KIM THÁNH THÁN (金聖歎 – Jin Shengtan)

KIM THÁNH THÁN (Jin Shengtan)

Kim Thánh Thán 金聖歎 (1608-1661) tên thật Trương Vị, sau đổi thành Kim Nhân Thụy, tự là Thánh Thán, hiệu Côn Bằng Tán Sĩ. Ông sinh vào cuối Minh đầu Thanh, quê quán Ngô huyện thuộc Tô Châu. Là nhà văn, nhà phê bình trứ danh của Trung Hoa.

Kim Thánh Thán sinh năm 1608, tuổi thơ sống trong sự sung túc, sau khi cha mẹ mất sớm thì gia cảnh đi xuống. Tính tình ông cuồng phóng vô cương. Sau khi đổi tên thành Kim Nhân Thụy đã đỗ đầu khoa thi, nhưng vì lúc ấy nhà Minh bị diệt nên ông bỏ không ra làm quan, lui về lấy việc đọc và viết sách làm thú.

Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), Thanh triều ra chiếu đến Giang Tô, lệnh các quan từ tuần phủ trở xuống đều phải tới phủ trị. Nhân dịp này hơn trăm tú tài tụ họp để tố cáo những việc thu lương nhũng lạm của viên lệnh huyện Nhậm Duy Sơ. Tuần phủ Châu Quốc Trị cấu kết với Nhậm, bắt giam luôn 18 người cầm đầu bọn thư sinh. Hôm sau các tú tài đến Văn miếu kêu khóc, bị bắt thêm 30 người, trong đó có Kim Thánh Thán. Nhân lúc Giang Nam đang có nạn giặc cướp hoành hành, các tú tài này đều bị khép tội đồng lõa thổ phĩ, lệnh tịch biên gia sản và trảm lập quyết cả bọn. Khi ấy, Kim Thánh Thán 53 tuổi.

CÔNG TRÌNH:

Kim Thánh Thán sở học tinh thâm quảng bác. Thạo Dịch lý lại thông kinh Phật, ông thường dùng Phật học để chú thích Nho, Lão; khi bình văn thì lại hay chen thêm Thiền lý vào để luận. Thánh Thán phê bình nhiều cổ thư, đề cao Sử ký, Trang Tử, Ly Tao, Đỗ thi, Thủy Hử và Tây Sương là “Lục tài tử thư” (nhưng chỉ mới phê bình được hai tác phẩm sau và một phần thơ Đỗ Phủ). Ngoài ra, ông còn bình chú “Tả Truyện”, “Đường tài tử thư” và nhiều tác phẩm kinh điển khác.

Thành tựu lớn của Thánh Thán là phê bình văn học, ông tập trung làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của tác phẩm, nhân đó bàn rộng ra chính sự, nêu quan điểm xã hội của mình. Ông chỉ trích “tội phản loạn”, cho “Thủy hử” là có tính ác; nhưng cũng đồng cảm với những tai ách của dân lành, căm ghét tham quan ô lại kéo bè kết đảng hủy hoại triều cương, khiến 108 hảo hán kia phải bất đắc dĩ tìm vào thủy bạc, trở thành anh hùng phản kháng. Bình Thủy Hử, ông bài bác ngu trung; phê Tây Sương, ông đề cao tự do luyến ái, cho đó là “thiên địa diệu văn”. Ông tiếp thu tư tưởng hư vô của Phật giáo, xem vạn sự chỉ là huyễn mộng; tuy nhiên, ông lại đối mặt với thực tế, và siêng năng trứ tác. Trong ông là cả bầu mâu thuẫn đối chọi xâu xé.

