VỀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA TIẾNG VIỆT

 

1.Phân loại

Các nhà ngôn ngữ học đã từng đặt tiếng Việt vào hệ ngữ Hán-Tạng (Sino-Tibetan), Tai-Kradai, nhưng sau bao nhiêu thập kỷ họ đã đi đến kết luận rằng đặt tiếng Việt vào hệ ngữ Mon-Khmer của Nam Á (Austroasiatic) là hợp lý nhất.

Việc sắp đặt tiếng Việt vào hệ Hán-Tạng hay Tai-Kradai ban đầu chủ yếu do quan niệm rằng các ngôn ngữ có thanh điệu phải có quan hệ di truyền với nhau. Tuy nhiên quan niệm này đã bị bác bỏ sau khi Haudricourt chứng minh rằng thanh điệu trong tiếng Việt vốn được hình thành từ sự biến đổi các âm tận cùng, và như thế tổ tiên của tiếng Việt hiện đại đã một thời không có thanh. Sau đấy các nhà ngôn ngữ học khác cũng chứng minh rằng tiếng Hán ngày xưa vốn không có thanh, và thanh điệu trong tiếng Hán chỉ hình thành từ thời trung đại (khoảng Tuỳ-Đường).

Như vậy, việc sắp đặt các ngôn ngữ dựa vào thanh điệu không còn cơ sở, vì các ngôn ngữ không thanh điệu có thể hình thành thanh điệu, dưới sự ảnh hưởng của nhau hay độc lập với nhau.

Từ đấy, việc phân loại tiếng Việt dựa chủ yếu vào một thứ: từ vựng căn bản.

Từ vựng căn bản trong tiếng Việt có thể có tương đồng với nhiều ngôn ngữ, nhưng những từ vựng căn bản nhất lại có tương đồng với hệ ngữ Mon-Khmer. Đấy là:

– Những từ chỉ bộ phận cơ thể căn bản: tay, chân, mắt, mũi

– Những từ chỉ thiên nhiên căn bản: trời, đất, mây, mưa, sông, nước

Vì vậy, tiếng Việt hiện tại được đặt vào hệ ngữ Mon-Khmer (cụ thể là chi Viet-Muong của hệ ngữ Mon-Khmer). Tuy nhiên, nó cũng có khá nhiều tương đồng (về từ vựng, cấu trúc, ngữ điệu) với tiếng Thái, và đặc biệt là với tiếng Hán.

2. Lịch Sử

Lịch sử của một ngôn ngữ khác với lịch sử của cư dân hiện đang nói ngôn ngữ ấy, nhưng không thể nói đến cái đầu mà không nói đến cái sau và ngược lại. Ở đây mình xin nói đến lịch sử ngôn ngữ của cư dân vùng lưu vực sông Hồng.

Cư dân vùng lưu vực sông Hồng thời tiền Bắc Thuộc nói ngôn ngữ gì không ai biết chắc được. Các nền văn hoá Đông Sơn, Đồng Đậu, Gò Mun v.v. chỉ để lại dấu tích về vật chất mà không để lại dấu tích về ngôn ngữ nói. Đến thế kỷ thứ 1 SCN, Hai Bà Trưng nói thứ tiếng gì cũng không thể chắc được. Rồi Triệu Thị Trinh nói tiếng gì? Cũng khó có thể xác định.

Dù hẳn có khá nhiều thứ tiếng từng được nói tại vùng lưu vực sông Hồng trong quá khứ, chưa có dấu tích nào để ta xác định cụ thể từng thứ tiếng hiện diện ở từng khu vực và thời đại trong suốt khoảng thời gian từ 2000 đến 1000 năm về trước.

Dấu tích duy nhất để lại là danh hiệu Bố Cái Đại Vương được ghi bằng chữ Hán của Phùng Hưng. Trong 4 chữ này, Đại Vương là Hán ngữ còn Bố Cái được xác định là một trong những thứ tiếng bản xứ khi ấy, với Bố mang nghĩa vua (như vương) và Cái mang nghĩa to (như đại). Vậy Bố Cái = Đại Vương

Tiếng Việt ở thế kỷ 17 vẫn chưa có âm V. Vua được các giáo sĩ phương Tây ghi lại là Bua. Từ đấy có thể thấy sự liên hệ giữa Bua và Bố. Tuy nhiên trong tiếng Thái-Lao cũng có từ Pó chỉ thủ lĩnh, và không khó để có thể thấy sự liên hệ giữa Pó và Bố. Người Việt dùng chữ Cái để chỉ những thứ to (sông cái, ngón cái), nhưng từ này dường như cũng hiện diện ở một số phương ngữ Thái (?). Vậy suy cho cùng Bố Cái Đại Vương nói tiếng Thái hay Việt-Mường vẫn khó xác định, dù nhiều học giả vẫn nghiên về hướng Việt-Mường hơn.

