Danh sách các địa danh trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông

Theo Đại cương lịch sử Việt Nam, từ năm 1242, nhà Trần sửa đổi hành chính, biến 24 lộ đời Lý ra 12 lộ đời Trần:
– Thiên Trường ( giờ là Nam Hà)
– Long Hưng ( Thái Bình)
– Quốc Oai ( Hà Tây)
– Bắc Giang ( Bắc Ninh, Bắc Giang)
– Hải Đông ( Quảng Ninh + 1 phần Hải Dương)
– Trường Yên ( Ninh Bình)
– Kiến Xương ( đông Thái Bình)
– Hồng ( 1 phần Hải Dương)
– Khoái ( 1 phần Hưng Yên)
– Thanh Hóa ( Thanh Hóa)
– Hoàng Giang ( Hà Nam)
– Diễn Châu ( bắc Nghệ An)

 

Tuy vậy, chính người viết sách cũng nghi ngờ rằng 12 lộ này chưa bao quát được toàn bộ diện tích đất nước lúc đó. Ngay cả Toàn Thư cũng từng đề cập đến những tên lộ không nằm trong danh sách 12 lộ kể trên. Cụ thể, trong danh sách trên đã tìm ra những tên lộ khác bao gồm lộ Tam Đái, lộ Tuyên Quang, lộ Đông Hải, lộ Nam Sách Giang, Trà Lộ.

 

Bảng danh sách dưới đây thống kê các địa danh được nhắc đến từ năm 1242 đến năm 1288, tức từ khi nhà Trần tiến hành sửa đổi hành chính đến khi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông kết thúc thắng lợi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

Để thực hiện bài viết, ngoài thông tin từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tác giả còn kết hợp với một số cuốn sách khác cũng đề cập đến cuộc kháng chiến này. Danh sách bao gồm:

 

– CNM: cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thế kỷ XIII ( Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm)

– TCVĐ: Thương cảng Vân Đồn ( Đỗ Văn Ninh)

– ĐC: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1 ( Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh)

– ANCL: An Nam Chí Lược ( Lê Trắc)

– LSQS: Lịch sử quân sự Việt Nam tập 4: nhà Trần ( nxb Chính Trị Quốc Gia)

– NS: …? Do bài biết đã được hoàn thành cách đây quá lâu nên tác giả cũng…quên luôn tên cuốn sách này.

 

CÁCH TRÌNH BÀY:

 

Để tiện theo dõi, mỗi địa danh sẽ được viết theo thứ tự sau:

 

– “đặc điểm địa danh”” tên địa danh” [ vị trí địa danh thời hiện đại’: ( năm xảy ra sự kiện): nội dung sự kiện.

 

VD:

– cửa Hàm Tử [ xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu]: ( 4/1285): đánh bại giặc ở cửa Hàm Tử, cắt đường liên lạc 2 đại trại Thăng Long và Trường Yên của giặc.

 

= > Hàm Tử là một cửa ( cửa sông) thuộc xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Vào tháng 4 năm 1285, quân ta đã đánh bại giặc ở đây, cắt đường liên lạc 2 đại trại Thăng Long và Trường Yên của giặc.

 

Bên cạnh đó, tôi cũng upload kèm theo bài viết bộ bản đồ hành chính Việt Nam thời hiện tại để mọi người tiện tra cứu, đối chiếu:

http://www.mediafire.com/download/5o2dbx4p9u6ggol/BAN+DO+VIETNAM.rar

Ngoài ra, để nhấn mạnh những nơi liên quan trực tiếp đến 3 cuộc kháng chiến, tôi cũng đã tô các địa danh và sự kiện đó theo các màu tương ứng:

– Màu xanh lá: cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần 1 ( 1258)

– Màu cam: cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần 2 ( 1285)

– Màu tím: cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần 3 ( 1288)

 

Cuối cùng, tôi hy vọng đây sẽ là nguồn tư liệu địa danh bổ ích cho những người muốn tìm hiểu hoặc đơn giản là viết sách, làm game về 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông trong lịch sử.

DANH SÁCH ĐỊA DANH

Để tiện cho việc tra cứu, bảng danh sách được chia thành các nhóm tương ứng với các tỉnh thành thời hiện đại.

Thăng Long :

 

Mô tả của riêng Nguyên Sử ( khi Thoát Hoan chiếm Thăng Long năm 1285): “ cung thất có 5 cửa, trên đề “ Đại Hưng môn”, có cửa nách ở bên phải và bên trái. Chính điện có 9 gian, đề “ Thiên An ngự điện”, cửa chính nam đề “ Triều Thiên các”.

 

– vòng thành trong Long Phượng [?]: ( 2/1243): đắp thành.

– trường Quốc tử giám [?]: ( 2/1243): sửa trường

– đê Thanh Đàm [ đê Thanh Trì ngày nay]: ( 8/1245): vỡ đê

– chùa Chân Giáo [ nằm sâu trong đại nội hoàng cung, Lý Huệ Tông tự sát ở đây]: ( 4/1248): làm cầu ở đây.

* cầu Lâm Ba [ cầu trong chùa Chân Giáo]: ( 4/1248): làm cầu rất lộng lẫy.

* hồ Ngoạn Thiềm [ cầu Lâm Ba bắc qua đây]: ( 4/1248): đề cập cùng cầu Lâm Ba

quán Thái Thanh [ thời Lý cũng có cung Thái Thanh, có lẽ là cùng một nơi]:

+ ( 4/1248): cầu Lâm Ba bắc qua hồ Ngoạn Thiềm đến đây

+ ( 5/1256): bị sét đánh.

– cung Cảnh Linh [ có lẽ nằm sát cung Thái Thanh]: ( 4/1248): cầu Lâm Ba bắc qua hồ Ngoạn Thiềm đến đây.

– chùa Diên Hựu [ chùa lớn, ở giữa xây chùa Một Cột mà ta biết ngày nay]: ( 1/1249) : sửa chùa.

– Quốc học viện [ ?]: ( 6/ 1253):  thành lập, tô tượng Khổng Tử, Mạnh Tử và 72 đệ tử để thờ, sai nho sĩ cả nước đến giảng học tứ thư lục kinh.

– Giảng Võ đường [ ?]: ( 8/1253): thành lập.

– hồ Tây [ hồ Tây ngày nay]: ( 8/1255): vua đi chơi

– điện Thiên An [ ? – ngai vua đặt ở đây]:

+ ( 5/1256): Bị sét đánh

+ ( 3/ 1263): Bị sét đánh lần 2

+ ( 6/1268): Lý Cát bị điên, ngồi lên ngai vua.

– tượng Thiên Tôn [ nằm ở điện Thiên An hoặc cung Thái Thanh]: ( 5/1256):  sét đánh 2 cung điện trên, làm tượng gãy đổ mất 1 ngón tay.

– điện Đại Minh [?]: ( 1258): khi giặc Mông Cổ chiếm Thăng Long, quan chưởng ấn giấu ấn trên rường điện này

– Bắc Cung/ hoặc cung Thánh Từ [?]:

+ ( 2/ 1258): Vua Trần Thái Tông nhường ngôi, về ở đây.

+ (10/1259): Các quan đến chầu mừng.

+ ( 6/ 1261):  Ban yến cho sứ Nguyên.

– tháp Báo Thiên [ An Nam Tứ Đại Khí, cao 20 trượng, tức 200 thước: thước mộc ngày xưa khoảng 0,5 met – > cao chừng 100 met, chia làm 12 tầng, tầng trên cùng bằng đồng. Nay là phía đông hồ Hoàng Kiếm]:

+( 8/ 1258):Đỉnh tháp gặp gió to, gãy rơi xuống

+( 9/1285): Bia chùa gãy

điện Diên Hiền [ ?]: ( 6/7/1264): quần thần ăn yến, thấy sao chổi.