Lối phê bình văn học, phân tích tác phẩm của ông độc đáo. Bình thơ Đường, ông bác bỏ lối kết cấu khai thừa chuyển hợp, đề xướng lối phân bài thơ làm hai “giải” để thưởng thức. Theo lối này, bài bát cú sẽ bị tách thành 2 bài tứ tuyệt độc lập, và tiêu chí ông đưa ra là nếu 2 bài tách ra đó có thể đứng riêng và vẫn liên quan mật thiết nhau mới xứng là thơ hay [1]. Bình Thủy Hử, ông có nhiều phát hiện ý tại ngôn ngoại của tác giả, như vạch ra Tống Giang là kẻ gian hùng bá đạo. Bình Tây Sương, ông chỉ ra những thủ pháp như “vén mây nẩy trăng”, “lựa khớp lắp mộng”, v.v… Từ đó, ông đề xuất và đúc kết kinh nghiệm trong nghề; người thích viết lách, nếu chịu khó đọc phần bình Tây Sương của Thánh Thán có thể thu được nhiều kinh nghiệm quý.

Không chỉ bình luận, ông còn hiệu đính, cải sửa nguyên tác, biên tập câu cú, khiến tác phẩm trở nên hoàn thiện. Thủy Hử có nhiều chỗ đã được ông biên tập nâng cao như thế. Như ở hồi 22, trong nguyên tác, Võ Tòng khi lên đồi Cảnh Dương uống 5 lượt rượu, mỗi lượt 3 chén, tổng cộng 15 chén rượu. Cho rằng vẫn chưa đủ “đô”, Côn Bằng tán sĩ bèn khui thêm hũ rượu, rót cho Võ đô đầu thêm lượt nữa, thành 18 chén. Hoặc ở hồi thứ 25, nhờ ngòi bút nhuận sắc của ông mà cuộc tình vụng trộm của Phan Kim Liên với Tây Môn Khánh trở nên sinh động và kỳ thú hơn hẳn bản gốc. Ông xác định 50 hồi sau của “Thủy hử” là đâm bang vớ vẩn, bèn thẳng tay cắt bỏ, rồi viết thêm một hồi về giấc mộng kinh hoàng của Lư Tuấn Nghĩa (mơ thấy 108 anh hùng đều bị giết, và giữa trời xuất hiện 4 chữ “thiên hạ thái bình”), lấy đó làm hồi kết [2]. Với Tây Sương ký, cho rằng quyển 5 của kịch này là ngụy tác, không phải bút pháp của Vương Thực Phủ, ông cũng cắt nốt và lấy chương “Tan mộng” làm hồi kết cho kịch [3].

Về thơ, ông có tập bản thảo “Trầm Ngâm Lâu thi tuyển” còn được lưu truyền.

ẢNH HƯỞNG:

Tài bình văn của ông được người đời ngưỡng mộ và truyền tụng. Một bông hoa dại, qua lời bình của Thụy Nhân tiên sinh bỗng như được phun sương giữa nắng, cũng tỏa bảy sắc cầu vồng. Các hiệu sách do đó vay mượn tên ông đề vào sách để nâng tác phẩm thành “tài tử thư”, và bọn phê bình gia cũng đua nhau mô phỏng bút pháp của thiên tài. Nền phê bình văn học ở Trung Hoa được Lý Trập khai phá, đến Kim Thánh Thán được phát triển, lan tỏa, thành khuôn mẫu mãi tới đầu thế kỷ XX. Mai Thinh Sơn bình “Tỳ Bà ký”, xưng đó là “Đệ thất tài tử thư”; Mao Tôn Cương cũng mạo danh Thánh Thán để bình “Tam quốc diễn nghĩa” và gọi đó là “Đệ nhất tài tử thư”; Chi Nghiễn Trai bình “Hồng lâu mộng” cũng mô phỏng theo lối Thánh Thán bình Tây Sương…

Không chỉ trong nước, ảnh hưởng của Kim Thánh Thán còn lan rộng ra cả ngoài nước. Giữa thế kỷ XVIII, bản Thủy Hử và Tây Sương của Kim Thánh Thán truyền sang Triều Tiên, được phổ biến rộng rãi. Trước đó, Triều Tiên chưa từng có bình luận tiểu thuyết, thì sang đầu thế kỷ XIX đã có hàng loạt nhà phê bình lẫy lừng: Thạch Tuyền chủ nhân, Phác Thái Tích, Thủy Sơn tiên sinh… Họ đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của Kim, từ phong cách, kỹ thuật cho đến ý tưởng, từ đó mà thể loại phê bình văn học ở Triều Tiên thực sự hình thành. Truyền sang Nhật Bản, Thủy Hử và Tây Sương do Thánh Thán bình chú đã tạo nguồn cảm hứng cho Lương Điền Thuế Nham, Giai Xuyên Kỳ Viên, Thanh Điền Đam Tẩu… xuất đầu lộ diện, và trở thành những phê bình gia danh tiếng.