2A. Tiếng Proto-Viet-Muong

Nói về ngôn ngữ Việt-Mường, theo nhận định của giáo sư John Phan và được sự đồng ý của các học giả nghiên cứu tiếng Việt-Mường trên thế giới hiện nay, tiếng Việt và Mường chỉ tách khỏi nhau khoảng 1000 năm về trước. Và cái gọi là tiếng Mường thật ra không phải là 1 ngôn ngữ mà là nhiều ngôn ngữ khác nhau, và mỗi ngôn ngữ Mường không có liên hệ với nhau nhiều hơn là với tiếng Kinh. Nói cách khác, khoảng 1000 năm về trước, có 1 ngôn ngữ đã bước ra khỏi một tổ hợp các tiếng nói mà ngày nay gọi chung là “Mường” và tiến hoá thành tiếng Kinh ngày nay.

Các phương ngữ “Kinh” ngày nay đều có chung những đặc điểm tiến hoá cho thấy chúng bước ra từ cùng một tổ tiên. Ví dụ: biến âm “explosive” thành âm “implosive” (p –> b ; t –> đ. Ví dụ: pa –> ba, tao –> đao), biến âm “implosive” thành âm “nasal” (b –> m ; d –> n. Ví dụ: băng –> măng, đắng –> nắng) v.v. Dù là phương ngữ Nghệ, Huế, Bắc, Nam đều có chung những đặc điểm tiến hoá này, phân biệt rõ với các tiếng Mường.

Trong khi đó các tiếng Mường không cho thấy những đặc điểm tiến hoá chung nào. Những điểm tiến hoá chung giữa chúng cũng là những điểm có thể thấy trong tiếng Kinh. Điều này cho thấy tổ tiên chung của chúng cũng là tổ tiên chung với tiếng Kinh.

Do đó, hơn 1000 năm về trước, nếu có thứ tiếng được nói tại lưu vực sông Hồng có liên hệ đến tiếng Việt ngày nay, cũng không thể gọi nó là tiếng Việt, mà chỉ có thể gọi nó là tiếng proto-Viet-Muong (Tiền Việt-Mường, nghĩa là thứ tiếng hiện diện trước sự phân chia và hình thành của Việt và các tiếng Mường, cũng là tổ tiên chung của tiếng Việt và Mường).

2B. Tiếng Hán

Ngoài tiếng proto-Viet-Muong, Tày-Thái, còn một ngôn ngữ vô cùng quan trọng được nói tại vùng lưu vực sông Hồng bấy giờ: đấy là tiếng Hán.

Tiếng Hán là ngôn ngữ chính thức tại vùng lưu vực sông Hồng suốt hầu hết thiên niên kỷ thứ 1. Nhưng tiếng Hán tại vùng lưu vực sông Hồng suốt quãng thời gian này cũng phức tạp, gồm nhiều tầng lớp chồng lên nhau và có ảnh hưởng đến nhau.

Từ thời Đông Hán, đã có khá nhiều cư dân từ vùng bắc và trung Trung Hoa di cư đến Giao Chỉ. Những mộ Đông Hán đồ sộ cùng với cổ vật mang đậm phong cách Đông Hán được khai quật tại vùng bắc và bắc trung bộ Việt Nam ngày nay có lẽ là một minh chứng cho điều này, song song với những ghi chép từ sử sách Trung Hoa. Họ đã mang theo ngôn ngữ Hán ở Trung Hoa thời ấy và dấu tích của chúng còn được thấy ở tiếng Việt ngày nay qua những từ như:

cái (個 – Hán Việt: cá)
ngài (蛾 – Hán Việt: nga)
mài (摩 – Hán Việt: ma)
lái (柁 – Hán Việt: đà)
ngói (瓦 – Hán Việt: ngoá, ngoã)

Để ý trong những trường hợp trên âm -i tận cùng đều bị mất ở tiếng Hán trung đại, vì thế âm Hán Việt cũng không có -i tận cùng. (Cụ thể hơn, âm -i tận cùng trong tiếng Việt được cho là bắt nguồn từ -l hoặc -r, vốn đến thời Tấn đều bị mất, nhưng việc đó nằm ngoài tầm bài viết này).