– phường Cơ Xá [ nơi có đê Cơ Xá, nay gần cầu Long Biên; xưa phường Cơ Xá là 1 dải đất chạy dọc hữu ngạn sông Hồng, đời sau ở đây có 4 thôn là Cơ Xá Tây Biên nam (một xóm nhỏ làng Đồng Nhânquận Hai Bà Trưng), Cơ Xá Trung Hà (một làng đông dân cư gần cầu Long Biên), Cơ Xá Bắc Biên (Phúc Xá Bắc Biên).]: ( 7/ 1265): vỡ đê, nước vào phường Cơ Xá.

cửa Đại Hưng [?]: ( 19/3/1273): sét đánh 7 chỗ ngoài cửa

phường Nhai Tuân  [ tục gọi là Hồi Kê; là khu vực Hòe Nhai, Hàng Than bây giờ]: ( 10/ 1274): nhà Tống sắp mất, người Tống đem 30 chiếc thuyền chạy sang xin ở nhờ, nên bố trí cho ở đó. Sợ bị ta bắt nộp cho nhà Nguyên nên họ tự xưng là người Hồi Hột ở Tân Cương. Phường vì vậy còn có tên là Hồi Kê.

– cung Vạn Thọ [?]: ( 1/4/1277): Trần Thái Tông băng hà.

– cửa Dương Minh  [?; có lẽ là cửa hoàng cung]: ( 1281): sứ Nguyên là Sài Thung đi ngựa thẳng vào cửa, đánh chảy máu đầu quân lính ngăn cản.

– viện Tập Hiền [?; nằm sau cửa Dương Minh]: ( 1281): Sài Thung đi ngựa thẳng qua cửa Dương Minh, đánh cả quân lính ngăn cản, đi đến tận viện này, thấp chăng bày màn trướng mới chịu xuống ngựa.

– đàn Xã Tắc [ phường Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội]:( 2/1284):  đất nứt ra, dài 7 thước, rộng 4 trượng, sâu không lường được.

– điện Diên Hồng [?]:( 12/1284): hội nghị Diên Hồng, ban yến các phụ lão.

– phường Giang Khẩu [ phố Hàng Buồm]: ( CNM): Trung Thành vương đánh tan thiên hộ Mã Vinh ở đây.

 

Ngoại thành Thăng Long :

 

– cầu Phù Lỗ [ hiện là xã, phía nam huyện Sóc Sơn, gần sông Cà Lồ]: ( sau 12/12/1257):  theo An Nam Chí Lược, ta chặt cầu, dựng phòng tuyến thứ 2 chặn giặc ở đây. Giặc tiếp tục vượt sông đánh bại ta.

– sông Lô [ tức đoạn sông Hồng ở Hà Nội]:

+ ( sau 12/12/1257): – theo Toàn Thư, ta dựng phòng tuyến thứ 2 chặn giặc ở đây. Giặc tiếp tục vượt sông đánh bại ta;

+ ( 8/1281): Cá sấu đến ở sông, Nguyễn Thuyên ném văn xuống sông mà đuổi đi;

+ ( 3/5/1285):  Thua ở Thăng Long, Thoát Hoan vượt sông Lô mà chạy, đóng quân ở vùng Gia Lâm bây giờ.

– bến Đông Bộ Đầu [ đúng ra chỉ gọi là “ bến Đông” vì “ bộ đầu” có nghĩa là “ bến”. Nay là dốc Hàng Than, chỗ cầu Long Biên]:

+ ( 1258): khi giặc tiến về Thăng Long, Cự Đà không chịu tâu vua giặc ở đâu. sau vua ngự thuyền lầu phản công giặc Mông ở đây;

+ ( 8/1284): Trần Hưng Đạo họp quân các vương để duyệt;

+ ( 12/1/1285): Sau khi phá phòng tuyến thứ 2, giặc Nguyên kéo đến đóng ở bến ( nhưng là bờ sông đối diện với Hà Nội), uy hiếp Thăng Long.

– sông Tô Lịch [sông Tô Lịch bây giờ]:

+ ( 5/1256): Vét sông;

+ ( 1/1284): Vét sông.

– ? Gia Lâm [ huyện Gia Lâm bây giờ]: ( 12/1/1285):  sau khi phá phòng tuyến thứ 2, giặc tiến về Thăng Long, lần lượt chiếm Vũ Ninh, Đông Ngạn, Gia Lâm, rồi đến đóng ở Đông Bộ Đầu ( nhưng là bên kia sông).

– cửa quan Phú Lương [?; thật ra là sông Phú Lương, tức sông Hồng, có lẽ là đoạn chảy qua Thăng Long]: ( 14/11/1287): sau khi vượt qua các chướng ngại, quân bộ của giặc Nguyên đánh vào đây để đến Thăng Long.

 

BẮC NINH:

 

– Bắc Giang [ “Giang” đây có thể là “ sông” chứ không phải địa danh, nên có thể dịch là sông Bắc; đây là sông Đuống đoạn cuối, cụ thể là xã Trung Kênh, huyện Lương Tài]: ( cuối 1284): sau khi hội quân ở Vạn Kiếp, Hưng Đạo chia quân thủ ở đây. Giặc phá hết.

– ? Vũ Ninh  [ huyện Võ Giàng]: ( 12/1/1285):  sau khi phá phòng tuyến thứ 2, giặc tiến về Thăng Long, đánh nơi này trước tiên.

– ? Đông Ngạn [ huyện Từ Sơn]: ( 12/1/1285):  sau khi phá phòng tuyến thứ 2, giặc tiến về Thăng Long, đánh nơi này tiếp sau Vũ Ninh.

– sông Như Nguyệt [ tức sông Cầu, ở đây là đoạn sông biên giới 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang]: ( CNM): Thoát Hoan bỏ Thăng Long chạy về Vạn Kiếp, đến sông này bị Trần Quốc Toản đổ ra đánh. Quốc Toản chết ở đây.

– cửa Lãnh Kinh [ phường Đáp Cầu thuộc Tp. Bắc Ninh]: ( 24/11/1287; CNM): sau khi qua khỏi Lạng Sơn, Bắc Giang, 1 cánh quân Nguyên tiến đánh cửa, bị Hưng Đức hầu Quán dùng tên độc bắn chết nhiều.

– ? Vũ Cao [?]: ( 24/11/1287; CNM):  đánh cửa Lãnh Kinh không được, quân Nguyên rút về đóng ở đây

– cảng Mao La [ không rõ ở đây, nhưng lúc đó Trần Hưng Đạo đang hoạt động ở sông Đuống và hữu ngạn sông Lục Đầu. Nên nơi này có thể nằm ở các huyện Gia Bình, Lương Tài ( Bắc Ninh) hoặc Quế Võ ( Bắc Giang)]: ( CNM):  sau khi chiếm thành Linh Sơn, Thoát Hoan tiếp tục đánh xuống đây rồi đánh tiếp trại Phù Sơn

– trại Phù Sơn [ không rõ ở đây, nhưng lúc đó Trần Hưng Đạo đang hoạt động ở sông Đuống và hữu ngạn sông Lục Đầu. Nên nơi này có thể nằm ở các huyện Gia Bình, Lương Tài ( Bắc Ninh) hoặc Quế Võ ( Bắc Giang)]: ( CNM): sau khi chiếm thành Linh Sơn, Thoát Hoan tiếp tục đánh xuống cảng Mao La rồi tiếp tục đánh tới đây

 

HẢI DƯƠNG :

– châu Hồng [ châu Hồng đời Lý là lộ Hồng đời Trần. Toàn Thư có lẽ viết lẫn lộn. Thời Trần không nghe có châu nào tên Hồng cả]: ( 8/1247): quê của ất khoa Vũ Vị Phủ.

