuẩn – Đô đốc Michiel de Ruyter để thực hiện một kế hoạch đã được chuẩn bị sẵn sàng trong hơn một năm: đổ bộ xuống Medway tiêu diệt hạm đội Anh trong khi nó đã được sửa chữa tại các ụ tầu ở Chatham. Để tiến hành chiến dịch này, mười tầu fluyt chở 2.700 lính thủy của đơn vị mới được thành lập Thủy quân lục chiến Hà Lan, Một trong những lực lượng đầu tiên trong lịch sử có chuyên môn đổ bộ chiến đấu lưỡng cư. Ngoài ra, De Ruyter muốn hạm đội của mình được liên hợp với một hạm đội của Pháp.

Tuy nhiên Hạm đội Pháp đã không xuất hiện và thời tiết xấu ngăn cản việc đổ bộ. De Ruyter phải hạn chế hành động của mình ở một cuộc phong tỏa sông Thames. Trong ngày 01 tháng Tám, ông đã quan sát thấy rằng hạm đội Anh đã rời cảng – sớm hơn dự kiến. Sau đó, một cơn bão đã lái hạm đội Hà Lan trở lại bờ biển Flemish. Vào ngày 03 tháng bảy, De Ruyter một lần nữa vượt qua Biển Bắc, để lại phía sau đoàn tàu trở quân.

Ngày đầu tiên

Vào buổi sáng sớm của ngày 25 Tháng bảy, hạm đội 88 chiếc tầu của Hà Lan phát hiện ra hạm đội Anh gồm 89 tàu ở gần Bắc Forland, đang dong buồm ở phía bắc, và theo đuổi nó từ phía đông nam ở vị trí dưới gió, khi gió thổi từ phía tây bắc. Đột nhiên, gió đã chuyển sang phía đông bắc. Chỉ huy của hạm đội Anh, Prince Rupert of the Rhine, sau đó chuyển nhanh về phía đông để lấy lại ưu thế đầu gió weather gauge và De Ruyter theo sau để canh chừng nó. Hàng động này được chứng minh là một vận động uyển chuyển chết người cho Hà Lan. Bây giờ họ đi đúng vào trọng tâm của một khu vực bị sức ép lớn. Các tầu tiên phong của Hà Lan dưới sự chỉ huy của Chuẩn – Đô đốc Johan Evertsen, thất tốc và không thể duy trì đội hình tuyến trận đấu. Tình trạng khó xử này kéo dài trong nhiều giờ sau đó, một lần nữa, một gió thổi nhẹ bắt đầu từ phía đông bắc. Ngay lập tức, các tầu tiên phong của Anh dưới sự chỉ huy của Thomas Allin, và một phần của đội hình trung tâm hình thành một đội hình tuyến của trận chiến và bơi về phía bên phải của các tầu tiên phong Hà Lan, (các tầu Hà Lan ) lúc này vẫn đang bị rối loan và về cơ bản thì không tự vệ được. Từng tàu một của Hải đội Frisia bị nện tơi bời bởi súng bắn liên hoàn của đội hình tuyến của Anh. Phó Đô đốc Rudolf Coenders bị giết. Chuẩn – Đô đốc Tjerk Hiddes de Vries có một cánh tay và một chân gãy ra, nhưng ông vẫn cố gắng gắn kết các lực lượng của mình lại với nhau nhưng không nổi. Không thể kết nối họ với cánh trung tâm của mình, De Ruyter kinh hoàng khi thấy đội tàu Frisia trôi về phía nam, bây giờ trông họ không khác gì những xác tầu trôi với đầy người chết, tiếng rên rỉ của những người sắp chết còn rõ ràng hơn cả các âm thanh khác của cuộc chiến.

Bây giờ Rupert kết hợp toàn bộ các đội tiên phong và trung tâm của mình để tung ra một đòn Coup-de-Grâce (chắc là đòn knock-out) vào đội hình trung tâm của Hà Lan. George Monck đi kèm với Rupert dự đoán rằng, De Ruyter sẽ cho bắn cả hai loạt pháo mạn và bỏ chạy, nên sau đó ông này (Monck) giăng bẫy một đợt súng giữ dội vào chiếc kỳ hạm Hà Lan De Zeven Provinciën. Ông ta tạo ra một cuộc tấn công bằng cách kết hợp chiếc Sovereign of the Seas và chiếc Royal Charles và buộc Rupert phải rời khỏi chiếc Royal Charles đã bị hư hỏng và chuyển sang chiếc Royal James. Trong lúc này, De Ruyter vẫn đang mải mê cố gắng để thu thập các tầu đang rút lui của đội tiền quân Hà Lan.

Trong khi đó, Chuẩn – Đô đốc Cornelis Tromp, chỉ huy hậu quân của Hà Lan, đã nhìn thấy những sự việc đáng buồn xảy ra từ một khoảng cách xa. Bực mình bởi chưa nhận được mệnh lệnh, ông quyết định làm một ví dụ chính xác. Ông quay ngược nhanh về phía tây, vượt qua đội hình hậu quân của Anh lúc đó được chỉ huy bởi Jeremy Smith, tách nó khỏi phần còn lại của hạm đội Anh và sau đó, có thế đầu gió weather gauge, liên tục tấn công một cách điên cuồng cho đến khi người Anh không thể chịu nổi và chạy về phía tây. Ông theo đuổi và vào ban đêm, và đã phá hủy chiếc HMS Resolution bằng với một chiếc fireship. Sau khi Tromp ba lần bắn gục toàn bộ thủy thủ đoàn trên buồm của nó, chiếc kỳ hạm HMS Loyal London của Smith đã phải được kéo về nhà. Chỉ huy phó của Hải đội hậu quân của Anh là Edward Spragge, người cảm thấy bị sỉ nhục bởi sự kiện này khiến ông ta trở thành một kẻ thù cá nhân của Tromp, đã tự tử trong khi đang cố gắng để diệt kẻ thù của mình trong Trận Texel.

Ngày thứ hai

Sáng ngày 26 tháng bảy, Tromp tự phá vỡ đội hình, và cảm thấy hài lòng với chiến thắng đầu tiên thật sự của ông như là một chỉ huy hải đội. Trong đêm một chiếc tàu mang thông điệp nói rằng De Ruyter dường như đã chiến thắng này, vì vậy Tromp có một một tâm trạng phở phơ. Điều đó đột ngột thay đổi khi ông ta phát hiện ra chiến hạm đang trôi dạt của Chuẩn đô đốc Tjerk Hiddes de Vries (đã chết). Đột nhiên, ông sợ rằng tàu của ông là bây giờ chỉ dấu tích của hạm đội Hà Lan và rằng ông trong hiểm tọa sinh tử. Đằng sau ông, những tàu của hậu quân Anh vẫn còn hoạt động đã trở lại và quay sang phía đông. Ở phía trước, các Hải đội khác của đối phương chắc chắn đang chờ ông ta. Trên đường chân trời chỉ có cờ Anh là được nhìn thấy. Ra lệnh cho hải đội quay đầu một cách bừa bãi, Tromp uống nhiều rượu gin để phục hồi thần kinh của ông, lẩn tránh bất kỳ nỗ lực để bẫy ông ta và đưa hải đội của mình một cách an toàn vào nhà cảng Flushing vào sáng ngày 26 tháng bảy. Ở đó ông đã phát hiện phần còn lại của đội tàu Hà Lan.

Phải mất sáu giờ Tromp mới thu thập đủ can đảm để đối mặt với De Ruyter. Rõ ràng một điều với ông ta rằng ông ta không bao giờ được phép tự mình hoàn toàn tách khỏi lực lượng chính. Thật vậy De Ruyter, không với thái độ lịch sự bình thường hàng ngày của mình, ngay lập tức đổ lỗi cho cho ta về trận thua và ra lệnh cho Tromp và các cấp dưới của mình Isaac Sweers và Willem van der Zaan đứng ra xa khỏi tầm mắt của ông, và nói với họ không bao giờ được đặt chân lên chiếc De Zeven Provinciën. Các chỉ huy của đội tàu Hà Lan vẫn chưa phục hồi được tinh thần từ những sự kiện của ngày hôm trước.

Sáng ngày 05 tháng 8 (lúc Tromp chưa quay về), sau một đêm mùa hè ngắn, De Ruyter phát hiện ra rằng vị trí của mình đã trở thành vô vọng. Chuẩn-Đô đốc Johan Evertsen đã chết sau khi bị mất một chân, lực lượng của De Ruyter bây giờ đã bị giảm xuống còn khoảng bốn mươi tàu xúm với nhau và hầu hết số tầu sống sót của đội tiên phong ở vào tình trạng không hoạt động được nữa. Một số khoảng 15 tàu còn tốt có vẻ như đã bị bỏ rơi trong ban đêm. Một cơn gió mạnh từ phía đông đã ngăn ngừa một cuộc rút lui dễ dàng về phía bờ biển lục địa, và về phía tây của hải đội tiền quân và trung tâm của Anh (khoảng năm mươi tàu) đã bao quanh hạm đội của ông ta theo hình bán nguyệt, và thoải mái bắn phá vào hạm đội của ông ta từ một vị trí dưới gió.

Tuy nhiên người Anh, cũng có những vấn đề riêng của họ. Cơn gió mạnh ngăn cản họ tiến lại gần với vị trí của người Hà Lan. Họ gắng sử dụng tàu hỏa công, nhưng cũng đã có sự cố khi tiếp cận đối phương. Chỉ có chiếc thông báo hạm Fan-Fan, du thuyền cá nhân của Rupert, chèo được đến gần chiếc kỳ hạm Hà Lan De Zeven Provinciën để quấy rối nó với hai khẩu súng nhỏ của mình, tạo nhiều cảnh hài hước, vui nhộn cho hạm đội Anh.

Khi các tàu của ông (De Ruyter) đã một lần nữa tránh được một cuộc tấn công bởi một chiếc tàu hỏa công ( chiếc Land of Promise) và Tromp vẫn biến mất, đã tạo căng thẳng lên De Ruyter một cách khó chịu. Ông ta đã tìm cái chết bằng cách cố ý xuất hiện trên boong tầu. Khi ông không thể đạt được điều ông muốn, ông ta đã kêu lên: (Ôi Chúa ơi làm sao tôi không may đến vậy! Trong số hàng ngàn phát đạn của kẻ thù, không có một phát nào có thể trúng được tôi?) Con rể của ông, đội trưởng Johann de Witte của lực lượng Thủy quân lục chiến, nghe thấy và nói: ( Cha, làm gì mà tuyệt vọng đến vậy, nếu cha chỉ muốn chết!, cho chúng con sau đó lần lượt giương buồm xông vào giữa kẻ thù của chúng ta và đánh nhau cho tới chết ). Đề xuất dũng cảm nhưng ngu ngốc này đã làm Đô đốc lấy lại được tinh thần của mình, và ông thấy rằng ông không nên quá tuyệt vọng và trả lời: ( Con không biết con đang nói về cái gì đâu. Nếu cha làm như vậy, chúng ta sẽ mất hết. Nhưng nếu! Ta có thể mang bản thân mình và những con tàu một cách an toàn về nhà, chúng ta sẽ lại có cơ hội vào lúc khác.)

Sau đó, cơn gió trận chiến này đã mang rất nhiều bất hạnh cho người Hà Lan, bất ngờ đổi chiều và đảm hảo an toàn cho người Hà Lan bằng cách thổi về phía Tây. Người Hà Lan lập tức tổ chức một đội hình tuyến chiến đấu và đưa hạm đội của họ đi an toàn qua các bãi cát ngầm Flemish, Phó Đô đốc Adriaen Banckert của hạm đội Zealandic điều hành việc rút lui của tất cả các tàu thuyền bị hư hỏng bằng các tàu còn hoạt động, số tầu đến chậm từ từ tăng lên và chó vẻ như rằng chỉ có rất ít tàu thực sự bị bỏ rơi trong đêm, phần lớn chỉ bị trôi dạt , và bây giờ từng chiếc một, họ tái gia nhập cuộc chiến.

Kết quả

Trận đánh rõ ràng là một chiến thắng của người Anh, mặc dù trong cuộc đụng độ riêng biệt của hai đạo hậu quân lại là một chiến thắng cho Tromp. Hà Lan bị thương vong rất lớn, ước tính ngay sau trận đánh xảy ra là khoảng 5.000 người, so với 300 người Anh bị giết sau đó, thông tin chính xác cho thấy chỉ có khoảng 1.200 người trong số này đã bị chết hoặc bị thương nặng. Tuy nhiên, người Hà Lan chỉ mất hai chiếc tàu: De Ruyter đã thành công ở việc thu hồi lại gần như hoàn toàn đội tiền quân, chỉ có chiếc Sneek và Tholen là bị gục cột buồm chính của họ, và họ có thể nhanh chóng sửa chữa những thiệt hại. Tuy nhiên, hai chiếc tầu bất hạnh chiếc HMS Great Plague of London và Great Fire of London kết hợp với những thiếu hụt về tài chính của mình, đã làm cho Charles II (vua của Anh) không có tiền để tiếp tục chiến tranh. Trong thực tế, ông ta chỉ có dự trữ đủ cho cuộc chiến này thôi. Người Hà Lan sớm hồi phục, trong vòng một tháng, họ lại kiểm soát được vùng biển, nhưng cũng chỉ có một vài đụng độ nhỏ. Về cuối của cuộc chiến này, De Ruyter đã trở nên quá căng thẳng và tưởng như thần kinh của ông không thể chịu nổi, ông chỉ thật sự phục hồi trong thời gian giáng một đòn mạnh vào hải quân Anh trong trận đột kích vào Medway trong năm 1667.

Trong tuần mà hạm đội Hà Lan đang được sửa chữa, đô đốc Robert Holmes ( của Anh )được sự trợ giúp của một kẻ phản bội Hà Lan, Laurens van Heemskerck, đột nhập vào cửa sông Vlie, đốt cháy một đội 150 thương thuyền (Holmes Bonfire) và phá hủy thị trấn Ter Schelling (nay là Tây-Terschelling) trên đảo Frisia Terschelling. Chiếc du thuyền Fan-Fan lại một lần nữa xuất hiện.

Tại Cộng hòa Hà Lan, thất bại cũng luôn có rất nhiều nơi có hiệu ứng chính trị. Tromp là ứng cử viên vô địch của đảng Orangist, nay ông bị cáo buộc do sơ suất nghiêm trọng, đất nước bị chia rẽ vì vấn đề này. Để bảo vệ mình, Tromp cho anh rể là Johan Kievit xuất bản một số tài liệu của mình. Ngay sau đó, Kievit bị phát hiện là có kế hoạch một cuộc đảo chính, và bí mật đàm phán một hiệp ước hòa bình với vua Anh. Ông này (Johan Kievit) đã trốn sang Anh và nhận một án tử hình vắng mặt, gia đình Tromp đã bị phạt và bản thân ông bị cấm không được phục vụ trong hạm đội. Vào tháng 1669 những người ủng hộ Tromp đã cố gắng đâm De Ruyter tại lối vào nhà của ông. Phải đến năm 1672 Tromp mới trả được thù của mình, khi Johan de Witt (người đứng đầu Hà Lan) bị ám sát, một số người nói rằng Tromp đã nhúng tay vào vụ này. Người cai trị mới, William III của Orange, đã thành công mặc dù gặp nhiều khó khăn, trong việc hòa giải giữa De Ruyter với Tromp trong năm 1673.

Trận đột kích Medway

Tấn công vào Medway tháng Sáu 1667, tàu bị bắt giữ Royal Charles là chiếc ở bên phải của phía trung tâm

Ngày Ngày 09 tháng 6– >14 tháng 6 1667
Vị trí gần Chatham, Anh
Kết quả Hà Lan chiến thắng quyết định
Các bên tham chiến
Anh
Chỉ huy
Prince Rupert of the Rhine
George Monck, 1st Duke of Albemarle
Sức mạnh
nhiều tàu, các đơn vị đồn trú ở các pháo đài Upnor và Sheerness
Thương vong và thiệt hại
13 tàu Anh bị tiêu diệt
các tầu HMS Unity và Royal Charles bị bắt về Hà Lan
Cộng hòa Hà Lan
Chỉ huy
Michiel de Ruyter
Joseph Willem van Ghent
Cornelis de Witt
Sức mạnh
khoảng 60 tàu; 1500 lính thủy đánh bộ
Thương vong và thiệt hại
Khoảng 50 Thủy quân lục chiến

Trận đột kích vào Medway, Đôi khi được gọi là Trận Medway hoặc Trận Chatham, Là một trận tấn công thành công nhất của người Hà Lan vào tàu hải quân Anh lúc này đang được đặt lên trong ụ tầu của căn cứ hải quân chính của họ ở Chatham, sự việc diễn ra trong tháng 6 năm 1667 trong cuộc chiến lần thứ hai Anh-Hà Lan. Người Hà Lan, dưới sự chỉ huy danh nghĩa của Chuẩn – Đô đốc Michiel de Ruyter, oanh tạc và chiếm giữ thị trấn Sheerness, họ đi lên dọc Sông Thames tới tận Gravesend, sau đó ngược sông Medway đến tận Chatham, nơi họ đốt cháy ba tàu chính và nhiều hơn mười tàu chiến nữa của hải quân và kéo đi các tầu HMS Unity và HMS Royal Charles, các Kỳ hạm vốn là niềm tự hào của hạm đội Anh. Cuộc tấn công dẫn đến một kết thúc nhanh của cuộc chiến tranh và một lợi thế cho Hà Lan trong đàn phán hòa bình.

Bối cảnh trận đánh

Các hoạt động của hạm đội của nhà vua Anh Charles II đã bị cắt giảm để phù hợp với các hạn chế về kinh phí gần đây với những ( con tàu lớn) vẫn còn phải nằm lại trên ụ tàu, do đó, người Hà Lan uốn bắt lấy cơ hội của họ tốt. Họ trước đó đã có kế hoạch cho một cuộc tấn công như vậy trong năm 1666 sau trận Bốn Ngày nhưng những gì ngăn cản không cho họ thực hiện cuộc tập kích lại chính là thất bại của họ trong trận St James Day. Người thực sự đứng đằng sau kế hoạch này là nhà chính trị gia hàng đầu của Hà Lan Grand Pensionary Johan de Witt. Anh trai của ông ta, Cornelis de Witt, được phái đi kèm với các đội tàu để tăng cường giám sát. Đàm phán hòa bình đã được tiến hành tại Breda kể từ tháng ba, nhưng Charles đã cố gắng để trì hoãn việc ký kết hòa bình, hy vọng cải thiện vị trí của mình thông qua sự trợ giúp bí mật của người Pháp, do đó, De Witt nghĩ rằng tốt nhất là chấm dứt chiến tranh một cách nhanh chóng với một chiến thắng rõ ràng của Hà Lan, trong đó tất nhiên có thể dẫn đến nhiều điều kiện thuận lợi. Hầu hết các kỳ hạm đô đốc của Hà Lan đều nghi ngờ về tính khả thi của cuộc tấn công, vì sợ những bãi cát ngầm nguy hiểm ở cửa sông Thames, nhưng họ vẫn tuân lệnh. Người Hà Lan đã sử dụng hai hoa tiêu bỏ trốn người Anh, một trong hai người là dissenter (một giáo phái ly khai từ Anh giáo ) tên là Robert Holland, còn người kia là một tay buôn lậu đang chạy trốn khỏi công lý Anh.

Trận đột kích

Người Hà Lan xuất phát

Vào ngày 17 Tháng Năm các Hải đội của Hải quân Rotterdam khởi hành đển Texel để gia nhập với các đơn vị của Amsterdam và khu phía Bắc. Họ nói rằng các hải đội của Frisia là chưa sẵn sàng vì có vấn đề trong tuyển dụng (cưỡng ép trưng binh bị cấm tại Cộng hòa Hà Lan), ông rời khỏi Schooneveld ra ngoài khơi bờ biển Hà Lan để gia nhập vào hải đội Zealand, tuy nhiên hải đội này cũng phải chịu từ những vấn đề tương tự. De Ruyter sau đó khởi hành đến Thames ngày Ngày 04 tháng 6 ( Lịch cũ) với 62 tàu khu trục (frigate) và tàu of-the-line cùng với khoảng mười lăm tàu nhẹ và mười hai tầu hỏa công (fireship), khi gió quay sang phía đông. Hạm đội này được tổ chức lại thành ba hải đội:

Hải đội đầu tiên dưới sự chỉ huy của bản thân De Ruyter cùng với Phó Đô đốc Johan de Liefde và Chuẩn đô đốc Jan Jansse van Nes

Hải đội thứ hai dưới sự chỉ huy của Chuẩn – Đô đốc Aert Jansse van Nes cùng với Phó Đô đốc Enno Doedes Star và Chuẩn đô đốc Willem van der Zaan.

Hải đội thứ ba dưới sự chỉ huy của Chuẩn – Đô đốc Baron Joseph Willem van Ghent với Chuẩn – Đô đốc Jan van Meppel dưới quyền có Phó đô đốc Isaac Sweers và Volckert Schram cùng với các Hậu quân – đô đốc David Vlugh và Jan Gideonsz Verburgh.

Hải đội thứ ba có tới hai bộ máy chỉ huy; sở dĩ có việc này là để sử dụng những đô đốc này vào một lực lượng tàu khu trục nhỏ đổ bộ đặc biệt, được thành lập vào ngày đến nơi và được lãnh đạo bởi Đại tá và Chuẩn – Đô đốc Van Ghent, trên chiếc tàu khu trục nhỏ Agatha. Baron Van Ghent trong thực tế, là chỉ huy thực sự của đoàn viễn chinh và cũng là người xây dựng tất cả những kế hoạch hoạt động, ông cũng là chỉ huy của Thủy quân lục chiến Hà Lan, lực lượng lần đầu tiên trong lịch sử có khả năng trong hoạt động lưỡng cư, bây giờ lực lượng này được lãnh đạo bởi đại tá Anh Thomas Dolman.