Đến thời Tam Quốc, dân từ Trung Nguyên tiếp tục di cư vào Giao Chỉ với con số lớn. Bác Vật Chí Giáo Chứng (博物志校證) ở thế kỷ thứ 3 ghi rằng luôn có người mang gia đình vượt biển vào Giao Chỉ [1] và Tam Quốc Chí cũng ghi rằng nho sĩ hàng trăm người đã lánh đến đây [1]. Họ đã mang theo ngôn ngữ Hán thời ấy mà dấu tích của nó còn được thấy qua rất nhiều từ mà người Việt ngày nay luôn cho rằng là từ “thuần Việt”.

bác (伯 – Hán Việt: bá)
búa (斧 – Hán Việt: phủ)
buộc (縛 – Hán Việt: phược)
buồm (帆 – Hán Việt: phàm)
buồn (煩 – Hán Việt: phiền)
buôn (販 – Hán Việt: phiến)
buông (放 – Hán Việt: phóng)
buồng (房 – Hán Việt: phòng)
bụt (佛 – Hán Việt: phật)
chém (斬 – Hán Việt: trảm)
chén (盞 – Hán Việt: trản)
chè (茶 – Hán Việt: trà)
chèo (櫂 – Hán Việt: trạo)
chứa (褚 – Hán Việt: trữ)
đũa (箸 – Hán Việt: trứ, trợ)
v.v.

Lớp tiếng Hán gần nhất du nhập vào An Nam trước khi thời kỳ Bắc Thuộc kết thúc là tiếng Hán trung đại, mang đậm đặc điểm thời Đường.

Cũng như những lớp tiếng Hán trước, nó trở thành ngôn ngữ của người bản xứ và trở nên riêng biệt với các phương ngữ Hán khác ở Trung Hoa.

Có một thời gian rất dài các học giả từng cho rằng, tiếng Hán-Việt, cũng như Hán-Hàn và Hán-Nhật, vốn là một ngôn ngữ chết chỉ được học trong lớp học qua sách vở bởi một thành phần nhỏ của xã hội (cũng như người phương Tây học tiếng Latin ngày nay). Nhưng qua những xem xét kĩ càng gần đây, người ta thấy rằng tiếng Hán-Việt thể hiện những tiến hoá riêng biệt, không thể lý giải là do ảnh hưởng từ dân nói tiếng Tày-Thái, proto-Viet-Muong, hay ảnh hưởng từ những phương ngữ Hán khác ở Trung Hoa, cho thấy nó từng là một ngôn ngữ sống.

Ngôn ngữ sống và ngôn ngữ chết khác nhau ở 1 điểm: Ngôn ngữ sống tiến hoá, thay đổi theo thời gian bởi nó được dùng hằng ngày và sẽ có những biến âm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngôn ngữ chết không được dùng hằng ngày, không biến đổi theo thời gian, ngàn năm sau nó vẫn là nó như thế. Một ví dụ của ngôn ngữ chết ngày nay là tiếng Latin, vẫn được học bởi rất nhiều người, nhưng nó chẳng thay đổi gì so với nó ở thiên niên kỷ trước.

Một ví dụ cho thấy sự tiến hoá độc lập của tiếng Hán Việt là sự “giảm nhẹ” (lenition) của âm “velar” (k-, ng-) trong các từ trong Đẳng 等 thứ II trong các sách vần Đường, Tống.

Ví dụ cụ thể:
家 – Hán trung đại: ka –> Hán Việt: gia
交 – Hán trung đại: kao –> Hán Việt: giao
牙 – Hán trung đại: nga –> Hán Việt: nha
樂 – Hán trung đại: ngak –> Hán Việt: nhạc

Hiện tượng này hoàn toàn không thấy trong tiếng Hán-Hàn, Hán-Nhật (vẫn lưu giữ âm velar), cũng không thấy trong các phương Trung Hoa. Tiếng Quan Thoại (mandarin) cũng có hiện tượng khá tương tự k -> j, nhưng nên nhớ rằng tiếng Quan Thoại ở Trung Quốc ra đời khá muộn (từ thời Minh), vì vậy không thể ảnh hưởng lên cách đọc Hán Việt vốn đã được hình thành từ rất lâu trước đó. Hơn nữa tiếng Quan Thoại giảm nhẹ K thành J ở đa số trường hợp (Kinh –> Jing, Kim –> Jin), trong khi đó tiếng Hán Việt chỉ giảm nhẹ ở những âm thuộc Đẳng II.