 – bến Bình Than [ bến ở sông Lục Đầu, thuộc xã Trần Xá, huyện Chí Linh]:

+ ( 10/1282):hội nghị Bình Than;

+ ( 8/1284):Trần Hưng Đạo chia quân các vương đến đóng giữ.

+ ( 1/1285): Sau khi thua ở Nội Bàng, Trần Hưng Đạo lập phòng tuyến thứ 2 bao gồm cả nơi đây để cự giặc, giặc phá luôn.

+ ( 10/1/1288): Nguyễn Thức đem quân Dũng Nghĩa đến đây giúp Trần Hưng Đạo chống giặc khi chúng đang đánh chiếm vùng Vạn Kiếp.

– vũng Trần Xá [ hợp lưu của 2 sông Thái Bình và Kinh Thầy, cũng thuộc xã Trần Xá, huyện Chí Linh]: ( 10/1282): hội nghị Bình Than, mọi người đóng ở đây để họp bàn.

– châu Chí Linh [sách không chú thích, nhưng chắc cũng là huyện Chí Linh, nơi có bến Bình Than và vũng Trần Xá]: ( 10/1282): Trần Khánh Dư phạm tội bị lột hết quan tước, chỉ còn lại mảnh đất này, phải về đây bán than cùng bọn hèn hạ ( dân chúng).

– thái ấp Vạn Kiếp [ huyện Chí Linh]:

+ ( 26/11/1284; CNM):không chặn được giặc từ biên giới, Trần Hưng Đạo rút về đây. Ngoài ra đây còn là căn cứ thủy bộ của nhà Trần. Nằm trong hệ thống phòng tuyến 2 sau khi mất Nội Bàng. Giặc phá luôn.

+ ( LSQS): Lần kháng chiến thứ 3, Thoát Hoan cũng hành quân tiến về đây ở giai đoạn đầu cuộc chiến.

– sông Sách [ tức đoạn sông Thương chảy qua Vạn Kiếp, nay là khu vực giao nhau giữa 3 huyện Yên Dũng, Lục Nam ( Bắc Giang) và Chí Linh ( Hải Dương)]: ( CNM): giặc từ Như Nguyệt chạy đến đây, đang bắc cầu phao định vượt sông về Bắc thì bị Trần Hưng Đạo tấn công.

– hương Vân Trà [ lúc đó thuộc lộ Hải Đông, nay thuộc huyện Kim Thành]: ( 26/11/1284): Về đến Vạn Kiếp, Hưng Đạo cho huy động quân dân các hương

– ? Trà Hương [thuộc huyện Kinh Thành]: ( 26/11/1284):  Hưng Đạo về Vạn Kiếp điều động quân. Các vương từ nơi khác kéo quân đến hội

– hương Bà Điểm [ lúc đó thuộc lộ Hải Đông, nay thuộc huyện Kinh Môn, có thể gồm cả huyện Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh]: ( 26/11/1284): Về đến Vạn Kiếp, Hưng Đạo cho huy động quân dân các hương

– ? Bàng Nà [ 2 huyện Nam Sách, Thanh Hà]: ( 26/11/1284): Hưng Đạo về Vạn Kiếp điều động quân. Các vương từ nơi khác kéo quân đến hội

– núi Phả Lại [ ở xã Phả Lại, phía Tây huyện Chí Linh, giáp xã Hưng Đạo, Cổ Thành ở phía Bắc và Nam]: ( 6/1/1285): sau khi hội quân ở Vạn Kiếp, Hưng Đạo lập phòng tuyến 2, chia quân thủ ở đây. Giặc phá luôn. Trong cuộc chiến lần 3, giặc làm 1 trại gỗ ở đây để chứa lương.

– núi Chí Linh [ không phải núi ở Thanh Hóa, đây là dãy núi ở tả ngạn sông Lục Đầu, thuộc huyện Chí Linh]: ( CNM):  thành Linh Sơn ở gần đây. Chiếm thành xong, Thoát Hoa làm trại gỗ để chứa lương ở núi này

– thành Linh Sơn [ không phải Linh Sơn ở Thanh Hóa, đây là ngôi thành dài, nằm dọc bên bờ sông Lục Đầu, dựa vào núi Chí Linh]: ( CNM): khi đến Vạn Kiếp, Thoát Hoan sai vượt sông, đánh chiếm thành

– các trại Cá Trầm, Cá Lê, Ma Sơn, Ngụy Trại [?, có thể ở đâu đó trong 2 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng]: ( CNM): Cuộc chiến lần 3: đóng trại tại Vạn Kiếp một thời gian nhưng không thấy thuyền lương tới, giặc phải đánh cướp các nơi này kiếm thức ăn.

 

HẢI PHÒNG:

– biển Đại Bàng [ cửa biển Văn Úc, nằm giữa 2 huyện Tiên Lãng và Kiến Thụy]:

+ ( 1/3/1285):sau khi cho thuyền ngự đi nghi binh, vua quay ngược về đây, ra sông Nam Triệu, qua biển Đại Bàng.

+ (1/1288, CNM): 10/2/1288, chờ mãi không thấy thuyền lương, Ô Mã Nhi đi thuyền đến đây tìm đón Trương Văn Hổ, bị ta đánh thiệt hại.

– Tháp Nhi Sơn [ Đồ Sơn]: ( CNM): sau khi giặc đóng tại Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo lui về đây đóng quân. A-ba-tri trong khi đi cướp lương ăn, từng đến tận đây giao chiến, cướp được một số thóc gạo. Đến lượt Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ ngang qua đây cũng bị đánh.

– ? Trúc Động [ xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên]: ( CNM): thấy tình hình bất lợi. Thoát Hoa rút quân từ Thăng Long về đóng ở Vạn Kiếp, sai A-ba-tri đánh vào căn cứ này của vua Trần. Khi Ô Mã Nhi đi thuyền rút về nước ngang đây cũng bị đánh ngăn không cho vào sông Giá vì nơi đó đang đóng quân mai phục, chuẩn bị cho trận Bạch Đằng.

-? [ núi Tràng Kênh, huyện Thủy Nguyên]: ( CNM): Hưng Đạo cho mai phục ở đây, chuẩn bị đánh trận Bạch Đằng

– rừng tả ngạn sông Bạch Đằng [ thuộc huyện Yên Hưng ( Quảng Ninh) – xin ghi gộp ở đây]: ( CNM):  Hưng Đạo cho mai phục ở vùng rừng rậm rạp tại đây, chuẩn bị cho trận Bạch Đằng.

– các sông ?  [ các sông Giá, Thải, Điền Công thuộc huyện Thủy Nguyên bây giờ]: ( CNM): Hưng Đạo cho thủy quân đóng quân mai phục, chuẩn bị cho trận Bạch Đằng

 

HƯNG YÊN :

– sông Thiên Mạc [ đoạn sông Hồng chảy qua Hưng Yên, cụ thể vua đóng ở làng Mạn Trù, xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu ngày nay]: ( sau 12/12/1257):   thua ở phòng tuyến thứ Phù Lỗ, vua tiếp tục lùi về đóng ở đây.

– đồn A Lỗ [ sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua chỗ nối với sông Luộc, là chỗ tiếp giáp giữa 3 huyện Tiên Lữ (Hưng Yên), Lý Nhân ( Hà Nam) và Hưng Hà (Thái Bình). Đồn nằm đâu đó ở ngã 3 này]: ( CNM, ĐC):  đánh đồn A Lỗ, cắt đường liên lạc 2 đại trại Thăng Long và Trường Yên của giặc, mở đầu cuộc tổng phản công.

