GIA TỘC ERDOGAN VÀ GIẤC MƠ KHÔI PHỤC ĐẾ CHẾ OTTOMAN CỦA THỔ NHĨ KỲ. (Tư liệu dài kỳ) Phần 1

Nguyễn Minh Tâm

Sự sụp đổ của Liên Xô và khối XHCN Đông Âu quả thực là một cơn địa chấn chính trị lớn nhất thế kỷ XX. Trong điều kiện Mỹ chưa đủ sức “gánh vác trọng trách” lãnh đạo thế giới thì những nước ở bên rìa quốc gia XHCN hùng mạnh nhất thế giới đã lợi dụng sự tan rã của Lên Xô để thúc đẩy những mơ ước quay về một thời hoàng kim của họ. Trong khi ở phương Đông, Trung Quốc đang nuôi giấc mộng lấy lại vị trí của một đế chế Trung Hoa hùng mạnh như các thời kỳ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh trước đây cũng như Nhật Bản đang muốn lấy lại vị thế bằng một “Đại Đông Á” trong thời buổi kinh tế thị trường toàn cầu hóa thì ở rìa phía Tây Nam của Châu Á, cũng có hai quốc gia muốn tìm lại thời hoàng kim khi xưa. Đó là Iran, nguyên là Đế quốc Ba Tư hùng mạnh một thời và Thổ Nhĩ Kỳ vốn là Đế quốc Ottoman, một trong các đế quốc lâu đời nhất thế giới, tồn tại 624 năm từ đầu thời trung đại đến đầu thời kỳ hiện đại.
Từ nhiều năm nay, dư luận trong và ngoài NATO đã nghi ngờ rằng Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập NATO nhưng vẫn theo đuổi những mục tiêu riêng tư của mình và gây nhiều phiền toái cho NATO trong các mối quan hệ khu vực, liên khu vực và quốc tế. Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ “táo tợn” bắn hạ chiesc Su-24 của Nga đang làm nhiệm vụ không kích chống khủng bố ở Syria, hàng loạt những thông tin động trời về sự dính líu của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ với IS mà đặc biệt là cha con Tayyip Erdogan bị phanh phui, dư luận quốc tế càng có cơ sở để nghi ngờ Thổ Nhĩ Kỳ đang có âm mưu bành trướng ra toàn bộ vùng Trung Cận Đông và Bắc Phi, đe dọa làm tan vỡ sự cân bằng, ổn định chính trị tại khu vực đã hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Kỳ I- Thổ Nhĩ Kỳ thời Đế chế Ottoman.

1- Sự hình thành Vương triều Ottoman.

