GIA TỘC ERDOGAN VÀ GIẤC MƠ KHÔI PHỤC ĐẾ CHẾ OTTOMAN CỦA THỔ NHĨ KỲ. (Tư liệu dài kỳ) Phần 3

Kỳ III- NATO đã “trồng vuốt tuốt nanh” cho Thổ Nhĩ Kỳ ra sao.

1- Chính sách đối ngoại quốc phòng của Thổ Nhĩ Kỳ:

Thổ Nhĩ Kỳ là một trong các thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc năm 1945, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD năm 1961, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo OIC năm 1969 gồm 57 thành viên, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu OSCE năm 1973, Tổ chức Hợp ác kinh tế ECO năm 1985, Tổ chức hợp tác kinh tế Biển Đen BSEC năm 1992), Sáng lập nhóm 8 nước phát triển trong thế giới Hồi giáo D-8 gồm Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Malaysia, Nigeria, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1997 và khối G-20 năm 1999. Thổ Nhĩ Kỳ từng là thành viên không thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào các năm 1951–1952, 1954–1955, 1961 và 2009-2010.
Phù hợp với truyền thống định hướng phương Tây của mình, quan hệ với châu Âu luôn là một bộ phận trung tâm trong chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ. Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một trong các thành viên đầu tiên của Ủy hội châu Âu vào năm 1949, thỉnh cầu về quyền thành viên liên kết của EEC vào năm 1959 và trở thành một thành viên liên kết vào năm 1963. Sau nhiều thập niên đàm phán chính trị, Thổ Nhĩ Kỳ thỉnh cầu về quyền thành viên đầy đủ của EEC vào năm 1987, trở thành một thành viên liên kết của Liên minh Tây Âu vào năm 1992, gia nhập Liên minh Thuế quan EU vào năm 1995 và tham gia đàm phán gia nhập chính thức với EU từ năm 2005. Hiện nay, quyền thành viên EU được cho là một chính sách quốc gia và một mục tiêu chiến lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Sự ủng hộ của Thổ Nhĩ Kỳ đối với Bắc Síp (nơi có chính quyền Cộng hòa Síp gốc Thổ chỉ duy nhất được Thổ Nhĩ Kỳ công nhận) đã làm phức tạp quan hệ của Thổ Nhĩ Kỳ với EU và vẫn là một trở ngại lớn ngăn nỗ lực gia nhập EU của quốc gia này.
Phương diện mang tính quyết định khác trong chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ là liên minh chiến lược của Thổ với Mỹ. Việc Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia Châu Á gia nhập khối NATO vào năm 1952 không phải là điều khó hiểu. Thổ Nhĩ Kỳ đang lo sợ trước một Liên Xô hùng mạnh đang ngự trị ở phía Bắc. Còn NATO do Mỹ đứng đầu thì muốn thiết lập một vành đai bao vậy Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu từ hướng Địa Trung Hải và Tây Nam Á. Việc Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một thành viên của NATO đảm bảo quan hệ song phương mật thiết với Washington. Sau đó, Thổ Nhĩ Kỳ nhận được hỗ trợ về chính trị, kinh tế và ngoại giao của Mỹ, bao gồm trong các vấn đề chủ chốt như Thổ Nhĩ Kỳ ứng cử gia nhập EU. Trong tình hình hậu Chiến tranh Lạnh, tính trọng yếu địa chiến lược của Thổ Nhĩ Kỳ chuyển hướng đến các khu vực gần là Trung Đông, Kavkaz và Balkan.
Thổ Nhĩ Kỳ chia sẻ di sản văn hóa và ngôn ngữ chung với các quốc gia Turkis độc lập từ Liên Xô vào năm 1991, điều này cho phép Thổ Nhĩ Kỳ khuếch trương quan hệ kinh tế và chính trị sâu vào Trung Á, Đường ống Baku–Tbilisi–Ceyhan tạo thành bộ phận trong chiến lược chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ để trở thành một nơi chuyển tiếp năng lượng đến phương Tây. Tuy nhiên, biên giới Thổ Nhĩ Kỳ-Armenia bị đóng cửa sau đó do Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ Azerbaijan trong Chiến tranh Nagornyi-Karabakh và cho đến nay vẫn chưa mở cửa trở lại.
