GIA TỘC ERDOGAN VÀ GIẤC MƠ KHÔI PHỤC ĐẾ CHẾ OTTOMAN CỦA THỔ NHĨ KỲ. (Tư liệu dài kỳ) Phần 2

Kỳ II- Nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ thoái hóa và quá trình tái Hồi Giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ.

Đầu thế kỷ 20, một nhóm người cải cách đòi hỏi phải đổi mới và hiện đại hóa Thổ Nhĩ Kỳ có tên gọi là Những người Thổ trẻ xuất hiện. Năm 1909, họ lien kết với Ngự lâm quân lật đổ Sultan Abdul Hamid II. Hành động này đã mở đường cho sự tan rã của Đế quốc Ottoman bởi quyền lực của Thổ Nhĩ Kỳ không còn giá trị đối với các dân tộc thuộc Ottoman ở Syria, Arabia, Albania, Bosna và Hercegovina, Kríti, Macedonia và Tripoli.
Với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứu nhất vào năm 1914, Đế quốc Ottoman vẫn còn kiểm soát phần lớn vùng Trung Đông (xem bản đồ) và đứng về phe Liên minh trung tâm bao gồm Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung… Sự thất bại của phe Liên Minh đã ảnh hưởng xấu đến tương lai của Đế quóc Ottoman lúc này đã quá suy yếu. Các dân tộc vùng đã Trung Đông nổi dậy và đứng về phe Hiệp ước, bao gồm Nga, Anh, Pháp, Mỹ… để giành độc lập
Sự tan rã của đế quốc Ottoman là hậu quả trực tiếp của Chiến tranh thế giwosi thứ nhất khi phe Hiệp ước đánh bại phe Liên minh Trung tâm ở châu Âu cũng như các lực lượng của Đế quốc Ottoman tại mặt trận Trung Đông. Vào thời điểm kết thúc chiến tranh năm 1918, chính quyền nhà nước Ottoman sụp đổ và Đế chế hùng mạnh một thời đã bị Anh, Hy Lạp, Pháp, Ý, Armenia và Gruzia chinh phạt và phân chia. Những năm sau đó các nước mới tách ra từ Ottoman cũng tuyên bố độc lập.
Năm 1919, Mustafa Kemal Atatürk và lực lượng Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu cuộc chiến tranh giành độc lập cho Thổ Nhĩ Kỳ. Phong trào Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ được xúc tiến thành lập. Dưới quyền lãnh đạo của Mustafa Kemal, Chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ được tiến hành với mục tiêu hủy bỏ các điều khoản của Hòa ước Sèvres mà một trong nhuwxngd diều khoản của hiệp ước này đã cho phép các nước thắng trận trong chiến tranh chiếm đóng Constantinopol và Smyrna,
Ngày 18-9-1922, quân đội nước ngoài chiếm đóng buộc phải rút khỏi Constantinopol. Chính thể chuyển tiếp của Thổ Nhĩ Kỳ đặt tại Ankara bắt đầu chính thức hóa chuyển giao chính quyền từ nhà nước quân chủ Ottoman sang hệ thống chính trị Cộng hòa đại nghị. Ngày 1-11-1922, Quốc hội lập hiến mới được bầu đã chính thức bãi bỏ chế độ quân chủ. Tại Ankara, Sultan Mehmed VI Vahdettin thoái vị, đế quốc Ottoman cáo chung. Hiệp ước Lausanne ngày 24-7-1923 đã mở đường cho quốc tế công nhận chủ quyền của “Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ” mới hình thành với vị thế quốc gia kế tục của Đế quốc Ottoman. Nước Cộng hòa mới của vùng Trung Cận Đông đã làm lễ ra mắt chính thức ngày 29-10-1923 tại thủ đô mới là Ankara. Ngày này được xem là ngày Quốc khánh của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ với lãnh thổ trên bán đảo Tiểu Á và mũi đất Constantinopol giáp với Bulgaria và Hy Lạp ngày nay. Hiệp định Lausanne còn quy định việc hồi hương cư dân giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo đó, 1,1 triệu người Hy Lạp rời Thổ Nhĩ Kỳ về trở Hy Lạp trong khi 380 nghìn người Hồi giáo gốc Thổ được chuyển từ Hy Lạp sang Thổ Nhĩ Kỳ. Mustafa Kemal Atatürk trở thành tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã tiến hành nhiều cuộc cải cách căn bản với mục tiêu chuyển đổi quốc gia Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ theo chế độ quân chủ (Khalip) trở thành một nước cộng hòa thế tục. Năm 1923, lực lượng cách mạng Thổ thắng trận và Thổ Nhĩ Kỳ được độc lập. Cùng năm đó, đế quốc Ottoman cáo chung, sultan Mehmed VI Vahdettin thoái vị, và Mustafa Kemal Atatürk thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, dựa trên một phần lãnh thổ của đế quốc Ottoman là lãnh thổ Thổ Nhĩ kỳ hiện nay.
