Sử Việt theo cách mới (kỳ 2)

Published on July 21, 2013   ·   No Comments

TTXVA.ORG

THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ (? – 207 tr.CN)

Giai đoạn tiền sử và sơ sử Việt Nam khởi đầu cách đây chừng 25 ngàn năm, lấy thời điểm Nam Việt Vũ Đế thôn tính Âu Lạc (207 tr.CN) làm mốc kết thúc – tương đương với thời điểm diễn ra cuộc Chiến tranh Punic lần II (218 tr.CN – 201 tr.CN). Nguồn tư liệu chủ yếu lấy từ cuốn Ánh sáng mới trên một quá khứ bị lãng quên (New Light on a Forgotten Past) của Tiến sĩ Wilhelm G.Solheim II (giáo sư Nhân chủng học trực thuộc Đại học Hawaii), xuất bản vào tháng 3 năm 1971.

Trống đồng – Tuyệt tác của văn hóa Việt cổ.

Những hiểu biết về đời sống người Việt Nam thời cổ đại phần nhiều dựa vào di chỉ khảo cổ, lớp truyền thuyết giải thích nguồn gốc quốc gia – con người Việt Nam thường không đáng tin. Tuy nhiên, sự hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn còn gây tranh cãi. Xét khái lược thì phân tách thời cổ đại thành hai giai đoạn : tiền sử (hình thành cư dân và phong tục tập quán) và sơ sử (các liên minh bộ lạc được thiết lập).

I. THỜI TIỀN SỬ

Niên biểu thời tiền sử về căn bản như sau :

● Hậu kỳ thời đại đồ đá cũ

– Văn hóa Ngườm (23 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Sơn Vi (20 ngàn năm tr.CN – 12 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Soi Nhụ (18 ngàn năm tr.CN – 7 ngàn năm tr.CN)

Mực nước biển rất thấp, phần lớn biển Đông còn là đất liền và khí hậu cũng mát mẻ hơn ngày nay. Các nhóm dân cư đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam đã biết chế tác vũ khí, công cụ săn bắt bằng đá ; tuy nhiên, đời sống con người thời kỳ này còn chất phác và bấp bênh. Thức ăn chủ yếu lúc này là các loại củ, quả có sẵn trong thiên nhiên.

Thời đại đồ đá mới

– Văn hóa Hòa Bình (12 ngàn năm tr.CN – 10 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Bắc Sơn (10 ngàn năm tr.CN – 8 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 – 6.000 TCN)
– Văn hóa Cái Bèo (7 ngàn năm tr.CN – 5 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Đa Bút (6 ngàn năm tr.CN – 5 ngàn năm tr.CN)

Băng hà bắt đầu tan, biển Đông dần hình thành, nhưng bù lại đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long đã chớm xuất hiện. Cư dân trên lãnh thổ Việt Nam đã dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên, họ đẽo đá thành công cụ lao động (rìu, lưỡi cày…). Thời kỳ này, lúa nước bắt đầu được sử dụng làm thức ăn chính.

● Thời đại đồ đồng đá

– Văn hóa Hạ Long (3 ngàn năm tr.CN – 1.5 ngàn năm tr.CN)
– Văn hóa Phùng Nguyên (2 ngàn năm tr.CN – 1.500  tr.CN)
– Văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc
– Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2 ngàn  năm tr.CN1.000 tr.CN)

Dân cư đông đúc hơn thời kỳ trước, họ quần tụ tại những nơi có dòng chảy (sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Cửu Long…), do đời sống khấm khá hơn nên tập quán đeo trang sức đã xuất hiện.

● Trung kỳ thời đại đồ đồng

– Văn hóa Đồng Đậu (1.500 tr.CN – 1.000 tr.CN)

Công cụ sản xuất và vũ khí bằng đồng đã chiếm vai trò quan trọng trong đời sống các cư dân, chúng thay thế đồ đá và dần dần tạo ra nhiều ngành nghề mới. Đáng chú ý là sự xuất hiện của đồ gốm, đồ gỗ và những chiếc trống đồng cầu mưa. Cuối thời kỳ này, sự xáo trộn thành phần dân cư bắt đầu diễn ra – những cuộc di cư và xung đột giữa các nhóm người đã bước đầu tạo nên nhu cầu liên minh bộ lạc.

