Vài ghi chép có liên quan đến VIỆT

Vài ghi chép có liên quan đến VIỆT

Theo FB Bùi Quang Minh


A. Quốc gia liên quan tới Việt Nam
Có nhiều quốc hiệu khác nhau qua các thời kỳ lịch sử. Quốc hiệu chính thức không tính 3 quốc hiệu gây tranh cãi (Xích Quỷ, Nam Việt, An Nam) có 14 cái như sau:

1. Văn Lang (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và một phần Quảng Đông, Quảng Tây ít nhất 3000 năm TCN, đầu thời kỳ đồ đồng; kinh đô Phong Châu, đất Ba Thục (Tứ Xuyên))

2. Âu Lạc

3. Vạn Xuân

4. Tĩnh Hải

5. Đại Cồ Việt

6. Đại Việt

7. Đại Ngu

8. Việt Nam (năm 1804)

9. Đại Nam

10. Đế quốc Việt Nam

11. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

12. Quốc gia Việt Nam

13. Việt Nam Cộng hòa

14. Cộng hòa XHCN Việt Nam

B. Dân tộc Việt anh em

Tên gọi của một trong 53 dân tộc anh em trên đất Việt Nam hiện nay (dân số theo thống kê năm 2011 tổng cộng 90.549.390 người):
Kinh (55.900.244 người), Tày (1.190.342 người), Thái (1.040.549 người), Mường(914.596 người), Khmer (895.299 người), Nùng (705.709 người), Hmong (558.053 người), Dao (473.945 người), Gia Rai (242.291 người), Êđê (194.710 người), Bana (136.859 người),Sán, Chăm, XơĐăng, Sán Dìu, Hrê, Kơho, Raglai, Mnong, Thổ, Stiêng, Khơmú, BruVân Kiều, Giáy, Kơtu, Gié Triêng, Tà Ôi, Mạ, Co, Chơro, Hà Nhì, Xinh Mun,Churu, Lào, La Chí, Phù Lá, La Hử, Kháng, Lự, Phathẻn, Lô Lô, Chứt, Mảng, CơLao, Bố Y (1.420 người), La Ha (1.396 người), Cống (1.264 người), Ngái (1.151 người), Si La (594 người), Pu Péo (382 người), Brâu (231 người), RMăm (227 người), Ơđu (32 người)

C. Các dòng họ Việt

C1. Các họ Việt lập nên các triều đại trong lịch sử Việt:
Họ Hồng: họ Hồng Bàng

Họ Lạc (Lý, Lộ,Ló): họ của bố Lạc Long Quân

Họ Âu (Ngu): họ của mẹ Âu Cơ

Họ Hùng: họ của các vua Hùng

Họ Triệu: Triệu Đà, Triệu Thị Trinh, Triệu Quang Phục hiệu Triệu Việt Vương

Họ Trưng:Trưng Trắc, Trưng Nhị

Họ Khu: Khu Liên lập Lâm Ấp

Họ Phạm: Phạm Văn, Phạm Phật làm vua Lâm Ấp, Phạm Sư Man làm vua Phù Nam

Họ Lý: Lý Bí hiệu Lý Nam Đế, Lý Công Uẩn hiệu Lý Thái Tổ (ông tổ là chi Hmong-Mien của Bách Việt)

Họ Mai: Mai Thúc Loan hiệu Mai Hắc Đế

Họ Phùng: Phùng Hưng suy tôn Bố Cái Đại Vương

Họ Khúc: Khúc Thừa Dụ

Họ Dương: Dương Đình Nghệ

Họ Ngô: Ngô Quyền hiệu Tiền Ngô Vương

Họ Đinh: Đinh  Bộ Lĩnh hiệu Đinh Tiên Hoàng

Họ Lê: Lê Hoàn, Lê Lợi hiệu Lê Thái Tổ

Họ Trần: Trần Cảnh hiệu Trần Thái Tông

Họ Hồ: Hồ Quý Ly, Hồ Thơm hiệu Nguyễn Huệ (người Mân Việt ở Phúc Kiến, Triết Giang)

Họ Mạc: Mạc Đăng Dung hiệu Mạc Thái Tổ

Họ Trịnh: Trịnh Kiểm

Họ Nguyễn: Nguyễn Hoàng

(Sau khi Mã Viện thắng Hai Bà Trưng đã tàn sát dân ta, bắt hàng trăm Cừ Soái sang Tàu, đổi họ. Các dòng họ: Trưng, Thi, Chử, Hùng, Thục hầu như không còn nữa).