Các thành viên của gia đình Osmanlı cai trị sau đó đã bị trục xuất khỏi Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1923-1924. Năm 1924, chế độ Khalip bị bãi bỏ, Khalip Abdul Mejid II nhà Ottoman cũng thoái vị.
Thổ Nhĩ Kỳ duy trì trung lập trong hầu hết thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai và tham gia trong giai đoạn cuối của chiến tranh bên phe Đồng Minh vào ngày 23-2-1945. Ngày 26-6-1945, Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một thành viên của Hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Lợi dụng những khó khăn của Hy Lạp sau chiến tranh khi đàn áp nững người cộng sản, cùng với các yêu sách của Liên Xô về lập căn cứ quân sự tại các eo biển của Thổ Nhĩ Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ đã hối thúc Mỹ tuyên bố áp dụng Học thuyết Truman cho Thổ vào năm 1947. Học thuyết đề ra các mục đích của Mỹ để đảm bảo an ninh cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Kết quả là Thổ Nhĩ Kỳ giành được hỗ trợ quân sự và kinh tế quy mô lớn của Mỹ. Cả Thổ và Hy Lạp đều tham dự Kế hoạch Marshall và OEEC về tái thiết các nền kinh tế châu Âu vào năm 1948, và sau đó trở thành các thành viên sáng lập của OECD vào năm 1961.
Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia dân chủ đại nghị. Từ khi hình thành vào năm 1923, nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ phát triển mạnh mẽ mô hình nhà nước thế tục. Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ điều chỉnh khuôn khổ pháp lý của quốc gia. Hiến pháp chế định các nguyên tắc chính của chính phủ và quy định Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia tập trung hóa thống nhất. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm thông qua phổ thông đầu phiếu trực tiếp.
Quyền lực hành pháp do Thủ tướng và Hội đồng Bộ trưởng thi hành, trong khi quyền lực lập pháp được trao cho Hội nghị Đại quốc dân (Quốc hội). Bộ máy tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp. Tòa án Hiến pháp có trách nhiệm quyết định sự phù hợp của các luật và sắc lệnh với hiến pháp. Hội đồng Tư pháp quốc gia là tòa án cuối cùng cho các vụ án hành chính, và là Tòa án Phúc thẩm tối cao cho các vụ án khác.
Phổ thông đầu phiếu cho cả hai giới được áp dụng trên toàn Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1933, và mọi công dân Thổ Nhĩ Kỳ sang tuổi 18 đều có quyền bỏ phiếu. 500 thành viên quốc hội được bầu cử cho một nhiệm kỳ 4 năm cho một hệ thống đại diện theo tỷ lệ danh sách đảng tham gia tranh cử từ 85 khu vực bầu cử. Tòa án Hiến pháp có thể tước đoạt nguồn tài chính công cộng của các chính đảng nếu họ bị cho là chống thế tục hoặc ly khai, hoặc cấm hoạt động hoàn toàn. Ngưỡng trúng cử là 10% số phiếu trên tổng số phiếu hợp lệ.