Dưới chính quyền của Đảng AKP, ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ phát triển tại các lãnh thổ nguyên thuộc Ottoman tại Trung Đông và Balkan, dựa theo thuyết “chiều sâu chiến lược”, còn được gọi là chủ nghĩa Tân-Ottoman. Ngày nay, tinh thần tân-Ottoman năng động đang nung nấu Thổ Nhĩ Kỳ. Sau một thời tích cực thể hiện quyền lực thế tục, Thổ Nhĩ Kỳ giờ đây đã bắt đầu tạo ra một mẫu hình Cộng hòa Dân chủ Hồi Giáo ôn hòa. Sau một thời kỳ dài tồn tại thể chế độc tài quân sự, Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang trên lộ trình chế ngự giới quân nhân trong một trật tự pháp trị. Một thời không chấp nhận đa chủng tộc, giờ đây Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu xem xét lại khái niệm dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ. Kinh tế khởi sắc sau một thời gian dài ngủ say đã đưa Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một Cộng hòa Hồi Giáo kiểu Calvinist với GDP vươn lên đứng thứ 17 trên thế giới. Quan trọng hơn cả, Thổ Nhĩ Kỳ đang chuyển hóa và định hình một chính sách đối ngoại mới. Đoạn tuyệt với nửa thế kỷ lệ thuộc Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ nay đang tạo dựng một vai trò địa chính trị tương đối độc lập.
Sự trỗi dậy của Thổ Nhĩ Kỳ là không hề dễ dàng. Những người Thổ ưa chuộng thế quyền đã không thể chấp nhận những biểu hiện khẳng định bản sắc Hồi giáo Ottoman, nhất là khi tư tưởng “Cải cách Hồi giáo thầm lặng” được nhà nước ngầm hỗ trợ. Người Kurds ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chỉ là công dân hạng hai. Mặc dù đã mất một phần uy thế, phe quân sự vẫn còn nhiều quyền hành và tiếng nói có trọng lượng trên chính trường. Sự trỗi dậy của Thổ Nhĩ Kỳ đang làm thay đổi tình hình chính trị Trung Đông và thách thức ý niệm truyền thống rằng Washington là “trọng tài” không thể thay thế trong khu vực. Bước vào thế kỷ XXI, Thổ Nhĩ Kỳ có xu hướng thoát khỏi thể chế độc tài, tập trung vào tăng trưởng kinh tế với các giá trị văn hóa xã hội Tân Ottoman có sức lôi cuốn lớn lao đối với thế giới đang phát triển. Một thể chế kiểu “Đồng thuận Ankara” (Ankara Consensus) một ngày nào đó sẽ có thể cạnh tranh ngang ngửa với các mô hình kinh tế – chính trị của Bắc Kinh và Washington. Một mô hình Thổ Nhĩ Kỳ phục dựng “Đế chế Ottoman” như vậy đã khơi mào cho những sự quy kết đối với cánh hữu trên chính trường Thổ hiện nay như một mối đe dọa bởi sự trỗi dậy của Hồi giáo, không phải ở ngoại vi Châu Âu mà là ngay trong lòng NATO. Không phải Mỹ và phương Tây không biết đến mối đe dọa này. Nhưng trong một quan hệ đối địch với Liên Xô trước đây và Nga hiên nay, họ sẵn sàng chấp nhận sự hình thành của một “Chủ nghĩa Tân – Ottoman” (Neo Ottomanism), miễn là Thổ Nhĩ Kỳ chĩa mùi dùi của nó lên phía Bắc.

2- Cơ chế quốc phòng của Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay:

Từ khi Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập NATO đến nay, Mỹ và phương Tây đã không ngừng tăng cường hợp tác quốc phòng với Thổ Nhĩ Kỳ. Các nước NATO đã góp phần đáng kể vào việc tăng cường trang bị, thay thế vũ khí cũ bằng vũ khí mới, nâng cấp vũ khí trang bị, hiện đại hóa quân đội Thổ Nhĩ Kỳ qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 1952 đến năm 1970, giai đoạn 2 từ 1971 đến 1998 và giai đoạn 3 từ 1998 đến nay. Việc hiện đại hóa để nâng cao sức chiến đấu của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ làm cho NATO yên tâm về một tiền đồn rất mạnh của khối quân sự này ngay sát sườn phía Tây Nam Liên Xô trước đây và Nga hiện nay.