Hiện tượng này cũng không thể được lý giải là do ảnh hưởng từ dân nói tiếng proto-Viet-Muong hay Tày-Thái, vì nó chưa bao giờ xảy ra ở những ngôn ngữ này, cũng không thấy xảy ra ở những từ được cho là “thuần Việt”. Vì vậy, trong quá khứ, hẳn có một cộng đồng nói tiếng Hán Việt ở An Nam, và hiện tượng biến âm này chỉ xảy ra ở cộng đồng đó.

3. Người Kinh và Tiếng Kinh

Nếu có một cộng đồng nói tiếng Hán Việt tại An Nam xưa thì cộng đồng ấy đã biến đi đâu và để lại một thứ gọi là tiếng Hán-Việt, vẫn được dùng bởi giới trí thức Việt thời phong kiến về sau, nhưng như một ngôn ngữ chết. Giới trí thức Việt về sau vẫn đọc chữ Hán theo lối Hán Việt, dù phát âm có đi sai từ điển âm vận Đường, Tống, Thanh, Minh đến đâu, cho thấy họ không dựa vào từ điển vần từ Trung Quốc như Hàn và Nhật.

John Phan, Keith Taylor, và Li Tana cho rằng một phần lớn trong số họ đã chuyển sang nói tiếng proto-Viet-Muong ở thế kỷ thứ 10, và đó là bước đánh dấu cho sự tách biệt của tiếng Kinh khỏi tổ hợp các tiếng nói mà bây giờ gọi là Mường. Riêng Keith Taylor cho rằng vùng duyên hải phía đông (vốn nằm ngoài sự quản lý của triều Lý), vẫn còn nói tiếng Hán thường ngày cho đến thời Trần mới mất hẳn.

Vì sao lại có sự thay đổi về ngôn ngữ này? Xét lại các sự kiện lịch sử,

Thế kỷ thứ 9, Nam Chiếu xâm lược An Nam, khiến nền văn minh Hoa Hạ ở đây bị lung lay, người người bỏ xứ mà đi. Sử Trung Hoa ghi rằng đây là giai đoạn mà nhiều thủ lĩnh man nổi lên cát cứ.

Thế kỷ thứ 10, nhà Đường suy sụp. Trung Hoa bị phân chia thành ngũ đại thập quốc. Ở An Nam, họ Khúc tuy không xưng vương nhưng vẫn là tiết độ sứ cai quản 1 xứ tự trị. (Họ Khúc theo John Phan và Keith Taylor là một gia đình gốc Hán, không phải là 1 thủ lĩnh man).

Họ Lưu xưng đế ở Quảng Đông, tranh quyền với họ Lương ở bắc Trung Hoa. Họ Khúc vì theo họ Lương ở bắc Trung Hoa mà không công nhận họ Lưu ở Quảng Đông, từ đó dẫn đến chiến tranh với Nam Hán.

Dương Đình Nghệ, và sau này là Ngô Quyền, thắng quân Nam Hán. Ngô Quyền xưng vương. Vương mất, Tĩnh Hải (An Nam), lại vỡ ra thành 12 vùng, cai trị bởi 12 tướng được gọi là “sứ quân”. Chính trị ở An Nam thời này hoàn toàn song song với chính trị ở Trung Quốc.

Ít nhất 5 trong số 12 tướng này có gốc từ Trung Hoa và xem trên bản đồ sẽ thấy họ cai trị những vùng kinh kỳ, đồng bằng chủ chốt. Sử Việt ngày nay vẫn gọi họ là người Hoa, nhưng có lẽ thời ấy sự phân biệt Hoa-Việt chưa có.

Tại vùng núi Đại Hoàng (Ninh Bình bây giờ), động Hoa Lư, có người họ Đinh tên Bộ Lĩnh, cũng dấy binh và sau này thu phục hoặc đánh bại các sứ quân khác, thống nhất An Nam, lên ngôi xưng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt (hoặc Đại Việt).

Chữ “động” ở đây có lẽ cần lưu ý đến vì Liam C. Kelly cho rằng đây là đơn vị hành chính mà người Hán dùng để chỉ những vùng vốn được sinh sống bởi người man. Đến thời Trần, Lĩnh Nam Chích Quái vẫn dùng từ này cho một số khu vực ở Hà Nội.