Những người ủng hộ các cải cách của Atatürk và những người theo chủ nghĩa Hồi giáo đại diện cho hai cực về vai trò của tôn giáo trong sinh hoạt công cộng. Quan điểm của phe thân Atatürk về đại thể là kết hợp một loại chế độ dân chủ với một hiến pháp tách tôn giáo khỏi nhà nước và phương thức hoạt động thế tục theo mô hình phương Tây, ủng hộ sự can thiệp của nhà nước trong kinh tế, giáo dục, và các dịch vụ công cộng khác. Từ thập niên 1980, sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập và phân biệt đẳng cấp khiến chủ nghĩa dân túy Hồi giáo nổi lên. Đây là một phong trào mà theo lý thuyết thì nó ủng hộ nghĩa vụ với chính quyền, đoàn kết cộng đồng và công bằng xã hội.
Tuy nhiên, khi Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ lên đến đỉnh điểm, Thổ Nhĩ Kỳ đã làm một động thái mở đường cho quá trình tái Hồi giáo hóa quốc gia này. Năm 1974, sau 50 năm tước quyền công dân của dòng họ Osmani, Nghị viện Thổ Nhĩ Kỳ đã trao quyền tái yêu cầu quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ cho những con cháu của dòng họ này. Họ đều đã thực hiện điều đó trong những thập niên tiếp sau và quá trình này đã hoàn thành với việc người đứng đầu dòng họ là Ertuğrul Osman V đã được trao quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ năm 2004. Từ những năm 1990, sau khi Liên Xô tan rã, những người Thổ Nhĩ Kỳ theo xu hướng Hồi giáo hóa bắt đầu nối lại quan hệ với các nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ, tạo nên những ảnh hưởng đối nội và đối ngoại đáng kể cho họ. Ngày 3-11-2002, trong một cuộc bầu cử trước thời hạn, Đảng Công lý và phát triển (APK) có xu hướng tư tưởng Hồi giáo hóa đã bất ngờ thắng cử, chiếm 35% số phiếu hợp lệ, giành được 362/550 ghế trong Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 16-11-2002, Phó Chủ tịch Đảng AKP Abdullah Gül được Chủ tịch AKP Recep Tayyip Erdoğan (hiện là đương kim Tổng thống) giới thiệu vào chức vụ Thủ tướng. Quá trình tái Hồi giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ được đẩy mạnh.
Vấp phải sự phản đối của các đảng theo chủ nghĩa thế tục ở Thổ Nhĩ Kỳ, Abdullah Gül phải rời khỏi chức vụ Thủ tướng và Recep Tayyip Erdoğan lên nắm chức vụ này. Tháng 5-2007, Abdullah Gül ra tranh cử chức vụ Tổng thống như bị Tòa án tối cao Thổ Nhĩ Kỳ ra lệnh cấm vì ông ta đã để cho vợ dùng một “hijab”, một thứ khăn trùm đầu mà những người theo phái thế tục cho đó là một biểu tượng của Hồi giáo chính trị. Thế nhưng trong cuộc bầu cử Quốc hội diễn ra tháng 7 năm đó, AKP lại giành thắng lợi và Tổng thống Ahmet Necdet Sezer phải từ chức. Ngày 28-8-2007, Abdullah Gül trở thành Tổng thống thứ 11 của Thổ Nhĩ Kỳ đến năm 2014.
Đảng AKP do Recep Tayyip Erdoğan sáng lập năm 2001, tập hợp những chính trị gia, các doanh nhân và những trí thức có xu hướng trung hữu và bảo thủ. Về đối nội, dảng này ủng hộ việc phát huy những truyền thống Hồi giáo, xây dựng một liên minh với những người Hồi giáo cánh hữu, những người theo chủ nghĩa dân tộc, tầng lớp trung hữu, những người Hồi giáo bảo thủ. Trong một thời gian dài, đảng này giành được sự hỗ trợ của phong trào Hồi giáo Cemaat do giáo sĩ Hồi giáo Fethullah Gülen đứng đầu. Fethullah Gülen là người rất có ảnh hưởng trong ngành tư pháp đã giúp sức cho AKP để làm suy yếu các phe phái đối lập chống lại AKP. Về đối ngoại, đảng này chủ trương thắt chặt liên minh với Mỹ và phương Tây, duy trì địa vị của Thổ Nhĩ Kỳ trong NATO và xúc tiến gia nhập EU.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng AKP đã có một chương trình hành động bí mật mặc dù họ vẫn cố chứng minh là họ theo chủ nghĩa thế tục. Chính AKP cũng đặt quan hệ và hỗ trợ đắc lực cho Tổ chức khủng bố cực đoan “Anh em Hồi giáo” ở Ai Cập. Cả hai chính sách đối nội và đối ngoại của đảng này được coi là là Quý tộc Hồi giáo hay chủ nghĩa Tân Ottoman, ủng hộ cho sự hồi sinh của nền văn hóa Ottoman trên cơ sở dung hòa với nguyên tắc cộng hòa thế tục, đồng thời tăng cường sự hiện diện trên các khu vực trong lãnh thổ Ottoman cũ.