Bộ trưởng Quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ là nhân vật dân sự, do Thủ tướng đề cử và Quốc hội phê chuẩn. Ông İsmet Yılmaz đang giữ chức vụ này. Tổng tham mưu trưởng Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ do Tổng thống đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Thổ (theo Hiến pháp) bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng. Đại tướng Hulusi Akar đang giữ chức vụ này. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong các vấn đề an ninh quốc gia và sự chuẩn bị đầy đủ của lực lượng vũ trang để bảo vệ quốc gia. Tuy nhiên, chỉ Quốc hội mới có thẩm quyền tuyên chiến và triển khai binh sĩ ra nước ngoài hay cho phép quân đội nước ngoài đồn trú tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện chế độ quân dịch bắt buộc. Mọi nam công dân Thổ Nhĩ Kỳ đủ điều kiện được yêu cầu phục vụ quân đội trong một giai đoạn kéo dài từ ba tuần đến 18 tháng, tùy theo nhiệm vụ và binh chủng. Thổ Nhĩ Kỳ không thực hiện chế độ tình nguyện phục vụ trong quân đội cũng không cho phép sử dụng nghĩa vụ dân sự thay thế cho nghĩa vụ quân sự.
Thổ Nhĩ Kỳ duy trì lực lượng trong các sứ mệnh quốc tế dưới quyền Liên Hiệp Quốc và NATO kể từ năm 1950, bao gồm các sứ mệnh duy trì hòa bình tại Somalia và Nam Tư cũ, và hỗ trợ lực lượng liên quân trong Chiến tranh vùng Vịnh. Thổ Nhĩ Kỳ duy trì 36.000 binh sĩ tại Bắc Síp. Sự hiện diện của quân đội Thổ tại Bắc Sip đã gây ra tranh cãi lớn trong NATO và EU. Trên danh nghĩa, Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ an ninh cho vùng tự trị Kurdistan thuộc Iraq. Thổ Nhĩ Kỳ cũng triển khai binh sĩ tại Afghanistan từ năm 2001.

3- Lực lượng vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ có lực lượng vũ trang thường trực lớn thứ nhì trong NATO, sau quân đội Mỹ, với 630.000 sĩ quan và binh sĩ trong quân đội chính quy cộng với 200.000 hiến binh (cảnh sát vũ trang nội địa) và 200.000 cảnh sát vũ trang tuần duyên. Lực lượng dự bị hạng nhất (được động viên thành sĩ quan) có 378.700 quân. Thổ Nhĩ Kỳ có khả năng tổng động viên lực lượng dự bị hạng nhì (được động viên thành hạ sĩ quan và binh sĩ) lên đến 18.200.000 người/77.695.904 dân.
Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ gồm Lục quân, Hải quân và Không quân. Lực lượng Hiến binh và Tuần duyên hoạt động dưới quyền chỉ huy của Bộ Nội vụ trong thời bình và được chuyển thuộc cho Lục quân và Hải quân trong thời chiến. Quân đội này được Mỹ và NATO tập trung trang bị hoàn toàn bằng vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ. Trong đó:
3.1- Lục quân có 525.000 người, được biên chế thành 4 tập đoàn quân và 9 quân đoàn gồm có:
+ Bộ binh: 1 sư đoàn, 9 lữ đoàn và 1 trung đoàn độc lập.
+ Bộ binh cơ giới hóa: 2 sư đoàn và 17 lữ đoàn.
+ Bộ binh đổ bộ đường không: 4 lữ đoàn.
+ Tăng – thiết giáp: 14 lữ đoàn.
+ Biên phòng: 5 trung đoàn và 26 tiểu đoàn độc lập.
+ Huấn luyện: 10 lữ đoàn.
+ Vệ binh đặc nhiệm bảo vệ Phủ tổng thống: 1 trung đoàn.