ĐỊA VỊ:

Kim Thánh Thán là người đầu tiên khai thác văn bạch thoại Trung Hoa [4], ông đề cao giá trị hiện thực của thể văn thông tục này. Nhờ văn tài của ông, nền văn học bạch thoại ngày càng lớn mạnh và trở nên thông dụng.

Trong văn học sử Trung Hoa, ông là đệ nhất phê bình gia. Ông bác nghệ đa tài, kiến thức siêu trác. Ngay từ lúc sanh tiền, năm 1659, ông đã được hoàng đế Thuận Trị thán phục, tôn làm cổ văn cao thủ. Trong cuộc vận động “Tân văn học” (một phong trào cách tân, đã đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Hoa), Kim Thánh Thán được Hồ Thích tôn làm “Đại quái kiệt” có tầm nhìn trước thời đại. Lâm Ngữ Đường, vốn cũng là một “U Mặc đại sư”, đánh giá Kim là nhà phê bình vĩ đại nhất thế kỷ XVII của chủ nghĩa ấn tượng. Nhưng vì khi phê bình Thủy Hử, Thánh Thán cũng không ngần ngại công kích cái ác của bọn hảo hán Lương Sơn, nên bị các học giả đại lục cho là phản động, là “người phát ngôn của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến”.

GIAI THOẠI:

Kim Thánh Thán tình tình cuồng ngạo quái đản, lại hài hước vô song, vẫn được mệnh danh là “U mặc đại sư”. Hãy thử đọc đôi câu đối của ông:

– Đề kinh Phật:

流水今日 Lưu thủy kim nhật
明月前身 Minh nguyệt tiền thân
(Ngày nay nước chảy; Kiếp trước trăng soi).

– Đề thư phòng:

真讀書人天下少 Chân độc thư nhân thiên hạ thiểu
不如意事古今多 Bất như ý sự cổ kim đa
(Thiên hạ người thật biết đọc sách rất hiếm;
Xưa nay việc không vừa ý lại nhiều)

Kim chiếm một chiếu ngồi riêng chót vót trong văn học sử, nên có nhiều giai thoại về ông. Những giai thoại này tất nhiên đều là hư cấu, nhưng phần nào khắc họa tính cách ngất ngưỡng của thiên tài.

– Tương truyền Kim Thánh Thán viếng cảnh Báo Quốc tự ở núi Nga My. Đang đêm, ông bỗng nảy hứng, hỏi trụ trì cho mượn vài quyển kinh đặng ông… bình chơi đỡ buồn. phương trượng bèn ra vế đối, giao hẹn đối được sẽ cho Kim phê kinh. Vế ra rằng:
半夜二更半 Bán dạ nhị canh bán
(Nửa đêm hai canh rưỡi)
Hóc búa ở chỗ nửa đêm cũng là lúc quá canh hai (hai canh rưỡi), và 2 chữ “bán” lặp lại ở đầu và cuối vế. Kim đành chịu phép không đối được, phải đi nghỉ sớm.

Ba năm sau, khi bị án trảm lập quyết nhằm tiết Trung Thu. Phút lâm hình, ông bỗng nghĩ ra, ngửa cổ cười sằng sặc, gọi con trai đến dặn dò, là mau báo trụ trì chùa Báo Quốc, ông đã nghĩ ra vế đối lại, là:

中秋八月中 Trung thu bát nguyệt trung
(Trung Thu giữa tháng Tám)
Vừa chỉnh cả ý lẫn lời: Trung Thu cũng là giữa tháng Tám!

