Sử Việt theo cách mới (kỳ 1)

Published on July 11, 2013   ·   2 Comments

TTXVA.ORG

Bạn đọc thân mến, với niềm khao khát được tái hiện lịch sử như vốn có, thời gian tới đây BBT TTXVA sẽ đăng tải bài viết Sử Việt theo cách mới – đây là sản phẩm tri thức của BBT dựa trên những tư liệu sẵn có và sự góp ý của quý bạn đọc ; nội dung bài viết được chia thành nhiều kỳ để bạn đọc thuận tiện tra cứu, tái hiện khái lược tiến trình lịch sử Việt Nam trên quan điểm khách quan – trung thực – đa chiều. Để bạn đọc khi xem xong không thốt lên “Sử Việt sao chán thế, khô khan hơn cả Số học“, các nhân vật và sự kiện được đề cập một cách ngẫu hứng, nhưng sẽ không bỏ qua những đối tượng có tác động đến tiến trình lịch sử. Chúng tôi không kỳ vọng đây sẽ là nguồn tư liệu đắc lực cho giới nghiên cứu, nhưng ít nhất gắng làm sao khơi dậy niềm yêu thích trang sử nước nhà trong cộng đồng blogger, và trên hết, chúng tôi muốn thể hiện tinh thần ái quốc – vị nhân sinh bằng hành động thiết thực. Việt Nam là quốc gia nhỏ, văn hóa và đời sống dung dị, lịch sử vốn dĩ cũng không phức tạp, nhưng càng tiếp cận với ánh sáng văn minh thì nó càng bị các thể chế chính trị làm cho lệch lạc, tệ hơn cả là dấu vết của quá khứ luôn bị hậu thế hủy hoại một cách tàn nhẫn… Vì những lẽ đó, chúng tôi không cảm thấy có nghĩa vụ phải tuân phục bất kỳ ý thức hệ hạn hẹp nào để “chế tạo” ra thứ tri thức lịch sử kỳ dị, phiến diện. Chỉ mong sao nhận được hồi âm góp ý cũng như phản biện của quý bạn đọc, chúng tôi hân hạnh được phúc đáp !

 

Trải qua biến động bể dâu, hoàng thành Thăng Long chỉ còn là đống gạch vụn, những dấu vết của thời vàng son quá ít ỏi để hậu thế có thể ngưỡng vọng về tổ tiên.

KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ VIỆT NAM

Bản đồ hành chính Việt Nam thời điểm 2013.

Tính đến thời điểm 2002 (năm ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông), lãnh thồ mà Việt Nam (chính thể hiện tại : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tuyên bố chủ quyền bao gồm 331.698 km² đất liền và khoảng 1 triệu km² mặt biển : phần đất liền nằm ở tọa độ 102°8′ kinh Đông đến 109°27′ kinh Đông và 8°27′ vĩ Bắc đến 23°23′ vĩ Bắc ; phần lãnh hải nằm trên biển Đông (bao gồm cả vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan) có các quần đảo Hoàng Sa (tranh chấp với Trung Quốc) và Trường Sa (tranh chấp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei), ngoài ra còn có khu vực bãi cạn Đông Nam (chia sẻ lợi ích kinh tế với Indonesia).

Đất liền Việt Nam hẹp ngang, trải dài hình chữ S với 2/3 diện tích là cao nguyên, đồng bằng tập trung ở ven biển và chỉ có hai vùng châu thổ sông Hồng, châu thổ sông Cửu Long đủ rộng để quần cư cũng như sản xuất nông nghiệp quy mô lớn (loại cây quan trọng nhất là lúa nước). Phần Tây tựa lưng vào các dãy núi Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn, tiếp giáp các quốc gia Trung Quốc, Lào, Campuchia. Lãnh thổ Việt Nam là lục địa vẫn chưa hình thành xong, mạng lưới sông ngòi chằng chịt (chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam) đem lại nguồn phù sa trù phú, cho đến thế kỷ XV thì phương tiện đi lại chủ yếu vẫn là thuyền nhỏ. Khí hậu Việt Nam là nhiệt đới gió mùa nhưng chỉ từ phía Bắc đến Bắc Trung Bộ có mùa đông rét (đây cũng là khu vực dễ xảy ra bão lũ nhất trong năm). Tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam rất đa dạng, nhưng do việc khai thác bừa bãi trong nhiều thế kỷ nên ngày càng cạn kiệt, đến nay chỉ thủy năng và dầu khí còn trữ lượng lớn. Bên cạnh đó, môi trường cũng bị ô nhiễm nặng nề.