C2. Các dòng họ lập chiến công hiển hách

Họ Chu: Năm 158, Chu Đạt lãnh đạo nhân dân Cửu Chân nổi lên đánh chiếm Nhật Nam. Năm 163, Chu Cái cùng với Hồ Lan lãnh đạo nhân dân nổi lên đánh chiếm huyện Quế Dương, Thương Ngô.

Họ Bốc, họ Hồ, họ Phan: Từ 160-180, nhân dân Thương Ngô dưới sự lãnh đạo của Bốc Dương, Phan Hồng, Lý Nghiêu, Hồ Lan, Chu Cái nổi lên đánh chiếm Thương Ngô.

Họ Lương: Tháng giêng năm 178, anh hùng dân tộc Lương Long lãnh đạo khởi nghĩa nhân dân các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi lên đánh chiếm quận huyện, làm chủ đất nước được 4 năm

Họ Ninh: Ninh Trường Châu nổi lên chiếm Uất Lâm và Thủy An Quảng Tây bây giờ

Họ Lý: Lý Trường Xuân và Lý Tự Tiên khởi nghĩa chống giặc Đường

Họ Dương: Năm 806, Dương Thanh nổi dậy giết Lý Tượng Cổ và hơn một ngàn quân Đường

D. Ý nghĩa của chữ Việt

Người Việt cổ viết chữ Mặt Trời (đọc là Diềt / Việt/ Duyệt; phát âm Hán Việt đọc là Nhật)

Cổ sử Trung Quốc dùng 5 chữ Việt khác nhau để chỉ dân tộc Việt:

1. Dùng tượng hình mặt trời hay mặt trăng với nghĩa thờ ban phát ánh sáng.

2. Dùng tượng hình búa rìu đồng  越 để chỉ dân tộc dùng Phủ Việt, một loại vũ khí độc đáo, lợi hại

3. Dùng thêm nét bộ mễ, đặc trưng cư dân trồng lúa nước 粤

4. Dùng với nghĩa hướng vọng về quê Tổ trong tác phẩm “Hoài Nam tử” đời Hán của Lưu An

5. Danh xưng Bách Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc.  百越

6. Một chữ Việt nữa trong trống đồng khai quật ở VN và vùng Hoa Nam, thể hiện quan niệm“Người Chim” tay cần giáo mác sẵn sàng chiến đấu.
E. Liên quan Bách Việt

Tộc Việt với nhiều nhóm khác nhau (hàng trăm chi tộc – Bách Việt), phân biệt với tộc Hán. Đời Tống, tác giả La Tất viết “Lộ sử” đã liệt kê các nhóm khác nhau trong Bách Việt như sau: “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu,Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cần, Bắc Đái, Khu Ngô… gọi làBách Việt. Trong những nhóm Bách Việt ấy thì Dương Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây. Nhóm Sản Lý tức Xa Lý ở miền Tây Nam tỉnh Quảng Tây.

Như vậy, theo sử sách Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác khắp miền Hoa Nam phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả miền Bắc và Bắc Trung Việt. Sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam và miền Lĩnh Nam”.


F. Nước Việt thời Xuân Thu (722 TCN – 481 TCN)
Giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa xảy ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập khoảng 170 nước nhỏ.

Nước Việt là một chư hầu nhà Chu ở vùng đất nam Trường Giang, ven biển Chiết Giang. Do nằm quá xa Trung Nguyên nên nước Việt không được sự thu hút của nhà Chu và các nước chư hầu lớn. Đến triều vua Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô (vốn đã đánh phá nướcSở hùng mạnh trước đó) (khoảng 496 TCN-465 TCN), triều Chu phải công nhận địa vị bá chủ phía nam của nước Việt. Tới năm 334 TCN, nước Việt thời Việt Vương Vô Cương sau 6 đời tính từ Câu Tiễn đã bị nước Sở đánh bại và sát nhập. Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn sau khi diệt nước Sở đã tiến vào vùng đất Việt. Vương Tiễn bèn lấy đất Việt lập quận Cối Kê.

Hoàng tộc và quý tộc Việt di tán khắp nơi thành nhiều nhóm gọi chung là Bách Việt ở từ Cối Kê (Chiết Giang) đến Giao Chỉ(Bắc Việt Nam) với tên gọi, phong tục khác nhau. Con cháu Câu Tiễn kẻ làm hầu,người làm vua quan ở các vùng.