Trong ngày 06 tháng 6 một đám sương mù được thổi đi xa và bộc lộ lực lượng đặc nhiệm Hà Lan, lúc này đang dong buồm vào cửa sông Thames. Trong ngày 07 tháng 6 Cornelis de Witt cho thấy chỉ thị tối mật tới ông ta trực tiếp từ Thống Đốc các Tỉnh, bằng văn bản vào ngày 20 tháng năm, trong sự hiện diện của tất cả các chỉ huy. Đã có rất nhiều tiếng phản đối (người Hà Lan bao giờ cũng vậy ?” luôn luôn 10 người thì có 10 ý tưởng khác nhau ), trong khi chỉ có những đóng góp của De Ruyter là đáng kể vào cuộc thảo luận (bevelen zijn bevelen ?” mệnh lệnh là mệnh lệnh), ngay cả Cornelis sau khi nghỉ ngơi tại cabin của mình vào cuối đêm, lúc viết trong báo cáo hàng ngày của mình, rằng ông không cảm thấy chắc chắn là ông sẽ tuân thủ theo mệnh lệnh. Tuy nhiên ngày hôm sau lại hóa ra là hầu hết các sỹ quan đều sẵn sàng cho một chút phiêu lưu: họ chỉ đưa ra ý kiến chuyên môn của họ để ghi lại để họ có thể đổ lỗi cho các chính trị gia nếu khi kết thúc toàn chiến dich nằm trong thảm họa. Đó là ngày một nỗ lực đã được thực hiện để bắt lấy một đội khoảng hai mươi tầu Anh buôn được thấy đang đi ngược lên phía của sông Thames theo hướng London, nhưng việc này không thành công vì họ bỏ chạy về phía tây, về phía Gravesend. (Các bác có thể tưởng tượng tầu buôn Anh bị săn như săn vịt ở cửa sông Thames ??? người Hà Lan thật to gan, nhưng sao lúc đó họ không ngược hẳn lên London nhỉ )

Cuộc tấn công đã làm cho người Anh bất ngờ. Không có sự chuẩn bị kỹ càng được thực hiện cho các tình huỗng ngẫu nhiên như vậy, mặc dù người Anh đã được cảnh báo rất nhiều từ mạng lưới gián điệp rộng rãi ( Mà cảnh báo liên tục thì khiến người ta phải cảnh giác cao độ — > mệt mỏi — > mất cảnh giác thôi ). Hầu hết các tàu frigate đang được tập hợp tại các hải đội ở Harwich và ở Scotland, làm cho vùng London chỉ được bảo vệ bởi một số nhỏ các tàu đang hoạt động, hầu hết trong số họ là chiến lợi phẩm trong cuộc chiến tranh trước đó Hà Lan. Như một biện pháp kinh tế – thắt chặt chi tiêu hơn nữa vào ngày 24 Tháng 3 Công tước của York đã ra lệnh giải tán hầu hết các thủy thủ của các tàu chiến lợi phẩm, chỉ để lại ba tàu ba bảo vệ Medway, để bồi thường cho thủy thủ đoàn của một trong số đó, tàu frigate Unity ( trước là chiếc Eendracht của Hà Lan, con tàu đầu tiên bị bắt giữ trong năm1665, là tàu cướp biển của Cornelis Evertsen) đã được nâng cấp từ 40- >60 súng, ngoài ra người Anh cũng có số tầu hỏa công fireship từ một đến ba chiếc. Còn có khoảng ba mươi chiếc sloop lớn đã được chuẩn bị để ngăn chặn bất kỳ tàu nào để đảm bảo an toàn trong trường hợp khẩn cấp. Sir William Coventry còn mạnh miệng tuyên bố rằng một cuộc đổ bộ của Hà Lan gần London là rất khó xảy, theo ông ta thì người Hà Lan để củng cố tinh thần của họ, sẽ khởi động một cuộc tấn công với một hạm đội có kích cỡ trung bình và tiếp cận với mục tiêu như Harwich, mà nơi đó đã được tăng cường mạnh mẽ trong mùa xuân. Không có dòng nào rõ ràng trong các lệnh tới hầu hết các cơ quan chịu trách nhiệm ra lệnh một cách vội vã mà không đòi hỏi phải phối hợp với chúng trước đã. Kết quả là có nhiều rắc rối. Charles đã không đưa vấn đề vào tay của chính mình, mà chiều theo chủ yếu là ý kiến của người khác. Người Anh có tinh thần thấp. Không có trả lương trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm cho hầu hết các thủy thủ và binh sĩ nên đã làm cho họ ít hơn nhiệt tình hơn so với nguy cơ đe dọa cuộc sống của họ. Anh chỉ có một đội quân nhỏ và các đơn vị có số ít được phân tán bởi vì ý định của Hà Lan là không rõ ràng. Điều này lý giải tại sao không có một biện pháp đối phó hiệu quả nào được đưa mặc dù người Hà Lan phải mất khoảng năm ngày để đến được Chatham, vì phải di chuyển chậm qua các bãi cát ngầm, để lại đằng sau những tầu chiến hạng nặng hơn như là một lực lượng yểm trợ. Họ chỉ có thể tiến lên khi nước thủy triều thuận lợi.

Sau khi nâng mức báo động vào ngày 06 tháng 6 tại xưởng đóng tầu Chatham , Ủy viên Peter Pett dường như không có lấy bất kỳ hành động nào hơn nữa cho đến ngày 09 tháng 6 khi vào cuối buổi chiều, một đội khoảng ba mươi tàu Hà Lan đã được nhìn thấy ở Thames ngoài khơi Sheerness. Vào lúc này, các Ủy viên ngay lập tức tìm cách giúp đỡ từ bộ Hải quân gửi một tin nhắn đầy bi quan đến Ban Hải quân, buồn phiền vì sự vắng mặt của quan chức cao cấp Hải quân và lời khuyên mà ông tin rằng ông cần có. Ba mươi tàu chính là những tầu trong hải đội tàu khu trục của Van Ghent. Hải đội tàu Hà Lan mang theo khoảng hơn một nghìn lính thủy quân lục chiến và các địa điểm để đổ bộ là Đảo Canvey ở Es*** và mặt đối diện với Kent tại Sheerness. Những người lính này đã nhận mệnh lệnh nghiêm ngặt từ Cornelis de Witt là không được cướp bóc, vì Hà Lan muốn làm người Anh xấu hổ vì quân đội đã cướp bóc Terschelling trong trận đột kích Holmes Bonfire tháng 8 năm 1666. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn của thuyền trưởng Jan van Brakel đã không thể kiểm soát bản thân mình. Họ bị đẩy lùi bởi dân quân Anh và bị đe dọa trừng phạt nghiêm trọng khi quay trở về hạm đội Hà Lan. Van Brakel được cho phép để chỉ huy cuộc tấn công ngày hôm sau để tránh bị phạt.

Nhà vua (Anh) ra lệnh cho Bá tước Oxford ngày 8 Tháng Sáu để huy động dân quân của tất cả các quận xung quanh London cùng tất cả các sà lan có thể sử dụng được để lập một cầu tàu trên thấp của sông Thames, vì vậy mà kỵ binh Anh có thể nhanh chóng chuyển đổi vị trí từ một trong bờ khác. Sir Edward Spragge, phó Đô đốc nổi tiếng, phát hiện thấy ngày 09 tháng 6 đội đột kích Hà Lan đã đến bờ của Isle of Grain (một bán đảo nơi sông Medway chảy qua từ Kent, và gặp sông Thames). Lính hỏa mai từ đồn trú ở đồn Sheerness đối diện được gửi đến để điều tra tình hình.

Vào buổi chiều Ngày 10 tháng 6 nhà vua Anh ra chỉ thị cho Đô đốc George Monck, Công tước của Albemarle đi đến Chatham để phụ trách các vấn đề an ninh và Đô đốc Prince Rupert tổ chức bảo vệ trặt trẽ tại Woolwich ba ngày sau đó. Đầu tiên Albermarle đi đến Gravesend nơi ông ta hoảng hồn khi phát hiện ra rằng ở Tilbury chỉ có một vài súng đã được chuẩn bị, quá ít để ngăn chặn người Hà Lan trước khi có thể đến được sông Thames. Để ngăn ngừa tai họa này, ông ra lệnh cho tất cả các khẩu pháo sẵn có từ thủ đô được chuyển đến vị trí tại Gravesend. Trong 11 Tháng 6 (Lịch cũ), ông đã đến Chatham và hy vọng rằng các nơi đã được chuẩn bị tốt cho một cuộc tấn công. Hai thành viên Hội đồng Hải quân, Sir John Mennes và Lord Henry Brouncker, đã đi cùng trong cùng một ngày. Khi Albemarle đến, tuy nhiên, ông chỉ tìm thấy mười hai trong tám trăm người của xưởng đóng tầu và nơi này đang trong trạng thái hoảng sợ; trong ba mươi chiếc sloop chỉ được chiếc xuất hiên, hai mươi khác được sử dụng để mang những tài sản cá nhân của một số sỹ quan đến chỗ an toàn , như con tàu hiện đại Pett. Không có thuốc súng và xích chuỗi để chặn cửa sông Medway được không được bảo vệ bởi các khẩu đội pháo. Ông ngay lập tức ra lệnh di chuyển pháo từ Gravesend đến Chatham, và việc này đã tốn mất một ngày quý giá.

Cuộc tấn công

Hạm đội Hà Lan đến đảo Sheppey vào ngày 10 tháng 6, và tổ chức một cuộc tấn công vào pháo đài chưa kịp chuẩn bị đầy đủ Sheerness Fort. Thuyền trưởng Jan van Brakel trên chiếc Vrede, theo sau là hai chiếc Man-of-war khác, càng tiến gần đến pháo đài cho tới khi có thể tấn công nó bằng đạn pháo. Sir Edward Spragge chỉ huy tất cả các tàu thuyền đang tại neo tại Medway và ngoài khơi Sheerness, nhưng chỉ có một con tàu có thể để chống lại được người Hà Lan là chiếc tàu khu trục Unity thì không được đóng ở gần pháo đài.

Chiếc Unity được hỗ trợ bởi một số tầu ketches và fireships tại Garrison Point, và do pháo đài, nơi mười sáu khẩu súng đã được đặt một cách vội vàng. Chiếc Unity bắn một loạt pháo mạn, nhưng sau đó, khi bị tấn công bởi một fireship của Hà Lan, nó rút lên phía sông Medway, theo sau là fireship và ketche của Anhs. Người Hà Lan bắn vào các pháo đài; hai đã Man-of-war bắn trúng. Sau đó bác sĩ phẫu thuật đã biến mất và hầu hết các binh sĩ đồn trú người Scotland đã bỏ chạy. chỉ còn bảy người ở lại giữ vị trí của họ, nên pháo đài trở nên không thê? ba?o vệ nổi khi 800 lính thủy đánh bộ Hà Lan đã đổ bộ ở khoảng một dặm cách đó. Với pháo đài Sheerness, toàn bộ số súng của nó bị chiếm bởi người Hà Lan và pháo đài bị cho nổ tung, Spragge trên chiếc du thuyền của ông là Henrietta tới đi dọc theo dòng sông tới Chatham. Trong thời gian diễn ra trận đánh bấy giờ nhiều sỹ quan tập trung vào đó: ngày hôm sau bản thân Spragge cùng với Monck và một vài người trong bộ trươ?ng ha?i quân. Tất cả mọi người đều đưa ra những chỉ thị hủy bỏ các mệnh lệnh trước để những người khác khỏi nhầm lẫn mà tiếp tục giữ nguyên vị trí.

Như đã nói pháo binh của ông không thể đến sớm, Monck trong ngày 11 ra lệnh cho một đội kỵ binh và một đại đội bộ binh đến để củng cố Upnor Castle. Sông được bảo vệ một cách vội vã với các tầu blockship bị đánh chìm, và các chuỗi xích bên kia sông được bảo vệ bởi các khẩu đội pháo hạng nhẹ. Pett đề xuất rằng một số tầu lớn và tàu nhỏ phải bị đánh chìm để chặn kênh Musselbank ở phía trước của chuỗi xích. Bằng cách này, các tàu lớn HMS Golden Phoenix và HMS House of Sweden (cựu Tàu VOC Gulden Phenix và Huis van Swieten) và HMS Welcome và HMS Leicester và và các tầu nhỏ Constant John, Unicorn và John và Sarah đã bị đánh đắm; Khi việc đo độ sâu của một kênh thứ hai được thực hiện bởi cá nhân Spragge, bất chấp sự bảo đảm bởi Pett, cho thấy là không đủ, họ tiếp tục đánh dắm chiến Barbados Merchant, Dolphin, Edward và Eve, Hind và Fortune. Và như vậy những tàu chiến đầu tiên làm nhiệm vụ phòng thủ đã được sử dụng (vào việc đánh chìm để chặn quân địch), bởi vì về cơ bản là không có đủ thủy thủ đoàn cho chúng (các tầu chiến Anh). Những blockships được đặt khá dày đặc ở một vị trí trên tuyến đường Upchurch — Stoke và không thể bị phá hủy bởi pháo kích. Monck sau đó quyết định đánh chìm vài tàu ở của ra vào Upnor Reach gần Upnor Castle, tạo ra một rào cản đối với người Hà Lan khi họ vượt qua chuỗi xích ở Gillingham. Chuỗi xích phòng thủ được đặt ở điểm thấp nhất bên kia sông, thực tế ở khoảng chín feet (khoảng ba mét) dưới mực nước giữa các đoạn của nó và do trọng lượng của nó, vì vậy vẫn có thể cho phép các tàu hạng nhẹ vượt qua. Người ta đã được cố gắng để nâng cao nó (chuỗi xích) bằng cách kéo các đoạn dưới nó về gần với bờ biển.

Vị trí của các tầu Charles V và Matthias (tầu buôn cũ của Hà Lan Carolus Quintus và Geldersche Ruyter), ngay trên chuỗi xích đã được điều chỉnh để giúp chúng sử dụng các pháo mạn mà chúng có. Chiếc Monmouth cũng được thả neo trên chuỗi xích, ở vị trí để nó thể nổ súng vào khoảng không gian giữa chiếc Charles V và Matthias. Các tàu khu trục nhỏ Marmaduke và Norway Merchant bị đánh chìm phía ngoài chuỗi xích; chiếc tầu lớn Sancta Maria ( tàu VOC cũ Khe van Honingen có 70 pháo) tạo đội hình trong khi khi chuyển cho cùng một mục đích. Pett cũng thông báo cho Monck rằng chiếc Royal Charles đã được chuyển ngược sông. Ông đã được lệnh của Công tước của York vào ngày 27 Tháng Ba để làm việc này, nhưng chưa tuân theo lệnh. Monck lúc đầu tiên từ chối để cung cấp một số lượng nhỏ tầu sloop vì chúng là cần thiết để di chuyển nguồn cung cấp; khi cuối cùng ông thấy rằng thuyền trưởng của chiếc Matthias sẵn sàng hỗ trợ, Pett trả lời rằng lúc này đã quá muộn vì ông ta đang bận rộn để đánh chìm blockship ở phía ngoài và đồng thời cũng không có hoa tiêu đủ táo bạo để chấp rủi ro như vậy. Trong khi đó, các tàu khu trục đầu tiên của Hà Lan đã bắt đầu di chuyển đến chỗ các chiếc Edward và Eve, và chiếm một con kênh vào trước lúc hoàng hôn.

Đội củaVan Ghent bây giờ đi ngược sông Medway và ngày Ngày 12 tháng 6 tấn công tuyến phòng thủ của Anh tại chuỗi xích. Đầu tiên chiếc Unity bị tấn công bởi Van Brakel. Sau đó, chiếc fireship Pro Patria dưới sự chỉ huy Jan Daniëlsz van Rijn đã phá vỡ qua chuỗi xích (hoặc đi thuyền qua nó theo một số nhà sử học), các tuyến phòng thủ trong đó đã ngay lập tức bị phá hủy bởi các kỹ sư Hà Lan dưới sự chỉ huy của Chuẩn đô đốc David Vlugh. Sau khi tiêu diệt chiếc Matthias đạn pháo. Các tầu fireships Catharina và Schiedam tấn công chiếc Charles V, chiếc Catharina dưới sự chỉ huy Hendrik Hendriksz bị đánh chìm bởi pháo bờ biển nhưng chiếc Schiedam dưới sự chỉ huy Gerrit Andriesz Mak đã thành công trong việc đốt cháy chiếc Charles V, thủy thủ đoàn của chiếc này bị bắt bởi Van Brakel. Chiếc Royal Charles chỉ với ba mươi khẩu pháo trên tàu và thủy thủ đoàn đã bỏ chạy khỏi bộ khung của nó khi họ nhìn thấy chiếc Matthias bị đốt cháy, sau đó nó (chiếc tầu) đã bị bắt bởi Thomas Irishman Tobiasz thuyền trưởng kỳ hạm của Phó Đô đốc Johan de Liefde, và mang về Hà Lan dù họ gặp thủy triều bất lợi. Chỉ có chiếc Monmouth chạy thoát. Khi Monck thấy thảm họa này ông ta ra lệnh cho đánh đắm tất cả 16 chiếc tàu chiến còn lại để ngăn chúng khỏi bị bắt, làm cho tổng số khoảng ba mươi chiếc tầu cố ý bị đánh chìm bởi chính người Anh.

Ngày hôm sau, ngày 13 tháng 6, toàn bộ mặt sông Thames cũng như ở London chìm trong một cơn hoảng loạn – một số tin đồn lây lan rằng tầu Hà Lan đang trong quá trình vận chuyển quân đội Pháp từ Dunkirk để cho một cuộc xâm lược quy mô – và nhiều công dân giàu có đã bỏ chạy khỏi thành phố, lấy tài sản của họ có giá trị nhất với họ. Người Hà Lan tiếp tục tiến lên phía trước và họ vào bến cảng Chatham với các tầu fireship Delft, Rotterdam, Draak, Wapen van Londen, Gouden Appel và Princess dưới làn đạn của người Anh từ lâu đài Upnor và từ ba khẩu đội pháo bờ biển. Một số tàu khu trục Hà Lan dập tắt hỏa lực của người Anh, và chịu thương vong khoảng bốn mươi người chết và bị thương. Ba trong số những chiếc tầu tốt nhất và hạng nặng nhất của hải quân Anh, đã đánh chìm để ngăn việc bị bắt giữ, bây giờ lại tiếp tục ăn đạn (chắc là chỗ này nước nông nên tuy bị đánh chìm nhưng tầu vẫn nửa chìm nửa nổi): đầu tiên là chiếc Loyal London, bị đốt cháy bởi chiếc Rotterdam dưới sự chỉ huy Cornelis Jacobsz van der Hoeven, sau đó là chiếc Royal James và cuối cùng là chiếc Royal Oak, nỗ lực trụ lại của hai fireship (của Anh) nhưng bị đốt cháy bởi chiếc thứ ba (của Hà Lan). Thủy thủ đoàn của Anh bỏ rơi con các tàu của họ(lúc này) đã ngập nước đến một nửa, chủ yếu là trong một cuộc giao chiến nào, có một ngoại lệ đáng chú ý là đại úy Archibald Douglas, của lực lượng bộ binh Scotlan, đã từ chối bỏ chạy khỏi chiếc Oak và chết trong ngọn lửa (các tầu chiến vẫn có bộ binh đi kèm để chiến đấu cận chiến ?” chắc bác nì không biết bơi ). Chếc Monmouth một lần nữa trốn thoát (phải đổi tên là chạch). Cuộc tấn này, làm phí tổn bốn trong tám tàu còn lại của người Anh với hơn 75 khẩu pháo. Ba trong bốn “tàu vĩ đại ?” trên 1.000 tấn” nhất của hải quân Anh đã tiêu. Chiếc “tàu vĩ đại” Royal Sovereign (tên cũ HMS Sovereign of the Seas đóng lại như một tầu hai tầng pháo), còn nguyên donó đang ở tại Portsmouth vào lúc đó (chả khác trận Trân Châu Cảng là mấy các bác nhề). De Ruyter lúc bây giờ mới gia nhập vào hải đội Van Ghent.

Người Hà Lan rút lui

Có lẽ vì ông ta lo sợ có một sự kháng cự dai dẳng của người Anh, Cornelis de Witt vào ngày 14 tháng 6 đã từ bỏ một quyết định đột kích sâu hơn nữa và thu hồi, kéo chiếc Royal Charles đi cùng như là một chiến lợi phẩm; chiếc Unity cũng được mang về như là một giải thưởng cho các thủy thủ đoàn. Quyết định đánh đắm một cách an toàn ở ngoài khơi các tầu HMS Royal Katherine, HMS Unicorn, HMS Victory và HMS St George. Tuy nhiên các đội phá hủy của Hà Lan vào ngày đó nhảy lên bất cứ con tàu nào mà họ có thể tiếp cận để đốt cháy nhiều như họ có thể làm, vì việc này bảo đảm tiền thưởng của họ. Bấy giờ một con tầu còn lại ở bến cảng thì cũng không ai biết chắc chắn rằng nó là phần còn lại của chiếc Oak, James và London, do bị cháy tai nạn như chiếc Slot van Honingen, Mặc dù người ta đã dự định để cứu hộ chiếc tầu buôn này. Bây giờ các làng của Anh lại bị cướp phá – bởi chính quân đội của họ. Hạm đội Hà Lan, sau khi kỷ niệm tập thể cám ơn Chúa cho “một chiến thắng lớn trong một cuộc chiến tranh chỉ để tự vệ” (hơ hơ người Anh theo đạo Tin lành mà người Hà lan cũng theo đạo Tin lành – > Chúa đứng về phía bên nào?) sau đó họ đã cố gắng để lặp lại sự thành công của mình bằng cách tấn công một số cảng khác trên bờ biển phía đông của Anh nhưng bị đẩy lùi theo mỗi lần tấn công. Ngày 27 tháng 6 một cố gắng để tiến vào sông Thames từ phía ngoài khơi Gravesend đã bị hủy bỏ bởi họ biết rằng con sông này đã bị chặn bởi các tầu blockships và năm tầu fireship đang chờ đợi cuộc tấn công của người Hà Lan. Ngày 02 tháng 7 là một lực lượng hải quân Hà Lan đổ bộ tại Woodbridge gần Harwich và ngăn chặn thành công việc người Anh tăng cường cho pháo đài Landguard Fort bằng một cuộc tấn công trực tiếp vào pháo đài với 1.500 thủy quân lục chiến và họ đã dập tắt sự kháng cự của các lực lương đồn trú. Vào ngày 03 tháng bảy một cuộc tấn công vào vịnh Osleybay đã thất bại. vào ngày 21 tháng 7 Lịch hòa bình đã được ký kết.