● Hậu kỳ thời đại đồ đồng

– Văn hóa Gò Mun (1.000 tr.CN – 600 tr.CN)

Không dừng lại ở việc tự cung tự cấp, một vài hình thức trao đổi hàng hóa sơ khai đã xuất hiện và phát triển thành nghề buôn bán. Đồ gốm, phục sức và nhất là trống đồng đã từ lãnh thổ Việt Nam luân chuyển sang các khu vực lân cận. Đặc biệt, sắc dân Mã Lai – Đa Đảo (đặc điểm ngoại hình là tóc quăn, da ngăm và thấp đậm) đã dần bị thay thế bởi các nhóm dân cư đến từ khu vực cao nguyên Thanh-Tạng và phía Nam Trung Hoa (đặc điểm ngoại hình là tóc thẳng, nước da sáng và chiều cao cân đối), cho đến cuối thời kỳ thì vùng Bắc Bộ hoàn toàn do nhóm dân cư này làm chủ, một số ít người Mã Lai – Đa Đảo bị đồng hóa. Đây chính là sắc dân kiến tạo nên những nhà nước sơ khai trên lãnh thổ Việt Nam. Họ thường tự gọi mình làVăn Lang (theo sử gia Lê Văn Lan, đây là phiên âm Hán-Việt của từ Arang trong hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo, có nghĩa là con người), trước nay giới học giả thường gọi đây là những cư dân Việt cổ.

Tranh phục dựng cảnh sinh hoạt của người Việt cổ, có thể thấy rõ hình dáng những ngôi nhà có mái mũi thuyền.

II. THỜI SƠ SỬ

Đây là giai đoạn đời sống người Việt cổ đã đi vào ổn định, vừa chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, các nhóm dân cư thù nghịch vừa tăng gia sản xuất. Dầu vậy thì văn hóa Việt cổ đã chớm hình thành, nó bao gồm tục thờ mặt trời, thần quỷ, chế tác đồ đồng (trống, thạp, chuông…), tục nhuộm răng đen, dựng nhà mái thuyền, làm mộ táng… Theo sử gia Trần Quốc Vượng, thức ăn chính của người Việt cổ là cơm, rau, cá – cơm làm bằng rễ cây quang lang hoặc gạo nếp, loại gia vị thường dùng là rễ gừng đốt cháy (cho vị mặn đắng). Bên cạnh đó, sự phân tầng xã hội cũng đã nở rộ – phân chia kẻ giàu người nghèo, quyền quý và nô lệ. Việc tìm ra quặng sắt đã hỗ trợ rất nhiều cho việc chế tạo vũ khí, đóng thuyền lớn. Tuy vậy, người Việt cổ vẫn là cộng đồng nhỏ, địa bàn cư ngụ cũng chỉ quẩn quanh khu vực ngày nay là Bắc Trung Bộ và phía Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Khu vực Trung Bộ thuộc không gian văn hóa Sa Huỳnh, nơi định cư của hai bộ lạc lớn Cau và Dừa thuộc sắc dân Mã Lai – Đa Đảo.

– Văn hóa Đông Sơn (700 tr.CN – 100)
– Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 tr.CN – 200)
– Văn hóa Đồng Nai (1.000 tr.CN – 1)

Có nhiều cách ghi chép về buổi bình minh của lịch sử Việt Nam, tuy nhiên, chiếm số lượng đáng kể vẫn là lớp truyền thuyết Hồng Bàng thị. Chỉ biết rằng, giai đoạn này tương ứng với thời nhà Chu (Trung Hoa). Đã có một số giao dịch thương mại giữa các cư dân Việt cổ với người Trung Nguyên (tập trung ở hai bên bờ sông Hoàng Hà và Dương Tử), đặc biệt, người Trung Hoa (từ thời Hán) đã gọi các sắc dân ở phía Nam sông Dương Tử là Bách Việt (百越) – đó không phải tên gọi một dân tộc, bởi vì toàn bộ khu vực Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam bấy giờ còn ở tình trạng bán nguyên thủy, dân cư hỗn tạp. Sách Hán thư (漢書) viết : “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê, ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình“. Đáng chú ý, sử sách Trung Hoa cũng chép việc xung đột liên miên giữa các nhóm dân cư Bách Việt. Về căn bản, các sắc dân này tuy không đồng nhất về chủng tộc nhưng có tập quán ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

Giới sử học từ lâu đã phân loại cộng đồng Bách Việt thành mấy nhóm chính :

● Sở (khu vực Hồ Bắc, Hồ Nam thuộc Trung Quốc)
● Đông Âu (khu vực Chiết Giang thuộc Trung Quốc)
● Mân (khu vực Phúc Kiến thuộc Trung Quốc)
● Thục (khu vực Tứ Xuyên thuộc Trung Quốc)
● Điền (khu vực Vân Nam thuộc Trung Quốc)
● Nam Việt (khu vực Quảng Đông thuộc Trung Quốc)
● Tây Âu (khu vực Quảng Tây thuộc Trung Quốc)
● Lạc (khu vực Bắc Bộ thuộc Việt Nam)