Chuyện lại kể tiếp rằng, khi thủ cấp ông rơi ra, đao phủ thấy hai bên tai có nhét hai mẩu giấy. Giở ra thì thấy một mẩu đề chữ “Hảo” 好 (Tốt), mẩu kia là chữ “Đông” 疼 (Đau), ghép lại thành câu thì là tiếng suýt xoa: “Ui da, đau quá!”, he he!

Vẫn chưa hết, rằng sau khi ông mất, thấy có di thư để lại cho con. Quan tuần phủ ngờ rằng trong đó thể nào cũng buông lời phỉ báng mai mỉa triều đình, dè đâu khi giở ra chỉ thấy vỏn vẹn đôi dòng ngắn ngủi: “Gửi con: Dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này mà được lưu truyền thì ta chẳng còn hận chi nữa”.

_________

[1] Lạ một điều, Thánh Thán phê bình 180 bài thơ của Đỗ Phủ, nhưng lại làm lơ bỏ qua, không hề nhắc tới Lý Bạch nửa lời. Phải chăng Kim xem thường thơ Lý? Hay do lẽ đồng thanh tương khắc mà người cuồng ngạo phóng túng khó lòng dung nạp kẻ khác cũng phóng túng cuồng ngạo như mình?

[2] Thủy Hử có nhiều dị bản, nhưng 300 năm nay, bản có 71 hồi do Thánh Thán nhuận sắc vẫn được xem là bản chính, có giá trị hơn cả. Ở ta, bản dịch Thủy Hử do Thánh Thán phê bình được Á Nam Trần Tuấn Khải dịch là bản dịch tài tình nhất. Còn phần 50 hồi bị cắt kia, sau người ta lại cho in thành bộ riêng, gọi là “Hậu thủy hử”, đọc thấy quả thực vô duyên chán ngắt.

[3] Muốn đọc Tây Sương do Thánh Thán bình, thì phải chọn bản dịch của nhà thơ Nhượng Tống.

[4] “Bạch thoại” là dạng văn viết dựa trên phương ngôn, khác với “văn ngôn” là dạng văn viết theo lối từ chương. Từ thập niên 1920 trở đi, phương ngôn được công nhận là văn phong tiêu chuẩn cho tất cả những người sử dụng Hoa ngữ.

_________

Tài liệu tham khảo (Hoa ngữ):
– “Kim Thánh Thán – Cuộc đời và sự nghiệp phê bình văn học”《金聖歎的生平及其文學批評》của Vương Tịnh Vũ 王靖宇. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 2004.
– “Thanh đại danh nhân truyện lược”《清代名人傳略》, của Trương Quảng Đạt 張廣達. Thanh Hải Nhân dân xuất bản xã.
– “Kim Thánh Thán – Chỉ tiếc trong lòng dăm quyển sách”〈金聖漢“只惜胸前幾本書”〉//《詩情史意》của Uông Vinh Tổ 汪榮祖. Nxn Giáo Dục tỉnh Giang Tô, 2006.
– “Trung quốc tiểu thuyết sử lược”《中國小說史略》của Lỗ Tấn 魯迅. Nxb Văn Học, Bắc Kinh, 1952.
– Tuyển tập nghiên cứu văn học cổ điển《胡適古典文學研究論集》của Hồ Thích 胡適. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1988.

* * * * * * *

Văn Kim Thánh Thán, ngoài bài “Lưu tặng hậu nhân” nổi tiếng (tìm đọc bản dịch của Trần Trọng San), thì bài “33 LÚC KHOÁI” tiêu biểu cho “Chủ nghĩa Duy khoái” được nhiều người nhắc đến. Nguyên bài này là lời bình chương “Khảo hoa” trong Tây Sương ký của Vương Thực Phủ (Chương 2, quyển 4), đây cũng là bài tản văn lừng danh kim cổ, xin chép lại đây để cùng thưởng thức những cái khoái với bậc kỳ tài.