Tuy nhiên Samuel Pepys vẫn ghi trong nhật ký của mình vào ngày 17 tháng 7 1667: “Các tầu Hà Lan trong hạm đội chính của họ vẫn ở khắp mọi nơi trong khoảng từ Harwich, đến gần Portsmouth; và chữ cái cuối nói ở Plymouth, và bây giờ họ kéo đến Dartmouth để tiêu diệt hạm đội của chúng tôi gần đây tại chỗ này hoặc chỗ kia; nhưng chỉ Chúa mới biết liệu họ có thể làm được điều đó hay không, nhưng thông tin thì loang ra quá nhanh rằng các đội tàu Hà Lan xuất hiện ở quá nhiều nơi, làn Ngài W. Batten phải đập bàn và kêu lên, vì Chúa, Tôi nghĩ rằng bọn Hà Lan là một lũ Quỷ sứ ??

Hậu quả

Nhân viên ở cầu tầu John Norman ước tính thiệt hại do cuộc đột kích là khoảng , 20.000 chưa tính những chi phí để thay thế cho bốn tàu vốn đã bị mất; những thiệt hại hoàn toàn của Hải quân Hoàng gia phải tính gần đến 200.000 ,. Pett thực hiện một chạy chốn cùng với £ 5.000 trong văn phòng của ông ta, những người khác trước đó bỏ qua lời cảnh báo của ông ta rằng sẽ trị tội bất cứ sự bỏ chốn nào và họ lặng lẽ trốn thoát. Các chiếc Royal James, Oak và chiếc Loyal London cuối cùng được vớt và đóng lại, nhưng với chi phí rất lớn; trong khi London từ chối chia sẻ gánh nặng này, Charles đã đổi tên con tàu sau này thành đơn giản là London. Trong một vài năm sau đó hạm đội Hà Lan trở thành hạm đội mạnh nhất thế giới, nhưng khoảng năm 1670 một chương trình đóng mới đã làm cho Hải quân Anh phục hồi được quyền lực trước đây của nó.

Trận đột kích vào Medway là một đòn nghiêm trọng đến danh tiếng của Hoàng Gia Anh. Cá nhân Charles cảm thấy bị xúc phạm bởi thực tế của Hà Lan đã tấn công, trong khi ông đặt hạm đội của mình ở các cầu tầu và các cuộc đàm phán hòa bình đang được thảo luận liên tục. Sự tức giận của ông ta là một trong những nguyên nhân của cuộc chiến lần thứ ba Anh-Hà Lan và nó thúc đẩy ông ta tham gia vào Hiệp ước Dover với Louis XIV của Pháp.

Tổng thiệt hại cho người Hà Lan là tám tầu fireship và chỉ có khoảng năm mươi thương vong. Trong khắp Cộng hòa Hà Lan dân chúng hân hoan sau chiến thắng này, nhiều lễ hội được tổ chức, lặp đi lặp lại cho tới khi hạm đội quay trở lại vào tháng mười, các đô đốc được ca ngợi là các anh hùng. Họ được thưởng bằng hàng đống lời tán dương và dây chuyền vàng danh dự và lương hưu của Thống đốc các tỉnh và các tổng đốc, De Ruyter, Cornelis de Witt và Van Ghent được vinh dự của quý cốc rựu lễ mạ vàng, mô tả lại các sự kiện. Cornelis de Witt đã có một bức tranh lớn “Sea Triumph”, với hình của ông ta như là chủ đề chính, được hiển thị trong tòa thị sảnh của Dort. Việc kỷ niệm chiến thắng kiểu này của phe De Witt Hà Lan gây phẫn nộ cho phe Orangist đối thủ, khi chế độ Cộng hòa Hà Lan bị mất quyền lực của mình ở sự kiên rampjaar 1672 (tuyển hầu Bavaria, nước Anh và chủ yếu là nước Pháp chiếm được Hà Lan trong chiến tranh kế vị vua Tây Ban Nha), đầu của Cornelis được vẽ trong bức tranh đã bị xóa và sau khi Charles (vua Anh) đã cho một số thái độ giận dữ bức tranh đã được gỡ bỏ.

Chiếc Royal Charles, rất khó để nó sử dụng trong vùng nước cạn Hà Lan, và nó đã nằm vĩnh viễn ở xưởng đóngb tầu Hellevoetsluis như là một điểm du lịch, cho những chuyến đi trong ngày được tổ chức cho các đoàn lớn, thường là khách nước ngoài; sau các phản đối của Charles rằng điều này xúc phạm danh dự của ông ta, các chuyến đi chính thức được kết thúc và Royal Charles cuối cùng đã được tháo dỡ trong 1672; nhưng trong hầm rượu của Rijksmuseum Amsterdam là một phần của chiếc Huy hiệu với con Sư tử và Unicorn và dòng chữ Dieu et mon droit vẫn còn được trưng bày.

Trận hải chiến bên bờ sông Nile

Battle_of_the_Nile_PW4704

Ngày 1-3 tháng 8 năm 1798
Vị trí Vịnh Aboukir , Ai Cập
Kết quả Anh chiến thắng quyết định
Các bên tham chiến
Vương quốc Anh
Chỉ huy
Sir Horatio Nelson
Sức mạnh
13 tàu tiền tuyến, 1 tầu hạng tư
một thông báo hạm
Thương vong và thiệt hại
218 người chết,
677 người bị thương
Cộng hòa Pháp
Chỉ huy
François-Paul Brueys
DAigalliers ?
Sức mạnh
13 tàu của dòng, 4 tàu khu trục
Thương vong và thiệt hại
2 tàu tiền tuyến bị phá hủy
9 tàu tiền tuyến bị bắt
2 tàu khu trục bị phá hủy
khoảng 3.000 thương vong

Trận sông Nile Là một trận hải chiến lớn giữa giữa hai đội Anh và Pháp tại Aboukir Bay ở Địa Trung Hải bờ biển Ai Cập t ừ ng ày 1-3 tháng 8 năm 1798. Trận đánh là đỉnh cao của một chiến dịch hải quân trải dài trên khắp vùng Địa Trung Hải trong thời gian ba tháng trước đó, khi một đoàn lớn khởi hành từ ToulonPháp tới Alexandria mang theo một lực lượng viễn chinh Pháp dưới sự chỉ huy của tướng Pháp Napoléon Bonaparte. Bonaparte đã tìm cách xâm lược Ai Cập như là bước đầu tiên trong một chiến dịch chống lại thuộc địa Anh ở Ấn Độ trong một nỗ lực để đẩy nước Anh ra khỏi cuộc Chiến tranh cách mạng Pháp. Khi hạm đội của Bonaparte vượt Địa Trung Hải, nó đã bị theo đuổi bởi một hạm đội Anh dưới sự chỉ huy của Chuẩn đô đốc Sir Horatio Nelson, (hạm đội này ) được gửi từ các hạm đội Anh tại sông Tagus (Bồ Đào Nha ?” Đồng minh của Anh)để thiết lập mục đích của chuyến viễn chinh Pháp và đánh bại nó. Trong hơn hai tháng Nelson đuổi những tầu Pháp, trong một số dịp lỡ không bắt được chúng do vấn đề của thời gian. Bonaparte, nhận thức được sự theo đuổi của Nelson, đã giữ bí mật tuyệt đối về đích đến của mình và đã chiếm được Malta và đổ bộ xuốngAi Cập mà không bị đánh chặn bởi lực lượng Anh.

Sau khi quân đội Pháp đổ bộ thành công lên bờ, hạm đội neo tại Vịnh Aboukir, một vị trí đóng quân cách 20 dặm (32 km) về phía đông bắc của Alexandria, và chỉ huy của nó (hạm đội Pháp) là Phó Đô đốc François-Paul Brueys DAigalliers, người ta tin rằng đó là một vị trí phòng thủ ghê gớm. Khi hạm đội của Nelson đến ngoài khơi Alexandria ngày 1 tháng 8, ông đã ra lệnh cho một cuộc tấn công ngay lập tức và tàu của ông tiến trên dòng tầu Pháp. Khi họ đến gần, họ chia thành hai đơn vị, một trong số đó cắt ngang qua đầu của dòng này và đi xuyên qua giữa các tầu Pháp đang neo và bờ biển trong khi đơn vị kia tiếp xúc về hướng biển của đội hình tuyến của Pháp. Bị mắc kẹt trong một CrossFire, các tàu hàng đầu của Pháp bị t ấn công cho đến khi phải đầu hàng trong một trận chiến ác liệt ba giờ, trong khi đội hình trung tâm đã có thể thành công trong việc đẩy lui cuộc tấn công ban đầu của tầu Anh. Khi quân tiếp viện Anh đến, đội hình trung tâm đẩy lùi đến cuộc tấn công mới và lúc 22:00 kỳ hạm Pháp Phương Đông (Orient) phát nổ. Với việc Brueys chết và đội tiên phong cũng như đội hình trung tâm của ông bị đánh bại, các bộ phận phía sau của hạm đội Pháp đã cố gắng thoát ra khỏi vịnh, nhưng cuối cùng chỉ có hai tàu tiền tuyến và hai tàu khu trục (frigate) chạy thoát trong tổng số là 17 tàu.

Trận chiến đảo ngược tình hình chiến lược trong vùng Địa Trung Hải, cho phép Hải quân Hoàng gia Anh khẳng định vị trí thống trị nó cho phần còn lại của cuộc chiến. Nó cũng khuyến khích các nước châu Âu khác quay ra chống Pháp, và là một nhân tố trong sự bùng nổ của Liên minh thứ hai. Đội quân của Bonaparte bị kẹt tại Ai Cập, và sự thống trị của Hải quân Hoàng gia ngoài khơi bờ biển Syria đã đóng góp đáng kể vào thất bại của quân Pháp tại cuộc vây hãm Acre năm 1799 trở về trước chuyến trở lại châu Âu của Bonaparte. Nelson, người đã bị thương trong trận đánh, đã được tuyên bố là một anh hùng và trở thành L ord Nelson, mặc dù cá nhân ông lại không hài lòng với phần thưởng của mình. Thuyền trưởng của ông cũng được tán dương, và sẽ tạo thành hạt nhân của huyền thoại tình huynh đệ nhà Nelson.

Bối cảnh chung của trận đánh

Trận chiến sông Nile đến từ kết quả của các Chiến dịch của Napoleon tại Ai Cập, một cuộc xâm lược lớn vào Ai Cập trung lập kiểm soát bởi Ottoman ằng một đội quân Pháp theo sự chỉ huy của Napoléon Bonaparte. Người Pháp đã phát động các chiến dịch trong một nỗ lực nhằm thiết lập sự hiện diện thường trú của họ ở Trung Đông và cắt đứt chuỗi giao tiếp mà chúng kết nối Anh – một trong những đối phương chủ yếu còn lại của Pháp trong Chiến tranh cách mạng Pháp – với thuộc địa Anh ở Ấn Độ. Ấn Độ là một phần thiết yếu của Đế quốc Anh: Các liên kết thương mại đã tạo ra sự giàu có cho nước Anh yêu cầu phải theo đuổi các cuộc chiến tranh cho tới khi thành công. Bonaparte tin rằng bằng cách thiết lập một thuộc địa thường trú tại Ai Cập ng ười Pháp có thể sử dụng quốc gia này như là một điểm bắt đầu cho các chiến dịch trong tương lai đối với Ấn Độ, và khi thành công có thể đẩy Anh khỏi chiến tranh. Hội đồng Đốc chính Pháp đồng ý với kế hoạch của Bonaparte, mặc dù một nhân tố chính trong quyết định của họ là một mong muốn để đẩy Bonaparte, một chính khách đầy tham vọng và quyết liệt cùng với các cựu chiến binh trung thành từ các chiến dịch tại nước Ý của ông ra càng xa nước Pháp càng tốt.

Khi Liên minh thứ nhất kết thúc vào năm 1797 sau chiến thắng của Bonaparte với Đế quốc Áo ở miền Bắc Ý, nước Anh vẫn đang là một quốc gia có quyền lực lớn tại châu Âu và đang có chiến tranh với Cộng hòa Pháp. Hội đồng Đốc chính Pháp tiến hành nhiều chiến thuật khác nhau để bắt buộc người Anh phải chấp nhận hòa bình, bao gồm dự định các cuộc xâm lược vào Ai-len và nước Anh, và việc mở rộng của Hải quân Pháp thách thức sức mạnh của Anh ở trên biển. Bất chấp những nỗ lực đáng kể đó, người Anh kiểm soát vùng biển Bắc Âu để đáp lại những tham vọng không thực tế trong ngắn hạn. Tuy vậy, trong khi người Anh vẫn vững chắc trong việc kiểm soát của Đại Tây Dương, Hải quân Pháp đã chiếm ưu thế trong Địa Trung Hải. Sau tuyên bố chiến tranh giữa Anh và Tây Ban Nha, Hải quân Hoàng gia rút khỏi Eo biển Gibraltar năm 1796. Quyết định này cho phép Bonaparte đề xuất cuộc xâm lược vào Ai Cập như một cách thay thế để đối đầu trực tiếp với ng ười Anh, ông ta tin rằng họ (người Anh) sẽ quá phân tâm bởi một cuộc nổi dậy sắp xảy ra ở Ailen nên không thể can thiệp tại Địa Trung Hải. Trong suốt mùa xuân năm 1798, Bonaparte đã tập hợp trên 35.000 binh sĩ ở Địa Trung Hải thuộc vùng của Pháp và Ý, và phát triển một hạm đội mạnh tại Toulon. Ông cũng thành lập Commission des Sciences et des Arts, Một cơ chế của các nhà khoa học và kỹ sư cho mục đích thành lập các thuộc địa Pháp tại Ai Cập. Các điểm đến của đoàn thám hiểm đã được giữ bí mật hàng đầu; phần lớn các sĩ quan quân đội đã không biết các mục tiêu sẽ đến của mình, và tự Bonaparte đã không tiết lộ công khai mục tiêu của mình cho đến giai đoạn đầu tiên của đoàn viễn chinh được hoàn tất.

Chiến dịch Địa Trung Hải

Hạm đội Armada của Bonaparte khởi hành vào ngày 19 Tháng Năm 1798, rời Toulon và tiến nhanh chóng xuyên qua Biển Ligure, thu thập thêm tàu bè tại Genoa và dương buồm về phía nam dọc theo bờ biển Sardinia, qua Sicily ngày 07 tháng sáu. Ngày 9 tháng 6 hạm đội đến ngoài khơi Malta, đây thuộc sở hữu của các hiệp sỹ thánh St John của Jerusalem, cai trị bởi Ferdinand von Hompesch zu Bolheim. Bonaparte yêu cầu hạm đội của ông được phép đi vào cảng đã được phòng bị Valetta, và yêu cầu bị từ chối người Pháp phản ứng bằng cách mở một cuộc xâm lược quy mô lớn vào quần đảo Malta, nhanh chóng đè bẹp lực lượng phòng thủ sau 24 giờ chiến đấu. Các hiệp chính thức đầu hàng vào ngày 12 tháng sáu và để đổi lấy tiền đền bù tài chính đáng kể và chuyển giao các đảo cùng tất cả các nguồn lực của họ cho Bonaparte, bao gồm cả các tài sản rộng lớn của Giáo hội Công giáo La Mã trên đảo Malta. Trong vòng một tuần Bonaparte đã cung cấp đầy đủ cho tàu của ông, và ngày 19 tháng 6 hạm đội của ông ta rời đến Alexandria theo hướng Crete, Để lại 4.000 lính ở Valetta để đảm bảo quyền kiểm soát của Pháp tại các đảo.

Trong khi Bonaparte dương buồm đến Malta, Hải quân Hoàng gia (Anh) đã thâm nhập trở lại Địa Trung Hải lần đầu tiên sau hơn một năm. Bị báo động bởi các báo cáo bởi công tác chuẩn bị của người Pháp trên bờ biển Địa Trung Hải, Lord Spencer tại bộ hải quân gửi thư đến cho Phó Đô đốc Earl St Vincent, Chỉ huy của Hạm đội Địa Trung Hải trụ sở tại sông Tagus, mau lẹ điều một hải đội để đi điều tra. Hải đội này gồm ba tàu tiền tuyến và ba tàu khu trục, được giao phó cho Chuẩn đô đốc Sir Horatio Nelson. Nelson là một viên chức rất thành công người đã bị mù trong một mắt trong thời gian chiến đấu tại Corse vào năm 1794, đã nhận được khen thưởng của mình cho việc bắt sống hai tàu tiền tuyến của Tây Ban Nha tại trận Cape St Vincent trong tháng 2 năm 1797 nhưng sau đó lại bị mất một cánh tay tại Trận Santa Cruz de Tenerife trong tháng 7 năm 1797. Trở về với đội tàu tại Tagus vào cuối tháng tư, ông đã nhận lệnh thu thập hải đội tại Gibraltar và căng buồm tới vùng biển Ligure. Vào ngày 21 tháng Năm, Hải đội của Nelson tiếp cận Toulon, và nó đã bị đánh tơi bời bởi một cơn bão khốc liệt và chiếc kỳ hạm của Nelson HMS Vanguard mất chiếc cột buồm của nó và gần như bị đắm tại bờ biển Corsica. Hải đội nằm rải rác, các tàu tiền tuyến tạm nằm tại San Pietro Island ngoài khơi Sardinia, trong khi các tàu khu trục bị thổi về phía tây và không quay lại được.

Ngày 07 Tháng 6, sau sửa chữa vội vã kỳ hạm của mình, Nelson quay lại ngoài khơi Toulon với một đội mười tàu tiền tuyến và một tàu hạng tư. Hạm đội dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Thomas Troubridge, và được gửi từ Earl St Vincent để củng cố cho lực lượng của Nelson với các mệnh lệnh là ông phải theo đuổi đoàn Toulon và ngăn chặn nó. Mặc dù bây giờ đã có tàu, đủ để thách thức hạm đội Pháp, Nelson lại còn có hai nhược điểm quan trọng: ông không có tình báo về đích đến của Pháp, và không có các tàu khu trục để chạy phía trước các lực lượng của ông. Chạy thẳng về phía nam với hy vọng thu thập thông tin về các chiến dịch của người Pháp, tàu c ủa Nelson dừng lại tại Elba và Napoli, nơi mà đại sứ Anh Sir William Hamilton thông báo rằng hạm đội Pháp đã đi qua Sicily theo hướng Malta. Ngày 22 Tháng 6, Nelson gặp phải một thuyền hai buồm brig từ Ragusa và được biết, Pháp đã cho tàu từ Malta đi về phía đông, ngày 16 tháng Sáu. Sau khi xác nhận với thuyền trưởng của mình, đô đốc quyết định rằng mục tiêu của Pháp phải là Ai Cập và quyết định theo đuổi. Tin tưởng một cách không chính xác rằng ng ười Pháp đã đi được năm ngày trước đó chứ không phải là hai ngày, Nelson quyết định đi theo một đường thẳng trực tiếp tới Alexandria mà không có độ lệch nào.

Tối ngày 22 Tháng 6, hạm đội của Nelson vượt qua hạm đội Pháp trong bóng tối, vượt qua những đoàn tầu chở đạo quân xâm lược bơi chậm mà không có một người nào trong hai bên nhận ra họ gần với nhau như thế nào. Đi rất nhanh vì vận động theo một đường thẳng, Nelson đến Alexandria ngày 28 tháng 6 và phát hiện ra rằng không có người Pháp ở đó. Sau khi có một cuộc họp với chỉ huy cao cấp của đế quốc Ottoman Sayyid Muhammad Kurayyim, Nelson ra lệnh cho hạm đội Anh đi về phía bắc, tiếp cận bờ biển Anatolia ngày 04 tháng 7 và quay về phía tây quay trở lại Sicily. Nelson bị mất dấu người Pháp bởi đi ít hơn một ngày, những tầu trinh sát của hạm đội Pháp khi đến ngoài khơi Alexandria vào tối ngày 29 tháng 6. Lo lắng bởi có thể có sự chạm trán bất thình lình giữa hạm đội của ông với Nelson, Bonaparte ra lệnh cho một cuộc xâm lược ngay lập tức, quân đội của ông cập bờ bởi yếu kém trong việc điều khiển hoạt động tiếp đất làm ít nhất 20 người bị chết đuối. Tập hợp dọc theo bờ biển, quân đội Pháp xông đến Alexandria và chiếm thành phố, Bonaparte sau đó chỉ huy các lực lượng chính của quân đội của ông ta trong nội địa. Tư lệnh hải quân của ông ta, phó Đô đốc François-Paul Brueys DAigalliers, thả neo tại cảng Alexandria, nhưng khảo sát hải quân báo cáo rằng các kênh vào bến cảng đã quá nông cạn và hẹp cho các tàu lớn của hạm đội Pháp. Kết quả là một neo đậu thay thế tại Vịnh Aboukir đã được chọn, cách 20 dặm (32 km) về phía đông bắc của Alexandria.

Đội tàu của Nelson đến Syracuse Sicily vào ngày 19 tháng bảy và lấy các nguồn cung cấp thiết yếu. Nelson đã viết bức thư mô tả những sự kiện của các tháng trước: “Đó là một kiểu nói cổ xưa rằng,” Devil trẻ thường có may mắn của Devil “Tôi không thể tìm thấy, tại thời điểm này, ngoài những phỏng đoán mơ hồ, nơi Hạm đội Pháp đang đi.. Mọi tài sản ốm yếu của tôi, hiện nay, đã bắt nguồn từ việc muốn có các tàu khu trục (frigate). ” Vào ngày 24 tháng 7 hạm đội của ông đã được tăng cường hàng tiếp liệu và, đã xác định được người Pháp phải có một nơi nào đó tại phía Đông Địa Trung Hải, Nelson khởi hành trở lại theo hướng Morea. Ngày 28 tháng 7 tại Coron, thông tin cuối cùng đã thu được qua các mô tả các cuộc tấn công của Pháp vào Ai Cập và Nelson chuyển về phía nam, các tầu trinh sát của ông ta chiếc HMS Alexander và HMS Swiftsure phát hiện các đội tàu vận tải Pháp tại Alexandria vào chiều ngày 01 tháng 8.