Lục quân Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị 4.025 xe tăng, trong đó có 397 xe tăng chủ lực Leopard-1 và 1.100 xe tăng hạng trung M-60A1/A3; khoảng 400 xe tăng M-60T Sabra (do Thổ tự nâng cấp); 4.395 xe chiến đấu bộ binh, trong đó có khoảng 3.000 xe M113A1/A2 và 170 xe BTR-80; 1.552 pháo xe kéo các cỡ từ 105mm (M101/A1) đến 203 mm (M115); 820 pháo tự hành các loại; 2.121 súng côi các cỡ từ 60mm đến 120 mm; 60 dàn hỏa tiễn phóng loạt trong đó có 12 dàn M270 MLRS hiện đại của Mỹ cung cấp; khoảng 3.000 pháo không giật các cỡ từ 57mm đến 106mm (M106) của Mỹ; 943 dàn tên lửa chống tăng kiểu SS-11, “Rắn hổ mang”, “TAW” và “Milan” (của Ý); 1.664 súng cao xạ cỡ nhỏ 20mm và 35 mm, 116 pháo cao xa 90 mm kiểu M117; 897 giàn tên lửa phòng không các kiểu “Stinger”, “Red Air” và “Patriot”; 168 trực thăng chiến đấu và 279 trực thăng đa nhiệm dành cho quân đổ bộ đường không, trong đó có 37 chiếc AH-1P/Z/W “Super Cobra” và 12 chiếc AH-64 “Apachi”.
3.2- Không quân Thổ Nhĩ Kỳ ra đời ngày 23-4-1920 với tên gọi “Không lực Branch” do người Anh huấn luyện. Ngày 31-1-1944 được cải tổ thành “Quân đoàn không quân Thổ Nhĩ Kỳ” và đến ngày 1-7-1-1949 được cải tổ thành “Bộ Tư lệnh không quân Thỏ Nhĩ Kỳ”. Lực lượng này hiện có 60.000 quân nhân được biên chế thành:
+ 2 bộ chí huy không quân chiến thuật gồm 21 phi đội tiêm kích đánh chặn, tấn công mặt đất và trinh sát.
+ 4 phi đội vận tải.
+ 1 phi đội tiếp dầu trên không.
+ 4 phi đội huấn luyện.
+ 1 phi đội tìm kiếm, cứu hộ.
+ 72 dàn tên lửa phòng không “Nike Hercules” làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ.
Không quân Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay được trang bị 236 máy bay tiêm kích đa nhiệm F-16C/D; 47 máy bay tiêm kích đa nhiệm F-4E/F (đã nâng cấp lên chuẩn Terminator); 23 máy bay tiêm kích F-5F; 39 tiêm kích trinh sát RF-4E; 3 máy bay trinh sát cảnh báo sớm và tác chiến điện tử Boeing 737 AEW/C Peace Eagle; 2 máy bay chỉ huy không chiến Gulfstream G550; 2 máy bay tác chiến điện tử CASA/IPTN CN-235; 19 máy bay vận tải C-130B/E; 7 máy bay tiếp dầu KC-135; 2 máy bay vận tải đường dài Airbus A400M Atlas; 16 máy bay vận tải C-160 Transall (mua của Đức); 43 máy bay vận tải CASA CN-235-100M (Tây Ban Nha cung cấp); 16 máy bay huân luyện phản lực NF-5A/B; 67 máy bay huấn luyện phản lực Northrop T-38 Talon; 40 máy bay huần luyện cánh quạt KAI KT-1T Woongbi (Hàn Quốc cung cấp); 36 máy bay huấn luyện cánh quạt SIAI-Marchetti SF.260D (Italia cung cấp); 20 trực thăng đa năng Eurocopter AS532 Cougar (Pháp cung cấp); 63 trực thăng đa năng Bell UH-1 Iroquois và 4 máy bay không người lái trinh sát – tấn công mặt đất General Atomics MQ-1 Predator.
Không quân Thổ Nhĩ Kỳ sở hữu 14 căn cứ/sân bay trên toàn quốc gồm có: Akinci, Amasya (cạnh sân bay quốc tế Amasya), Balikesir, Bandirma (cạnh sân bay quốc tế Bandirma), Diyabakir (cạnh sân bay quóc tế Diyabarkir), Eskişehir, Etimesgut, Gaziemir, Incirlik (căn cứ của Mỹ và NATO), Izmir (căn cứ của Mỹ và NATO), Kayseri (cạnh sân bay quốc tế Erkilet), Konya, Kütahya và Malatya Erhaç. Bộ Chỉ huy không quân Thổ đóng tại Ankara. Tư lệnh không quân Thổ Nhĩ Kỳ là đại tướng Abidin Ünal. Phó tư lệnh là trung tướng Turgut Atman. Tham mưu trưởng là trung tướng Mehmet Şanver.