– bến Tây Kết [ không rõ ở đâu. Ở Hưng Yên có xã Đông Kết huyện Khoái Châu, có lẽ Tây Kết ở phía Tây xã này. Nếu vậy là thuộc địa phận xã Tân Châu, bên bờ sông Hồng]:

+ ( 1/3/1285): đánh bại giặc ở Tây Kết, cắt đường liên lạc 2 đại trại Thăng Long và Trường Yên của giặc.

+ ( 4/1285; CNM, ĐC): Sau đó cũng đánh giết Toa Đô tại đây.

– cửa Hàm Tử [ xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu]:

+ ( 4/1285): đánh bại giặc ở cửa Hàm Tử, cắt đường liên lạc 2 đại trại Thăng Long và Trường Yên của giặc.

+ ( CNM, ĐC): Trong cuộc chiến lần 3, sau khi vua Trần rút khỏi Thăng Long, giặc đuổi theo đánh vào nơi này.

 

HÀ NAM :

 

– tháp/ núi Long Đọi [ núi Đọi, thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam]: ( 5/ 1246): tháp trên núi đổ

– nhà học ? [ không rõ tên cụ thể lẫn địa điểm]: ( 1281): xây nhà học ở phủ lộ Thiên Trường, nhưng cấm lính Túc Vệ Thiên Thuộc vào học vì sợ làm kém khí lực.

– bãi Đà Mạc [ xã Châu Giang, huyện Duy Tiên]: ( 2/ 1285): khi vua Trần rút từ Thăng Long về Thiên Trường, Trần Bình Trọng cản giặc ở bãi này rồi bị bắt. Đà Mạc chính là bãi Mạn Trù ngày xưa, nơi Tiên Dung – Chử Đồng Tử gặp nhau lần đầu

– sông Đại Hoàng [ khúc sông Hồng chảy qua huyện Lý Nhân]: ( CNM):  nghe tin quân ta kéo quân lên chiếm lại được Vạn Kiếp, giặc hành quân đánh thẳng vào căn cứ của ta tại Thiên Trường. 2 bên giao chiến tại đây, ta rút.

 

THÁI BÌNH :

– Huy lăng – lăng mộ thượng hoàng Trần Thừa [ nay là huyện Đông Hưng; thuộc đất lộ Long Hưng lúc đó]: ( 1248): vốn gọi là Thọ Lăng, nay đổi tên. Vào cuộc chiến lần 3, các khu lăng mộ này bị Ô Mã Nhi đào phá.

– Chiêu lăng [ nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà; thuộc đất lộ Long Hưng lúc đó]: ( 4/10/1277): chôn vua ở đây. Vào cuộc chiến lần 3, các khu lăng mộ này bị Ô Mã Nhi đào phá.

– ải Hải Thị [ chỗ sông Luộc gặp sông Hồng, là chỗ tiếp giáp 2 tỉnh Hưng Yên, Thái Bình]: ( CNM): sau khi Trần Bình Trọng bị bắt, quân Trần rút tiếp về giữ ải này để bảo vệ Thiên Trường ( Nam Định), Trường Yên ( Ninh Bình). Cuộc chiến lần 3, sau khi vua Trần rút khỏi Thăng Long, giặc đuổi theo đánh vào nơi này.

 

NAM ĐỊNH :

– hành cung Ứng Phong [ thuộc phủ Nghĩa Hưng đời Lê, tức nằm đâu đó trong 3 huyện Ý Yên, Vụ Bản, Nghĩa Hưng ngày nay. Sách cho là ở huyện Ý Yên]: ( 1245): vua ngự tới.

– hành cung Tức Mặc/ Trùng Quang [ bấy giờ thuộc hương Tức Mặc, nay là huyện Mỹ Lộc]:  ( 2/1262): đổi hương Tức Mặc thành lộ Thiên Trường, hành cung đổi tên thành Trùng Quang.

– cung Trùng Hoa [ nằm cạnh cung Trùng Quang]: ( 2/1262): thượng hoàng xây cung này cho vua nối ngôi ở khi về chầu.

– chùa Phổ Minh [ phía tây cung Trùng Quang, chùa nay thuộc phường Lộc Vượng ở bắc TP. Nam Định]: ( 2/ 1262): xây chùa. Chùa giữ vạc đồng Phổ Minh, 1 trong An Nam Tứ Đại Khí, tương truyền miệng vạc dày đến nỗi 2 người có thể đi lại chạy chơi trên đó.

– hành cung Thiên Trường [ có lẽ là cung Trùng Hoa nhưng sách chép nhầm tên?]: ( 9/1270):  vua ngự đến.

– cửa biển Giao Hải [ cửa sông Hồng ở huyện Giao Thủy]: ( CNM): chiến dịch rút khỏi Thiên Trường, vua đi thuyền ra cửa này, ngược lên phía Bắc.

 

HÀ TÂY :

– ? Ứng Thiên [ không rõ thời Trần đơn vị hành chính là gì, đời sau là phủ Ứng Hòa, gồm đất 4 huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai ngày nay.]: ( 1251): vụ thông dâm của Trần Quốc Tuấn, vua lấy 2000 khoảnh ruộng ở đây để chuộc.

– làng Cổ Sở [ xã Yên Sở, huyện Hoài Đức]: ( 1016): truyền thuyết là suốt 2 trận chống Nguyên 1258, 1285, được thần phù hộ, giặc đến đây thì ngựa ngã không đi được, bị dân đánh giết, nên làng vô sự.

– bến Chương Dương  [ xã Chương Dương, huyện Thường Tín, đối diện với huyện Khoái Châu ( Hưng Yên)]: ( 3/5/1285; CNM, ĐC): khi tổng phản công, Trần Quốc Toản cùng các tướng đem dân binh đánh giặc tại đây.

 

VĨNH PHÚC :

– cánh đồng Bình Lệ [ tức Bình Lệ nguyên mà người ta thường nói; thuộc huyện Bình Xuyên, gần sông Cà Lồ – nơi vua đặt thuyền để rút]: ( 12/12/1257): Trận Bình Lệ Nguyên. Ta thua

– lộ Tam Đái [ các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh + huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ]: ( CNM): Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng đóng ở đây vào đầu cuộc chiến. Khi Toa Đô từ Thanh Hóa chiếm Trường Yên, vua phải chạy ra biển, ông này đầu hàng.

 

PHÚ THỌ :

– bãi phù sa sông Bạch Hạc [ nay là phường Bạch Hạc thuộc TP. Việt Trì]: ( 2/1262): đóng chiến thuyền, tập trận thủy bộ. Bạch Hạc tương truyền là nơi Mộc Tinh từng sống.

– huyện Phù Ninh [ huyện Phù Ninh ngày nay]: ( 17/4/1285, CNM, ĐC):  sau khi thua trận, 1 cánh quân giặc rút về Vân Nam qua ngả này.

– động Cự Đà [ xã Tử Đà, huyện Phù Ninh]: ( 17/4/1285, CNM, ĐC): giặc rút về đến huyện thì đóng ở động này

– núi Trĩ Sơn [?; có lẽ cũng nằm trong huyện Phù Ninh]: ( 17/4/1285, CNM, ĐC): phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc cố thủ ở đây đánh giặc. Hà Đặc theo thần tích, là người quê xã Tử Đà ngày nay.

– ? A Lạp [ ?, nhưng có lẽ nội 2 huyện Phù Ninh, Đoan Hùng, là nơi có dòng sông Lô chảy qua]: ( 17/4/1285, CNM, ĐC): Hà Đặc đuổi giặc đến A Lạp, bắc cầu phao sang sông ( sông Lô), hăng đuổi mà tử trận.