Tổ tiên của vương triều Ottoman là một phần của các bộ lạc người Tây Đột Quyết (Gokturk) đã di cư từ Trung Á bắt đầu từ thế kỷ X. Định cư tại Iran trong thời kỳ này, những người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu mở rộng về phía tây tới Armenia và Tiểu Á vào đầu thế kỷ XI. Những đợt di chuyển này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa họ với Đế quốc Byzantiume, từng có một quyền lực chính trị nổi trội tại khu vực miền đông Địa Trung Hải kể từ thời kỳ La Mã, nhưng vào thế kỷ XI đã suy thoái kéo dài. Người Thổ Seljuk đã thiết lập địa vị chắc chắn tại Tiểu Á sau chiến thắng lịch sử tại trận Manzikert năm 1071, để thành lập nhà nước Seljuk ở Tiểu Á. Tiếp theo sự xâm lăng của người Mông Cổ tới Tiểu Á trong thế kỷ XIII, triều đại này đã sụp đổ và lãnh thổ của nó đã bị phân chia thành nhiều tiểu vương quốc của người Thổ Nhĩ Kỳ, được gọi là các beylik.
Dưới quyền bá chủ của nhà nước Seljuk ở Tiểu Á, bộ lạc Kayı của người Thổ Oğuz đã tạo ra một thể chế mà cuối cùng đã trở thành vương quốc Ottoman tại miền tây Tiểu Á. Thủ lĩnh người Kayı là Ertuğrul Gazi đã có được vùng đất này từ người Seljuk trong cuộc va chạm biên giới nhỏ. Hệ thống Seljuk tạo cơ hội cho sự bảo vệ vương quốc từ bên ngoài và cũng cho phép phát triển cấu trúc nội tại của nó. Vị trí của Kayı trên ven rìa phía viễn tây của nhà nước Seljuk cho phép họ xây dựng lực lượng quân sự của mình thông qua sự hợp tác với các bộ tộc khác sống tại miền tây Tiểu Á. Trong số đó có nhiều người theo Cơ đốc giáo. Sau sự tan rã của nhà Seljuk, Kayı trở thành chư hầu của Hãn quốc Y Nhi của Mông Cổ.
Tên gọi Ottoman có nguồn gốc từ Vua Osman I (còn gọi là Osman Bey) (tiếng Ả Rập: Uthman) (1299-1326), con trai của Ertuğrul Gazi, người đã tuyên bố sự độc lập của nhà nước Ottoman năm 1299. Trong khi các vương quốc khác của người Thổ Nhĩ Kỳ còn phải giải quyết các mâu thuẫn nội bộ thì Osman nhân cơ hội đó đã mở rộng biên giới của khu định cư Ottoman về phía bên rìa của Đế quốc Byzantine. Ông đã dời đô tới Bursa và định hình sự phát triển chính trị ban đầu của dân tộc. Với anh hiệu “Kara”, Osman đã được ca ngợi là một ông vua dũng cảm, hùng mạnh và năng động. Một thời gian rất dài sau khi ông mất, tên ông được thể hiện trong thành ngữ của người Thổ Nhĩ Kỳ: “Ai đó có thể tuyệt vời như Osman”. Danh tiếng của ông cũng được đánh bóng trong câu chuyện thời Trung đại của người Thổ Nhĩ Kỳ, được biết dưới tên gọi “Giấc mơ của Osman”. Từ câu chuyện này một huyền thoại ra đời, trong đó chàng trai trẻ Osman là người có đầy năng lực để cho ra đời một đế quốc trong tương lai.
Thời kỳ này là sự hình thành của triều đình Ottoman chính thức mà các cơ quan, tổ chức cấu thành ra nó gần như không thay đổi lớn gì trong gần 4 thế kỷ. Ngược lại với nhiều nhà nước cùng thời kỳ đó, hệ thống quan lại của Đế quốc Ottoman đã cố gắng tránh sự cai trị theo kiểu quân phiệt. Triều đình cũng tạo ra một thể chế pháp lý gọi là millet (một hình thức lãnh thổ tự trị), mà trong đó thiểu số từ các dân tộc ít người và tôn giáo có khả năng quản lý công việc của chính họ với một sự độc lập đáng kể đối với sự kiểm soát của trung ương.

2- Vương triều Ottoman trở thành Đế chế Hồi giáo.