3.3- Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ: Là một đất nước có ba mặt là biển, thời Đế chế Ottoman, Hải quân Thổ có một hạm đội rất mạnh từng không chế toàn bộ Biển Đen, Vịnh Ba Tư, Biển Đỏ và phần phía Đông Địa Trung Hải. Ngày 10-7-1920, cơ quan chỉ huy đầu tiên của Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập. Ngày 1-7-1949, nó được cải tỏ thành Bộ Tư lệnh Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ. Hiện nay, Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ có trong đội ngũ thường trực 51.500 quân nhân, được trang bị 212 tàu, thuyền các loại và 51 máy bay. Tổ chức bộ máy gồm các binh chủng: Hải quân tàu nổi, Hải quân tàu ngầm, không lực của hải quân, thủy quân lục chiến và phòng vệ bờ biển. Biên chế Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay gồm có:
– Bộ Tư lệnh trung tâm Hải quân đặt tại Istambul, trực tiếp chỉ đạo:
+ Sở chỉ huy hạm đội tàu nổi có các căn cứ tại Gölcük và Kocaeli.
+ Sở chỉ huy hạm đội tàu ngầm.
+ Sở chỉ huy phản ứng nhanh có căn cứ tại Istambul.
+ Sở chỉ huy cụm tàu vớt mìn có căn cứ tại Erdek và Balıkesir.
+ Sở chỉ huy Thông tin Hải quân tại các căn cứ Erdek và Balıkesir.
+ Sở chỉ huy Không lực Hải quân có căn cứ tại các sân bay Cengiz và Kocaeli.
– Bộ Tư lệnh Hạm đội Bắc đặt tại Istambul, trực tiếp chỉ huy:
+ Căn cứ liên hợp Istambul.
+ Căn cứ tàu ngầm Çanakkale.
+ Đoàn quan trắc và đồ bản hải dương và thủy văn.
+ Bảo tàng Bộ chỉ huy Hải quân ở Istambul.
– Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam đặt tại Izmir, trực tiếp chỉ huy:
+ Lữ đoàn Thủy quân lục chiến.
+ Lữ đoàn thiết giáp lội nước.
+ Tiểu đoàn Hải quân đặc nhiệm.
+ Lữ đoàn tàu chở dầu.
+ Căn cứ hải quân Aksaz
+ Tiểu hạm đội Marmara đóng tại Burza.
– Học viện Hải quân trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đặt tại Istambul, trực tiếp chỉ huy:
+ Phân viện của Học viện tại Tuzla.
+ Trường Cao đẳng Hải quân tại Heybeliada.
+ Các trung tâm đào tạo, huấn luyện tại Karamürselbey và Yalova.
– Bộ Chỉ huy Hải quân đặc nhiệm trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ có căn cứ tại Izmir, trực tiếp chỉ huy:
+ Lữ đoàn bộ binh thiết giáp lội nước đặc nhiệm có căn cứ tại Tugayı.
+ Nhóm tác chiến đổ bộ đặc nhiệm (SAT) có căn cứ tại Komutanlığı.
+ Nhóm tác chiến đặc nhiệm dưới nước (SAS) cũng đóng tại Komutanlığı.
Trang bị của Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ gồm có:
+ 8 tàu hộ vệ mang tên lửa lớp Gabya (TCG) có lượng dãn nước 4.100 tấn đánh số từ F-490 đến F-497.
+ 4 tàu hộ vệ mang tên lửa lớp Barbaros có lượng dãn nước từ 3.100 đén 3.350 tấn được đành số từ F-244 đến F-247.
+ 4 tàu hộ vệ mang tên lửa lớp Yavuz có lượng dãn nước 3.000 tấn được đánh số từ F-240 đến F-243.
+ 2 khinh hạm trang bị pháo lớp Ada có lượng dãn nước 2.300 tấn số hiệu F-511 và F-512.
+ 6 khinh hạm trang bị pháo lớp Burak có lượng dãn nước 1,300 tấn được đánh số từ F-501 đến F-505.