– sông Bạch Hạc [ nơi hợp lưu 3 con sông Lô, Thao, Đà, cũng là phường Bạch Hạc của tp. Việt Trì]: ( CNM): Trần Nhật Duật chặn quân Vân Nam ở đây, bị thua.

– cửa quan Mộc Ngột [?; chỉ biết gần sông Bạch Hạc]: ( CNM): Trần Nhật Duật chặn quân Vân Nam ở sông Bạch Hạc rất gần đây, bị thua.

 

TUYÊN QUANG :

– lộ Tuyên Quang [ đất Tuyên Quang và một phần Yên Bái]: ( ĐC, CNM, LSQS):  khi giặc sang năm 1885, Trần Nhật Duật đang trấn giữ ở đây.

 

YÊN BÁI:

– trại Thu Vật [ thuộc lộ Tuyên Quang]: ( 1330):  khi giặc sang năm 1885, Trần Nhật Duật đang trấn giữ ở đây.

 

LÀO CAI :

– trại Quy Hóa [ đất 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái]:

+ ( 8/ 1257): đưa tin tâu có sứ Nguyên sang

+ (1258): Hà Bổng đón đánh giặc đang rút chạy.

 

LAI CHÂU :

– đạo Đà Giang [ nay là đất 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La]: ( 10/1280): Trịnh Giác Mật làm phản, Trần Nhật Duật chiêu hàng.

 

THANH HÓA :

 

– sông Bà Mã [ sông Mã ngày nay]: ( 6/1248): Trần Thủ Độ đào yểm sông để trấn người tài.

– sông Lễ [ có lẽ là sông Chu ngày nay; phụ lưu của sông Mã, chảy qua 2 huyện Thường Xuân, Thọ Xuân]: ( 6/1248): Trần Thủ Độ đào yểm sông để trấn người tài.

– núi Chiếu Bạc [ có lẽ là núi Chiếu Bạch, huyện Hà Trung]: ( 6/ 1248):  Trần Thủ Độ đục núi để trấn người tài.

– trại Thanh Hóa [ không rõ có phải chính là lộ Thanh Hóa?]:

+ ( 6/ 1256):chia Thanh Hóa làm trại

+ (4/1263):cho Lê Cư làm trại chủ.

– cửa kênh Bố Vệ [ Toàn Thư chép là Vệ Bố; hiện là địa danh Cầu Bố, huyện Quảng Xương. Lúc đó ở đây có cửa thông ra biển]: ( CNM): Toa Đô ra bắc, đánh lui Nhật Duật. Trần Kiện đầu hàng. Giặc lại tiến đến Vệ Bố, đánh bại ta.

– bến Phú Tân [?]: ( CNM): sau Vệ Bố, Trần Kiện chỉ điểm cho giặc đánh Quang Khải ở bến này. Giặc vượt qua Thanh-Nghệ, tiến vào Trường Yên, quân ta phải bỏ căn cứ.

– hương Yên Duyên  [ xã Quảng Hùng, huyện Quảng Xương]: ( ĐC, LSQS):  dựa theo văn bia chùa Hương Phúc, khi giặc đánh đến Vệ Bố, có đại toát Lê Mạnh huy động dân ở đây chống giặc ở bến Cổ Bút. Nhà ông bị giặc đốt.

– bến Cổ Bút [ thuộc huyện Hoằng Hóa]: ( ĐC, LSQS): dựa theo văn bia chùa Hương Phúc, khi giặc đánh đến Vệ Bố, có đại toát Lê Mạnh huy động dân ở đây chống giặc ở bến Cổ Bút. Nhà ông bị giặc đốt.

 

NGHỆ AN :

– trại Nghệ An [ không rõ có phải chính là lộ Diễn Châu?] :

+ ( 6/ 1256): chia Nghệ An làm trại;

+ ( 28/1/1285, CNM):Hưng Đạo xin Quang Khải ngăn quân Toa Đô ở đây. Khi Toa Đô sang, Quang Khải hành quân chưa đến nơi, Nhật Duật không đánh nổi phải rút.

– phủ đệ Trần Quốc Khang [ ở lộ Diễn Châu]: ( 1270): “Quốc Khang dựng phủ có lang và vũ vòng quanh, lộng lẫy quá mức, sợ vua trách nên tô thêm tượng để thờ ( nay là chùa Thông)”, không rõ ý nói thờ tượng trong phủ hay ở 1 nơi mà đời sau gọi là chùa Thông.

 

QUẢNG BÌNH :

– động Nẫm Ba La [ chỉ biết thuộc phủ lộ Bố Chính, không biết địa điểm cụ thể]: ( 2/1277): đánh người Man ở đây, bắt hơn 1000 người. Nếu không phải là đánh người Chăm thì có thể là 1 nơi đồi núi nào đó ở miền tây Quảng Bình bây giờ.

– châu Bố Chính [ huyện Quảng Trạch, Bố Trạch]: ( CNM, ĐC): vào tháng 2/ 1285, Toa Đô từ Champa bắc đầu tiến sang.

 

LẠNG SƠN :

– châu Thất Nguyên [ huyện Tràng Định]: ( CNM): đầu cuộc chiến 1285, quản quân Nguyễn Lộc ( hay Nguyễn Thế Lộc) đóng ở đây.

– châu Lộc [ huyện Lộc Bình]: ( CNM): cuộc xâm lược lần 2, giặc Nguyên đến đây trước tiên.

– ải Vĩnh Châu  [?]: ( 26/12/1284): giặc đánh vào đây cùng các ải Nội Bàng, Chi Lăng.

– ải Thiết Lược [?]: ( 26/12/1284): giặc đánh vào đây cùng các ải Nội Bàng, Chi Lăng.

– huyện Đơn Kỷ [?, có lẽ nằm phía Nam châu Lộc]: ( CNM): Khi rút quân về nước, giặc đi theo đường huyện Đơn Kỷ để đến Lộc châu nhằm ra khỏi nước ta

– ải/ huyện Khâu Ôn [ huyện Ôn Châu xưa, tức nửa phía Đông huyện Chi Lăng nay – các xã Sao Mai, Nhân Lý, Quang Sơn đổ về Đông, có thể bao gồm cả thị trấn Lạng Sơn nay]:

+ ( NS, ANCL):cánh quân phía Tây của địch công phá nơi này.

+ ( 2/1285): Sau, Trần Kiện đầu hàng, trên đường về TQ bị bắn chết, Lê Trắc chôn ở đây.

– ải Chi Lăng [ thuộc xã Chi Lăng, Tây Nam huyện Chi Lăng]:

+ ( 26/12/1284): giặc phá Khâu Ôn xong, kéo đến phá luôn Chi Lăng.

+ (CNM, ANCL): Lần thứ 3, quân bộ cũng chia 2 đường Đông – Tây, Trình Bằng Phi và cánh Tây đi đường này đến Thăng Long

– cửa quan Hãm Sa [?; nằm giữa 2 cửa ải Chi Lăng và Từ Trúc; “ Hãm Sa” có nghĩa là “ cát sụt”]: ( CNM): Trình Bằng Phi cùng cánh phía Tây đánh qua các nơi này, tổng cộng qua 17 trận. Khi rút quân về nước, cánh quân bộ cũng chia 2 đường đông – tây cùng rút. Cánh phía Tây cũng đi qua đây rồi bị chặn đánh, phải quay lại nhập vào cánh phía Đông.