Trong thế kỷ sau khi Osman qua đời, sự thống trị của Ottoman đã bắt đầu mở rộng trên toàn khu vực miền đông Địa Trung Hải và Balkan. Thessaloniki, một thành phố quan trọng của Venezia bị chiếm năm 1387, và chiến thắng của quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Kosovo năm 1389 làm cho Serbia mất quyền kiểm soát trên vùng đất này, mở đường cho các cuộc xâm lược châu Âu của các Sultan. Trận Nicopolis năm 1396 được xem là cuộc Thập tự chinh cuối cùng của thời Trung cổ. Trong trận này quân Thập tự chinh đại bại trước quân Ottoman. Với sự mở rộng ảnh hưởng của người Thổ vào vùng Balkan, thì cuộc tấn công chiến lược vào Constantinople có vai trò quyết định. Đế quốc Ottoman đã chiếm được các vùng đất Byzantium phụ cận Constantinople. Nhưng người La Mã vẫn đứng vững được khi Tamerlane xâm lược Tiểu Á và bỏ tù Sultan Bayezid I sau trận Ankara năm 1402. Các lãnh thổ mới của Ottoman ở vùng Balkan như Thessaloniki, Macedonia và Kosovo lần lượt bị mất năm 1402. Thuy nhiên, các vùng đất này được Murad I chiếm lại sau đó trong thập niên 1430 – 1450.
Việc Bayezid bị bắt làm cho đất nước rơi vào loạn lạc. Từ năm 1402 đến 1413, nội chiến bùng nổ giữa các con của Bayezit. Cuộc chiến này kết thúc khi vua Mehmed I lên ngôi và xây dựng lại đất nước, kết thúc thời kì loạn lạc của Đế quốc Ottoman. Cháu nội ông, Mehmed II đã tái cấu trúc của cả nhà nước lẫn quân đội và thể hiện tài năng quân sự của mình trong cuộc xâm chiếm Constantinople ngày 29-5-1453, khi mới 21 tuổi. Thành phố này trở thành kinh đô mới của Đế quốc Ottoman. Mehmed II xưng làm Kayser-i Rum (Hoàng đế La Mã). Dù vậy, ngôi Hoàng đế La Mã của Sultan Ottoman không được người Hy Lạp và các nước phương Tây công nhận. Các Nga hoàng cũng tự phong cho mình chức vị này. Để nắm vững ngôi Hoàng đế La Mã, Mehmed II khao khát chiếm Roma. Ông đã cho quân xâm lược bán đảo Ý, chiếm Otranto và Apulia ngày 28-7-1480. Nhưng sau khi ông bị ám sát ngày 5-3-1481, chiến dịch -Ý thất bại và quân Ottoman phải rút lui.
Vào thời kỳ lớn mạnh, lãnh thổ Đế chế Ottoman đã trải dài toàn bộ Đông-Nam châu Âu bờ bắc Địa Trung Hải, cả bờ biển bắc châu Phi cho đến Maroc phía nam Địa Trung Hải. Trong thế kỷ XVII, Đế quốc Ottoman có khoảng 25 triệu dân, rất lớn vào thời đó, gần bằng gấp đôi bất cứ nước nào ở châu Âu, trừ Pháp. Gần 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bulgaria, România, Nam Tư (bao gồm cả 5 quốc gia độc lập sau này), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Aden, Kuwait, Ai Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia, Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga.

3- Đế chế Ottoman cực thịnh.

Vào đầu thế kỷ XVI, Đế quốc Ottoman đã trở thành một trong những nhà nước lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Trong thời kì này, nhiều ông vua kiệt xuất lên cai trị Thổ Nhĩ Kỳ như Selim I (1512-1520), người có công sát nhập vùng Trung Đông vào Ottoman. Vào năm 1514 trong trận Chaldiran, ông đã đánh bại vua Ismail I (1501-1524) nhà Safavid. Ông đã tiêu diệt nhà Mamluk ở Ai Cập vào năm 1517 rồi giành danh hiệu khalip từ nhà Abbasid ở Cairo. Các sultan Ottoman tiếp tục giữ danh hiệu này đến năm 1924. Thời kì Ai Cập thuộc Ottoman bắt đầu.