+ 29 tàu đổ bộ chở xe tăng (LST) có lượng dãn nước 3.700 tấn thuộc các lớp Osman Gazy, Saruca Bey, Ertuğrul, EDIC và Yeni.
+ 47 tàu đổ bộ cỡ nhỏ thuộc các lớp Ç-117 và LMC-8.
+ 16 tàu đổ bọ kiểu LCU-501.
+ 5 tàu ngầm mang tên lửa chiến thuật lớp Atilay-Type 209/1200 có lượng dãn nước 1.300 tấn được đánh số S-347 đến S-352.
+ 4 tàu ngầm mang tên lửa chiến thuật lớp Preveze Type 209T1/1400 có lượng dãn nước 1.800 tấn.
+ 4 tàu ngầm mang tên lửa chiến thuật lớp Gür Type 209T2/1400 có lượng dãn nước 1.800 tấn.
+ 21 tàu cao tốc mang tên lửa chống hạm có lượng dãn nước từ 200 đến 550 tấn thuộc các lớp Kılıç I, Kılıç II, Yıldız, Rüzgar, Doğan, và Kartal.
+ 29 tàu tuần duyên có lượng dãn nước từ 170 tấn đến 400 tấn thuộc các lớp AB, PGM71, Kalyon, Turguz và Tuzla.
+ 15 tàu với mìn có lượng dãn nước 650 tấn thuộc các lớp Aydin, Engin và Seydi.
+ 2 máy bay tuần tra biển kiểu ART-72MPA
+ 5 máy bay chống ngầm kiểu CASA CN-235
+ 7 thủy phi cơ trinh sát biển kiểu Socata TB-20.
+ 25 trực thăng biển đa nhiệm kiểu Seahawk S-70B-28.
+ 12 trực thăng chống ngầm kiểu AB-212 ASW.
Từ lệnh Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay là Đô đốc Bülent Bostanoğlu. Tham mưu trưởng là Phó đô đốc Serdar Dülger.
Tuy không phải là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân theo đúng nghĩa nhưng Thổ Nhĩ Kỳ là một trong năm quốc gia thành viên NATO tham gia chính sách chia sẻ hạt nhân của liên minh NATO cùng với Bỉ, Đức, Ý và Hà Lan. Tổng cộng có 90 đầu hạt nhân B61 đang được niêm cất trong các kho vũ khí tại căn cứ không quân Incirlik, 40 đầu đạn trong số đó được giao cho Không quân Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng trong trường hợp nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng cần phải được Bộ Chỉ huy NATO ở Brussel phê chuẩn.
———————-
Với những nanh vuốt được mài chuốt và không ngừng hiện đại hóa, NATO có thể yên tâm dùng Thổ Nhĩ Kỳ để làm một chốt chặn phía Tây Nam nước Nga. Nhưng ngược lại, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cũng lợi dụng vai trò của mình trong NATO và vị trí tương đối biệt lập đối với khối NATO để vươn lên thành một cường quốc quân sự trong khu vực, phục vụ cho những mục tiêu chính trị riêng của Ankara. Đầu thế kỷ XXI, khi Đảng APK lên cầm quyền và duy trì sự thống trị của nó trên chính trường Thổ Nhĩ Kỳ suốt 15 năm qua, Mỹ và toàn khối NATO bắt đầu lo ngại về một Thổ Nhĩ Kỳ muốn bành trướng về quân sự và kinh tế trong khu vực Trung Đông, một trong những địa bàn chiến lược có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các lợi ích của Mỹ và phương Tây và đe dọa lợi ích đó.

Ảnh 1: Từ năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên chính thức của khối NATO
Ảnh 2: Incirlik, căn cứ không quân của Mỹ và NATO trên đất Thổ Nhĩ Kỳ.
Ảnh 3: Vị trí các căn cứ không quân và hải quân NATO tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ảnh 4: Hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot của Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Ảnh 5: Tàu ngầm tấn công Type 209 do Đức và Thổ Nhĩ Kỳ liên doanh sản xuất
Ảnh 6: Hệ thống Radar cảnh báo sớm của NATO đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ảnh 7: Các máy bay tiêm kích đa nhiệm F-16 của Không quân Thổ Nhĩ Kỳ
Ảnh 8: Xe tăng M-60T (Sabra) của Thổ Nhĩ Kỳ triển khai trên biên giới với Syria.

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s