33 LÚC KHOÁI – KIM THÁNH THÁN (Bản dịch của Nhượng Tống)

[Hồi xưa cùng Trác Sơn, cùng ở trọ đất khách, mưa dầm mười ngày, nằm nhìn nhau buồn rứt. Nhân thi nhau nói những chuyện sướng để cho lòng đỡ bạo bực. Đến nay đã cách hai mươi năm cũng không còn nhớ nữa. Nhân đọc chương “Khảo hoa” ở Mái Tây, thấy miệng con Hồng nói ra bao nhiêu câu sướng miệng, nghĩ lại tiếc bấy giờ sao không lục ra cùng đọc thì buồn đến đâu mà chả phải tan. Vì thế bèn cố nhớ lại, còn ghi được mấy điều phụ chép dưới đây, cũng không còn phân biệt được câu nào là của Trác Sơn, câu nào là của Thánh Thán nữa].

1. Mùa hè qua tháng bảy, mặt trời đỏ ngang trời. Gió cũng không. Mây cũng không. Sân trước, sân sau, nắng chói như lò lửa. Không một con chim nào dám bay. Bồ hôi ra khắp mình, ngang dọc thành rãnh nước. Cơm để trước mặt không sao nuốt được. Gọi chiếu muốn nằm xuống thì đất ướt như mỡ. Ruồi xanh lại xúm đến, leo lên cổ, đậu lên mũi, đuổi chẳng buồn đi. Đương lúc không biết làm thế nào được, bỗng mây đen kéo kín, tiếng rầm rầm rộ rộ nghe như có trăm vạn chiêng trống. Mái tranh chảy như thác. Bồ hôi trên mình biến mất. Đất ráo như lau. Ruồi bay hết. Cơm ăn thấy ngon miệng. Chẳng cũng sướng sao?

2. Người bạn xa mười năm, thình lình đến vào chiều hôm. Mở cửa chào nhau xong, chẳng kịp hỏi đi thuyền hay đi bộ, cũng chẳng kịp mời ngồi ghế hay ngồi giường. Hàn huyên qua loa, liền chạy mau vào nhà trong, sẽ hỏi mẹ đĩ: “Mình có được như là Đông Pha, sẵn có rượu để dành không?” Mẹ đĩ tươi cười, rút cành trâm vàng đưa cho. Tính ra có thể thết khách được ba ngày. Chẳng cũng sướng sao?

3. Phòng không ngồi một mình, đương đêm nghe qua tiếng chuột bực quá. Không biết nó sồn sột gặm nát cái gì của mình? Soàn soạt xé rách sách nào của mình? Trong lòng bồi hồi, chưa nghĩ ra sao. Bỗng thấy con mãn đẹp, chú mắt, vẫy đuôi, như đã trông thấy vật gì. Nín tiếng nín hơi, đợi chờ chốc lát, thì thấy nó chồm nhanh như gió, “chí” một tiếng, con vật đó đã chết rồi. Chẳng cũng sướng sao?

4. Trước phòng sách, nhổ những cây tử kinh, cây thuỳ ty hải đường đi, trồng thêm vài chục gốc chuối. Chẳng cũng sướng sao!

5. Đêm xuân cùng các tay hào uống đã nửa say, thôi đã khó thôi, thêm cũng khó thêm. Bên cạnh bỗng có đứa trẻ hiểu ý, đưa vào hơn chục pháo chuột. Liền đứng dậy ra ngoài tiệc, lấy lửa đốt chơi. Mùi lưu hoàng xông từ mũi vào tận óc, khắp người khoan khoái, chẳng cũng sướng sao!

6. Qua phố thấy hai bác đồ gàn, cãi nhau về một chuyện. Cả hai đều đỏ mặt tía tai, tưởng chừng không đội trời chung. Vậy mà còn chắp tay lên, khom lưng xuống, đầy mồm “chi, hồ, dã, giả”… Câu chuyện kéo dài, có thể mấy năm không xong. Bỗng có tay tráng sĩ vung tay đi lại, ra oai quát một tiếng, thế là nín thít. Chẳng cũng sướng sao?