– cửa quan Từ Trúc [ có lẽ thuộc huyện Hữu Lũng; theo sứ Nguyên là Trần Phu: phía Tây Nam Chi Lăng 30 dặm, có quân đóng giữ, 2 bên đường là núi cao, có tre lớn đầy gai nhọn; Từ Trúc có nghĩa là “ tre gai”]: ( CNM): Trình Bằng Phi cùng cánh phía Tây đánh đến đây, tổng cộng qua 17 trận.

– ải Khâu Cấp [ NS gọi là Cấp Lĩnh, có lẽ là núi Khau Khúc ở tây nam huyện Lộc Bình]: ( NS, ANCL): cánh quân phía Đông của giặc phá nơi này trước tiên. Trong cuộc chiến lần 3, khi giặc rút về, quân ta đóng ở đây chặn đánh cánh quân bộ.

– cửa quan Nữ Nhi [ ?, có khi là nhầm với ải Anh Nhi hay Khả Li gì đó]: ( CNM):  khi cánh quân bộ rút về nước, giặc phát hiện ta đóng khắp các ải Khâu Cấp, Nữ Nhi để chặn đánh.

 

BẮC GIANG :

Cuối 1284, cánh quân phía Đông của giặc công phá theo thứ tự:

– ải Khả Li [ ?; ở phía Đông, nằm sau ải Khâu Cấp; Đào Duy Anh cho là xã Sa Lý nơi có sông Xa Lý. Bản đồ hiện tại thấy trong vùng chỉ có xã Sa Lí có sông Đinh Đèn, thuộc huyện Lục Ngạn, chắc là đây ]: ( NS, ANCL): giặc phá Khâu Cấp, lại phá tiếp ải Khả Li]

– ải Anh Nhi [?; ở phía Đông,nằm sau ải Khâu Cấp]: ( ANCL):  giặc phá ải cùng lúc với ải Khả Li, có lẽ là 2 ải nằm song song gần nhau.

– ải Động Bản [ xã Biên Động, huyện Lục Ngạn, giáp huyện Sơn Động]: ( NS, CNM):  giặc phá Khả Li, Anh Nhi, tiếp đến phá ải này. Lần thứ 3, quân bộ cũng chia 2 đường Đông – Tây, Thoát Hoan và cánh Đông đi đường này để tiến về Thăng Long.

– ải Nội Bàng [ xã Phượng Sơn, tây nam huyện Lục Ngạn, giáp huyện Lục Nam; là 1 đồng bằng lớn, 2 bên có dãy núi bao bọc, giữa có sông Lục Nam chảy qua]:

+  ( CNM, ANCL, LSQS): Trần Hưng Đạo đóng đại bản doanh ở đây để điều khiển phòng tuyến biên giới cuối 1284. Giặc phá hết Khả Li, Anh Nhi, Động Bản thì chia thành 6 mũi kéo đến đây.

+ ( CNM, ANCL, LSQS):  1/2/1288, Ích Tắc theo 5000 quân quân Nguyên vào nước ta, bị đánh ở đây, chỉ còn 60 kỵ binh chạy thoát.

– sông Bình Giang [ có lẽ là sông Lục Nam, đoạn chạy qua xã Phượng Sơn, nam huyện Lục Ngạn]: ( CNM): 1/2/1288, Ích Tắc theo 5000 quân quân Nguyên vào nước ta, bị đánh ở đây, phải bày trận quay lưng vào sông liều chết đánh, chỉ còn 60 kỵ binh chạy thoát.

– thôn Biến Trú [ có lẽ nằm ngay cạnh ải Nội Bàng]: ( NS): giặc sai người đi qua đây để gọi Trần Hưng Đạo mở ải cho giặc qua.

– bến Bãi [ trên sông Lục Nam]: ( ĐC): Trần Hưng Đạo thua trận ở ải Chi Lăng và Nội Bàng, lên thuyền của Yết Kiêu lui về Vạn Kiếp.

– châu Lạng Giang [?; nằm phía Nam ải Chi Lăng; theo thông tin của ANCL thì có thể châu Lạng thuộc 2 huyện Hữu Lũng ( Lạng Sơn) và Lục Nam ( Bắc Giang) bây giờ]: ( 8/ 1281; ANCL): thú thần Lương Uất tâu báo nhà Nguyên chuẩn bị sang đáng, phao là xin mượn đường đánh Champa. ANCL viết Trần Hưng Đạo thua ở Nội Bàng thì rút tiếp về đây. Các sách khác thì viết thua Nội Bàng liền rút về Vạn Kiếp

– huyện Na Ngạn [ vùng đất phía nam huyện Lục Ngạn]: ( 26/11/1284):  Hưng Đạo về Vạn Kiếp điều động quân. Các vương từ nơi khác kéo quân đến hội

– ? Long Nhãn [ huyện Yên Dũng bây giờ]: ( 26/11/1284): Hưng Đạo về Vạn Kiếp điều động quân. Các vương từ nơi khác kéo quân đến hội

– trại Ma Lục [ chỉ biết thuộc châu Lạng Giang chứ không rõ ở đâu]: ( 1/2/1285):  Trần Kiện đầu hàng, trên đường được hộ tống sang Trung Quốc thì bị chặn giết ở đây.

 

QUẢNG NINH :

 – núi Yên Tử [ thuộc xã Thượng Yên Công, TP. Uông Bí]: ( 1279): sau 3 cuộc chiến tranh chống Nguyên/ Mông, Trần Nhân Tông dựng am Ngọa Vân tu ở đây.

– ? Yên Sinh [thuộc huyện Đông Triều]: ( 26/11/1284):  Hưng Đạo về Vạn Kiếp điều động quân. Các vương từ nơi khác kéo quân đến hội

– nguồn Tam Trĩ [ sông ba Chẽ, huyện Ba Chẽ]: ( CNM): chiến dịch rút khỏi Thiên Trường, vua từ cửa Giao Hải đi thuyền lên đây.

– cửa Ngọc Sơn [ xã Vạn Ninh, huyện Móng Cái, gần biên giới với Trung Quốc]: ( CNM): : đến Tam Trĩ, vua sai đem thuyền ngự ra tận cửa Ngọc Sơn để đánh lạc hướng giặc.

– xã(?) Thủy Chú [ thuộc huyện Yên Hưng; (?) vì chỉ có Toàn Thư bản sách ghi thêm chữ “xã”]: ( 1/3/1285):  sau khi cho thuyền ngự đi nghi binh, vua quay ngược về đây, ra sông Nam Triệu, qua biển Đại Bàng.

– sông Nam Triệu [ chính là đoạn sông Bạch Đằng đổ ra biển. Nằm giữa 2 huyện Thủy Nguyên ( Hải Phòng) và Yên Hưng ( Quảng Ninh). Nhưng cửa biển không đồng nhất với cửa Nam Triệu bây giờ]: ( 1/3/1285):  sau khi cho thuyền ngự đi nghi binh, vua quay ngược về đây, ra sông Nam Triệu, qua biển Đại Bàng.

– cảng Vân Đồn [ nay khó xác định được vị trí cụ thể, dựa vào hiện vật khai quật thì thấy nó có lẽ nằm trên đảo Cảnh Cước ( sách Thương Cảng Vân Đồn viết là đảo Vân Hải) phần bờ biển phía Tây, hướng mặt vào đảo Trà Bản. Các địa danh bến Cống Cái, bến Cái Làng, bến Con Quy,… đều tập trung ở bờ biển phía Tây của đảo này, có rất nhiều tiền và đồ gốm đủ loại thuộc mọi thời kì phong kiến đã được khai quật]: ( CNM, TCVĐ): Trần Ích Tắc từng đưa thư nhờ người ở Vân Đồn chuyển cho nhà Nguyên. Trần Khánh Dư trấn giữ nơi này vào đầu cuộc chiến lần 3.