Vịnh Aboukir Bay

Khi thấy bến cảng Alexandria không đủ sâu cho hạm đội của mình, Brueys đã tập hợp các thuyền trưởng của mình và thảo luận về lựa chọn của họ. Bonaparte ra lệnh cho hạm đội neo ở Aboukir Vịnh, một neo cạn và chống chải, nhưng có bổ sung các mệnh lệnh với đề nghị rằng nếu Brueys thấy vịnh Aboukir quá nguy hiểm thì có thể đi thuyền về phía bắc tới Corfu, chỉ để lại tầu vận tải và một số tàu chiến nhẹ tại Alexandria. Brueys từ chối, với niềm tin rằng hạm đội của ông có thể cung cấp hỗ trợ cần thiết cho quân đội Pháp trên bờ biển, và cho gọi các thuyền trưởng của ông trên boong chiếc tàu 120 súng kỳ hạm Phương Đông để thảo luận về việc phản ứng như thế nào nếu Nelson tìm ra các đội tàu tại nơi neo đậu của nó. Bất chấp sự phản đối cao giọng của Chuẩn đô đốc Armand Blanquet, người nhấn mạnh rằng hạm đội tốt nhất có thể đáp trả (quân Anh) trong vùng nước mở, các thuyền trưởng đều nhất trí rằng neo đậu trong một tuyến chiến đấu bên trong vịnh sẽ tạo ra một hoả lực mạnh để đối phó với Nelson. Có thể là Bonaparte dự tính cho các tầu thả neo để tạo một căn cứ tạm thời, trong ngày 27 Tháng bảy, ông bày tỏ sự kỳ vọng rằng Brueys sẽ chuyển tới Alexandria và ba ngày sau đó đã ban hành lệnh cho các đội tàu sửa soạn tới Corfu để chuẩn bị cho các hoạt động của hải quân chống lại các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman trong vùng Balkan.

Vịnh Aboukir là một chỗ thụt vào ở ven biển dài 16 hải lý (30 km), kéo qua từ làng Abu Qir phía tây đến thị trấn Rosetta ở phía Đông, nơi mà một trong những cửa của con Sông Nile chảy vào Địa Trung Hải. Năm 1798 vịnh được bảo vệ ở cuối phía tây của nó bằng các bãi cát ngầm rộng chạy dài 3 dặm (4,8 km) vào vịnh từ một doi đất được phòng vệ bởi lâu đài Aboukir. Những bãi cát ngầm cũng đã được bảo vệ bởi một pháo đài nhỏ nằm trên một hòn đảo giữa các tảng đá. Pháo đài này được đồn trú bởi lính Pháp và trang bị ít nhất bốn khẩu pháo và hai khẩu cối hạng nặng. Brueys đã tăng cường cho các đồn với tàu phóng bom và pháo hạm, được buông neo ở phía các tảng đá ở phía tây của hòn đảo ở một vị trí để cung cấp hỗ trợ cho chiếc tầu đứng đầu đội hình tuyến của Pháp. Các bãi cát ngầm chạy không đều ở phía nam của đảo và mở rộng trên vịnh biển và trong một hình bán nguyệt khoảng 1.650 yard (1.510 m) từ bờ biển. Những bãi cát ngầm quá cạn để cho phép các tàu chiến lớn hơn đi qua, do đó Brueys đã ra lệnh mười ba tàu của ông lập đội hình thành một tuyến của trận đánh sau rìa đông bắc của bãi cát ngầm ở phía nam của đảo, một vị trí cho phép các tàu để lấy nguồn cung cấp từ phía cảng của họ trong khi kiểm soát cả việc đổ bộ với pháo mạn phải của họ. Một tuyến thứ hai bên trong bốn tàu khu trục được bố trí khoảng 350 yards (320 m) ở phía tây của tuyến chính, khoảng nằm giữa đội hình chiến đấu và bãi cát ngầm. Các tầu tiên phong của Pháp được chỉ huy bởi chiếc Guerrier, được định vị ở khoảng 2.400 yards (2.200 m) phía đông nam của đảo Aboukir và khoảng 1.000 yards (910 m) từ các cạnh của bãi cát ngầm bao quanh các hòn đảo. Đội hình tuyến sau đó kéo dài về phía đông nam với trung tâm hướng mũi ra phía biển từ bãi cát ngầm. Các tàu chiến của Pháp có khoảng cách với nhau khoảng 160 yards (150 m) và toàn bộ đội hình tuyến kéo dài 2.850 yards (2.610 m), với kỳ hạm Phương Đông ở trung tâm và hai tàu lớn 80-gun, neo ở hai bên. Đội hậu quân của đội hình này dưới sự chỉ huy của Chuẩn đô đốc Pierre-Charles Villeneuve trong chiếc Guillaume Tell.

Bằng việc triển khai các tàu của mình theo cách này, Brueys hy vọng rằng người Anh sẽ bị mắc vào các bãi cát ngầm khi tấn công vào đội hình trung tâm trang bị mạnh mẽ của mình và đội hậu quân, cho phép đội tiền quân của mình để sử dụng gió đông bắc để phản công người Anh khi họ (tiền quân Pháp) tham gia vào trận đánh. Tuy nhiên, ông đã thực hiện một sự xét đoán sai nghiêm trọng: có đủ chỗ giữa chiếc Guerrier và bãi cát ngầm cho một tàu của đối phương đi cắt ngang qua chiếc đứng đầu đội hình tuyến của Pháp, làm cho các tầu tiên phong không được hỗ trợ và rơi vào trường hợp bị bắn chéo cánh sẻ từ hai đội tàu của đối phương. Trong bố trí của Brueys có một lỗ hổng quan trọng thứ hai, đó là khoảng trống 160 yard giữa các tàu là đủ lớn cho một chiếc tàu của Anh xuyên qua và phá vỡ đội hình tuyến của Pháp, và không phải tất cả các thuyền trưởng của ông đã làm theo lệnh buộc kèm dây cáp vào mũi và đuôi tầu bên cạnh họ, nếu làm việc này đã có thể ngăn ngừa sự vận động uyển chuyển của người Anh. Vấn đề đã trở nên nghiêm trọng bởi mệnh lệnh cho phép chỉ neo tại các mũi, cho phép các tàu dịch chuyển trong gió và mở rộng các khoảng trống. Nó cũng tạo ra các khu vực trong đội hình của Pháp mà (khu vực này) không bị bao phủ bởi những pháo mạn của bất kỳ tàu nào, trong khu vực đó một tàu của Anh có thể neo và tấn công tầu của Pháp mà không sợ bị bắn trả . Ngoài ra, việc triển khai các hạm đội của ông ta (người Pháp) ngăn cản đôị hậu quân hỗ trợ có hiệu quả các các tầu tiên phong do gió mậu dịch.

Một vấn đề bức xúc hơn cho Brueys là một thiếu thức ăn và nước cho các đội tàu: Bonaparte đã bốc dỡ gần như tất cả các đồ cung cấp dự trữ trên tàu và không có nguồn cung cấp đã được mang tới cho các tàu từ bờ biển. Để khắc phục điều này, Brueys gửi các đội đi lục lọi dọc theo bờ biển để trưng thu thực phẩm và lấy nước, nhưng các cuộc tấn công liên tục của du kích Bedouin yêu cầu mỗi đội tầu phải có một đội bảo vệ vũ trang hạng nặng, dẫn đến một phần ba thủy thủ của hạm đội phải ra khỏi tàu của họ tại bất kỳ thời gian nào. Brueys đã viết một lá thư mô tả tình hình đển Bộ trưởng Hải quân Étienne Eustache Bruix, báo cáo rằng ” Thuỷ thủ đoàn của chúng tôi rất yếu, cả về số lượng và chất lượng, buồm cơ của chúng tôi, nói chung không sửa chữa được nữa, và tôi chắc chắn rằng phải đòi hỏi không ít can đảm để quản lý một hạm đội được trang bị với các công cụ như vậy.”

Khi Nelson đến

Mặc dù ban đầu thất vọng rằng phần chính của hạm đội Pháp đã không ở tại Alexandria, Nelson biết từ quá trình vận chuyển rằng họ phải ở gần đó. Lúc 14:00 ngày 01 Tháng 8, những người đứng gác trên chiếc HMS Zealous báo cáo rằng Hạm đội của Pháp neo trong vịnh, trung úy tín hiệu của nó (chiếc HMS Zealous) đánh tín hiệu cho trung úy của chiếc HMS Goliath, nhưng miêu tả không chính xác 16 tàu tiền tuyến Pháp thay vì 13. Những người gứng gác của tầu Pháp đồng thời nhìn cũng thấy hạm đội Anh, khoảng 9 hải lý (17 km) ở ngoài cửa Vịnh Aboukir, mặc dù chiếc Swiftsure và Alexander đã trở về từ Alexandria, và đã đi được dặm 3 hải lý (5,6 km) về phía tây của hạm đội chính, ra khỏi tầm mắt. Troubridge của tàu HMS Culloden ở một khoảng cách khá xa đội hình chính, kéo một chiếc tàu buôn bị bắt. Trong tầm mắt của người Pháp, Troubridge bỏ con tàu kia lại và không ngừng hăng hái để tái gia nhập đội của Nelson. Do cần thiết phải để nhiều thủy thủ làm việc trên bờ, Brueys không triển khai các tàu chiến nhẹ hơn của ông như các chiếc tầu trinh sát, mà ông ta còn không thể nhanh chóng phản ứng trước sự xuất hiện bất ngờ của người Anh. Khi tàu của ông sẵn sàng cho chiến đấu, Brueys vội vàng thu hồi thủy thủ của ông từ bờ, mặc dù hầu hết các đội thủy thủ đi kiếm lương thực vẫn không quay lại cho đến khi thời gian của trận đánh bắt đầu. Để thay thế cho họ, một số lượng lớn người đã được đưa ra khỏi tàu khu trục và phân phối vào các tàu của tuyến. Brueys cũng hy vọng sẽ thu hút các hạm đội Anh vào bãi cát ngầm tại Đảo Aboukir, và tung các chiếc brig Alerte và Railleur để hoạt động như mồi nhử trong vùng nước nông. Vào l úc 16:00 hai chiếc Alexander và Swiftsure vẫn ở trong tầm mắt, mặc dù chỉ cách hạm đội chính của Anh một khoảng, và Brueys đã cho lệnh bỏ kế hoạch thả neo và thay vào đó cho ra lệnh cho đội tầu của mình căng buồm lên. Nelson sau đó lệnh cho tàu đi đầu của mình chậm lại để cho phép các đội tàu tiếp cận với một đội hình có tổ chức. Việc này đã thuyết phục Brueys rằng thay bằng một trận chiến vào buổi tối ở các vùng nước nông, người Anh có lập kế hoạch để chờ ngày hôm sau, và ông đã hủy bỏ lệnh của mình trước đó để dương buồm. Brueys có thể đã hy vọng rằng sự chậm trễ sẽ cho phép ông ta trượt qua người Anh trong đêm và do đó làm theo mệnh lệnh của Bonaparte không tham gia chiến đấu trực tiếp với hạm đội Anh, nếu họ có thể tránh được. ( nếu người Pháp có đủ dũng cảm để giao chiến như người Hà Lan thì họ đâu có thua đến mức te tua như vậy)

Mệnh lệnh của Nelson là tiến chậm, được đưa ra vào lúc 16:00, để cho tàu của ông có thể xắp sếp các cáp neo của họ, điều này cho phép họ đưa đi đưa lại các pháo mạn của mình khi đối mặt với kẻ thù bị thả neo bất động. Nó cũng làm giảm nguy cơ bị bắn vào cột buồm (raking) khi họ di chuyển vào vị trí. Kế hoạch của Nelson được định hình thông qua các cuộc thảo luận với thuyền trưởng cấp cao của ông trong suốt chuyến đi trở về Alexandria, là tiến về phía quân Pháp và tấn công từ phía biển đội hình tiền quân và trung tâm của đội hình tuyến của Pháp, sao cho mỗi tàu Pháp sẽ phải đối mặt với hai tàu của Anh và chiếc kỳ hạm Phương Đông sẽ phải chiến đấu chống lại ba chiếc tầu đối phương. Hướng gió chỉ ra rằng đội hậu quân Pháp sẽ bị cắt ra từ phía sau và không thể dễ dàng tham gia vào cuộc chiến và sẽ bị cắt bỏ với phần phía trước của đội hình tuyến. Để đảm bảo rằng trong khói và sự dễ nhầm lẫn của một trận chiến đêm các tàu của ông sẽ không vô tình bắn vào nhau, Nelson đã ra lệnh cho rằng mỗi con tàu chuẩn bị bốn đèn ngang ở phần đầu cột buồm giữa của tầu của họ và cũng để chiếu sáng cờ hiệu trắng, Đó là sự khác nhau khi cờ của người Pháp có đủ ba màu rõ rằng người ta sẽ không bị lầm lẫn trong tầm nhìn hạn chế. Khi con tàu đã sẵn sàng cho trận đánh, Nelson đã tổ chức một bữa ăn tối cuối cùng với các sĩ quan của tầu Vanguar, và nói rằng: ” trong thời gian này của ngày mai hoặc là tôi sẽ có được một chiến thắng hoặc là Tu viện Westminster. (ý nói nếu thua ông ta sẽ chết và xác sẽ được gửi về tu viện Westminster) “

Ngay sau khi lệnh căng buồm của Pháp lại bị huỷ bỏ, hạm đội Anh bắt đầu tiến lại gần một lần nữa và Brueys, bây giờ nhất định rằng có một cuộc tấn công vào ban đêm, ra lệnh cho các tàu của ông cũng đặt ( spring) trên dây neo của họ và chuẩn bị cho chiến đấu. Chiếc Alerte đã được gửi đi trước, đi qua gần các tàu hàng đầu của Anh và sau đó ngoặt nhanh về phía tây với hy vọng rằng các tàu của Anh có thể làm theo và trở nên bị mắc cạn. Không có thuyền trưởng nào của Nelson mắc phải mưu mẹo này và hạm đội Anh tiếp tục tiến lên một cách không nao núng. Lúc 17:30 Nelson ca ngợi một trong hai chiếc tàu hàng đầu của ông, chiếc HMS Zealous dưới thuyền trưởng Samuel Hood, vốn đang chạy đua với chiếc Goliath để là người đầu tiên bắn vào người Pháp. Đô đốc đã ra lệnh cho Hood tiến hành một di chuyển an toàn nhất vào bến cảng; người Anh không có bảng xếp hạng độ sâu hoặc hình dạng của vịnh, ngoại trừ một bản đồ họa thô mà chiếc Swiftsure đã thu được từ một thuyền trưởng tầu buôn, một tập bản đồ không chính xác của người Anh trên chiếc HMS Zealous và một bản đồ Pháp 35 năm tuổi trên tàu Goliath. Hood trả lời rằng ông sẽ đi cẩn thận dò độ sâu khi ông tiến lên, để kiểm tra độ sâu của nước. Ngay sau đó, Nelson phải tạm dừng để nói chuyện với chiếc HMS Mutine, mà chỉ huy của nó là Trung úy Thomas Hardy vừa mới bắt được một hoa tiêu từ một tàu nhỏ ở Alexandrine. Chiếc Vanguard đến để chặn lại, các tàu phía sau đi chậm lại. Điều này gây ra một khoảng cách lớn giữa chiếc Zealous và Goliath và phần còn lại của đội tàu. Để cuộc tấn công này có hiệu lực, Nelson ra lệnh cho chiếc HMS Theseus dưới thuyền trưởng Ralph Miller vượt qua kỳ hạm của mình và tham gia cùng với chiếc Zealous và Goliath trong đội hình tiên phong. Vào lúc 18:00, hạm đội Anh đã căng buồm đầy đủ, chiếc Vanguard là thứ sáu trong đội hình mười tàu, với chiếc Culloden bị dấu ở đằng sau về phía bắc và hai chiếc Alexander và Swiftsure chạy nhanh để bắt kịp về phía tây. Sau sự thay đổi nhanh chóng từ một đội hình không chặt trẽ để hình thành một đội hình tuyến chiến đấu cả hai hạm đội kéo cao cờ của mình lên cột buồm, các tàu của Anh được bổ sung thêm chiếc Union Jack. Lúc 18:20, chiếc Zealous và Goliath nhanh chóng lac vào hai tầu hàng đầu của Pháp chiếc Guerrier và Conquérant và nổ súng.

Trận đánh

Sơ đồ trận Hải chiến sông Nile tại Vịnh Aboukir

Mười phút sau khi nổ súng vào tầu Pháp chiếc Goliath bất chấp đạn bắn từ pháo đài để lái sang phải và từ chiếc Guerrier tới cảng, vượt qua phần đầu của dòng tầu Pháp. Thuyền trưởng Thomas Foley nhận thấy là ông đã tiếp cận trong một khoảng cách không mong muốn giữa chiếc Guerrier và mực nước nông của của các bãi cát này. Bằng sự sáng tạo của mình, Foley đã quyết định sửa chữa lỗi chiến thuật này và thay đổi góc của ông để đi thuyền qua khoảng cách này. Khi mũi của chiếc Guerrier trong phạm vi tầm bắn, chiếc Goliath nổ súng, các pháo mạn bắn đạn đôi gây thiệt hại nghiêm trọng trong khi tàu Anh quay sang mạn bên kia, phía mạn không được chuẩn bị gì của chiếc Guerrier. Foley đã có dự định neo tàu ở cạnh tàu Pháp và áp chặt vào nó, nhưng dây neo của ông lại quá dài để hạ xuống và tàu của ông hoàn toàn vượt qua chiếc Guerrier. Chiếc Goliath cuối cùng dừng lại ở gần mũi của chiếc Conquérant (Pháp), nổ súng vào đối thủ mới và sử dụng súng mạn phải bắn qua bắn lại với các tàu khu trục nhỏ Sérieuse và tàu tầu phóng bom Hercule đang được neo gần bờ của đội hình tuyến chiến đáu. Foley tấn công tiếp liên trong khi chiếc Zealous của Hood, cũng đi qua tuyến tầu của Pháp và neo thành công bên cạnh cạnh chiếc Guerrier vào đúng chỗ Foley đã định neo tầu, tấn công vào mũi tàu Pháp từ cự ly gần. Trong vòng năm phút cột buồm mui của chiếc Guerrier gẫy, tạo nên sự khuyến khích cho tàu của Anh. Các thuyền trưởng người Pháp đã bị bất ngờ bởi tốc độ của tầu Anh, và vẫn ở trên boong của tàu Phương Đông và hội họp với các đô đốc khi trận đánh bắt đầu (đô đốc Pháp ngu tệ, quân địch đến đít rồi vẫn hội với nghị). Vội vàng hạ thủy các con xuồng nhỏ để trở về tàu của họ, thuyền trưởng Jean-François-Timothée Trullet của chiếc Guerrier hò hét từ trên một chiếc xuồng nhỏ để ra lệnh cho người của mình bắn trả chiếc Zealous.

Chiếc tàu thứ ba của Anh HMS Orion tham gia tấn công dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Sir James Saumarez, làm tròn sự tham gia ở phần đầu của dòng chiến và xuyên qua giữa dòng chính của Pháp và các tàu khu trục nằm gần bờ. Và ông đã làm như vậy, con tàu khu trục nhỏ Sérieuse nổ súng vào chiếc Orion, làm bị thương hai người . Theo quy ước trong hải chiến thời đó là tàu tiền tuyến không tấn công các tàu khu trục khi có các tầu có kích cỡ tương đương để tấn công, nhưng trong loạt bắn đầu tiên thuyền trưởng Claude-Jean Martin (của tầu khu trục Sérieuse) đã nhổ toẹt vào quy tắc này và Saumarez đợi cho đến khi chiếc tàu khu trục nhỏ vào cự ly gần trước khi bắn trả. Orion chỉ cần nổ một loạt pháo mạn là hạ ngay một tàu khu trục nhỏ, tàu bị vô hiệu hoá của Martin trôi đi trong vùng nước nông. Trong lúc chậm trễ do đường vòng này, hai tàu khác của Anh tham gia vào cuộc chiến chiếc Theseus vượt dòng Pháp giữa hai chiếc Guerrier và Conquérant, Miller lái tàu của mình đi xuyên qua giữa cuộc hỗn chiến của các tàu Anh và Pháp cho đến khi ông gặp con tàu thứ ba của Pháp chiếc Spartiate. Neo xong Miller nổ súng ở cự ly gần. Chiếc HMS Audacious dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Davidge Gould theo sau, thả neo giữa chiếc Guerrier và Conquérant và bắn vào cột buồm của họ. Chiếc Orion sau đó tham gia vào tấn công ở xa hơn về phía nam so với dự định, và bắn vào chiếc tàu thứ năm của Pháp Peuple Souverain và chiếc hạm Franklin của Đô đốc Blanquet.