7. Nghe học trò đọc bài, thuộc trơn như dốc nước ở bình ra, chẳng cũng sướng sao!

8. Cơm xong vô sự, đi rong vào chợ. Thấy có món đồ vặt, nghịch lại mua chơi. Mua xong rồi, tiền đưa chẳng thiếu là bao, mà chú lái kỳ kèo, nhất định không chịu. Nhân móc trong túi, lấy một cục bạc cũng suýt soát bằng cục đưa trả trước, ném đưa cho cả. Chú lái bỗng đổi ra vẻ tươi cười, chắp tay “không dám” luôn mãi. Chẳng cũng sướng sao!

9. Cơm xong vô sự, lục lọi hòm bát, thấy các văn tự nợ mới cũ, có đến mấy trăn bức. Những người thiếu nợ đó, hoặc chết rồi, hoặc còn sống, tóm lại đều không sao trả nổi. Vắng người liền lấy lửa, trộn lộn đốt sạch. Ngẩng nhìn trời cao, vắng ngắt không mây. Chẳng cũng sướng sao!

10. Ngày hè đầu trần, chân trần, tự cầm chiếc ô che nắng, xem bọn lực điền vừa hát ngao, vừa đạp guồng nước. Nước nhất thời cuồn cuộn tuôn lên như tuyết tan, bạc lộn. Chẳng cũng sướng sao!

11. Ngủ sớm vừa dậy, hình như nghe tiếng người nhà than thở, nói chàng nọ chết đêm qua. Vội gọi hỏi xem, thì là một tay khôn vặt nhất trong cả một thành. Chẳng cũng sướng sao!

12. Tháng hè dậy sớm, xem người ta ở dưới gốc thông, cưa ống bương để làm thùng chứa nước, chẳng cũng sướng sao!

13. Trời râm suốt tháng, thấy mình như người say, người ốm. Bỗng nghe các giống chim đua hót ra vẻ mừng nắng. Vội đưa tay vén màn, dun cửa sổ trông ra thì thấy ánh mặt trời sáng quắc, cây rừng sạch như rửa, chẳng cũng sướng sao!

14. Đêm nghe nói người nọ là người khá, sáng ngày thử sang chơi. Bước qua cổng, nhìn vào nhà, thì thấy người ấy đương tựa bàn quỳ tựa về phía Nam, xem một cuốn văn. Thấy khách vào, lẳng lặng chào xong, liền kéo áo mời ngồi mà rằng: “Bác đã đến đây, cũng nên coi thử cuốn sách này”. Cùng nhau vui cười, đến mãi khi ánh nắng hết. Chủ nhà đói bụng liền thong thả hỏi khách: “Bác cũng đói rồi chứ!” Chẳng cũng sướng sao!

15. Vốn không muốn làm nhà, chợt có món tiền để rỗi, liền làm thử mấy gian. Bắt đầu từ hôm ấy, cần gỗ, cần đá, cần ngói, cần gạch, cần vôi, cần đanh, không kể sớm chiều, những chuyện ấy lúc nào cũng nhang nhác ở bên tai. Rồi đến bắt sẻ, hun chuột, cái gì cũng tính toán vì nhà, mà nào đã được nhà ở. Đành yên chịu như là số mệnh vậy. Bỗng dưng một ngày kia, nhà đã lạc thành. Nạo tường, quét đất, dán song, treo tranh, nhất thiết thợ thuyền ra cửa về hết. Bạn hữu đã tới, chia ghế ngồi xuống. Chẳng cũng sướng sao!

16. Đêm đông uống rượu, lại thấy lạnh thêm. Mở song thử nhìn, tuyết lớn bằng bàn tay đã xuống dày đến ba, bốn tấc. Chẳng cũng sướng sao!