Sau 14 năm thi hành chính sách nói trên, AKP đã làm cho Thỏ Nhĩ Kỳ chỉ còn là nước cộng hòa thế tục ở cái vỏ. Còn bên trong, xu hướng tái khalip hóa đã trỗi dậy và dần dần thay thế chủ nghĩa thế tục. Một mặt, chính sách này tránh cho Thổ Nhĩ Kỳ khỏi sự trả đũa của các lực lượng khủng bố Hồi giáo cực đoan, tạo điều kiện cho Ankara rảnh tay trấn ấp những người Kurd đòi độc lập. Nhưng mặt khác, chính sách đó cũng dần dần biến Thổ Nhĩ Kỳ thành nơi ẩn nàu an toàn cho các tổ chức khủng bố Hồi giáo. Những nhà tư sản, doanh nhân Thổ Nhĩ Kỳ là tín đồ Hồi giáo đã không ngần ngại “chìa bàn tay”, “móc hầu bao” hỗ trợ cho các nhóm Hồi giáo khủng bố trong khu vực.
Chính sách của AKP do Recep Tayyip Erdoğan chỉ đạo đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ trong nước khiến cho trong hai năm gần đây, Ankara đã phải dùng vũ lực để chống lại nhưng người phản đối AKP. Ngày 23-5-2013, một cuộc biểu tình lớn do các nhà hoạt động môi trường tổ chức đã diễn ra tại Ankara Istanbul, İzmir, Bursa, Samsun, Edirne, Kayseri, Isparta, Adana, Eskişehir, Antalya, Diyarbakır, Giresun và phần lớn các thành phố lớn của Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phần tham gia biểu tình bao gồm cả các cá nhân từ hai phe cánh tả và cánh hữu, gồm cả người Thổ Nhĩ Kỳ, người Kurd, người Armenia, người Hy Lạp và người Do Thái. Những sự bất bình của những người biểu tình bao gồm từ những mối quan tâm của chính quyền đến môi trường, các vấn đề như chủ nghĩa độc đoán của Thủ tướng Recep Tayyip Erdoğan và nội chiến ở Syria. Hàng trăm nhười bị thương, khoảng 1.700 người bị bắt.
Từ ngày 14 đến ngày 16-2-2014, một cuộc biểu tình tuần anh lớn khác đã diễn ra tại Istambul có sự tham gia của hàng chục nghìn người với khẩu hiệu “Công lý cho Thổ Nhĩ Kỳ”. Cuộc biểu tình được tổ chức để phản đói dự luật cải cách tư pháp cho AKP đệ trình với mục tiêu thu hẹp quyền lực của bộ máy tư pháp Thổ và siết chặt quyền lực của chính phủ Thổ đối với các cơ quan tư pháp. Những người biểu tình yêu cầu là rõ những cáo buộc tham nhũng nhằm vào con trai của 3 vị bộ trưởng trong một cuộc điều tra chống tham nhũng quy mô lớn, bắt đầu từ tháng 12-2013.