G. Các nước tộc Việt thời Ngũ Đại Thập Quốc ( 907-979)

Cuối đời Đường,tình hình Trung Quốc tam phân ngũ liệt nên gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của Trung Quốc. Trong khi đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành lập 10 nước Bách Việt gồm:

1.   Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An Huy

2.   Tiền Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ Xuyên

3.   Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết Giang

4.   Sở do Mã Ân lập ra ở Hồ Nam

5.   Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến của Mân Việt

6.   Nam Hán do Lưu Ẩn thành lập ở Quảng Đông. Thực ra tên nước lúc ban đầu lấy tên rặng núi Ngũ Lĩnh ở Hoa Nam là Đại Việt đặt tên nước, rồi về sau đổi là Nam Hán vì ở phía Nam sống Hán.

7.   Nam Bình do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ Bắc

8.   Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ Xuyên

9.   Nam Đường do Lý Thắng thành lập ở Giang Tô

10. Bác Hán do Lưu Sùng thành lập ở vùng Sơn Tây, phía Bắc sông Hán

Học giả Trung Hoa học H. Wiens nhận xét một thực trạng đau lòng là “Bao nhiêu cuộc trỗi dậy của Bách Việt đều thất bại vì người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau…”. Lịch sử đã chứng minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam chạy xuống Bắc và Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt khác định cư từ trước đã tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đã đánh thắng bao cuộc xâm lược của Hán tộc để tồn tại mãi tới ngày nay.

H. Nước Việt Thường
Cổ sử Trung Quốc ghi nhận sự hiện hữu nước Việt Thường (chi tộc thuộc nhóm Bách Việt) năm 1110 TCN, sứ bộ Việt Thường sang biếu chim Bạch Trĩ đời Chu Thành Vương năm thứ 6. Trong Sử ký,Tư Mã Thiên chép về sự hình thành quốc gia Việt Thường như sau: “Đầu đời Tây Chu (1143-770 TCN) người nước Việt Thường đuổi người Tam Miêu, lập nước ở vùng giữa hồ Động Đình và hồ Phiên Dương còn gọi là Bà Dương ở phía Nam lưu vực sông Dương Tử. Nước Việt Thường còn tồn tại mãi tới đời vua nước Sở là Hùng Cừ. Sử nướcSở chép rằng đời Hùng Cừ (887-877 TCN) đã chiếm Việt Thường nằm ở giữa hồ Phiên Dương và hồ Động Đình. Sự bành trướng của nước Sở xuống vùng Nam Dương Tử đã dồn ép người Việt Thường di tản liên tục xuống phía Nam và Tây Nam. Họ hòa nhập các chi tộc khác của Bách Việt để lập ra các quốc gia mới.

Việt Thường là nước sơ khai của Việt tộc đã có chữ viết và một nền văn minh khá cao nên mới làm được lịch gọi là lịch rùa (Quy lịch) khiến Vua Nghiêu phải sai chép lại lịch rùa. Quan trọng hơn là Việt Thường thời đó cũng đã có chữ viết Khoa đẩu ngoằn ngoèo như con nòng nọc trong khi Hán tộc còn trong tình trạng du mục bán khai.

I. Bộ Việt Thường nước Văn Lang

Lĩnh Nam Trích Quái chép: “Hùng Vương chia nước ra làm 15 bộ là Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định,Văn Lang, Quế Lâm và Tượng Quận”. Vua Hùng dựng nước Văn Lang và chọn kinh đô là Phong Châu, là vùng đất ở giữa 2 dãy núi của xứ Tạng và Tứ Xuyên, nơi phát nguồn của 4 con sông chảy xuôi Nam và sang hướng Đông. Bốn con sông này cùng họp nhau tại vùng Min-Ya-Kon-K là chỗ 4 dòng sông chảy sát liên nhau là sông MinhGiang (Min), sông Dạ Lang (Ya), sông Mê Kông (Kon) và sông Dương Tử (Kạ) lúc trước là vùng Ba Thục, sau đổi tên là Tứ Xuyên.