Sau khi Hoàng đế Selim I mất, Hoàng đế Suleiman I (1520-1566) tiếp tục mở mang đế quốc. Sau khi chiếm được Beograd năm 1521, Suleyman chinh phục Vương quốc Hungary. Bằng chiến thắng trong trận Mohács năm 1526, đế quốc Osmani chiếm được Hungary và nhiều vùng đất ở Trung Âu. Năm 1529, ông bao vây thành Viên, nhưng vì thời tiết ở đây khắc nghiệt nên quân đội Ottoman phải rút lui. Năm 1532, 25.000 quân Ottoman mở cuộc tấn công Viên, nhưng bị đẩy lui cách Viên 97 km tại pháo đài Guns. Sau cuộc mở mang xa nhất của Ottoman năm 1543, hoàng đế Habsburg là Ferdinand công nhận quyền cai trị của Ottoman trên đất Hungary năm 1547. Dưới triều vua Suleyman I, Transilvania, Wallachia và Moldavia trở thành những công quốc chư hầu của đế quốc Ottoman. Ở phía đông, Ottoman chiếm Bagdad từ tay Ba Tư năm 1535, chiếm được Lưỡng Hà, mở đường cho hải quân Ottoman tiến vào Vịnh Percik. Khi Hoàng đế Suleyman I qua đời, dân số Ottoman lên đến 25 triệu người. Công cuộc bành trướng của ông đã mang lại cho ông một Đế quốc Ottoman rộng lớn, thậm chí còn vượt xa cả những tham vọng của Hoàng đế Xerxes I của Đế quốc Ba Tư trước đây.
Quân đội Ottoman đã để lại những nhà nguyện Hồi giáo rải rác khắp các sườn đồi và thung lũng vùng Balkan. Nổi giận vì những biểu hiện cho việc chiếm đóng của người đạo Hồi này, các vương quốc theo đạo Cơ đốc ở Tây Âu xem người Thổ Nhĩ Kỳ là kẻ xâm lược Hy Lạp và các sắc dân theo Cơ đốc giáo khác. Nhưng đế quốc Ottoman rộng lượng hơn, chấp nhận tôn giáo khác với đạo Hồi. Sultan chính thức công nhận Giáo hội Hy Lạp và giáo phận của các giáo chủ và các tổng giám mục, cho phép các giáo đường Chính thống giáo được duy trì tài sản của họ. Người Thổ Nhĩ Kỳ thích cai trị qua định chế chính trị địa phương, và để đổi lại cho tiền triều cống, các tỉnh Cơ đốc giáo được phép duy trì các hệ thống hành chính, thứ bậc và đẳng cấp.
Trong thế kỷ XVI và XVII, Đế quốc Ottoman là một trong những thực thể chính trị mạnh nhất thế giới. Các nước ở Đông Âu luôn bị đe dọa bởi sự mở rộng thường xuyên của nó qua Balkan và phần phía nam của Liên bang Ba Lan-Litva. Hải quân của nó cũng là một lực lượng rất mạnh ở Địa Trung Hải. Nhiều lần, quân đội Ottoman đã tấn công Trung Âu, bao vây Viên năm 1529 và một lần nữa năm 1683 trong nỗ lực chinh phục lãnh địa của gia tộc Habsburg. Cuối cùng, quân Ottoman chỉ bị đẩy lui bởi một liên minh to lớn của các nước mạnh tại châu Âu trên cả trên bộ và trên biển. Ottoman không những là quyền lực duy nhất không thuộc châu Âu đã thách thức được sự nổi lên về quyền lực của phương Tây trong khoảng giữa thế kỷ XV đến thế kỷ XX, tới mức nó đã trở thành một phần trong tổng thể của chính trị cân bằng quyền lực châu Âu.