Cách chia này chỉ mang tính tương đối và hầu hết không phải tên gọi các dân tộc từng tồn tại trên lãnh thổ. Tuy nhiên, điều này chứng tỏ sự liên hệ mật thiết giữa khu vực Bắc Bộ Việt Nam với vùng Hoa Nam thời điểm đó. Do sự tương đồng về tập quán nên giữa các khu vực này có sự trao đổi dân cư, thương mại rất dễ dàng. Cũng cần thừa nhận rằng, mặc dù cũng là khu vực đa dân tộc nhưng Trung Nguyên sớm thống nhất và tiến nhanh đến trình độ văn minh hơn Bách Việt (có nhà nước hoàn chỉnh và nền văn hóa chữ viết quy củ) ; các bộ lạc Bách Việt luôn chia rẽ và xung đột, khí hậu ôn hòa và điều kiện thổ nhưỡng không khắc nghiệt như Trung Nguyên, đó là căn nguyên chính dẫn đến sự phát triển chậm của khu vực này. Cho đến thời điểm Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên (249 tr.CN – 221 tr.CN), miền đất Bách Việt vẫn còn ở tình trạng bán khai. Một số bộ lạc có điều kiện phát triển nhanh hơn thì tiếp nhận mạnh mẽ bản sắc Trung Nguyên, trở thành chư hầu của nhà Chu (Sở, Ngô, Đông Âu, Mân), phần còn lại vẫn chỉ là những liên minh bộ lạc nhỏ bé, sức tự vệ thấp.

Các bộ lạc Bách Việt nhìn chung có tổ chức cộng đồng còn đơn sơ (chức năng chính vẫn là lao động sản xuất và tự vệ trước ngoại thù), đặc biệt, vai trò của người phụ nữ được đề cao, cho đến khoảng thế kỷ III s.CN thì xã hội Bách Việt vẫn là chế độ mẫu hệ. Bằng chứng sống động là trong các cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng (40 – 43), Bà Triệu (248) thì nữ quyền hầu như áp đảo. Chế độ mẫu hệ chỉ chấm dứt khi các nhà cai trị Trung Hoa đem hệ tư tưởng Nho giáo (vốn trọng nam quyền) phổ cập vào đời sống người Việt. Trong mỗi bộ lạc, người đứng đầu thường được gọi là khún (phiên âm Hán-Việt : hùng ; nghĩa là tù trưởng), dưới khúnp’tao (phìa tạo, phiên âm Hán-Việt : phụ đạo), po t’linh (phiên âm Hán-Việt : bồ chính, bố chánhbộ lĩnh ; nghĩa là thủ lĩnh, già làng), người thừa kế của khún được gọi là lang (phiên âm Hán-Việt : chàng), mế (phiên âm Hán-Việt : bà lớn), nàng (phiên âm Hán-Việt : nương) ; ngoài ra còn có các thầy mo, thầy tào chuyên việc tín ngưỡng (cúng tế, trừ ma quỷ…). Một số bộ lạc như Sở, Ngô, Đông Âu đã sớm bãi bỏ hệ thống hành chính Bách Việt khi thần phục nhà Chu (danh hiệu khún được thay bằng vương).

Không gian văn hóa Bách Việt bị phá vỡ bởi cuộc thôn tính của nhà Tần (249 tr.CN – 221 tr.CN), nhiều bộ lạc bị diệt vong hoặc khuất phục, một lượng lớn nạn dân dồn ra biển hoặc chạy xuống phía Nam đã tạo ra làn sóng di cư thứ hai (sau cuộc di cư vào thời đại đồ đồng) từ khu vực Trung Hoa vào lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, do chung không gian văn hóa nên các bộ lạc tụ cư ở vùng Bắc Bộ đã tiếp nhận lớp dân cư mới một cách ôn hòa ; cũng chính nhờ thành phần dân cư này mà Bắc Bộ trở thành khu vực hiếm hoi trong cộng đồng Bách Việt tránh được cuộc xâm lăng tàn khốc của nhà Tần. Sử sách nhìn nhận khác nhau về giai đoạn này : Đại Việt sử lược (ra đời vào thế kỷ XIII) và Đại Việt sử ký toàn thư (ra đời vào thế kỷ XV) nói rằng, một tù trưởng Tây Âu tên là Thục Phán đã lãnh đạo người Việt chống Tần, sau đó tận dụng uy danh để phế truất vị Hùng Vương cuối cùng của nước Văn Lang, tự lập làm vua và lấy niên hiệu An Dương Vương (vua mặt trời), quốc hiệu mới là Âu Lạc (sáp nhập hai bộ lạc Tây Âu và Lạc Việt). Cuốn Sử ký (ra đời vào thế kỷ I tr.CN) của Tư Mã Thiên cũng nhắc đến một quốc gia tên là Âu Lạc, bị Triệu Đà thôn tính vào thời điểm Lữ Hậu nhà Hán qua đời (khoảng năm 180 tr.CN). Như vậy, rất có thể đã từng tồn tại một nhà nước sơ khai vào thời điểm đó, tuy nhiên đó chỉ là liên minh bộ lạc.