Tên Bộ Lĩnh cũng cần được lưu ý vì theo một số nhà ngôn ngữ học, tên Bộ Lĩnh phản ảnh cụm phụ âm bl-, vốn rất phổ biến trong ngôn ngữ Việt-Mường xưa. Vậy Bộ Lĩnh có khả năng là người nói tiếng proto-Việt-Mường.

Lên ngai, Đinh Bộ Lĩnh không đặt thủ đô ở Đại La, vốn là kinh đô của An Nam qua nhiều thế kỷ, hay vùng đồng bằng phía bắc mà đặt kinh đô ở Hoa Lư.

Rất có thể, dưới sự cai trị của Đinh Bộ Lĩnh (hoặc có khi trước cả đấy) đã có một sự chuyển dịch về ngôn ngữ ở một vùng vốn đã đa dạng về ngôn ngữ, khi mà tiếng proto-Viet-Muong được xem là tinh hoa, tiêu chuẩn (do nó được nói bởi những người cai trị) và được học theo, từ đấy thay thế dần tiếng Hán trước đấy. Khi Lý Công Uẩn dời đô về Đại La 50 năm sau, có lẽ tiếng proto-Viet-Muong đã trở thành ngôn ngữ chính ở đây, và tiếng Hán đã bị mất dần trong đời sống hàng ngày.

Có một số đặc điểm trong tiếng Việt có thể là dấu tích của việc chuyển đổi ngôn ngữ này. Đấy là những từ mang vai trò ngữ pháp như: đang (當), bị (被), được (得).

Tôi đang ăn
Tôi bị đánh
Tôi được thưởng

Thông thường khi vay mượn từ ngữ từ một ngôn ngữ khác, người ta sẽ chỉ mượn những từ đóng vai trò nội dung, không mượn những từ đóng vai trò ngữ pháp.

Ví dụ: Người Việt mượn từ “email” từ tiếng Anh. Ta sẽ nói “tôi đang email”, nhưng sẽ không bao giờ mượn từ mang vai trò ngữ pháp và nói “Tôi am emailing” hoặc “Tôi am gửi-thư-ing”.

Sự hiện diện của những từ tiếng Hán đóng vai trò ngữ pháp trong tiếng Việt có thể cho thấy khi những người vốn nói tiếng Hán chuyển sang nói tiếng proto-Viet-Muong, họ đã kéo theo một loạt những từ đóng vai trò ngữ pháp vào tiếng nói này, tạo thành một ngôn ngữ “hybrid”, và sau đó tiếng Kinh bước ra từ ngôn ngữ này.

Ở một góc độ nào đó, lịch sử Việt có thể so sánh với lịch sử nước Anh. Trong đó,
Đường = West Roman,
An Nam = Britain,
Tống = Byzantine.
Tiếng Việt ngày nay = English.
Tiếng Hán Việt = British Latin (ngôn ngữ một thời được nói tại đảo Anh và biến mất ở thế kỷ thứ 8).

Dưới là bản đồ của miền nam nước Anh, chia thành nhiều vương quốc, sau sự sụp đổ của Tây La Mã. Nhìn bản đồ này, mình lại nghĩ đến 12 sứ quân.

NGUỒN:

1. Hồng Hà Lưu Vực thời kỳ Hán Đường – trước khi xuất hiện “người Trung Quốc” và “người Việt Nam” (Before Chinese and Vietnamese in the Red River Plain: The Han–Tang Period) của tiến sĩ Michael Churchman tại Đại Học Quốc Gia Úc
https://chl-old.anu.edu.au/…/csds20…/04-2_Churchman_2010.pdf

2. Lacquered Words: The Evolution of Vietnamese Under Sinitic Influences From the 1st century BCE through the 17th century CE by John Phan
https://www.academia.edu/…/DISSERTATION_PREVIEW_Lacquered_W…
Đây là bản preview, bạn nào muốn bản full mình email cho.

3. A history of the Vietnamese by Keith Taylor
https://books.google.com/books…

4. A Fox Corpse, West Lake, and the Divided Population of Medieval Vietnam by Liam C Kelly
https://leminhkhai.wordpress.com/…/a-fox-corpse-west-lake-…/

5. Jiaozhi in the Han period Tongking Gulf by Li Tana
https://www.academia.edu/…/Jiaozhi_Giao_Chi_in_the_Han_Peri…

6. Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c.900-1400 by Li Tana
https://www.academia.edu/…/Towards_an_environmental_history…

 Ảnh của 瓊霜.
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s