4- Buổi xế chiều của Đế chế Ottoman.

Đầu thế kỷ XVII, Đế quốc Ottoman bắt đầu suy yếu. Các sultan vào lúc này chỉ lo vui hưởng trong hậu cung. Từ bên trong, các binh đoàn Janissary bắt đàu nổi loạn. Ở bên ngoài, quyền lực của đế quốc Ottoman bị suy giảm trầm trọng đến nỗi tàu thuyền của người Venezia và người Cozak thường xuyên quấy phá. Đế quốc được cứu nguy do tài năng của một đại gia đình làm quan Tể tướng gồm cha, con trai và em rể. Đó là gia đình Köprülü.
Năm 1656, dưới triều Mehmed IV (1648-1687), khi đế quốc gần bị sụp đổ, hậu cung triều đình đành phải cử một người Albania 71 tuổi, Köprülü Mehmed Pasha lên làm tể tướng (1656-1661). Ông này lập tức hạ lệnh xử tử khoảng 60.000 người để bài trừ tham nhũng. Năm năm sau khi ông qua đời, tình hình có phần ổn định. Dưới quyền Tể tướng của con trai ông, Köprülü Fazıl Ahmed Pasha (1661-1676) và sau đó là em rể ông, Kara Mustafa Pasha (1676-1683), uy quyền của Ottoman được hồi phục. Các hạm đội và quân của Venezia, Ba Lan, Áo và Nga bị đẩy lui. Quân đội Ottoman xâm chiếm Ukraina và Podolia. Năm 1680, đế quốc Ottoman đã đạt tới lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử đế quốc này với diện tích 11.5 triệu km².
Năm 1683, theo lời cầu cứu của Hungary chống lại hoàng đế Leopold I của nhà Habsburg, Sultan Mehmed IV đã ra lệnh cho tể tướng Kara Mustafa phái 200.000 quân ngược dòng sông sông Danub tiến lên Buda. Lần thứ hai trong lịch sử, quân Ottoman tiến đến chân tường thành của Viên, nhưng cuối cùng bị liên minh các nước Tây Âu (Liên minh Thần thánh), do vua Ba Lan Jan III Sobieski chỉ huy, đánh bại. Năm 1683, tại Beograd, Sultan Mehmed IV ra lệnh treo cổ tể tướng Kara Mustafa. Trận Viên đánh dấu sự bắt đầu của cuộc Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ ở châu Âu từ năm 1683 đến 1699.
Trong những năm tiếp theo, quân Ottoman bị đại bại do sức tiến công từ Viên. Quân Venezia tấn công vây hãm Athene. Trong một trận pháo kích của họ, một quả đạn rơi trúng ngôi đền Parthenon được xây vào thế kỷ V TCN, lúc ấy được quân Ottoman dùng làm kho chứa thuốc súng. Ngày 26-9-1687, ngôi đền lúc ấy còn khá nguyên vẹn bị nổ tung và trở thành một phế tích như hiện nay. Cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ kết thúc với Hiệp ước Karlowitz ngày 26-1-1699. Theo hiệp ước này, Đế quốc Ottoman phải nhượng cho Đế quốc Áo một số vùng lãnh thổ trong đó có Hungary thuộc Ottoman. Trong thời kì này, chỉ có hai vị sultan có khả năng cai trị đế quốc Ottoman một cách tích cực. Đầu tiên là nhà độc tài Murad IV (1612-1640), ông đã chiếm lại Yerevan (1635) và Bagdad (1639) từ tay Ba Tư. Sau đó là Mustafa II (1695-1703) khi ông mở cuộc tấn công nhà Habsburg ở Hungary trong các năm 1695-1696, nhưng vẫn phải rút về lui khi thảm bại tại Zenta ngày 11-9-1697.
Trong những năm tháng trì trệ của đế chế Ottoman, nhiều vùng đất ở Balkan bị nhượng lại cho nước Áo. Những vùng đất khác của Đế quốc Ottoman, như Ai Cập và Algeria trở nên độc lập trên thực tế. Những lãnh thổ này dần chịu ảnh hưởng của các đế quốc thực dân như Anh và Pháp. Vào thế kỷ XVIII, chính quyền trung ương Ottoman đã trao cho các lãnh đạo và thủ lĩnh địa phương nhiều quyền tự quyết hơn. Một loạt các cuộc chiến đã diễn ra giữa đế quốc Nga và đế quốc Ottoman từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Vào giai đoạn cuối của thời kỳ trì trệ, xuất hiện những cải tổ về nền giáo dục và công nghệ, bao gồm sự thiết lập những trường học lớn như Đại học công nghệ Istanbul; khoa học công nghệ được ghi nhận là đạt đỉnh cao ở thời Trung Cổ, đó là kết quả của việc các học giả Ottoman kết hợp cách học cổ điển với Triết học Hồi giáo và toán học cũng như các kiến thức tiên tiến về công nghệ của Trung Hoa như thuốc súng và la bàn. Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này, các thế lực bảo thủ và phản đối công nghệ xuất hiện. Hội đoàn các nhà văn của đế chế cho rằng kỹ thuật in ấn là “sáng tạo của quỷ dữ” khiến công nghệ in, được Gutenberg Johannes phát minh ở châu Âu năm 1450, phải mất 43 năm sau mới được du nhập vào Constantinople nhờ những người Do Thái Sephardic. Những người Do Thái Sephardic, vốn sống ở Tây Ban Nha, di cư tới đế quốc Ottoman để trốn chạy cuộc thanh trửng dị giáo tại Tây Ban Nha vào năm 1492 và mang theo kỹ nghệ in tới Ottoman.