J. Ngôn ngữ Việt cổ
J1. Tiếng nói Việt cổ

Cổ sử Trung Hoa cũng như thực tế xác nhận người Việt cổ chi Âu Việt cư trú trên địa bàn liên tục từ Tây Bắc, Đông Bắc xuống tới Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc bây giờ.Thật vậy, người Âu Thục ở Tứ Xuyên, Lạc Lê ở Hồ Nam, La Việt ở Hồ Bắc, Hồ Nam,Dạ Lang ở Quý Châu (Âu + Lạc + Miêu), Đông Âu ở Nam Triết Giang và Bắc Phúc Kiến,Tây Âu ở Quảng Tây và Quảng Đông. Địa bàn của chi Âu Việt nằm sát, đôi khi xen kẽ địa bàn chi Lạc Việt. Chi Âu Việt chiếm 18 tỉnh vùng rừng núi trong khi chi Lạc Việt chiếm các vùng đất đai phì nhiêu và đồng bằng ven biển tính ra hơn 12 tỉnh của Trung Quốc ngày nay.

Theo triết gia Kim Định thì khoảng 60-70% dân Tàu hiện nay là người gốc Việt cổ. Căn cứ trên lối phát âm được khoa Ngôn ngữ Tỉ giảo cho biết thì có từ 7 đến 8 người trên 10 người Tàu phát âm theo giọng Việt hay nói theo phương âm thì chiếm 9/10. Những từ ngữ gọi là Hán Việt thật ra là âm Việt cổ vùng Hoa Nam đã làm cho tiếng Việt hiện nay thêm phần phong phú. Ví  dụ như tiếng Quảng Đông đọc là “sứ phù” thì Hán Việt ghi là sư phụ, “Hoàng shượng” là Hoàng thượng, “Cú nường” là cô nương.
Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy vùng Hoa Nam gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Triết Giang đều có âm Việt cổ chung hoàn toàn khác với phương ngữ Hán phương Bắc mà dân gian Hoa Nam gọi là tiếng Quan Thoại của giới quan lại thống trị từ thời Tần. Đây là Hán ngữ chính thống mà giọng đọc gọi là Quan Thoại ở vùng Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và Nam Sơn Tây. Tần ngữ là giọng nói ở Thiểm Tây được coi là giọng cổ Quan Thoại phát âm lơ lớ Quan Thoại, lơ lớ Mông Cổ, lơ lớ Tây Nhung còn lại 8 phương âm khác của Di việt được nói ở khắp Trung Nguyên gồm:

Thục ngữ ở Tứ Xuyên của chi Âu Việt

Yên Tề ngữ của chi Lạc Việt (bộ Trãi) mà họ gọi là Rợ Đông Di gồm các tỉnh Sơn Đông và một phần Hà Bắc

Sở ngữ là giọng nói ở Hồ Bắc, Hồ Nam của chi Lạc Việt bộ Mã mà Hán tộc gọi là rợ Kinh man. Vào đầu kỷ nguyên Dương lịch,Yên Tề Sở ngữ giống Việt ngữ, Sở ngữ còn gọi chung là giọng Hồ Quảng

Mân ngữ (Hoklo) là giọng nói của chi Mân Việt (Min-Yueh) ở Phúc Kiến (Lạc bộ Mã)

– Việt ngữ  vùng Quảng Đông và Quảng Tây của chi Âu Việt còn gọi là Tây Âu của đồng bào Thái (Thái Việt)

– Giang Hoài ngữ là giọng nói vùng giữa sông Hoài và sông Dương Tử thuộc nước Ngô thời chiến quốc ở Bắc Giang Tô và Triết Giang củaU Việt còn gọi là Đông Việt

– Điền Kiềm ngữ  là giọng nói vùng Vân Nam và vùng phụcận của chi Điền Việt

– Ngô Việt ngữ  ở Bắc Giang Tô, Triết Giang

J2. Chữ Việt cổ
Các chi tộc Lạc Việt thành lập quốc gia, có thủ lĩnh riêng, có cách sinh hoạt riêng biệt, theo thời gian mỗi nơi có một ngôn ngữ, một phương ngữ và hình thành chữ viết riêng.
Lối chữ của cộng đồng Bách Việt có những kiểu sau:
1. Chữ Kết Thằng: thuở ban sơ là lối chữ thắt nút, gọi là Kết Thằng của dòng Thần Nông (các nhà nghiên cứu gọi lối chữ này là Kipus). Hùng Vương nước Văn Lang chính sự dùng lối thắt nút (Kết Thằng)

Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được.