Hải đội tiền quân của Pháp bị tấn công

Ba tầu tiếp theo Anh do chiếc Vanguard dẫn đầu theo sau là hai chiếc HMS Minotaur và HMS Defence, vẫn giữ đội hình tuyến chiến đấu và thả neo ở bên mạn phải của đội hình của người Pháp lúc 18:40 Nelson tập trung pháo hạm của ông vào chiếc Spartiate, trong khi thuyền trưởng Thomas Louis của chiếc Minotaur tấn công chiếc Aquilon và thuyền trưởng John Peyton của chiếc Defence tham gia vào các cuộc tấn công chiếc Peuple Souverain. Lúc này đội tiên phong của Pháp bị tràn ngập bởi rất nhiều tầu Anh, sau đó hai chiếc tàu Anh là HMS Bellerophon và HMS Majestic đi xuyên qua chận hỗn chiến và tiến về phía đội trung tâm của Pháp cho đến lúc này vẫn chưa giao chiến. Cả hai tàu này phải chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn mình và bắt đầu thiệt hại nghiêm trọng: Thuyền trưởng Henry Darby trên chiếc Bellerophon lỡ mất dự định của ông là thả neo gần chiếc Franklin, và thay vào đó tàu của ông lại đến đúng bên dưới khẩu đội pháo chính của chiếc kỳ hạm Pháp, trong khi thuyền trưởng George Blagdon Westcott trên chiếc Majestic cũng bị mất chỗ neo của mình và gần như va chạm với chiếc Heureux, và bị dính đạn nặng nề nặng từ chiếc Tonnant. Không thể dừng lại trong lúc này, Chiếc tầu kiểu Job Boom của Westcott chạy xung quanh chiếc Tonnan, làm cho chiếc nàu bị lúng túng. Các tàu Pháp cũng bị trúng quá nhiều phát bắn: Đô đốc Brueys trên chiếc Phương Đông bị thương nặng nề ở vùng mặt và tay bởi các mảnh vỡ bay trong khi bắn qua lại với chiếc Bellerophon. Con tàu cuối cùng của đội tầu Anh, chiếc Culloden theo Troubridge, khởi hành quá gần đảo Aboukir trong màn đêm đang lan nhanh và bị mắc kẹt trên các bãi cát ngầm. Bất chấp những nỗ lực vất vả từ thủy thủ đoàn của con tàu, các tầu brig Mutine và tầu 50 súng HMS Leander dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Thomas Thompson, Con tàu tiền tuyến này không thể di chuyển được, những chuyển động của sóng biển đẩy chiếc Culloden sâu thêm vào bãi cát ngầm gây thiệt hại nghiêm trọng cho thân của Troubridge.

Tầu tiên phong Pháp đầu hàng

Vào lúc 19:00 đèn nhận dạng tại cột buồm trung tâm của hạm đội Anh đã được thắp sáng. Vào thời gian này, chiếc Guerrier đã hoàn toàn bị gãy hết cột buồm và thiệt hại nặng nề: Hood để cho chiếc Zealous ở bên ngoài tầm của hầu hết các pháo mạn tàu Pháp và trong bất kỳ trường hợp nào chiếc Guerrier đã không được chuẩn bị sẵn sàng cho một trận đánh với các khẩu đội pháo ở đồng thời cả hai bên mạn, với cửa các hàng súng bị chặn cổng. Mặc dù tàu của họ chỉ là còn là một cái xác đầy thương tích, các thủy thủy đoàn của chiếc Guerrier từ chối không chịu đầu hàng, họ vẫn tiếp tục bắn vài khẩu súng nhỏ mỗi khi có thể bất chấp đạn hạng nặng bắn từ chiếc Zealous. Ngoài súng hạng nặng của mình, Hood lệnh cho Thủy quân lục chiến Hoàng gia trên tầu của mình bắn súng hỏa mai cầu vồng vào boong của tàu Pháp, xua thủy thủ đoàn ra khỏi tầm mắt nhưng vẫn thất bại trong việc đảm bảo an toàn cho sự đầu hàng của thuyền trưởng Trullet. Mãi cho đến 21:00, khi Hood gửi một chiếc thuyền nhỏ đển chiếc Guerrier với một đội thủy thủ nhảy lên boong, thì chiếc tàu Pháp cuối cùng mới chịu đầu hàng. Chiếc Conquérant bị đánh bại nhanh chóng, sau những loạt pháo mạn hạng nặng từ các tàu Anh đang vượt qua và sự áp sát của chiếc Audacious và Goliath đánh gẫy cả ba cột buồm trước 19:00. Với con tàu bất động và hư hỏng nặng của mình, vị thuyền trưởng Etienne Dalbarade đang bị thương nặng cho lệnh vẫy cờ đầu hàng. Và một đội thủy thủ Anh đổ bộ lên boong và nắm quyền kiểm soát con tầu. Không giống như chiếc Zealous, Tàu của Anh tham gia tấn công đã bị hư hại khá nghiêm trọng, chiếc Goliath mất phần lớn buồm của nó, cả ba cột buồm đều bị thiệt hại và có hơn 60 thương vong. Với những đối thủ mà ông đánh bại, Thuyền trưởng Gould trong chiếc Audacious sử dụng vào lò xo trên cáp của mình để bắn vào chiếc Spartiate, chiếc tiếp theo trong dòng tầu Pháp. Về phía tây của trận đánh chiếc Serieusé chìm trong bãi cát ngầm, cột buồm nhô ra từ mặt nước và những người còn sống sót tranh giành các xuồng cứu sinh và bơi vào bờ.

Việc chiếc tầu Audacious dùng pháo mạn để bắn chiếc Spartiate có nghĩa rằng thuyền trưởng Maurice-Julien Emeriau (của chiếc Spartiate) bây giờ đã phải đối mặt với ba đối thủ. Trong vòng vài phút cả ba cột buồm đã gẫy, nhưng các trận đánh trên tàu vẫn tiếp tục cho đến 21:00, khi đó do bị thương nặng Emeriau mới cho phất cờ chấp nhận đầu hàng. Mặc dù chiếc Spartiate bị tràn ngập bởi số lượng đối thủ lớn hơn, con tàu này thỉnh thoảng được hỗ trợ bởi chiếc tiếp theo trong dòng, Aquilon, mà đây là chiếc duy nhất của Hải đội tiên phong Pháp được chiến đấu chỉ với một đối thủ, chiếc Minotaur. Thuyền trưởng Henri-Alexandre Thévenard sử dụng các lò xo trên cáp neo của mình để tạo góc bắn pháo mạn của mình vào một vị trí bắn thia lia vào mũi chiếc kỳ hạm của Nelson, kết quả tạo ra hơn 100 thương vong, trong đó có cả vị đô đốc (Nelson). Vào lúc khoảng 20:30, con mắt bên phải của Nelson bị mù mắt bởi một mảnh vụn sắt bắn vào một loạt bắn của chiếc Spartiate. Vết thương tạo ra một miếng da lòng thòng trên mặt của ông, ông ta (Nelson) tạm thời bị mù hoàn toàn. Nelson ngã vào cánh tay của thuyền trưởng Edward Berry và được đặt nằm ở dưới đất. Cho rằng vết thương của ông sẽ gây tử vong, ông khóc và nói ” Tôi bị giết rồi hãy nhớ chăm sóc vợ tôi” và gọi linh mục Stephen Comyn tới. Vết thương đã được kiểm tra ngay lập tức bác sĩ phẫu thuật Michael Jefferson của chiếc Vanguard, người đã thông báo với đô đốc rằng nó chỉ là một vết thương phần mềm đơn giản và khâu vết thương ngoài da với nhau. Nelson sau đó bỏ qua các hướng dẫn của Jefferson là không hoạt động, trở lại boong chỉ huy ngay trước khi vụ nổ trên chiếc Phương Đông xảy ra để giám sát việc kết thúc các giai đoạn của trận đánh. Mặc dù đã có được một số thành công, chiếc Aquilon quay vòng mũi tầu tại vị trí của mình dưới các làn đạn của chiếc Minotaur và đến 21:25 tàu Pháp đã hoàn toàn bị gãy hết cột buồm và thiệt hại nặng nề, Thuyền trưởng Thévenard thiệt mạng và các sỹ quan của ông buộc phải đầu hàng. Saukhi đánh bại đối thủ của mình, thuyền trưởng Thomas Louis của chiếc Minotaur tiến về phía nam tham gia các cuộc tấn công vào chiếc Franklin.

Chiếc tàu thứ năm của Pháp, Peuple Souverain bị tấn công từ bên bởi hoặc bởi chiếc Defence hoặc chiếc Orion và nhanh chóng bị mất phần mũi và cột buồm chính, Thuyền trưởng Saumarez (tầu Orion – Anh) mặc dù bị thương ở đùi bằng một mảnh gỗ bị bắn văng ra từ một trong những cột buồm của chiếc Orion và nó cũng giết chết hai người lính thủy khác trước khi làm ông ta bị thương. Trên chiếc Peuple Souverain, thuyền trưởng bị thương nặng Pierre-Paul Raccord đã ra lệnh cắt cáp neo tàu của ông trong một nỗ lực để thoát khỏi trận pháo kích và Peuple Souverain trôi dạt về phía nam của hạm Phương Đông, Có nổ súng nhầm lẫn trên các tàu trời tối. Chiếc Orion và Defence không thể ngay lập tức theo đuổi, Chiếc Defence đã mất cột buồm trước của nó và Orion suýt bị phá hủy bởi một chiếc fireship tình cờ trôi dạt qua trận đánh. Nguồn gốc của tàu này là một bị bỏ lại và đốt cháy với hắc ín và với các vật liệu dễ cháy, không chắc chắn chiếc tầu này là của bên nào nhưng nó có thể đã được phóng ra từ chiếc Guerrier khi trận chiến bắt đầu. chiếc Peuple Souverain neo không xa chiếc Phương Đông, và không tham gia thêm vào một cuộc giao tranh nào nữa. Các tàu đắm đầu hàng vào ban đêm. Về phía Nam, chiếc Bellerophon gặp rắc rối nghiêm trọng với hệ thống pháo mạn cực lớn của chiếc Phương Đông, chúng đã đánh nát con tàu này. Vào lúc 19:50 các buồm giữa và buồm chính đều đổ gục và cháy nổ xảy ra đồng thời ở một vài chỗ. Mặc dù đã được dập tắt các đám cháy chiếc tàu (chiếc Bellerophon) đã có hơn 200 thương vong. Thuyền trưởng Darby công nhận rằng vị trí của ông đã không thê? tự ba?o vệ và đã ra lệnh cắt dây neo lúc 20:20, con tàu mang đầy thương tích trôi ra khỏi cuộc chiến và tiếp tục dính đạn từ chiếc Tonnant làm cột buồm mui cũng sụp đổ. Chiếc Phương Đông cũng bị hư hại đáng kể và Đô đốc Brueys đã bị bắn trúng vào cơ hoành bằng bằng một viên đạn hình cầu cắt gần một nửa người của ông. Đô đốc Pháp có mười lăm phút hấp hối trước khi chết, ông vẫn cố nằm lại trên boong và từ chối được cáng xuống boong dưới bởi người của mình. Thuyền trưởng Luc-Julien-Joseph Casabianca của chiếc Phương Đông cũng đã bị thương trúng vào mặt bằng mảnh gỗ vỡ bay và bất tỉnh. Chiếc tầu Anh cuối cùng lao vào tấn công là chiếc Majestic, trong một khoảng thời gian ngắn vướng mắc vào chiếc tầu 80-súng Tonnant của Pháp, thuyền trưởng Westcott đã bị giết bởi súng hỏa mai Pháp. Trung úy Robert Cuthbert được chỉ định làm thuyền trưởng và ra lệnh tách tàu của mình ra, cho phép chiếc Majestic bị hư hỏng nặng trôi dạt về phía nam đến 20:30 nó đã định vị ở giữa chiếc Tonnant và chiếc Heureux ở đội hình tiếp theo. Để hỗ trợ đội hình trung tâm, thuyền trưởng Thompson của chiếc Leander từ bỏ những nỗ lực vô ích để kéo chiếc Culloden ra khỏi bãi cát ngầm và đi vào thế trận của dòng tầu Pháp, qua khoảng trống được tạo ra bởi chiếc Peuple Souverain bị thả trôi và nổ một loạt súng kinh hồn vào chiếc Franklin.

Trong khi trận đánh đang diễn ra một cách cuồng bạo ở trong vịnh, hai chiếc tầu không còn thứ tự của Anh không ngừng tiến lên để tham gia chiến đấu, chúng tập trung vào các nhấp nháy của tiếng súng trong bóng tối. Được cảnh báo từ các bãi cát ngầm của Aboukir từ chiếc Culloden, thuyền trưởng Benjamin Hallowell trong chiếc Swiftsure đi xuyên qua các trận hỗn chiến ở phần đầu của dòng này và nhằm tàu của ông vào đội hình trung tâm của Pháp. Ngay sau lúc 20:00, một thân tầu gãy hết cột buồm đã được phát hiện trôi trước mặt chiếc Swiftsure, Hallowell bước đầu ra lệnh cho người của mình trước khi hủy bỏ mệnh lệnh, quan tâm về dạng của chiếc tàu lạ ông ta cho gọi tới tấp, Hallowell nhận được câu trả lời “Bellerophon, ra khỏi trận đánh vì mất sức chiến đấu.” Để chắc chắn rằng ông đã không tấn công mhầm lẫn một tàu của quân mình trong bóng tối, Hallowell đi lên giữa chiếc Phương Đông và Franklin và nổ súng vào cả hai. Chiếc Alexander, chiếc tầu Anh cuối cùng chưa tham chiến bơi lại gần chiếc Tonnant, lúc này (chiếc Tonnant) đã bắt đầu trôi dạt ra khỏi vị trí bên cạnh chiếc kỳ hạm Pháp. Sau đó thuyền trưởng Alexander Ball sau đó ra lệnh tham gia vào cuộc tấn công chiếc Phương Đông.

Tiêu diệt chiếc Kỳ hạm Phương Đông

Tranh vẽ khoảnh khắc chiếc Kỳ hạm Phương Đông phát nổ, vinh danh hơn 1.000 liệt sỹ Pháp từ vị đô đốc tư lệnh hạm đội đến người lính trơn

Lúc 21:00, ngọn lửa đã được nhìn thấy lây lan qua sàn thấp hơn của chiếc Phương Đông. Nhận ra mối nguy hiểm này đối với chiếc kỳ hạm Pháp, thuyền trưởng Hallowell chỉ đạo người của mình nhằm đích pháo của họ trực tiếp vào ngọn lửa này, làm nó lây lan khắp tàu và ngăn chặn những nỗ lực để dập tắt nó. Trong vòng vài phút ngọn lửa đã cháy lên các cánh và làm chiếc buồm rộng lớn bốc cháy, con tàu chuyển thành một địa ngục trần gian. Các tầu Anh gần nhất chiếc Swiftsure, Alexander và Orion, tất cả đều ngừng bắn, cho đóng các cửa súng của họ và lượn xa khỏi chiếc kỳ hạm đang bốc cháy với dự đoán rằng sẽ có vụ nổ của khối lượng lớn đạn dược được lưu trữ trên boong tầu. Tương tự như vậy các tàu Pháp khác như chiếc Tonnant, Heureux và Mercure tất cả đều cắt dây neo và trôi dạt về phía nam ra khỏi xác chiếc tầu cháy. Lúc 22:00 ngọn lửa lan vào kho đạn và chiếc tàu bị nổ tung bởi một vụ nổ lớn. Những chấn động của riêng vụ nổ này đủ để xé toạc các mạch của các tàu gần nhất, và đống đổ nát cháy rực đã rơi xuống thành một vòng tròn lớn, phần lớn chúng (mảnh vụn) bay xung quanh thành ngoài của các tàu ở quanh đó. Các chiếc Swiftsure, Alexander và Franklin tất cả đã bị bắt lửa do đống đổ nát của chiếc Phương Đông rơi xuống mặc dù trong tất cả các trường hợp các thủy thủ với xô nước trên tay đã thành công trong việc dập lửa, mặc dù một vụ nổ thứ cấp nữa trên chiếc Franklin.

Người ta chắc chắn không bao giờ biết nguyên nhân gì làm ngọn lửa trên tầu Phương Đông bốc nổ dữ dội như vậy, nhưng một tài liệu chung chung có ghi lại là các lọ dầu và sơn đã được để trên phần đuôi tầu chứ không phải là bị bỏ đi sau khi công việc sơn lại thân của con tàu đã được hoàn tất một thời gian ngắn trước khi trận đánh xảy ra. Tàn từ thành phần của thuốc súng của một trong những tàu Anh được cho là đã lây lan trên trên phần đuôi tầu và lamd sơn bốc cháy, ngọn lửa nhanh chóng lan rộng xuyên qua cabin của đô đốc và tấn công vào kho thuốc súng lưu trữ đã tạo ra một vụ nổ dữ dội trong môi trường nước hơn là trong không khí. Thuyền trưởng của hạm đội Honoré Ganteaume sau đó báo cáo việc này như là nguyên nhân gây ra vụ nổ trên khoang chỉ huy của con tầu này, và bởi một loạt các vụ cháy nhỏ trên bong chính của con tàu. Dù nguồn gốc của nó là thế nào, ngọn lửa lan nhanh chóng lên các cánh buồm, và việc bơm chữa cháy trên tàu đã bị ngăn chặn bởi đạn của Anh. Một ngọn lửa thứ hai sau đó đã bắt đầu tại mũi tầu nơi còn bị kẹt hàng trăm thủy thủ của con tàu. Khi các kho đạn phát nổ chiếc tàu đã bị phá hủy. Các điều tra khảo cổ về sau tìm thấy mảnh vỡ rải rác trên 500 mét (550 yd) ở đáy biển và bằng chứng cho thấy tàu Phương Đông đã bị chìm bởi một trong hai vụ nổ lớn, vụ này nối tiếp vụ kia. Hàng trăm người trong thủy thủ đoàn lao xuống biển để thoát khỏi lửa, nhưng chỉ có dưới 100 người còn sống sót sau vụ nổ, khoảng 70 người sống sót đã được cứu bởi tàu của Anh, bao gồm cả thủy thủ trưởng đã bị thương Léonard-Bernard Motard. Một số rất ít những người khác đã cố gắng để vào bờ bằng bè, bao gồm cả Ganteaume. Phần còn lại của thủy thủ đoàn, gồm hơn một nghìn người đã thiệt mạng, bao gồm thuyền trưởng Casabianca và con trai 10 tuổi của ông.

Khoảng mười phút sau khi vụ nổ tất cả chìm trong yên lặng; thủy thủ của cả hai bên đã quá sốc hoặc là do vụ nổ hoặc dập lửa một cách tuyệt vọng để tiếp tục chiến đấu. Trong thời gian này, Nelson ra lệnh gửi các xuồng đi để kéo người sống sót từ các vùng nước xung quanh những gì còn lại của chiếc Phương Đông. Lúc 22:10, chiếc Franklin khởi động lại cuộc chiến bằng cách bắn vào chiếc Swiftsure. Bị cô lập và bắn phá, con tàu của Blanquet (người đã phản đối chiến thuật rùa rụt cổ của chỉ huy Pháp ?” ông muốn có một trận đánh đàng hoàng tại biển mở và quân Anh có thắng được cũng phải chịu một tổn thất nặng nề ) đã sớm bị gãy các cột buồm và đô đốc bị thương đã buộc phải đầu hàng do hỏa lực kết hợp của chiếc Swiftsure và Defence. Hơn một nửa thủy thủ đoàn của chiếc Franklin đã chết hoặc bị thương. vào 24:00 chỉ còn chiếc Tonnant vẫn tham gia vào trận dánh, thuyền trưởng kỳ cựu Aristide Aubert Du Petit Thouars tiếp tục cuộc chiến của mình với chiếc Majestic và cũng có thể đã bắn vào cả chiếc Swiftsure khi tàu này di chuyển trong phạm vi tầm bắn của tầu Anh. Vào 03:00, sau hơn ba giờ chiến đấu cận chiến, chiếc Majestic bị mất cột buồm chính và buồm lái của nó trong khi chiếc Tonnant chỉ là một thân tầu trơ trọi. Mặc dù thuyền trưởng Du Petit Thouars đã bị mất cả hai chân và một cánh tay ông vẫn chỉ huy và nhấn mạnh rằng phải ghim một lá cờ tam tài (cờ Pháp) vào cột buồm để chứng tỏ họ (chiếc Tonnant) không đầu hàng và ra lệnh đỡ bản thân mình lên trong một thùng lúa mì trên boong. Dưới sự hướng dẫn của ông, chiếc Tonnant đầy thương tích dần dần trôi dạt về phía nam ra khỏi khu vực chiến sự và gia nhập vào bộ phận phía Nam thuộc quyền chỉ huy của Villeneuve (bác này về sau lại thua một trận còn thảm hơn trước Nelson ?” đó là trận Trafangar). Trong suốt trận đánh hậu đội của Pháp đã không nổ súng và chi viện cho bất kỳ chiếc tàu đồng đội nào đang chiến đấu ở phía trước, đáng chú ý có một sự kiên xảy ra khi khi chiếc Généreux vô tình bắn vào chiếc hàng xóm Timoléon và phá vỡ bánh lái của nó. ( Lúc này đội hậu quân Pháp kéo lên thì kết cục chưa biết thế nào vì các tầu Anh cũng đã bị thương hoặc hết đạn.)