Lược đồ di chỉ thành Cổ Loa.

Quan điểm của TTXVA : Trong ngôn ngữ Nùng có từ tukpan để chỉ những người đứng đầu một tổ chức, nó gần gũi một cách đáng ngạc nhiên với tên gọi Thục Phán. Vậy, “thục phán” có thể chỉ là danh hiệu chứ không phải tên người và cũng không có nghĩa, An Dương Vương thuộc dòng vua nước Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc). An Dương Vương cai trị từ 257 tr.CN đến 208 tr.CN (căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mục) hoặc 208 tr.CN đến 179 tr.CN (theo Sử ký của Tư Mã Thiên), sự hiểu biết về giai đoạn trị vì của ông phần nhiều dựa trên chứng tích khảo cổ (cột đá thề, thành Cổ Loa) và lớp truyền thuyết dựng kinh đô. Theo Tiến sĩ Lê Chí Quế (nhà nghiên cứu văn học dân gian), tên gọi Cổ Loa là phiên âm Hán-Việt của chữ Kẻ La (hoặc k’la, có nghĩa là con gà), nó trùng hợp với địa danh xóm Gà tại địa bàn huyện Đông Anh (Hà Nội) và cũng khớp với huyền thoại thần Kim Quy đánh Bạch Kê Tinh (thần gà trắng). Vì thế, địa danh Cổ Loa thực chất là thành Gà – nơi định đô của An Dương Vương. Lớp huyền thoại rõ ràng phản ánh cuộc bình định các thế lực địa phương của vị vua mới – vốn thuộc bộ lạc thờ Rùa tại Cao Bằng và thần Rùa trở thành nhân vật bảo trợ cho thành quách. Ngoài bộ lạc thờ Gà, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay còn rơi rớt một số địa danh phản ánh bối cảnh sinh sống của người Việt cổ : Mê Linh (m’linh – một loại nhạc cụ), Cổ Nhuế (Kẻ Noi, k’noi – doi đất ven sông), Kẻ Lủ (k’lu / con trâu), Kẻ Cả (làng lớn), Cửa Lò (kuala / bãi bồi), Kẻ Bưởi, Kẻ MơKẻ Cáo… Căn cứ vào ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo, Âu Lạc thực chất là cách phiên âm Hán-Việt của từ Anak, có nghĩa là đất nước ; đây có thể là cách gọi các yếu tố cấu thành nên nhà nước sơ khai của An Dương Vương : bộ lạc Tây Âu – vốn từ khu vực Quảng Tây và vùng núi Bắc Bộ tràn xuống, các nhóm Lạc Việt – quần cư lâu đời ở vùng trũng hoặc lưu vực sông.

Sách Thái bình hoàn vũ ký triều Tống có dẫn giải nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của Âu Lạc, đó là huyền thoại nỏ thần và mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy. Trong một bài thơ viết năm 1944, triết gia Lý Đông A (1921 – 1947) gọi nàng công chúa của An Dương Vương là Mế Hâu – căn cứ vào ngôn ngữ Mường, có thể dịch là (quý) bà Hâu, hàm ý tôn kính ; nhân vật Trọng Thủy là con trai duy nhất của Nam Việt Vũ Đế Triệu Đà, đến nay chưa rõ căn nguyên và thời điểm qua đời. Chỉ khẳng định được rằng, đến năm 203 tr.CN, An Dương Vương bị nhà Triệu tiêu diệt và đất Âu Lạc phải sáp nhập vào Nam Việt. Sử sách Trung Hoa cũng ghi nhận rằng, các hậu duệ của An Dương Vương vẫn được chẩn trị đất cũ, nhưng hàng năm phải tiến cống triều đình trung ương – đặt tại thành Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Châu – Trung Quốc). Từ đây, giai đoạn sở sử Việt Nam chấm dứt.

Quan điểm của TTXVA : Lớp truyền thuyết được thêu dệt quanh nhân vật An Dương Vương và nước Âu Lạc thực chất là phản ánh sự hình thành một liên minh bộ lạc sau khi không gian văn hóa Bách Việt bị nhà Tần cưỡng chiếm. Sự khởi đầu và chấm dứt của liên minh Âu Lạc đều do các cuộc chiến tranh bộ lạc.

https://www.ttxva.net/su-viet-theo-cach-moi-2/

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s