17. Ngày hè trong mâm sơn son, rút dao sắc bổ quả dưa hấu xanh vỏ, chẳng cũng sướng sao!

18. Lâu vẫn muốn đi tu, khốn nỗi không được công khai ăn thịt. Ví cho được làm sư, lại được công khai ăn thịt, thì ngày hè lấy nước nóng, dao sắc, gọt sạch tóc đầu. Chẳng cũng sướng sao!

19. Còn ba bốn mụn lở ở chỗ hiểm, thời thường gọi nước nóng, đóng cửa mà rửa, chẳng cũng sướng sao!

20. Trong tráp bất ngờ soạn được bức thư của người cũ, chẳng cũng sướng sao!

21. Học trò nghèo đi vay tiền, không dám rỉ răng, lại lần chần nói ra việc khác. Mình xét biết nỗi khổ tâm, kéo ra chỗ vắng người, hỏi cần dùng nhiều ít? Vội vào trong nhà, như số đưa cho. Rồi đó mới hỏi: “Cần về ngay để thu xếp việc ấy, hay có thể ở lại đánh chén đã?” Chẳng cũng sướng sao!

22. Ngồi thuyền nhỏ, gặp gió thuận, khổ nỗi không căng được buồm. Bỗng gặp chiếc thuyền đinh, đi nhanh như gió. Thử đưa câu liêm ra quặc chơi. Không ngờ quặc liền mắc ngay, liền lấy sợi dây, ràng thuyền mình vào đuôi thuyền họ. Miệng ngâm to câu thơ của cụ Đỗ: “Non xanh sườn vàng biết quít chín”, rồi khúc khích cười vang, chẳng cũng sướng sao!

23. Lâu vẫn muốn tìm ở chỗ khác, để cùng ở với người bạn, nhưng khổ không được đất lành. Bỗng có người đồn rằng: Có cái nhà chỉ độ hơn mười gian, nhưng cửa quay ra sông cái, chung quanh cây tốt xanh om. Liền cùng người ấy cùng ăn cơm xong, thử chạy thăm xem sao, chưa biết nhà như thế nào, nhưng vào cửa đã thấy một khoảng đất không, rộng đến sáu, bảy mẫu. Mai ngày rau, dưa, không cần phải lo nữa, chẳng cũng sướng sao!

24. Đi vắng lâu mới về, xa trông thấy cửa thành, đàn bà, trẻ con hai bên đường, đều nói tiếng quê nhà, chẳng cũng sướng sao!

25. Món đồ sứ đẹp đã sứt mẻ, chả còn cách gì hàn gắn, xem đi ngắm lại chỉ thêm rối ruột. Nhân giao cho nhà bếp dùng làm đồ đựng vặt không bao giờ lại qua mắt nữa, chẳng cũng sướng sao!

26. Mình không phải là thánh sao cho khỏi có lỗi. Đêm qua lén làm một việc, sớm dậy áy náy trong lòng không yên. Chợt nhớ nhà Phật có phép Bá tát: không hề giấu diếm, tức là sám hối. Nhân tự đem lỗi mình nói phăng cho tất cả khách quen khách lạ đều biết, chẳng cũng sướng sao!

27. Xem người viết đại tự, chẳng cũng sướng sao!

28. Mở cánh song giấy, thả cho con ong ra, chẳng cũng sướng sao!

29. Làm quan huyện, hàng ngày vào lúc đánh trống tan hầu, chẳng cũng sướng sao!

30. Xem người ta thả diều đứt dây, chẳng cũng sướng sao!

31. Xem ma trơi, chẳng cũng sướng sao!

32. Trả nợ xong, chẳng cũng sướng sao.

33. Đọc truyện “Khách râu quăn”(*), chẳng cũng sướng sao.
_______

(*) Tức “Cầu Nhiêm khách”, một truyện ngắn trích trong “Thái Bình quảng ký” của Đỗ Quang Đình (850-933). “Cầu Nhiêm khách” rất được người Trung Hoa tán thưởng. Nhà văn Kim Dung cũng viết một thiên tiểu luận về truyện này, và cho đây là truyện võ hiệp đầu tiên của người Trung Hoa.

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s