– cửa biển Vạn Ninh [?; có lẽ thuộc Móng Cái, nằm sát biên giới Việt-Trung]: ( CNM):  thủy quân giặc vượt qua đây tiến vào nước ta

– núi Ngọc [ ?, thuộc Móng Cái]: ( CNM, ĐC):  Nhân Đức hầu đón đánh thử thủy quân giặc ở đây, bắt được 40 tên cùng khí giới

– cửa An Bang [ thị xã Quảng Yên, thuộc huyện Yên Hưng]: ( CNM; ĐC):  cuối tháng 11/1287, Trần Khánh Dư đón đánh giặc ở đây nhưng không cản nổi. Giặc vây núi đánh phá rồi vượt qua tiến sâu vào nội địa.

– ? [ con đường thủy hẹp giữa sông Mang và Cống Cái, tức nằm giữa 2 đảo Trà Bản và đảo Cảnh Cước]: ( TCVĐ):  Trần Khánh Dư đánh thăm dò đoàn thuyền của Trương Văn Hổ.

– Vịnh Lục Thủy [ tức vịnh Cửa Lục. Vịnh nằm giữa 2 huyện Hoàng Bồ, Yên Hưng và Tp. Hạ Long]: ( ĐC, CNM, TCVĐ):  Đầu tháng 12/1287, Trần Khánh Dư tiêu diệt đoàn thuyền Trương Văn Hổ.

– trại Yên Hưng [ huyện Yên Hưng]: ( CNM):  đón không thấy Trương Văn Hổ, Ô Mã Nhi đành quay về Vạn Kiếp. Dọc đường, giặc đánh cướp các nơi để tìm gạo, điển hình là ở đây. Về đến Vạn Kiếp, Ô Mã Nhi đã gom được 4 vạn thạch gạo.

– chợ Đông Triều [ huyện Đông Triều]: ( CNM):  Thoát Hoan rút quân về nước, chia quân thành 2 đường thủy-bộ. Quân thủy có 1 đạo kỵ binh đi dọc theo sông để hộ tống. Nhưng đến nơi đây thì kỵ binh không sang sông được. Quân hộ tống đành quay về nhập quân với Thoát Hoan.

 

 

CÁC ĐỊA DANH KHÔNG RÕ Ở ĐÂU:

 

– ? Trà Lộ [ ?; cũng không rõ đơn vị hành chính là gì]: ( 8/1247):  quê của giáp khoa Ngô Tần

– bến Đông [ có lẽ là ngoại thành Thăng Long]: ( 5/1254):  vua đi chơi, thấy Vũ Uy Vương đánh lộn bằng tay không.

– bến Hồng Tân [?]: ( 5/ 1256):  trồng cây muỗm ( xoài) suốt 500 trượng từ bến này đến đê Tuẫn Thần.

– đê quai vạc Tuẫn Thần [?]: ( 5/1256): trồng cây muỗm ( xoài) suốt 500 trượng từ bến Hồng Tân về đây.

– sơn lăng [?]: ( 7/1259):  bái yết sơn lăng, đặt quan sơn lăng và phong các cung tần của tiên đế ( của Trần Thái Tông?) để thờ cúng. Thái Tông đang làm thượng hoàng, chép thế này đọc khó hiểu.

– các đầu nguồn sông ở Lạng Sơn [ chỉ chép chung chung là các sông đầu nguồn ở Lạng Sơn, không biết chi tiết là những sông nào]: ( 7/1263): Trần Thủ Độ đi tuần.

– lộ Đông Hải [?; có thể là ven biển]: ( 2/ 1266): thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới, đến núi này dò xét tình hình quân Nguyên

– phủ đệ của Trần Ích Tắc + trường học [?]: ( 5/ 1267):  Ích Tắc mở 1 trường học bên hữu phủ đệ của mình để học văn sĩ các nơi vào học.

– hồ Thủy Tinh [?]: ( 6/ 1283):  cá trong hồ chết.

– bến Đại Mang [ ?]: ( 20/4/1285, CNM, ĐC): sau khi đuổi Thoát Hoan và cánh quân đi đường Vân Nam về nước, hai vua Trần đến đóng ở đây, rồi bắt đầu đón đánh luôn Toa Đô đang từ Thanh Hóa kéo ra

– núi Cảo Sơn [?]: ( 9/ 1285):  núi lở, được nhắc cùng lúc với việc bia chùa Báo Thiên gãy.

– lộ Nam Sách giang [?]: ( CNM): năm 1286, nhà Nguyên phong Việt gian Lại Ích Khuy làm an phủ sứ lộ này.

– đồn Cảm Nam [?; chỉ biết nằm dọc sông Hồng]: ( CNM):  cuộc chiến chống  Nguyên/ Mông lần 3, sau khi rút khỏi Thăng Long, vua Trần tạm đóng ở đây trước khi xuôi về Hàm Tử, Hải Thị,…

 

 

Các địa danh thuộc Trung Quốc:

 

QUẢNG TÂY :

 

– lộ Bằng Tường [ thuộc phủ Quảng Tây của nhà Nguyên]: ( 4/ 1242): vua sai quân đánh lấy địa phương thuộc lộ này.

–  Tư Minh châu [ huyện Ninh Minh ngày nay]:

+ (7/ 1256):Doãn là con của Yên Sinh Vương Trần Liễu bổ trốn sang, bị TQ bắt trả cho ta

+ (12/1263): thổ quan xin đem 1200 người sang nội phụ.

– Long châu [ nay là huyện Long Châu, sát biên giới VN]: ( 1276): sai Đào Thế Quang sang mua thuốc để do thám tình hình.

– Ung châu [ thủ phủ Nam Ninh]: ( CNM): 11/ 1284, Thoát Hoan hành quân đến đây.

– trại Vĩnh Bình [ giáp huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn]: ( CNM, ĐC): Thoát Hoan chạy về tới đây thì bị Hưng Vũ vương Hiến đón đánh. Lý Hằng trúng tên chết, Thoát Hoan chui ống đồng trốn về.

– Liêm châu [ Hợp Phố]: ( 3/ 1286): nhà Nguyên họp quân ở đây chuẩn bị đánh nước ta lần 3

– Khâm châu [ Khâm châu]:

+ ( 3/ 1286): nhà Nguyên họp quân ở đây chuẩn bị đánh nước ta lần 3

+ (4/12/1287):  bắt đầu xuất phát.

– huyện Lai Tân [?]: ( CNM): cuộc chiến lần 3, quân Nguyên đến đây thì chia 2 đường thủy bộ. Thoát Hoan đi đường bộ đến Tư Minh để vào nước ta

 

QUẢNG ĐÔNG :

 

– núi Ô Lôi [ tỉnh Quảng Đông]: ( 2/1266):  thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới, đến núi này dò xét tình hình quân Nguyên

– Nhai Sơn [ đảo trong biển, phía nam huyện Tân Hội]: ( 1279): quân Nguyên đánh úp, thừa tướng Lục Tú Phu ôm vua Tống nhảy xuống biển chết. Nhà Tống mất.

– Huệ châu [ huyện Huệ Dương]: ( CNM, ĐC):  trong cuộc chiến lần 3, bên cạnh Trương Văn Hổ, 1 đoàn thuyền lương do Phí Củng Thìn chỉ huy, nhưng mới tiến đến đây thì bị bão đánh dạt đi cả.

 

VÂN NAM:

– Trung Khánh [ Côn Minh]: ( CNM): A-ruc xuất phát từ đây để tiến vào nước ta trong cuộc chiến lần 3

 

HẢI NAM:

– 4 châu Nhai, Quỳnh, Đạm, Vạn [?]: ( 2/1287):

 

CÁC NƠI KHÁC:

– Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây, Vân Nam, Kinh Hồ, Đàm châu ( huyện Trường Sa, Hồ Nam) – Giặc điều binh từ những vùng này cho cuộc tấn công Đại Việt lần 3.