Tranh chân dung Đô đốc Nelson (đánh trận nào cũng đại thắng, nhưng đánh một trận mất một cánh tay, đánh trận nữa thì mất một con mắt, rồi nữa nữa thì mất mạng)

Chân dung đô đốc Pháp Brueys dAigalliers - người đã thua trận sông Nile

Buổi sáng ngày hôm sau

Khi mặt trời lên lúc 04:00 ngày 02 tháng 8, súng lại nổ một lần nữa giữa các bộ phận phía Nam của Pháp (đội hậu quân) là các chiếc Guillaume Tell, Tonnant, Généreux và Timoléon bắn vào hai chiếc Alexander và Majestic. Mặc dù thời phải có một khoảng thời gian ngắn tạm ngừng chiến (có lẽ đây là thời cơ vàng cho người Pháp nếu không lật được thế cờ cũng hạn chế được quân Anh chăng??), tàu của Anh đã nhanh chóng gia nhập bởi các chiếc Goliath và Theseus. Thuyền trưởng Miller đưa tàu của ông vào vị trí chiến đấu, chiếc Theseus một thời gian ngắn phải chịu các làn đạn từ chiếc tàu khu trục Artémise. Miller chuyển tàu của mình theo hướng chiếc Artémise, nhưng thuyền trưởng Pierre-Jean Standelet đã ra hiệu cờ đầu hàng và ra lệnh cho người của mình rời khỏi chiếc tàu khu trục. Miller đã gửi một chiếc thuyền chở theo một đội thủy thủ để chiếm lấy con tầu nhưng Standelet đã cho đốt tàu của mình khi ông ta rời khỏi con tầu và chiếc Artémise nổ tung lên ngay sau đó. Các tàu Pháp còn sót lại của Pháp trong đội hình này, cố gắng bảo vệ cuộc rút lui của họ trong tiếng nổ súng, và kéo dần ra ngoài khơi phía đông lúc 06:00. Chiếc Zealous đuổi theo, và đã ngăn chặn tàu khu trục Justice tấn công lên boong chiếc chiếc Bellerophon (bị thương và trôi ra khỏi vùng chiến sự) lúc này được neo tại điểm phía nam của vịnh đang tự sửa chữa một cách vội vàng.
Hai tàu khác của Pháp vẫn còn vẫy cờ tam tài, nhưng không phải là ở một vị trí hoặc rút lui hoặc chiến đấu. Khi chiếc Heureux và Mercure đã cắt dây neo của họ để thoát khỏi vụ nổ của chiếc Phương Đông, thủy thủ đoàn của họ đã quá hoảng sợ và thuyền trưởng của các tầu này (cả hai đều bị thương) đã không lấy lại được quyền kiểm soát tàu của họ. Kết quả là cả hai tàu đã trôi dạt vào các bờ cát ngầm. Đứng một mình và không có hành động tự vệ, các tàu này bị tấn công bởi các chiếc Alexander, Goliath, Theseus và Leander và cả hai tầu trên đều đầu hàng trong vòng vài phút. Sự quấy nhiễu gây ra bởi các chiếc Heureux, Mercure và Justice cho phép Villeneuve (đô đốc hậu quân Pháp) mang theo hầu hết các tàu Pháp còn sót về phía cửa vịnh lúc 11:00. Tuy nhiên, trên chiếc tầu trọng thương Tonnant, Đại thuyền trưởng Du Petit Thouars lúc này đã chết vì vết thương của ông được và ném qua boong tầu theo yêu cầu riêng của mình, đã không thể tăng tốc độ yêu cầu và bị đẩy lên bờ bằng thủy thủ đoàn của nó, trong khi chiếc Timoléon đã đi quá xa về phía nam để thoát với cùng với đội của Villeneuve và cố gắng vớt những người sống sót trên bãi cát ngầm. Các tàu còn lại của Pháp là: các tàu tiền tuyến Guillaume Tell và Généreux và tàu khu trục Justice và Diane, lập thành đội và chạy ra biển, bị đuổi theo bởi chiếc Zealous. Bất chấp những nỗ lực lớn, tầu của thuyền trưởng Hood bị cô lập dưới hỏa lực hạng nặng và không thể đuổi bắt chiếc Justice, Những tầu Pháp sống sót chạy thoát ra biển.

Đối với phần còn lại của đội tàu của Nelson ngày 02 tháng 8 được sửa chữa và củng cố và treo giải thưởng. Chiếc Culloden yêu cầu sự trợ giúp một cách đặc biệt, cuối cùng họ cũng kéo con tàu này cho bãi cát ngầm vào lúc 02:00, chiếc Troubridge thấy rằng nó đã bị mất bánh lái của mình và đã bị ngập hơn 122 tấn nước. Sửa chữa thân tàu khẩn cấp và thay thế một bánh lái và buồm chính lâu nhất là trong hai ngày. Sáng ngày 03 tháng 8, Nelson đã gửi chiếc Theseus và Leander đến địa điểm của chiếc Tonnant và Timoléon để ép chúng phải đầu hàng, một chiếc thì đầu hàng ngay khi tàu Anh lượn lờ tiếp cận, chiếc kia bị đốt cháy bởi các thủy thủ của nó những người sau đó chạy thoát vào bờ trong những chiếc xuồng cứu sinh. Timoléon phát nổ ngay sau giữa trưa, chiếc tầu tiền tuyến thứ thứ mười một và là chiếc tầu Pháp cuối cùng bị phá hủy hoặc bị bắt trong trận đánh.

Hậu quả của trận đánh

Phía quân Anh thương vong trong trận đánh được ghi chép lại với một tính chính xác cao, hậu quả trước mắt là 218 người chết và khoảng 677 người bị thương, mặc dù số người bị thương đã chết sau đó thì không được biết. Các tàu phải chịu nhiều nhất là chiếc Bellerophon với 201 thương vong và Majestic với 193, trong khi đó ngoài chiếc Culloden ra chiếc thiệt hại nhẹ nhất là Zealous, chỉ có một người thiệt mạng và bảy người bị thương. Danh sách các sỹ quan bao gồm thuyền trưởng Westcott, năm phó và 10 sỹ quan trẻ trong số những người chết và Đô đốc Nelson, Captains Saumarez, Ball và Darby cùng với sáu trung úy bị thương. Ngoài chiếc Culloden (mắc cạn không thể tham gia trận đánh), các tàu Anh bị hư hỏng nghiêm trọng ở phần thân tầu của họ là các chiếc Bellerophon, Majestic và Vanguard, và chỉ có chiếc Bellerophon và Majestic bị mất cột buồm, chiếc Majestic mất buồm chính và sau chiếc Bellerophon cả ba cột buồm. Thương vong của Pháp thì khó để tính được nhưng đặc biệt cao hơn người Anh. Ước tính thiệt hại của người Pháp nằm trong khoảng từ 2.000 đến 5.000, với một đề nghị lấy số trung bình là khoảng 3.500 bao gồm hơn một ngàn người bị thương và bị bắt giữ, gần 2.000 người chết, một nửa trong số đó đã chết trên chiếc Kỳ hạm Phương Đông. Ngoài Đô đốc Brueys chết, Đô đốc Blanquet bị thương, bốn thuyền trưởng chết và bảy người khác đã bị thương nặng. Các tàu Pháp bị hư hại nghiêm trọng tương tự như vậy: hai tàu tiền tuyến và hai tàu khu trục bị phá hủy và ba tàu khác bị bắt nhưng cũng bị thương quá trầm trọng không thể đi biển được nữa. Trong số các tầu chiến lợi phẩm còn lại, chỉ có ba chiếc được sửa chữa là còn đủ cho khả năng chiến đấu. Hàng tuần sau đó nhiều thi thể của những thủy thủ trong trận đánh dạt lên dọc theo bờ biển Ai Cập, từ từ mục nát trong gió khô nóng và dữ dội.

Nelson vẫn thả neo tại Vịnh Aboukir hai tuần sau đó, ông này cần phải điều trị vết thương của mình, viết công văn, đánh giá tình hình quân sự tại Ai Cập bằng cách sử dụng các tài liệu bị bắt trên một boong tầu chiến lợi phẩm. Trong lúc người của mình tước đoạt các vật hữu ích từ các xác tầu địch và sửa chữa tàu họ cũng như các tầu chiến lợi phẩm. Trong suốt tuần, Vịnh Aboukir được bao phủ bởi pháo hoa, được đốt bởi bộ lạc Bedouin tại lễ kỷ niệm chiến thắng của người Anh. Vào ngày 05 tháng 8 chiếc Leander đã xuất phát để đến Cadiz với những thông điệp cho Earl St Vincent được chuyển qua thuyền trưởng Edward Berry. Trong vài ngày sau đó tất cả khoảng 200 tù nhân bị bắt đã đổ bộ vào bờ với các điều khoản nghiêm ngặt về việc phóng thích, và sau đó Bonaparte sau đó ra lệnh cho họ (lúc này đã được phóng thích) thành lập một đơn vị bộ binh và bổ sung vào đội quân của ông. Ngày 08 tháng 8 Hạm đội tấn công đảo Aboukir, đơn vị đồn trú đã đầu hàng mà không chiến đấu. Quân đổ bộ gỡ bỏ bốn khẩu súng và phá hủy phần còn lại cùng với các đồn trại của người Pháp và đổi tên hòn đảo thành ” Hòn đảo của Nelson”.

Ngày 10 tháng tám Nelson gửi Trung úy Thomas Duval từ chiếc Zealous với các thông điệp đến chính phủ (Anh) ở Ấn Độ. Duval đi đường bộ ngang qua Trung Đông đến Aleppo và lấy một con tàu từ Basra tới Bombay, báo cáo với Tổng đốc Ấn Độ Tử tước Wellesley về tình hình tại Ai Cập. Ngày 12 Tháng Tám các tàu khu trục (các tầu này bị một cơn bão lớn thổi khỏi đội hình của Nelson lúc ở ngoài khơi TouLon) HMS Emerald dưới quyền thuyền trưởng Thomas Moutray Waller, HMS Alcmene dưới quyền thuyền trưởng George Johnstone Hope và HMS Bonne Citoyenne dưới quyền thuyền trưởng Robert Retalick đến ngoài khơi Alexandria. Ban đầu đội tàu khu trục nhỏ đã bị nhầm lẫn với tàu chiến Pháp và đuổi đi bởi chiếc Swiftsure, chúng quay lại ngày hôm sau khi đã nhận ra nhau. Cùng ngày với việc các tàu khu trục đến nơi, chiếc Mutine đã được gửi đến nước Anh dưới sự chỉ huy của Trung úy Thomas Bladen Capel, Người đã thay thế Hardy sau đó được thăng cấp làm thuyền trưởng của chiếc Vanguard. Ngày 14 tháng tám, Nelson đã đưa các chiếc Orion, Majestic, Bellerophon, Minotaur, Defence, Audacious, Theseus, Franklin, Tonnant, Aquilon, Conquérant, Peuple Souverain và Spartiate tiến ra biển dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Saumarez. Nhiều tàu chỉ có cột buồm tạm thời và mất một ngày để đoàn tầu ra đến cửa vịnh, cuối cùng dong buồm vào vùng biển mở vào ngày 15 tháng 8. Vào ngày 16 Tháng 8 chiếc Heureux bị đốt cháy và tiêu huỷ vì không còn khả năng phục vụ chiến đấu và vào ngày 18 tháng 8 các chiếc Guerrier và Mercure cũng bị cháy. Vào ngày 19 Tháng tám, Nelson khởi hành đi Napoli với chiếc Vanguard, Culloden và Alexander, để lại Hood chỉ huy các chiếc, Goliath, Swiftsure và các tàu khu trục vừa mới gia nhập để thăm dò các hoạt động của quân Pháp tại Alexandria.

Thông điệp đầu tiên đến được Bonaparte về thảm họa đã hủy diệt hạm đội Pháp vào ngày 14 tháng 8 tại doanh trại của ông trên con đường giữa Salahieh và Cairo. Người đưa thư là một viên chức do Thống đốc Alexandria Jean Baptiste Kléber cử đi, và báo cáo vội vàng bằng văn bản của Đô đốc Ganteaume, người sau đó lên tàu Villeneuve ở ngoài biển. Một nguồn tin nói rằng khi ông ta được trao các tin nhắn, Bonaparte đọc nó mà không có cảm xúc trước gì trước khi gọi người đưa thư để và đòi hỏi thêm chi tiết. Khi người đưa thư đã tường thuật xong, Vị tướng Pháp tuyên bố “Noun navrons plus de flotte: eh bien. Il faut rester en contrées ses, ou en sortie grands comme les anciens” ( “Chúng tôi không còn có một hạm đội nữa: tốt thôi, chúng tôi hoặc là phải ở lại đất nước này hoặc bỏ nó như là tổ tiên chúng tôi đã làm”). Một câu chuyện khác, được kể bởi thư ký của tướng Bourienne rằng Bonaparte là hầu như bị mất tự chủ bởi những tin tức trên và kêu lên ” Thật là bất hạnh cho Brueys về những gì ông ta đã làm!” Bonaparte sau đó đổ lỗi cho thất bại vào Đô đốc Blanquet, buộc tội ông một cách sai lầm là đã giao nộp chiếc Franklin trong khi chiếc này không hề bị hư hại. Những phản hồi từ Ganteaume và Bộ trưởng Étienne Eustache Bruix sau đó giảm mức độ mà Blanquet phải đối mặt với những lời chỉ trích, nhưng ông không bao giờ trở lại phục vụ trong một cương vị chỉ huy.

Phản ứng

Chuyến công văn đầu tiên của Nelson đã bị bắt khi chiếc Leander bị chặn và đánh bại và đánh bại bởi chiếc Généreux trong một trận đánh ác liệt xảy ra ở bờ biển phía Tây của đảo Crete vào ngày 18 tháng 8 1798. Kết quả là các báo cáo của trận đánh đã không đến được Anh cho đến khi Capel đến được Mutine ngày 2 tháng 10. Mặc dù các thông tin này trước đó đã được Nelson đưa lên báo chí một cách giễu cợt rằng đã thất bại trong việc đánh chặn hạm đội Pháp, các tin đồn về trận đánh đã bắt đầu đến được Anh từ lục địa vào cuối tháng Chín, và các tin tức được đưa bởi Capel đã được chào đón với lễ kỷ niệm trên toàn nước Anh. Tại Bộ Hải quân, Lord Spencer đã ngã lăn ra bất tỉnh khi ông nghe tin tức này. Trong vòng bốn ngày Nelson đã được trao tặng tước hiệu Huân tước Nelson của Nile và Burnham Thorpe, một tước hiệu mà cá nhân ông không hài lòng hài lòng cho lắm, vì ông tin rằng chiến công của mình phải được thưởng tốt hơn

Trận hải chiến Trafangar

Sơ đồ trận đánh Trafalgar

Ngày 21 tháng 10 năm 1805
Vị trí Mũi Trafalgar, Tây Ban Nha
Kết quả Anh chiến thắng quyết định
Các bên tham chiến
Vương quốc Anh
Chỉ huy
Horatio Nelson, 1st Viscount Nelson ?
Sức mạnh
27 tàu tiền tuyến và 6 tầu khác.
Thương vong và thiệt hại
458 thiệt mạng
1.208 bị thương
Tổng số 1.666
Pháp
Tây Ban Nha
Chỉ huy
Pierre de Villeneuve
Federico Gravina
Sức mạnh
Pháp: 18 tầu tiền tuyến và 8 tầu khác.
Tây Ban Nha: 15 tàu tiền tuyến
Thương vong và thiệt hại
7.000 bị bắt,
21 tàu bị bắt,
1 tàu bị phá hủy
Pháp: 2.218 chết,
1.155 bị thương
Tây Ban Nha: 1.025 chết,
1.383 bị thương
Tổng số: 12.781 binh lính bị bắt, bị chết, bị thương

Trận Trafalgar (Ngày 21 Tháng Mười 1805) là một hải chiến nổ ra giữa Hải quân Hoàng gia Anh và hạm đội liên hợp của Hải quân Pháp và Hải quân Tây Ban Nha, Trong chiến tranh của Napoleon (1803-1815) chống lại Liên minh thứ ba (August-Tháng 12 năm 1805). Trận đánh là một chiến thắng quyết định của hải quân Anh trong cuộc chiến. Hai mươi bảy Anh tàu của dòng dưới sự chỉ huy của Đô đốc Lord Nelson trên tàu HMS Victoria đã đánh bại 33 tầu tiền tuyến Pháp và Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của Đô đốc Pháp Pierre Villeneuve ngoài khơi bờ biển phía tây nam của Tây Ban Nha, gần phía tây Mũi Trafalgar. Các hạm đội Pháp-Tây Ban Nha mất 22 tàu, mà người Anh không có bất cứ một tàu nào bị mất cả.

Chiến thắng ngoạn mục của Anh đã khẳng định uy quyền về sức mạnh hải quân mà nước Anh đã tạo lập trong thế kỷ qua và có được một phần từ chiến thuật của Nelson xuất phát từ chiến thuật hải quân chính quy hiện hành, đây là chiến thuật dàn một đội tàu theo đội hình đơn giản duy nhất một tuyến hàng dọc song song với đội hình của đối phương để tạo tín hiệu cho đối phương tham gia trận chiến hoặc bỏ chay, và để sử dụng tối đa hóa các ô súng ở các mạn tầu và các tối đa hóa phạm vi bắn phá của hải pháo. Chiến thuật của Nelson thì lại không như vậy, ông ta chia lực lượng của mình thành hai cột nhỏ trực tiếp giao chiến (theo góc vuông) chống lại một hạm đội đối phương lớn hơn, với kết quả là ông đã thu được quyết định.
Nelson đã tử vong vì vết thương trong trận đánh, và trở thành anh hùng vĩ đại nhất của Anh Quốc. Các chỉ huy của Pháp và Tây Ban Nha của lực lượng liên hợp, Đô đốc Pierre de Villeneuve bị bắt cùng với tàu Bucentaure của ông. Đô đốc Tây Ban Nha Federico Gravina trốn thoát với phần còn lại của hạm đội, và chết vài tháng sau đó do vết thương của ông trong lúc xảy ra trận đánh

Bối cảnh lịch sử

Năm 1805, Đệ nhất Đế chế của Pháp, dưới sự thống lãnh của Napoléon, có một lực lượng quân sự hùng mạnh chi phối quyền lực trên lục địa châu Âu, trong khi Hải quân Hoàng gia Anh kiểm soát các vùng biển. Trong quá trình chiến tranh, người Anh áp đặt một cuộc phong tỏa bằng Hải quan vào nước Pháp, làm ảnh hưởng đến thương mại và ngăn chặn người Pháp trong việc huy động hoàn toàn nguồn lực hải quân của họ. Mặc dù một số phá vây thành công vào cuộc phong tỏa từ hải quân Pháp, nó không tạo ra một thất bại lớn cho người Anh. Người Anh đã có thể tấn công vào lợi ích của Pháp trong và ngoài nước Pháp một cách tương đối dễ dàng.
Trong khi đó, Pháp xây dựng cái gọi là Continental System không cho phép bất kỳ thương mại nào của người Anh vào lục địa Châu Âu và kết quả là thương mại của Anh đã bị đóng băng (phong tỏa) khỏi Châu Âu, cũng như việc Pháp kiểm soát tất cả các cảng lớn châu Âu, ngoại trừ những cảng của người Phổ. Vì vậy Anh cuối cùng đã buộc phải tấn công Napoléon trên đất liền.

Khi Liên minh thứ ba tuyên chiến với Pháp sau Hòa ước Amiens ngắn ngủi, Napoléon Bonaparte đã xác định là phải xâm lược nước Anh. Để làm như vậy, ông thấy cần thiết phải đảm bảo rằng Hải quân Hoàng gia sẽ không thể phá vỡ cuộc xâm lược bằng những đội tầu nhỏ, Mà việc này yêu cầu phải kiểm soát được English Channel.

Các thành phần chính của hạm đội Pháp đóng tại cảng Brest trong vùng Brittany và tại cảng Toulon trên bờ biển Địa Trung Hải. Các cảng khác trên bờ biển Đại Tây Dương thuộc Pháp có những hải đội nhỏ hơn. Pháp và Tây Ban Nha lúc này đã ra nhập một liên minh, do đó, hạm đội Tây Ban Nha có căn cứ tại Cádiz và Ferrol cũng đã sẵn sàng.

Anh sở hữu một đội ngũ sĩ quan hải quân hạm đội có kinh nghiệm và được đào tạo. Ngược lại, hầu hết các sĩ quan tốt nhất trong hải quân Pháp đã nghỉ hưu hoặc miễn nhiệm khỏi phục vụ trong hải quân thời kỳ đầu của Cách mạng Pháp. Kết quả là, phó Đô đốc Pierre-Charles Villeneuve đã trở thành viên chức có thẩm quyền cấp cao nhất và sẵn có cho chức vụ tư lệnh hạm đội Địa Trung Hải của Napoléon. Tuy nhiên, Villeneuve đã thể hiện một sự khác biệt đó là sự thiếu lửa khi phải đối mặt với Nelson và Hải quân Hoàng gia Anh sau thất bại tại trận sông Nile.

Kế hoạch hải quân của Napoléon vào năm 1805 là cho hạm đội Pháp và Tây Ban Nha đang đóng tại căn cứ ở Địa Trung Hải và Cádiz phá vỡ phong tỏa và gia nhập với các lực lượng tại Đông Ấn. Sau đó họ sẽ trở về nhập với các đội tàu ở Brest để phá vỡ vòng phong tỏa, và cùng nhau giành lấy quyền kiểm soát English Channel từ tay Hải quân Hoàng gia Anh, để đảm bảo cho một hành lang an toàn cho các xà lan chở quân xâm lược.

Quân đội Nga và Áo đã chuẩn bị một cuộc tấn công vào Pháp khi mà Armée Grand (Đại quân Pháp ?” gồm người Pháp và rất nhiều người Châu Âu chiến đấu cho Đệ nhất đế chế) vượt English Channel. Napoléon, do kết quả của việc Villeneuve không tuân theo mệnh lệnh của mình, đã có thể điều chỉnh chiến lược của mình bằng cách chuyển Đại quân đang chuẩn bị xâm lược Anh để tấn công người Nga và Áo với tốc độ đáng ngạc nhiên, và ông ta đã đánh bại các đồng minh của Anh Quốc ở trận Austerlitz.

Tại Tây Ấn

Đầu năm 1805, Đô đốc Lord Nelson chỉ huy hạm đội Anh bao vây Toulon. Không giống như người tiền nhiệm William Cornwallis, người đã duy trì một mạng lưới phong tỏa chặt chẽ pháo đài Brest bằng Hạm đội English Channel, Nelson đã sử dụng một cuộc phong tỏa lỏng với hy vọng thu hút người Pháp tiến ra để đánh một trận đánh lớn. Tuy nhiên, Villeneuve thành công trong việc đưa đội tàu của ông chạy trốn Nelson khi hạm đội của ông (Nelson) đã bị thổi đi xa vì một cơn bão lớn. Trong khi Nelson đã tìm kiếm ông ta tại Địa Trung Hải, Villeneuve đi qua Eo biển Gibraltar, hợp nhất với hạm đội Tây Ban Nha, và khởi hành theo kế hoạch đến Tây Ấn. Khi Nelson nhận ra rằng Pháp đã vượt ra khỏi Đại Tây Dương, ông đã đặt ra kế hoạch theo đuổi.