Thời đại Tulip, được đặt tên vì tình yêu của Sultan Ahmed III (1703-1730) với hoa tulip và được dùng như biểu tượng của triều đại thanh bình của ông. Trong giai đọan này, chính sách của Ottoman với châu Âu có sự thay đổi. Sau khi quân Nga đánh thắng quân Thụy Điển trong trận Poltava năm 1709, vua Thụy Điển là Karl XII có lúc đã trốn sang xin người Thổ Nhĩ Kỳ cho tị nạn. Đế chế Ottoman thanh bình từ năm 1718 đến 1730. Sau khi quân đội Ottoman đánh tan quân Nga trong trận đánh tại sông Pruth năm 1712. Vương công Eugène xứ Savoie đem quân Áo đánh chiếm thành phố Beograd. Hiệp định Passarowits được ký kết sau đó mang đến một giai đoạn đình chiến. Sau đó, Đế quốc Ottoman cũng cải thiện hệ thống thành lũy ở các thành phố tiếp giáp các nước Balkan, để bảo vệ đất nước chống lại sự bành trướng của Châu Âu. Một số cải cách nửa vời cũng được tiến hành như giảm thuế, cải thiện hình ảnh của các bang Ottoman. Các hình thái đầu tiên của tư bản tư nhân và doanh nghiệp tư nhân xuất hiện.
Năm 1736, Đế quốc Ottoman lại có chiến tranh với Áo. Tướng Eugène xứ Savoie đã qua đời, tinh thần quân Áo suy sụp, tổ chức kém cỏi và thất bại. Đồng minh của Áo là Nga đạt lợi thế hơn trong cuộc chiến tranh này. Cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 – 1763) bùng nổ ở châu Âu. Vua nước Phổ là Friedrich II Đại Đế phải chống chọi với liên quân Nga – Áo – Pháp – Thụy Điển. Nền quân chủ Phổ bị suy sụy nghiêm trọng, nhiều lãnh thổ của nước này bị rơi vào tay đđối phương. Vua Friedrich II Đại Đế trong vòng nhiều năm đã phải đàm phán với Đế quốc Ottoman và người Tartar nhằm cầu viện nhưng quân Thổ và quân Tartar án binh bất động. Do mâu thuẫn nội bộ, Liên quân chống Phổ đã tan rã và vua Friedrich II Đại Đế thoát chết. Sau năm 1768, khi tình hình Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva bất ổn, Đế chế Ottoman cũng can thiệp vào đó mong được chia phần. Nhưng ba nước Phổ, Áo và Nga đã tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất vào nắm 1772 mà không đếm xỉa gì đến Ottoman.
Công cuộc cải tổ quân sự Ottoman được bắt đầu với Sultan Selim III (1789-1807), vị vua tiến hành những nỗ lực lớn đầu tiên để hiện đại hóa quân đội gần biên giới Châu Âu. Những nỗ lực này, đã bị cản trở bởi phong trào phản kháng bắt nguồn một phần từ các lãnh đạo tôn giáo và chủ yếu từ các đơn vị quân ngự lâm Janissary. Đám kiêu binh này trở nên rất uy quyền và không hề sợ quyền lực của Sultan Selim III. Với tư tưởng bảo thủ và lo sợ mất đại quyền, Sultan Selim III tiến hành rấn áp cuộc bạo loạn Janissary nhưng không được quân đội ủng hộ và bị lật đổ, Hoàng tử bảo thủ Mustafa lên làm vua, lấy hiệu là Sultan Mustafa IV. Ông này đã ra lệnh tàn sát phần lớn các công thần theo vua Selim III trước đó. Dưới triều vua Mustafa IV, Quân đội Ottoman liên tục bị Quân đội Nga do Nguyên soái Suvorov chỉ huy đánh bại. Năm 1808, hai bên ngừng bắn. Một cuộc binh biến đã nổ ra ở. Alemdar Mustafa Pasha vốn là một công thần của cựu hoàng Selim III đã kéo quân vào kinh thành Constantinopolis tiến đánh Sultan Mustafa VI. Nhà vua ra lệnh hành quyết cựu hoàng Selim III và hoàng đệ Mahmud, nhưng Mahmud đã trốn thoát. Ông được Alemdar Mustafa Pasha đưa lên làm Sultan Mahmud II (1808 – 1839) và ra lệnh giết chết cựu hoàng Mustafa IV. Sultan Mahmud II cũng tiến hành thảm sát đẫm máu các đơn vị Ngự Lâm Quân Janissary và giải tán những đơn vị kiêu binh này năm 1826.
Ảnh 1: Sự bành trướng của Đế chế Ottoman từ 1451 đến 1566
Ảnh 2: Lãnh thổ Đế chế Ottoman năm 1683.
Ảnh 3: Quân đội Ottoman tấn công thành Viên năm 1683
Ảnh 4: Đế chế Ottoman giai đoạn 1699-1878.
Ảnh 5: Lãnh thổ Đế chế Ottoman năm 1913.
Ảnh 6: Chiến tranh Nga – Thổ Nhĩ Kỳ 1877-1878 (Cuộc chiến tranh 93 ngày)

Kỳ sau: Nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ thoái hóa và quá trình tái Hồi Giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ.

Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Ảnh của Tâm Minh Nguyễn.
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s