2. Khoa Đẩu Tự: lối chữ hình con nòng nọc gọi là Khoa Đẩu Tự, còn lưu lại trong chữ viết các dân tộc ở Trung Đông, Ấn Độ, Thái Lan, Cao Miên và đồng bào Chăm… Vua Lê Thánh Tông là một vị vua yêu nước đã gửi gắm cho thế hệ sau những ưu tư về cội nguồn chữ Việt cổ trong tập “Thánh Tông Dị Thảo” là dân tộc ta đã có chữ viết riêng từ lâu, lối chữ cổ đó còn rơi rớt hiếm hoi ở thời Lý. Hình dáng lối chữ Việt cổ có nét chữ ngoằn ngoèo và hiện lối chữ ấy còn bảo lưu ở một đồng bào Mường Mán của ta. Nguyễn Đổng Chi trong “Việt Nam cổ văn học sử” đã sưu tầm 35 chữ cái của đồng bào Mường. Đó là lỗi chữ ngoằn ngoèo như con nòng nọc đúng như Tiền Hán thư chép và cũng đúng như ưu tư vua Lê Thánh Tông đã gợi mở.


Phải chăng đây là chữ Việt cổ (trích Thanh hóa Quan Phong)


Chữ Việt Cổ trên trống đồng Lũng Cú


Chữ Việt cổ được ông Đỗ Văn Xuyềnđúc-kết như sau:
3. Chữ Vuông: Lối chữ Vuông của cư dân Bách Việt định cư ở lưu vực 2 sông Hoàng Hà –Dương Tử lãnh thổ Trung Quốc bây giờ đã hình thành những nền văn hóa Long Sơn,Ngưỡng Thiều, Hà Mẫu Độ… Các nhà khảo cổ ghi nhận trên những di chỉ văn hóa ở Bản Pha, Long Sơn, Ngưỡng Thiều, Cảm Tang (Quảng Tây), Đông Sơn (Bắc Việt Nam)… đềucó dấu tích các chữ viết cổ sơ của cộng đồng Bách Việt. Sử sách Trung Quốc chép là lối chữ của họ đã có từ thời Thương nhưng các chứng cớ khảo cổ và công trình nghiên cứu đã xác định lối chữ này đã thành hình ngay từ thời nhà Hạ của Việt tộc còn để lại trên giáp cốt văn. Tất cả các nước Đông Á đều sử dụng lối chữ vuông duy chỉ có Việt Nam đã đổi qua cách viết theo mẫu tự Latinh a, b, c từ thời Pháp thuộc.

Chữ Nôm đã được dùng trong cộng đồng Bách Việt ngay tự thuở xa xưa. Khi Hán tộc đô hộ nước ta, Thái thú Sĩ Nhiếp mới bắt dân ta bỏ lối chữ cổ để dùng chữ Hán.Theo những công bố gần đây được hầu hết học giả Trung Hoa học quốc tế chấp nhận thì cái gọi là văn hóa Trung Hoa chính là văn hóa Việt cổ mà cổ thư gọi là văn hóa Tứ Di hay Di Việt. Triều Thương của Hán tộc đã tiếp thu nền văn hóa này nhưng mãi đến đời Chu mới đưa thêm vào một số yếu tố du mục chịu ảnh hưởng của Iran. Sách sử cổ Trung Quốc chép rằng thời Chu Tuyên Vương mới sai thái sư Trứu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ “Đại Triện” nét tròn thường viết bằng sơn trên gỗ tre. Bởi vậy, lối chữ đại triện này gọi là Trứu thư được xem là của Hán tộc vì nói hoàn toàn khác với lối chữ Khoa Đẩu, Điểu Triện thời Đế Hoàng của Việt tộc. Sau Chu đến Tần cũng lấy lối chữ Đại triện của đời Chu làm tiêu chuẩn để thống nhất chữ viết kể cả giọng nói để triệt tiêu ngôn ngữ của các dân tộc khác. Đế chế Tần buộc các địa phương phải gửi người về Hàm Dương để học giọng Quan Thoại và lối chữ viết thống nhất khi trở về địa phương dạy lại từ quan đến dân lối chữ ấy. Tần ra chỉ dụ cấm đoán và trừng phạt khắt khe những ai còn nói giọng địa phương và viết chữ của dân tộc họ. Tuy nhiên, cư dân Bách Việt vẫn bảo lưu ngôn ngữ riêng của mình nên ngày nay, đồng bào miền nam Trung Quốc vẫn sử dụng những phương ngữ Bách Việt của mình.

 

Chữ Nôm khảm xà cừ dùng trang trí trên điếu ống thế kỷ 19-20 thời Nguyễn


Chữ Nho trên bộ bài dân gian Việt
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s