Lãnh thổ Việt Nam được phân định thành ba miền (không chính thức) là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ – tập quán, ngôn ngữ và lịch sử mỗi miền về căn bản là khác nhau. Đôi khi còn phát sinh thêm các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên (có lúc được gọi là Cao nguyên Trung phần, hoặc Trung Nguyên) – thời Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) được gọi chung làHoàng triều cương thổ. Do nằm trên tuyến đường di cư và thương mại cổ xưa nhất thế giới, nên Việt Nam sớm trở thành quốc gia đa dân tộc, tuy vậy, từ thế kỷ XV xuất hiện sắc dân giữ vai trò chính là người Kinh – đến nay chiếm 86,2% dân số. Tiếng Việt được coi là tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam, thuộc hệ ngôn ngữ Việt-Mường (sự pha trộn giữa tiếng Hán thời Đường và ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo). Bên cạnh người Kinh còn có các sắc dân khác là Thái, Mường, H’Mông, Chăm, Hoa, Khmer… tính đến nay có khoảng 55 dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc truyền thống và thời điểm xuất hiện khác nhau. Người Việt Nam không có tín ngưỡng chung trên toàn quốc, tuy nhiên có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo, dầu vậy trong lịch sử chưa từng xảy ra cuộc xung đột tôn giáo nào, ngoại trừ một vài sự kiện cấm đạo – diệt đạo của nhà cai trị.

Do nằm ở nơi giao thoa giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, cũng như nhiều cộng đồng Đông Nam Á khác, người Việt Nam sớm tiếp thu ảnh hưởng để biến cải thành bản sắc của mình. Trước thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc (207 tr.CN – 905), sức ảnh hưởng chủ yếu đến lối sống của cư dân Việt Nam là nền văn minh Ấn Độ cổ đại – khúc xạ qua sắc dân Cổ Mã Lai ; đến thời Hán thuộc – nhất là sau chính sách giáo hóa của thái thú Sĩ Tiếp (士燮, 137 – 226) thì ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa trở nên mạnh mẽ ; phải đến khoảng thế kỷ XVIII khi nội bộ Trung Hoa lục đục suy yếu thì người Việt Nam bắt đầu tiếp thu thêm những bản sắc đến từ Âu-Mỹ. Nửa phía Nam (từ dãy Hoành Sơn trở xuống) là nơi định cư của các sắc dân gốc Mã Lai – Đa Đảo, sức ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ cổ đại sâu đậm trong khoảng hai thiên niên kỷ. Sau khi vương quốc Champa suy yếu rồi diệt vong (1832) thì bản sắc của người Kinh giữ vai trò quyết định trong việc định hình văn hóa Việt Nam.

KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

Bộ tem cộng đồng các dân tộc Việt Nam (phát hành ngày 2 tháng 9 năm 2005).

I. THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ (? – 207 tr.CN)

II. KỶ NHÀ TRIỆU (207 tr.CN – 111 tr.CN)

III. BẮC THUỘC LẦN I (111 tr.CN – 40)

IV. HAI BÀ TRƯNG (40 – 43)

V. BẮC THUỘC LẦN II (43 – 542)

VI. NƯỚC VẠN XUÂN (542 – 602)

VII. BẮC THUỘC LẦN III (602 – 938)

VIII. KỶ NHÀ NGÔ (938 – 968)

IX. KỶ NHÀ ĐINH (968 – 980)

X. KỶ NHÀ TIỀN LÊ (980 – 1009)

XI. KỶ NHÀ LÝ (1009 – 1225)

XII. KỶ NHÀ TRẦN (1225 – 1400)

XIII. KỶ NHÀ HỒ (1400 – 1407)

XIV. KỶ THUỘC MINH (1407 – 1427)

XV. KỶ NHÀ LÊ SƠ (1428 – 1527)

XVI. KỶ NHÀ MẠC (1527 – 1592)

XVII. KỶ NHÀ LÊ TRUNG HƯNG (1592 – 1789)

XVIII. KỶ NHÀ TÂY SƠN (1789 – 1802)

XIX. KỶ NHÀ NGUYỄN (1802 – 1945)

1. Đế quốc Việt Nam (1802 – 1839)

2. Đế quốc Đại Nam (1839 – 1887)

3. Liên bang Đông Dương (1887 – 1945)

XX. ĐẾ QUỐC VIỆT NAM (1945)

XXI. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945 – 1946)

XXII. CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG (1946 – 1954)

1. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (1946 – 1948)

2. Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955)

XXIII. NAM-BẮC PHÂN LI (1954 – 1976)

1. Trước chiến tranh (1954 – 1964)

● Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955 – 1964)

● Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam (1955 – 1963)

2. Trong chiến tranh (1964 – 1975)

● Thời quân quản (1963 – 1967)

● Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam (1967 – 1975)

3. Sau chiến tranh (1975 – 1976)

XXIV. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (1976 đến nay)

1. Bao cấp (1976 – 1986)

2. Đổi mới (1986 – 2007)

3. Suy thoái (2007 đến nay)

https://www.ttxva.net/su-viet-theo-cach-moi-1/

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s