Chưa hết, ngày 10-10-2015, những người biểu tình ôn hòa đang tuần hành ở ankara để phản đối chính sách của chính quyền dùng vũ lực chống người Kurd PKK đã bị hai kẻ đánh bom tự sát. 95 người thiệt mạng và 246 người bị thương, trong đó có 48 người bị thương nghiêm trọng. Tuy chưa có tổ chức nào đứng ra nhận trách nhiệm những chính quyền Thổ đã lập tức quy kết cho tổ chức Nhà nước Hồi giáo IS gây ra vụ khủng bố đẫm máu này. Đảng Dân chủ Nhân dân (HDP) ủng hộ người Kurd đã chỉ rích về việc chính phủ không thể bảo vệ được công dân của mình. Còn Bộ trưởng phụ trách các vấn đề Liên minh châu Âu (EU) Ali Haydar Konca và Bộ trưởng Phát triển Muslum Dogan thì đã từ chức để phản đối chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại các tay súng PKK. Tuy chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng những kẻ đánh bom muốn “phá” cuộc bầu cử bất thường của Thổ vào tháng 11-2015 nhưng thực tế cho thấy AKP lại giành thắng lợi và chiếm đa số trong Quốc hội.
Gần đây nhất, trước những cáo buộc từ phía Nga và một số cơ quan thông tấn rằng bộ máy tình báo Thổ và một số quan chức trong chính quyền Erdogan đã bắt tay với IS, tuồn vũ khí cho chúng và buôn dầu lậu với quy mô lớn, chính quyền Thổ đã bắt giam tổng biên tập tờ Cumhuriyet, ông Can Dundar cùng phóng viên của tờ này ở Ankara là Erdem Gul và khép họ vào tội phản quốc do xuất bản những hình ảnh vũ khí được cho là do tình báo Thổ Nhĩ Kỳ đưa vào Syria cho IS. Những thước phim do các nhà báo này quay tại hiện trường cho thấy cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ mở các thùng chứa vũ khí, đạn dược nằm sau xe tải, được cho là của cơ quan tình báo quốc gia MIT trên đường đi sang Syria. Ngoài ra, phong trào Fethullah Gulen, từng là đồng minh thân tín với Tổng thống Erdogan, nhưng nay lại bị Ankara coi là tổ chức khủng bố. Sự căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào ngày 28-11-2015 khi ông Tahir Elci, Chủ tịch đoàn luật sư, người bị Ankara chỉ trích mạnh vì bác bỏ việc Thổ Nhĩ Kỳ chính thức gọi Đảng Công nhân Kurd (PKK) là một tổ chức khủng bố, bị bắn vào đầu trong lúc đang phát biểu tại tỉnh Diyarbakir. Cùng ngày hôm đó, hơn 2.000 người đã biểu tình tại Istambul để phản đói chính phủ khiến cảnh sát Thổ phải dùng hơi cay và vòi rồng để đán áp cuộc biểu tình.
Chính sách ngày càng thân hữu cũng như chủ trương Hồi giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ của chính quyền Ankara hiện nay rõ ràng đang vấp phải những sự chống đối mạnh mẽ từ trong nước cũng như sự bất bình từ phương Tây. Để gỡ bí cho những vấn đề này, Mỹ và phương Tây đã chọn được một giải pháp nhất cử lưỡng tiện, đấy Thổ Nhĩ Kỳ đối đầu với Nga nhằm làm cho tình hình Trung Đông thêm phức tạp cũng như tiến trình hòa bình cho Syria mà Nga khởi xướng bị trì hoãn. Hành động này cũng cho thấy thái độ không chỉ là hai mặt mà là bốn – năm mặt của Mỹ và phương Tây trong cuộc xung đột ở Trung Đông hiện nay cũng như ở các khu vực khác trên thế giới khi gặp phải những thế lực mạnh cản trở mưu đồ của họ.

Ảnh 1: Mustafa Kemal Atatürk, tổng thống khai quốc của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.
Ảnh 2: Sultan VI. Mehmed Vahîdüddin. Vị hoàng đế (Sultan) cuối cùng của Đế chế Ottoman.
Ảnh 3: Ông Erdogan tại buổi lễ kỷ niệm 562 năm ngày Đế chế Ottoman chiếm Istambul (30-5-2015)
Ảnh 4: Ông Can Dundar. tổng biên tập tờ Cumhuriyet bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ bắt giam.
Ảnh 5: Ông Tahir Elçi, người đấu tranh cho quyền lợi của người Kurd bị ám sát.
Kỳ sau: NATO đã gắn nanh vuốt cho Thổ Nhĩ Kỳ ra sao.

Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s