– châu Ngạc ( Hồ Bắc) – Trần Ích Tắc giữa 2 cuộc chiến lần 2 và 3, sống lưu vong ở đây.

 

END

Phụ lục: diễn biến cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần 2

 

Do cuộc kháng chiến lần 2 là cuộc kháng chiến có thời gian diễn ra lâu dài nhất, địa bàn trải rộng và diễn biến phức tạp nhất. Tôi sẽ tóm tắt diễn biến của cuộc chiến này theo trình tự và địa danh để độc giả dễ theo dõi. Hai cuộc chiến còn lại, mọi người có thể dễ dàng tra cứu trên internet. Bên cạnh Wikipedia, nguồn đáng tin cậy và chi tiết nhất là cuốn “ Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ 13” của Hà Văn Tấn:

http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=24592

 

Dưới đây là chi tiết diễn biến cuộc chiến năm 1285:

 

– Đợt 1: 1285, giặc Nguyên sang bằng đường Lạng Sơn, đầu tiên đáp vào châu Lộc ( Lộc Bình). Chia quân 2 cánh. Cánh Tây lần lượt phá ải Khâu Ôn, Chi Lăng. Cánh Đông đánh ải Khâu Cấp rồi theo sông Đinh Đèn xuôi xuống nam, vào đất ( huyện Lục Ngạn bây giờ) phá tiếp các ải Khả Li/ Anh Nhi ( 2 ải này có lẽ nằm //), Động Bản. Xong, quân giặc chia 6 đường đánh thẳng đại bản doanh Nội Bàng ( Tây Nam huyện Lục Ngạn, sát huyện Lục Nam). Trần Hưng Đạo vỡ trận, lên thuyền ở bãi Tân do Yết Kiêu chở thẳng về Vạn Kiếp ( Hải Dương). Đó là kết thúc mặt trận biên giới Lạng Sơn và Bắc Giang.

 

– Đợt 2: rút về Vạn Kiếp ( Chí Linh). Vua Trần nghe tin vỡ biên giới chạy thẳng đến đây gặp Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo ra lệnh hội quân các nơi lại Vạn Kiếp ( chủ yếu là quân Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh), đồn là tới 20 vạn. Chia ra ra thủ Bình Than, núi Phả Lại, sông Đuống. Giặc phá luôn tuyến phòng thủ này.

 

– Đợt 3: sau khi phá tuyến phòng thủ thứ 2, giặc kéo quân vào Thăng Long, dọc đường đánh các vùng Vũ Ninh, Đông Ngàn, Gia Lâm. Rồi, gặp phòng tuyến thứ 3 ở ngoài thành Thăng Long do đích thân vua Trần chỉ huy. Quân Trần dùng máy bắn đá từ bên này sông bắn sang thách đách. Giặc dựng cờ lớn, đóng quân tại bờ sông đối diện Đông Bộ Đầu.

* Nhìn cách hành quân này, ta cũng có thể thấy là vào giai đoạn đó chưa có con đường tương đương quốc lộ 1A bây giờ. Vì thế, giặc không thể từ biên giới đi theo hướng Tây Nam thẳng xuống Thăng Long. Thay vào đó, giặc phải chiếm ải Nội Bàng xong, rồi đi thẳng ra phía biển ( Vạn Kiếp, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay). Sau khi chiếm Vạn Kiếp, giặc lại phải men theo sông mà đi ngược vào đất liền, tiến về Thăng Long.

 

– Rút khỏi Thăng Long: Vua sai Trần Khắc Chung sang giả làm sứ để do thám. Khắc Chung về, giặc nhận ra là quân do thám nên đuổi theo. 2 bên đánh nhau. Ta rút quân khỏi Thăng Long. Thoát Hoan chiêu đãi binh sĩ trong thành xong lại rút ra đóng ở chỗ cũ.

 

– Về Thiên Trường ( Nam Định), Trường Yên ( Ninh Bình): trên đường rút lui, Trần Bình Trọng cản giặc tại bãi Đà Mạc, bị bắt. Ta tiếp tục rút xuống ải Hải Thị lập phòng tuyến ngăn giặc. Thiên Trường, Trường Yên vốn là quê cũ của nhà Trần, nay trở thành căn cứ mới.

 

– Chiếm lại vạn Kiếp: từ Thiên Trường, Trường Yên, quân Trần kéo quân lên chiếm lại Vạn Kiếp. Cùng lúc, giặc từ Thăng Long tràn xuống định chiếm Thiên Trường. 2 bên đánh nhau ở sông Đại Hoàng. Ta lại rút lui.

 

– Mặt trận Thanh – Nghệ: 2 bên đang giằng co tại Đại Hoàng thì Toa Đô kéo quân từ Champa lên, đi qua Bố Chính, đánh lui Nhật Duật ở Nghệ An. Trần Kiện đầu hàng. Giặc phá luôn Vệ Bố ( ở Thanh Hóa), Kiện còn chỉ cho giặc đánh Quang Khải ở bến Phú Tân. Quân ta phải rút khỏi Thanh – Nghệ, cùng lúc với Đại Hoàng, bỏ căn cứ Trường Yên.

 

– Rút chạy vòng vòng: giặc hội quân vào căn cứ Thiên Trường, Trường Yên. Trong lúc đó vua lên thuyền men theo biển ra vùng Quảng Ninh, cho thuyền ngự chạy thẳng lên cửa Ngọc Sơn để lừa giặc, còn mình lại quay ngược lại, vào tận Thanh Hóa.

 

– Giai đoạn phản công: bước 1: Chiến trường Hưng Yên, cắt đôi 2 trại địch: hiện địch đóng tại 2 trại ( Thoát Hoan ở Thăng Long – tức Hà Nội, Toa Đô ở Trường Yên – tức Ninh Bình). Vừa nghe tin ta chạy lại vào Thanh Hóa, Toa Đô được lệnh quay ngược vào đây đánh ta, nhưng quân của ông này đã mệt, có cánh quân không chịu đi. Trong lúc đó, ta mang quân đi thuyền dọc sông Hồng, phá đồn A Lỗ, Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, cắt hoàn toàn đường liên lạc của 2 đại trại giặc.

 

– Giai đoạn phản công: bước 2: từ đây, ta chia thành 2 mặt trận, 1 cánh lên đánh Thăng Long, bức Thóat Hoan bỏ thành mà chạy. 1 cánh xuống Ninh Bình tiêu diệt phần quân địch mà Toa Đô cho đóng lại trong khi đang hành quân vào Thanh Hóa

 

– Những trận chiến cuối cùng : bị đuổi khỏi Thăng Long, Thoát Hoan chạy sang Gia Lâm rồi đến sông Như Nguyệt định về Bắc, nhưng bị đánh phải chạy đến sông Thương ở Vạn Kiếp. Đang bắc cầu phao thì bị Hưng Đạo đánh 1 trận nữa. Lại chạy, đến tận trại Vĩnh Bình là biên giới Việt Trung thì bị Hưng Vũ vương đánh lần cuối cùng. Lý Hằng trúng tên chết, Thoát Hoan chui ống đồng mà thoát thân. Cùng lúc đó, Toa Đô từ Thanh Hoá mới lục tục quay ngược lên Bắc – lúc này gần như đã được ta giải phóng – rồi bị đánh lớn, thiệt mạng ở cửa Hàm Tử như ta biết.

https://daiyevon.wordpress.com/2015/12/18/danh-sach-cac-dia-danh-trong-cuoc-khang-chien-chong-nguyen-mong/

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s