Cádiz

Villeneuve trở về châu Âu từ Tây Ấn với ý định phá bỏ phong tỏa ở Brest, nhưng sau khi hai tàu Tây Ban Nha của ông bị bắt giữ trong Trận Finisterre Cape bởi một hải đội dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Sir Robert Calder, Villeneuve từ bỏ kế hoạch này và khởi hành trở lại Ferrol. Tại đó ông ta đã nhận được mệnh lệnh từ Napoléon là phải tiếp tục đến Brest theo kế hoạch chính.

Kế hoạch xâm lược của Napoléon vào nước Anh hoàn toàn phụ thuộc vào việc có một số lượng đủ lớn các tàu tiền tuyến này tại thành phố Boulogne, Pháp. Việc này đòi hỏi kết hợp lực lượng 32 tầu của Villeneuve với lực lượng 21 tàu của Phó Đô đốc Ganteaume ở Brest và một đội 5 tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Allemand, và những đội tầu này đã có thể tạo cho ông ta một lực lượng liên hợp gồm 58 tàu tiền tuyến.
Khi Villeneuve dương buồm từ Ferrol ngày 10 Tháng Tám, ông nhận được mệnh lệnh từ Napoléon đi thuyền về hướng phía bắc Brest. Nhưng thay vào đó, ông lo lắng rằng người Anh đã quan sát thấy hoạt động của mình, do đó, ngày 11 Tháng Tám, ông đi về phía nam hướng tới Cádiz trên bờ biển phía tây nam của Tây Ban Nha. Không thấy tăm hơi hạm đội của Villeneuve, và vào 26 Tháng tám, quân đoàn 3 của quân đội Pháp ở gần Boulogne dỡ trại và tiến gần đến nước Đức, nơi nó sẽ tham gia vào các trận đánh.
Cùng tháng đó, Nelson trở về nhà tại Anh sau hai năm làm nhiệm vụ trên biển, ông cho một số lính thủy về nhà nghỉ ngơi, giữ một số còn lại. Ông vẫn chưa lên bờ cho tới tận ngày 25, và đã nhận tình cảm nồng nhiệt từ những người dân của mình, những người đã lo lắng về việc có thể có một cuộc xâm lược của Pháp. Các thông tín đến nước Anh vào ngày 02 Tháng chín về hạm đội liên hợp của Pháp và Tây Ban Nha trong bến cảng Cádiz. Nelson đã phải đợi cho đến ngày 15 tháng chín trước khi tàu của ông chiếc HMS Victoria sẵn sàng để căng buồm.

Ngày 15 tháng 8, Cornwallis quyết định tách 20 tàu tiền tuyến từ hạm đội canh gác English Chanel và gửi chúng xuống phía Nam để tấn công các lực lượng Tây Ban Nha đối phương. Việc này lấy đi các lực lượng của Channel chỉ để lại đây 11 tàu tiền tuyến. Tuy nhiên, lực lượng này được tách và ra tạo thành hạt nhân của hạm đội Anh mà hạm đội này sẽ chiến đấu tại Trafalgar. Hạm đội này dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Calder, đến được Cádiz vào ngày 15 tháng 9. Nelson gia nhập đội tàu ngày 29 tháng 9 và nắm lấy quyền chỉ huy.

Hạm đội Anh sử dụng các tàu khu trục như là để duy trì một chiếc đồng hồ liên tục trên bến cảng, trong khi các lực lượng chính tránh ra xa khỏi cảnh khoảng 50 dặm (80 km) về phía tây của bờ biển. Nelson hy vọng là sẽ thu hút được lực lượng liên hợp Pháp-Tây Ban Nha và tấn công và tiêu diệt lực lượng này trong một cuộc hỗn chiến. Các lực lượng canh chừng ở cảng được chỉ huy bởi thuyền trưởng Blackwood, trên chiếc HMS Euryalus. Ông đã mang đến một lực lượng gồm bảy tàu (năm tàu tầu khu trục và hai tầu schooner) vào ngày 8 tháng 10.

Vấn đề về cung cấp và tiếp liệu

Vào thời điểm này hạm đội của Nelson rất cần nhiều đồ cung cấp. Vào ngày 2 tháng 10, năm tàu tiền tuyến trong hạm đội này, chiếc HMS Queen, HMS Canopus, HMS Spencer, HMS Zealous, HMS Tigre, và chiếc tàu khu trục nhỏ HMS Endymion đã được phái đi Gibraltar cùng với Chuẩn đô đốc Louis để tìm nguồn cung cấp. Những tàu sau này được chuyển hướng giao nhiệm vụ áp tải tại Địa Trung Hải, trong khi Nelson dự kiến chúng sẽ quay trở lại. Các tàu khác của Anh tiếp tục đến nơi, và vào ngày 15 tháng 10 hạm đội Anh đã có đầy đủ số tầu chiến cho trận đánh. Nelson bị mất chiếc kỳ hạm của Calder (Phó Đô đốc Anh), chiếc chiến hạm mang 98- súng tên là Prince of Wales mà ông gửi về nhà cùng với Calder, người bị triệu hồi bởi bộ ha?i quân để phải đối mặt với một tòa án quân sự cho sự thiếu rõ ràng của ông ta (Calder) trong quá trình chiến dịch ngoài khơi Cape Finisterre ngày 22 tháng Bảy.

Trong khi đó, hạm đội của Villeneuve tại Cádiz cũng bị thiếu nguồn cung cấp một cách nghiêm trọng mà không thể dễ dàng được cải thiện vì người Pháp thiếu tiền mặt. Các cuộc phong tỏa được duy trì bởi hạm đội Anh đã tạo ra những khó khăn cho đồng minh (Pháp – Tây Ban Nha) đến được các xưởng sửa chữa tầu và sửa chữa tầu của họ. Các tầu của Villeneuve cũng thiếu một lực lượng cần thiết khoảng hơn hai nghìn người điều khiển buồm. Đây không phải là những vấn đề duy nhất mà hạm đội Pháp-Tây Ban Nha phải đối mặt. Các tàu tiền tuyến của Pháp làm nòng cốt trong Hạm này đã được giữ tại cảng trong nhiều năm qua do phong tỏa của Anh, thi thoảng họ mới được ra khơi trong những lần xuất kích ngắn. Các chuyến hiếm hoi vượt Đại Tây Dương và quay trở lại đã làm họ sử dụng hết nguồn cung cấp quan trọng và làm cho họ bị thụt lùi về kinh nghiệm đi biển và đào tạo so với hạm đội Anh. Các thủy thủ đoàn của Pháp có rất ít thủy thủ dày dạn kinh nghiệm, và hầu hết các đoàn được truyền dạy các yếu tố của việc điều khiển tầu bè vào những dịp hiếm hoi khi họ ra biển, thuật bắn súng bị lãng quên( đến người Anh cũng không có đủ thuốc súng, phải học bắn chay nữa là người Pháp). Tình hình cung cấp của Villeneuve bắt đầu được cải thiện vào tháng đó, nhưng những tin tức đến về các hoạt động của Nelson khiến Villeneuve phải miễn cưỡng rời khỏi cảng. Thật vậy, các thuyền trưởng của ông đã tổ chức một cuộc bỏ phiếu về vấn đề này và quyết định ở lại bến cảng.

Vào ngày 16 tháng chín, Napoléon đã ra mệnh lệnh cho các tàu Pháp và Tây Ban Nha tại Cádiz là phải tiến ra biển và ở cơ hội thuận lợi đầu tiên họ gia nhập với hải đội bảy tàu tiền tuyến Tây Ban Nha đang đóng ở Cartagena đi đến Napoli và đổ bộ binh sĩ mà họ chuyên chở để củng cố quân đội Pháp đồn trú ở đó, và sẵn sàng hành động kiên quyết (tấn công ) nếu họ gặp một hạm đội Anh kém hơn về số lượng.

Hạm đội các bên

Anh
Loại tầu/ số lượng
Hạng nhất 3
Hạng nhì 4
Hạng ba 20
Tổng số tàu tiền tuyến 27
Tàu khác 6

Vào ngày 21 tháng mười Nelson đã có 27 tàu-of-the-line. Ông chỉ huy hạm đội trên chiếc kỳ hạm của mình, chiếc tầu hạng nhất 100 súng HMS Victoria. Ông có hai chiếc tầu hạng nhất 100 súng khác trong hạm đội của mình. Ông cũng có bốn chiếc tầu hạng nhì 98 súng và hai mươi tầu hạng ba. Một trong số những tầu hạng ba là tầu 80 súng và mười sáu chiếc là loại 74 súng. Số còn lại là ba tầu 64 súng, đây là loại tầu đã bị loại bỏ khỏi biên chế Hải quân Hoàng gia Anh vào thời điểm trận đánh. Nelson cũng đã có bốn tàu khu trục khoảng 38 hoặc 36 súng, một tầu schooner 12 súng và một pháo thuyền 10 súng.

Pháp-Tây Ban Nha
Loại tầu/ số lượng
Hạng nhất 4
Hạng nhì
Hạng ba 29
Tổng số tàu tiền tuyến 33
Tàu khác 7

Để chống lại hạm đội của Nelson, Phó Đô đốc Villeneuve có 33 tàu-of-the-line, gồm cả một số tầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Người Tây Ban Nha đã góp bốn tầu hạng nhất vào hạm đội này. Trong số những tàu này, một chiếc 136 súng và hai chiếc 112 súng, lớn hơn nhiều so với bất cứ tầu nào mà Nelson có. Chiếc tầu hạng nhất thứ tư có 100 súng. Hạm đội có sáu tầu hạng ba 80 súng, (bốn tầu Pháp và hai tầu Tây Ban Nha), và một tầu hạng ba Pháp với 64 súng. Còn lại là 22 tầu hạng ba loại 74 súng (loại tiêu chuẩn), trong đó có 14 tầu Pháp và 8 tầu Tây Ban Nha. Như vậy tổng số người Tây Ban Nha góp 15 tàu và người Pháp góp 18 tầu tiền tuyến vào hạm đội này. Hạm đội cũng có năm tầu 40 và hai tàu khu trục brig18 súng, tất cả tầu nhỏ đều là của Pháp.

Trận đánh

Kế hoạch của Nelson

Chiến thuật hải quân chính thống hiện hành tại thời điểm là phương pháp tiếp cận hạm đội đối phương theo một đội hình dòng chiến đấu đơn tuyến và sau đó trận đánh sẽ nổ ra theo hai đường song song. Trước thời gian này, hạm đội các bên thường được tham gia vào một trận hỗ chiến ( Melee ) làm cho các đội tàu trà trộn vào nhau. Một trong những lý do cho sự phát triển của chiến thuật (Battle of the line) này là tạo điều kiện cho các đô đốc trong việc kiểm soát Hạm đội. Nếu tất cả các tàu đã xắp thành hàng, đây là dấu hiệu cuộc chiến sắp xảy ra . Chiến thuật này cũng có tính chất phòng thủ, nó cho phép một trong hai bên phá bỏ đội hình để rút lui. Nếu phía tấn công chọn phương án tiếp tục chiến đấu đội hình dòng của họ cũng sẽ bị phá vỡ. Thường thì chiến thuật này dẫn đến những trận chiến không có chiến thắng mang ý nghĩa quyết định hoặc cho phép bên bị thua có thể giảm bớt thiệt hại của họ. Nelson thì lại muốn có một trận quyết định.

Giải pháp cho tham vọng của ông (phải có một trận quyết định) là cố ý cắt đội hình tuyến của đối phương ra thành hai phần. Tiếp cận bằng hai đội tầu tiến theo hướng vuông góc với đội hình tuyến của đối phương, một đội tầu hướng vào các tàu trung tâm và một đội khác hướng vào phía cuối của đội hình tuyến của quân địch, tàu của ông sẽ phá vỡ sự đội hình một nửa số tầu của đối phương, bao quanh họ và buộc họ phải chiến đấu đến cùng. Nelson hy vọng một cách cụ thể là sẽ cắt dòng của đối phương chỉ ở phía trước chiếc kỳ hạm của quân địch và làm cho các tàu bị cô lập ở phía trước đội hình vì không thể nhìn thấy tín hiệu của chiếc kỳ hạm, và các tầu này sẽ không thể tham gia chiến đấu trong khi chúng lập lại được đội hình. Chiến thuật lao thẳng vào đội hình địch là sự lặp lại của các chiến thuật được sử dụng bởi Đô đốc Duncan tại Trận Camperdown và Đô đốc Jervis tại Trận Cape St Vincent, tất cả các trận này đều diễn ra vào năm 1797.
Kế hoạch này có ba lợi thế chính. Thứ nhất, nó sẽ cho phép hạm đội Anh tiếp cận với hạm đội Pháp-Tây Ban Nha càng nhanh càng tốt, làm giảm cơ hội mà nó (hạm đội Pháp-Tây Ban Nha) có thể thoát ra mà không có chiến đấu. Thứ hai, nó sẽ nhanh chóng tạo ra một trận chiến Melee (đánh tay đôi) dữ dội bằng cách phá vỡ đội hình tuyến của Pháp – Tây Ban Nha và trở thành một loạt các tàu đơn lẻ đấu tay đôi theo kiểu ship-to-ship, và khi đó người Anh có khả năng thắng thế. Nelson biết rằng thủy thủ đoàn của ông có khả năng điều khiển tầu tốt hơn, thuật bắn nhanh hơn và tinh thần cao hơn và điều này là yếu tố quyết định của chiến thắng mà những lợi thế về số lượng tầu hoặc sự dũng cảm trong một phần trong các thủy thủ đoàn của đối phương không thể bù đắp lại được. Ba là, nó sẽ tạo ra một cuộc tấn công tập trung vào hậu đội của hạm đội liên hợp Pháp-Tây Ban Nha. Các tàu trong đội hình tiền quân của hạm đội đối phương sẽ phải quay trở lại để hỗ trợ đội hậu quân, nỗ lực đó sẽ phải mất một thời gian khá dài.

Hạn chế chủ yếu của chiến thuật tấn công này là vào thời gian đầu các tầu Pháp – Tây Ban Nha sẽ có thể duy trì việc bắn phá thia lia bằng các pháo mạn vào phần mũi của các tàu hàng đầu của Anh khi họ tiếp cận, đây là thời điểm các tàu Anh không thể bắn trả (vì mũi các tầu buồm thường đặt rất ít súng). Tuy nhiên Nelson cũng tiên liệu rằng các pháo thủ Pháp và Tây Ban Nha thường không được đào tạo tốt, và thường được bổ sung bằng các binh sĩ (ít pháo thủ chuyên nghiệp — > thuật bắn kém), và sẽ khó bắn chính xác từ các khẩu súng đang di chuyển (tầu chở súng đang di chuyển — > súng cũng di chuyển theo ). Sau tất cả là Hạm đội liên hợp (Pháp – Tây Ban Nha) đang bơi trên một cơn sóng cồn làm cho các con tầu cuộn vào nhau và trầm trọng hơn tình thế của họ. Kế hoạch của Nelson thực sự là một canh bạc, nhưng đó là một canh bạc được tính toán một cách cẩn thận.

Trong thời gian phong tỏa ngoài khơi Tây Ban Nha vào tháng mười, Nelson nói với các thuyền trưởng của mình rằng ông có ý định như thế nào để chiến đấu trong một trận chiến áp sát trong hai bữa ăn tối trên tàu Victoria. Các nguyên tắc điều hành trong những hướng dẫn của ông là thứ tự của các tầu, đó chính là cách bố trí hạm đội khi lần đầu tiên nhìn thấy đối phương, và thứ tự này được duy trì đến cuối của trận đánh, do đó không có thời gian để lãng phí trong việc lập một đội hình tuyến chính quy. Cuộc tấn công sẽ được thực hiện bởi hai hải đội, một trong số đó được chỉ huy bởi Collingwood một phó của Nelson, và đội tầu này được tung vào phía hậu đội của đối phương, trong khi một hải đội khác do đích thân Nelson chỉ huy sẽ săn sóc đội trung tâm và tiên phong của đối phương. Để chuẩn bị cho trận đánh, Nelson ra lệnh cho các tàu của hạm đội của mình phải quét một mầu sơn màu vàng và đen đặc biệt (sau này gọi là ke vuông của Nelson) để làm cho họ có thể dễ dàng phân biệt với các đối thủ.

Nelson đã cẩn thận để chỉ ra những gì có thể tạo ra cơ hội cho chiến thắng. Không có gì là chắc chắn rằng trong một cuộc hải chiến trên biển cả , và ông ra lệnh cho các thuyền trưởng của mình bỏ lại tất cả các đồ cồng kềnh bằng cách nói với họ rằng: “Không có chỗ cho sai lầm của các thuyền trưởng khi họ đang bơi dọc theo tầu của kẻ thù.” Sau này mệnh lệnh đã được chấp hành theo đúng hướng dẫn của ông và hậu đội của đối phương đã bị chia cắt và hạm đội Anh tập trung lực lượng vượt trội vào một phần đội hình tuyến của đối phương.

Đô đốc Villeneuve tự bày tỏ tin tưởng rằng Nelson sẽ sử dụng một chiến thuật tấn công không chính thống, cụ thể ông tin rằng Nelson sẽ tấn công vào cánh phải của mình. Nhưng cuộc chơi mèo vờn chuột với Nelson đã làm mòn ông ta và ông đã bị mất tinh thần. Lập luận rằng sự thiếu kinh nghiệm của các sỹ quan của ông có nghĩa là ông ta sẽ không thể duy trì đội hình ở nhiều hơn một nhóm, ông ta chọn cách chẳng làm gì để đoán biết một đánh giá chính xác về ý định của Nelson.

Khởi hành

Hạm đội tàu chiến kết hợp của Pháp và Tây Ban Nha neo tại Cadiz dưới sự chỉ huy của Đô đốc Villeneuve trở nên như rối loạn. Vào ngày 16 tháng 9 năm 1805 Villeneuve nhận được mệnh lệnh của Hoàng Đế Napoléon điều họ từ Cadiz tới Napoli. Lúc đầu, Villeneuve rất lạc quan về việc quay trở về Địa Trung Hải nhưng sau đó ông ta lại sớm có ý tưởng thứ hai. Một ủy ban thời chiến được tổ chức trên chiếc Kỳ hạm của ông ta, chiếc Bucentaure vào ngày 8 tháng 10 năm 1805. Trong khi một số các thuyền trưởng Pháp muốn tuân theo mệnh lệnh của Napoléon, các thuyền trưởng Tây Ban Nha và các quan chức Pháp khác, bao gồm cả Villeneuve, nghĩ rằng tốt nhất là nên ở lại Cadiz. Villeneuve đổi ý của mình nhưng lại ngay vào ngày 18 Tháng Mười 1805 ông ta lại ra cho lệnh Hạm đội liên hợp căng buồm ra khơi ngay lập tức ngay cả khi chỉ có gió rất nhẹ.

Sự thay đổi đột ngột đã được nhắc nhở bằng một lá thư Villeneuve nhận được vào ngày 18 Tháng Mười 1805, thông báo cho ông ta rằng Phó Đô đốc François Rosily đã đến Madrid với mệnh lệnh của Hoàng Đế là nắm lấy quyền Tư lệnh Hạm đội liên hợp. Cảm thấy bị xúc phạm do viễn cảnh bị giáng chức trước hạm đội, Villeneuve chọn phương án đi ra biển trước khi người kế nhiệm ông có thể có thể đến được Cadiz. Đồng thời, ông đã nhận được tin tình báo rằng một đội sáu tàu Anh ( Hải đội của Đô đốc Louis) đã cập cảng tại Gibraltar, điều này có thể làm suy yếu hạm đội Anh (đang rập rình ở ngoài khơi). Việc này được sử dụng như là để giải thích lý do cho sự thay đổi đột ngột.

Thời tiết, tuy nhiên bất ngờ trở nên yên ả sau một tuần có gió to. Việc này làm chậm tiến độ của hạm đội khi rời cảng, đưa ra các cảnh báo cho người Anh. Villeneuve đã soạn thảo kế hoạch thành lập một lực lượng gồm bốn hải đội, mỗi hải đội có cả tầu Pháp và Tây Ban Nha. Vì theo kết quả của cuộc bỏ phiếu trước đó của họ vào ngày 8 tháng 10 1805 hạm đội sẽ ở lại, nên một số thuyền trưởng miễn cưỡng rời Cádiz và kết quả là họ không thể làm theo mệnh lệnh của Villeneuve một cách chặt chẽ. Kết quả là, hạm đội ra khỏi bến cảng một cách lộn xôn mà không có một đội hình cụ thể.

Phải đến tận ngày 20 tháng 10 Villeneuve mới có thể tổ chức lại được hạm đội của mình, và họ chia thành ba tiến từ phía eo biển Gibraltar đến phía đông nam. Đó là buổi tối cùng, khi tàu Achille phát hiện thấy một lực lượng của 18 tàu tiền tuyến của Anh đang đuổi theo. Hạm đội bắt đầu huẩn bị cho trận chiến và trong đêm họ đã được yêu cầu để tạo ra đội hình một dòng đơn. Ngày hôm sau hạm đội của Nelson gồm 27 tàu tiền tuyến và bốn tàu khu trục đã được phát hiện từ phía tây bắc với thổi gió phía sau nó. Villeneuve một lần nữa ra lệnh cho hạm đội của mình chia thành ba cột, nhưng sau đó lại nhanh chóng đổi ý và ra lệnh tạo đội hình một dòng đơn. Kết quả là tạo nên một đội hình không đồng đều.

Hạm đội Anh đã căng buồm và họ đã sẵn sàng chiến đấu sau 72 tín hiệu được phát đi trên kỳ hạm của Nelson. Lúc 05:40, người Anh ở khoảng 21 dặm (34 km) về phía bắc-tây của Cape Trafalgar, với hạm đội Pháp-Tây Ban Nha giữa Anh và mũi đất. Vào lúc 6:00 sáng Nelson đã ra lệnh chuẩn bị cho trận đánh.
Lúc 08:00, Villeneuve ra lệnh cho hạm đội quay trở lại Cádiz. Việc này làm đảo ngược thứ tự của đội hình tuyến của Đồng Minh và làm cho các bộ phận phía sau dưới sự chỉ huy của Chuẩn đô đốc Pierre Dumanoir le Pelley trở thành các tầu tiên phong. Gió đã trở thành trái chiều vào thời điểm này và thường chuyển hướng. Gió rất nhẹ làm cho việc xoay chuyển tầu hầu như là không thể đối với tất cả, nhưng đối với những tầu có các đội thủy thủ chuyên nghiệp nhất thì họ vẫn làm được. Các thủy thủ đoàn thiếu kinh nghiệm đã gặp khó khăn với các điều kiện thời tiết thay đổi, và phải mất gần một giờ rưỡi để trật tự của Villeneuve được hoàn tất. Hạm đội Pháp và Tây Ban Nha bây giờ hình thành một đội hình lưỡi liềm, góc cạnh không đồng đều, với các tàu nói chung đi chậm dưới gió và gần với bờ biển.

Vào lúc 11:00 hạm đội toàn bộ của Nelson bị bộc lộ cho Villeneuve nhìn thấy, với việc được chia thành hai cột song song. Hai hạm đội sẽ vào phạm vi tầm bắn của nhau trong vòng một giờ. Villeneuve đã được lưu ý đến điểm này trong việc tạo đội hình thành một tuyến, cũng như tàu của ông đã không ở trong một khoảng cách đều nhau và đội hình bất thường. Hạm đội Pháp-Tây Ban Nha đã được lệnh rút gần lại khoảng năm dặm (8 km) trong khi hạm đội của Nelson đang tiếp cận.

Khi người Anh tiến lại gần hơn, họ có thể thấy rằng đối phương không đi biển theo một thứ tự chặt chẽ, mà đúng hơn là thành các nhóm không đều. Nelson có thể không ngay lập tức nhận ra các kỳ hạm của Pháp vì các kỳ hạm của Pháp và Tây Ban Nha đã không có các cờ hiệu lệnh.

Sáu chiếc tàu Anh được cử đi Gibraltar đã không kịp trở lại, do đó, Nelson sẽ phải chiến đấu mà không có chúng. Ông có ít hơn cả về người là súng, phía Pháp có gần 30.000 người và 2.568 súng so với 17.000 người và 2.148 súng của Nelson.Hạm đội Pháp-Tây Ban Nha cũng có nhiều hơn sáu chiếc tàu tiền tuyến trong đội hình này, và do đó có thể dễ dàng kết hợp hỏa lực của họ. Không có cách nào đối với một số tàu của Nelson để tránh bị tấn công với hỏa lực mạnh “gấp đôi ” hoặc thậm chí còn “gấp ba” lần.

Trận đánh bắt đầu

Tranh vẽ trận Trafalgar lúc 13h - các cột tầu Anh đang lao vào đội hình tầu Pháp

Trận đánh tiến triển chủ yếu theo đúng kế hoạch của Nelson ngoại trừ một thực tế về cái chết của ông. Lúc 11:45, Nelson gửi một tín hiệu cờ nổi tiếng, ” Nước Anh hy vọng rằng mọi người sẽ làm tròn bổn phận của mình”Ông đã chỉ đạo cho sĩ quan tín hiệu của mình, trung úy John Pasco, để báo hiệu cho các đội tàu thông điệp ” Nước Anh tin tưởng rằng người sẽ làm tròn bổn phận của mình.” Pasco gợi ý cho rằng Nelson rằng chữ hy vọng nên được thay thế cho chữ tin tưởng, Vì khi đó từ hy vọng đã ở trong sách tín hiệu, trong khi từ tin tưởng phải được đánh vần ra theo từng chữ cái (letter-by- letter). Nelson đã đồng ý để thay đổi.
” Các hạ (ý chỉ Nelson) đến gặp tôi ở phần đuôi tầu, và sau khi ra lệnh tín hiệu nhất định phải được thực hiện, khoảng gần đến giữa trưa, ông nói: “Mr. Pasco, tôi muốn nói với đội tàu, nước Anh tin tưởng rằng MỌI NGƯỜI SẼ LÀM TRÒN BỔN PHẬN CỦA MÌNH” và ông nói thêm ” Cậu phải nhanh chóng cho tôi có một gợi ý hay hơn để tạ được một thông điệp sao cho sát với hành động.” Tôi trả lời: “Nếu Các hạ cho phép tôi sẽ thay thế tín hiệu tin tưởng bằng tín hiệu hy vọng và thông điệp sẽ sớm được hoàn thành, bởi vì từ đó vốn có trong vốn từ vựng, trong khi chữ tin tưởng phải được đánh vần” Câu trả lời của Các hạ trong sự vội vàng, và hài lòng ” Được đó Pasco, trực tiếp làm nó đi”

Thuật ngữ England được sử dụng rộng rãi tại thời điểm để nói về Vương quốc Anh, Mặc dù hạm đội Anh bao gồm nhiều đội thủy thủ đáng kể đến từ các nước Ai-len, Scotland và xứ Wales cũng như từ nước Anh. Không giống như hình ảnh mô tả, tín hiệu này được hiển thị chỉ trên cột buồm chính và đòi hỏi phải có 12 loại cờ hiệu.

Khi trận bắt đầu nổ ra, người Pháp và Tây Ban Nha đang ở trong một đội hình đường cong hướng về phía bắc. Theo kế hoạch, hạm đội Anh sẽ tiếp cận hạm đội Pháp-Tây Ban Nha theo hai cột. Dẫn đầu cột ở đầu gió phía bắc là chiếc kỳ hạm 100 súng Victoria của Nelson, trong khi Collingwood trong chiếc kỳ hạm 100 súng Royal Sovereign dẫn đầu cột thứ hai, ở dưới gió. Khi hai cột tầu Anh tiếp cận từ hướng phía tây ở một góc gần bên phải. Nelson dẫn đầu cột tầu của ông đánh một đòn nhử về phía tiền quân của hạm đội Pháp-Tây Ban Nha và sau đó đột ngột chuyển hướng đến điểm thực tế của cuộc tấn công. Collingwood cũng thay đổi lịch trình cột tầu của mình một chút để hai cột tầu hội tụ và tấn công vào đội hình tầu của đối phương.
Chỉ khi cột tầu của mình sắp nổ súng với các tầu của lực lượng liên hợp, Collingwood nói với sỹ quan của ông, “Bây giờ, thưa các quý ngài, chúng ta hãy làm điều gì đó trong ngày hôm nay để thế giới có chuyện để nói vào những ngày về sau”. Vì gió rất nhẹ trong trận đánh, tất cả các tàu đều di chuyển rất chậm, và các tàu của Anh đã phải chịu đựng hỏa lực hạng nặng từ nhiều tàu địch tới gần một giờ trước khi súng của họ có thể trả lời (Trời đất điều này chứng tỏ pháo thủ Pháp bắn quá kém).

Vào lúc giữa trưa, Villeneuve đã gửi tín hiệu “Tấn công vào kẻ thù” và chiếc kỳ hạm Fougueux bắn thử phát đầu tiên của mình vào chiếc Royal Sovereign. Chiếc kỳ hạm Royal Sovereign căng tất cả các buồm ra và vượt lên trên phần còn lại của hạm đội Anh. Khi nó tiếp cận các tầu của hạm đội liên hợp, nó phải chịu hỏa lực từ các chiếc Fougueux, Indomptable, San Justo và San Leandro, trước khi tách dòng ơ? phía sau của chiếc kỳ hạm Santa Ana của Đô đốc Álava, vào lúc đó nó đã bắn thia lia một loạt đạn kép từ các khẩu pháo mạn vào con tầu này (chiếc kỳ hạm Santa Ana).

Con tàu thứ hai trong cột tầu khuất gió của Anh, chiếc Belleisle, đã bị tấn công bởi các chiếc LAigle, Achille, Neptune và Fougueux; nó đã sớm hoàn toàn bị gãy hết cột buồm, không thể vận động uyển chuyển và phần lớn thời gian không thể tham chiến, vì buồm của nó đổ xuống làm che tầm nhìn các khẩu đội pháo của nó, nhưng vẫn giữ cờ của nó tung bay trong vòng 45 phút cho đến khi tầu Anh ở phía sau đến cứu nó.

Trong vòng 40 phút, chiếc Victoria phải chịu hỏa lực từ các chiếc Héros, Santísima Trinidad, Redoutable và Neptune, Mặc dù nhiều phát đạn đã bắn trượt những phát khác vẫn làm chết và bị thương một số thủy thủ đoàn và bắn đi chiếc bánh lái của nó, vì vậy mà nó đã có được điều khiển từ bánh lái của boong dưới. chiếc Victoria vẫn chưa thể bắn trả. Vào lúc 12:45, nó cắt dòng của kẻ thù ở giữa chiếc kỳ hạm Bucentaure của Villeneuve và chiếc Redoutable. Chiếc Victoria đến gần chiếc Bucentaure, bắn một loạt đạn dữ dội bằng các pháo mạn vào sườn phải của nó (chiếc Bucentaure) làm chết và bị thương nhiều người trên boong súng của nó. Villeneuve nghĩ rằng đột kích qua mạn tàu sẽ xảy ra, và với các lực lượng ông ta có trong tay, và nói với người của mình: “Tôi sẽ ném tung họ sang tàu địch và tôi sẽ đưa mang họ trở lại đây” Tuy nhiên, chiếc Victoria của Đô đốc Nelson chỉ tấn công bằng súng chiếc tầu 74 súng Redoutable. Chiếc Kỳ hạm Bucentaure được bỏ qua để bị xử lý bởi ba tàu tiếp theo của cột đầu gió của Anh, các chiếc Temeraire, Conqueror và Neptune (như vậy cả hai bên đều có tầu được đặt tên là Neptune).

Một trận đại hỗn chiến ( Melee) xảy ra sau đó, trong quá trình của trận đánh, chiếc Victoria đã khóa cột buồm với chiếc Redoutable của Pháp. Các thủy thủ đoàn của chiếc Redoutable, trong đó bao gồm một đội bộ binh mạnh (với 3 đại úy và 4 trung úy), tập hợp cho một cố gắng nhằm bắt sống chiếc Victoria. Một phát súng hỏa mai bắn từ buồm chính của chiếc Redoutable trúng vào vai trái Nelson và xuyên qua cột sống của ông ta tại các đốt sống ngực thứ sáu và thứ bảy nằm ở khoảng hai inch dưới xương vai phải trong các cơ bắp của ông ta. Nelson kêu lên, ” Cuối cùng họ đã thành công và tôi đã bị giết” Ông được khiên xuống sàn dưới của con tầu.

Chiếc Victoria ngừng bắn, các pháo thủ được gọi là trên boong để chống lại quân Pháp đột kích nhưng họ đã bị đẩy lùi xuống sàn dưới bởi các quả thủ pháo của Pháp. Khi người Pháp chuẩn bị đổ bộ lên chiếc Victoria thì chiếc Temeraire, tàu thứ hai trong cột xuôi gió của Anh, tiếp cận từ mũi mạn phải của chiếc Redoutable và bắn vào thủy thủ đoàn Pháp một loạt đạn carronade, gây nhiều thương vong.

Lúc 13:55, Thuyền trưởng Lucas, của chiếc Redoutable, cùng với 99 người trên tổng số 643 bị thương nặng nề và phải đầu hàng. Chiếc tầu Pháp Bucentaure bị cô lập bởi các chiếc Victoria và Temeraire, sau đó các chiếc Neptune, Leviathan và Conqueror cũng tham gia tấn công nó. Tương tự như vậy, chiếc Santísima Trinidad bị cô lập và bị choáng ngợp, phải đầu hàng và giao nộp tầu sau ba giờ.

Khi có nhiều tàu Anh bước vào trận chiến, các tàu của hạm đội liên hợp ở đội trung tâm và phía sau đã dần dần bị lấn át. Các tiên phong của hạm đội liên hợp, sau một khoảng thời gian dài không có hành động gì, đã thực hiện một cuộc thao diễn vô ích và sau đó bỏ đi. Người Anh đã tiêu diệt và bắt sống 22 tàu của hạm đội Pháp-Tây Ban Nha mà không bị mất một tầu nào. Danh sách các tàu Pháp bị tiêu diệt và bắt sống là các chiếc LAigle, Algésiras, Berwick, Bucentaure, Fougueux, Intrépide, Redoutable, Và Swiftsure. Người Tây Ban Nha bị mất các chiếc Argonauta, Bahama, Monarca, Neptuno, San Agustín, San Ildefonso, San Juan Nepomuceno, Santísima Trinidad, và Santa Ana. Trong số này, chiếc Redoutable bị chìm, chiếc Santísima Trinidad và Argonauta buộc cáp và kéo đi bởi người Anh và sau đó cũng chìm, chiếc Achille phát nổ, chiếc Intrépide và San Augustin bị đốt cháy, và các chiếc LAigle, Berwick, Fougueux, và Monarca bị đắm trong một trận bão lớn sau trận đánh.

Lúc Nelson sắp chết, ông đã ra lệnh cho hạm đội bỏ neo để đối phó với một cơn bão đã được dự đoán. Tuy nhiên, khi cơn bão thổi lên làm nhiều trong số các tàu bị hỏng nặng chìm hoặc bị mắc cạn trên bãi cát ngầm. Một vài chiếc trong số chúng đã bị tái chiếm bởi các tù nhân Pháp và Tây Ban Nha sau khi khống chế đội áp giải nhỏ bé hoặc bằng tàu phá vây từ Cádiz. Bác sĩ phẫu thuật William Beatty nghe Nelson nói rên rỉ rằng “Cảm ơn Chúa tôi đã làm xong bổn phận của tôi”, khi đó ông thấy giọng nói của Nelson đã yếu dần và mạch đập của ông rất yếu. Ông ta nhìn lên khi Beatty đang cố xem mạch cho ông, sau đó nhắm mắt lại. Cha cố của Nelson, linh mục Scott Alexander, người ở lại cạnh Nelson khi ông qua đời, ghi lại những lời cuối cùng của ông là “Chúa và đất nước tôi.” Nelson qua đời ở khoảng bốn giờ rưỡi, ba giờ sau khi bị trúng đạn.

Sau trận đánh

Chỉ mười một tàu là chạy về được tới Cádiz, và trong số chúng chỉ có năm chiếc được coi là còn đi biển được. Dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Julien Cosmao, Họ căng buồm trong hai ngày sau đó và cố gắng để tái chiếm một số các tầu chiến lợi phẩm của Anh; họ đã thành công trong việc tái chiếm hai chiếc tàu, và buộc Collingwood phải bỏ một số tầu chiến lợi phẩm của mình. Bốn tàu tiên phong đó chạy thoát với Dumanoir lại bị bắt vào ngày 04 Tháng 11 bởi Sir Richard Strachan trong trận Cape Ortegal.

Khi Rosily (Đô đốc mới của Hạm đội Pháp – Tây Ban Nha) đến Cádiz, ông thấy chỉ có năm tàu Pháp chứ không phải là 18 như ông mong muốn. Các tàu còn sống sót vẫn bị phong tỏa tại Cádiz cho đến năm 1808, khi Napoleon xâm lược Tây Ban Nha. Các tàu Pháp sau đó đã thu giữ bởi các lực lượng Tây Ban Nha và được đưa vào các hoạt động chống lại người Pháp.

HMS Victoria đi đến Gibraltar để sửa chữa, mang theo xác của Nelson. Nó đã đi vào vịnh Rosia – Gibraltar và sau khi được sửa chữa khẩn cấp, nó trở lại Anh. Nhiều người trong thủy thủ đoàn bị thương đã được đưa lên bờ tại Gibraltar và điều trị tại Bệnh viện Hải quân. Những người sau đó đã chết vì vết thương ở trận đánh được chôn cất tại hoặc gần Nghĩa trang Trafalgar, ở cuối phía nam của Main Street, Gibraltar.
Một sỹ quan Hải quân Hoàng gia bị giết trên tàu HMS Victory, thuyền trưởng Charles Adair. Một sỹ quan Hải quân Hoàng gia khác Lewis Buckle Reeve bị thương nặng trong trận đánh, và được đặt nằm bên cạnh Nelson.

Trận đánh diễn ra vào ngày hôm sau của trận Ulm (quân Pháp bắt sống toàn bộ hàng chục nghìn quân Áo đang phòng thủ tại Ulm), và Napoléon đã không nghe được về tin này cho tới vài tuần ?” Đại quân Pháp ( Grande Armée) đã rời Boulogne để tiến đánh các đồng minh của Anh Quốc trước khi họ có thể kết hợp thành một lực lượng rất lớn. Ông đã kiểm soát chặt chẽ trên các phương tiện truyền thông Paris và thất bại tại Trafalgar là một bí mật được kiểm soát canh gác chặt chẽ. Trong một động thái tuyên truyền, trận chiến được tuyên bố là chiến thắng “ngoạn mục” của người Pháp và Tây Ban Nha.

Phó Đô đốc Villeneuve đã bị bắt làm tù binh trên chiếc kỳ hạm của mình và được đưa trở lại Anh. Sau khi ông được phóng thích vào năm 1806 và trở về Pháp, Villeneuve đã được tìm thấy trong phòng của mình tại một quán trọ dừng chân trên đường đến Paris và bị đâm sáu phát vào ngực với một con dao ăn. Người ta đã ghi nhận rằng ông đã tự sát.

Gần hai tháng sau đó, cuộc chiến tranh của Liên minh thứ ba đã kết thúc với một chiến thắng quyết định của Pháp đánh bại Nga và Áo, các đồng minh của Anh Quốc, tại trận Austerlitz. Phổ quyết định không gia nhập Liên minh Châu Âu và lại một lần nữa hòa bình được lập lại một cách tạm thời. Pháp không còn có thể thách thức Anh quốc trên mặt biển. Thay vì cố gắng làm việc này Napoléon đã thiết lập Continental System trong một nỗ lực để nhằm ngăn chặn thương mại của nước Anh vào châu lục này.

Hậu quả của trận đánh

Sau trận đánh, Hải quân Hoàng gia Anh không bao giờ một lần nữa bị thách thức một cách nghiêm trọng bởi hạm đội Pháp trong một chiến dịch quy mô lớn. Napoléon đã hủy bỏ kế hoạch của ông về cuộc xâm lược nước Anh trước trận đánh và kế hoạch này không bao giờ được hồi sinh, và thời mà hải quân Pháp còn có thể thách thức đối với nước Anh đã qua rồi. Đầu tiên, sự kiểm soát của Pháp trên lục địa mở rộng, nước Anh phải có những hành động tích cực bước vào năm 1807 và 1808 để ngăn chặn các tàu của hải quân của các Quốc gia nhỏ ở châu Âu rơi vào tay người Pháp. Nỗ lực này phần lớn thành công, nhưng đã không chấm dứt các mối đe dọa của người Pháp đặc biệt là Napoléon cho tiến hành một chương trình đóng tàu quy mô lớn tạo ra một đội 80 tàu tiền tuyến lớn vào thời điểm ông ta mất đi quyền lực của mình vào năm 1814, và một số tầu lớn hơn nữa đang được đóng dở dang, so với 99 tàu tiền tuyến Anh đang hoạt động trong năm 1814. Cho tới thêm một vài năm sau, người Pháp có các kế hoạch của họ để đóng 150 tàu tiền tuyến và một lần nữa thách thức Hải quân Hoàng gia Anh, người Pháp cố gắng bù đắp cho những yếu kém của thủy thủ đoàn của họ bằng con số tuyệt đối (ý nói dùng số lượng bù chất lượng). Gần 10 năm sau trận Trafalgar, Hải quân Hoàng gia duy trì phong tỏa chặt chẽ của các căn cứ của Pháp và lo lắng quan sát thấy sự tăng trưởng của hạm đội Pháp. Cuối cùng, đế chế của Napoléon đã bị phá hủy trước khi sự tích tụ đầy tham vọng có thể được hoàn thành.

Nelson đã trở thành – và vẫn là ” người anh hùng vĩ đại nhất của hải quân Anh Quốc trong chiến tranh, và là một nguồn cảm hứng cho Hải quân Hoàng gia, nhưng chiến thuật không chính thống của ông không được các thế hệ sau sử dụng một cách thường xuyên. Tượng đài đầu tiên ở Anh để kỷ niệm Nelson đã được dựng lên tại Glasgow Green năm 1806, có thể được dựng sau tượng đài Taynuilt, tại Oban năm 1805, cả hai cũng để kỷ niệm rằng nhiều thủy thủ đoàn và thuyền trưởng của Nelson là người Scotland…

Sự chênh lệch về thiệt hại của đội bên được cho là do đánh giá của một số nhà sử học, từ chiến thuật táo bạo của Nelson, hơn là với sự khác biệt trong khả năng chiến đấu của hai đội. Hạm đội của Nelson đã được tạo ra từ các tàu tiền tuyến vốn đã có một khoảng thời gian đi biển đáng kể trong những tháng phong tỏa Hải cảng Pháp, trong khi hạm đội Pháp nói chung là chỉ được neo tại cảng. Tuy nhiên, đội tàu của Villeneuve đã chỉ có hai chuyến đi biển dài hàng tháng tại vùng biển Đại Tây Dương, việc này hỗ trợ các đề xuất rằng sự khác biệt chính trong hiệu quả chiến đấu của hai hạm đội là ở tinh thần của các Tư lệnh Hạm đội. Các chiến thuật táo bạo của Nelson đã thành công để đảm bảo một chiến thắng quyết định có ý nghĩa chiến lược.

Hải quân Hoàng gia Anh mở rộng sự thống trị trên các vùng biển trong những năm còn lại của kỷ tầu buồm. Mặc dù chiến thắng tại Trafalgar thường được lý giải khác nhau tại mỗi thời điểm, nhà phân tích sử học hiện đại Paul Kennedy cho thấy rằng sức mạnh kinh tế là một hệ quả quan trọng tiềm ẩn trong việc bá chủ biển cả của hải quân Anh.

Một giai thoại hệ quả liên quan đến trận Trafalgar, là sỹ quan Hải quân Pháp chưa bao giờ được gọi với từ “sir”, đây được cho là xuất phát từ sự khinh bỉ của Napoléon khi biết Hạm đội lớn của mình bị đánh bại một cách toàn diện.

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s