Các quốc kỳ trong lịch sử Việt Nam

Vừa qua, trên truyền thông bùng nổ câu chuyện về lá cờ của quốc gia từ xưa tới nay. Tôi dành chút thời gian đọc và tìm hiểu ra một số điều bổ ích thấy đáng ghi lại và chia sẻ. Mong bạn đọc góp thêm ý kiến!

Quốc kỳ là lá cờ đại biểu cho chủ quyền quốc gia, được các nước trên thế giới dùng từ thời cận đại. Trước thế kỷ 16, không tồn tại khái niệm  quốc gia dân tộcchủ quyền do đó nước ta không có quốc kỳ.

Tuy nhiên, các triều đại độc lập ở ta đã sử dụng hiệu kỳ để làm biểu tượng cho vương triều mình.

A. Thời kỳ phong kiến

Lá cờ Hai Bà Trưng (40-43):

Lá cờ triều Ngô (220-280):

Lá cờ nhà Đinh (968-980):

Lá cờ triều Lý (1010-1028):

Lá cờ triều Trần (1225-1400):

Lá cờ triều Lê (1428-1527):

Lá cờ nhà Mạc (1527-1561):

Cờ của chúa Trịnh (1570-1709):

Cờ của chúa Nguyễn (1600-1687):

Lá cờ triều Tây Sơn (1778-1788) (Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc):

Lá cờ triều Quang Trung (1788-1802): Quang Trung Đế Kỳ

Lá cờ triều Nguyễn (từ 1802): nền vàng tượng trưng cho Đất (tiên trú), viền lam tương trưng cho Nước (rồng ngụ), ở giữa còn có ngôi sao màu đỏ tượng trưng cho chính đạo, đỏ là phía Nam.

B.Thời kỳ thuộc Pháp (1883-1945):Thời kỳ Pháp thuộc (1883 – 1945): chính quyền bảo hộ Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương sử dụng lá cờ có nền vàng và ở góc trái trên cao là hình quốc kỳ Pháp, từ năm 1923 đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3 năm 1945.

Nam Kỳ dùng cờ Pháp hay còn gọi là cờ Tam Tài, còn tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ vẫn dùng cờ của nhà Nguyễn.

Đến năm 1885, sau khi vua Hàm Nghi bị bắt vì hiệu triệu chống Pháp, vua Đồng Khánh bị ép thay cờ. Triều đình Đồng Khánh dùng lá cờ mới có tên Đại Nam Kỳ: nền vàng với hai chữ Hán Đại Nam (大南) màu đỏ bị xoay ngang đối nhau.

Sau thời vua Đồng Khánh, vua Thành Thái vị vua có xu hướng cải cách đã bãi bỏ lá cờ Đại Nam, thay thành cờ Quẻ Càn nền vàng có ba sọc đỏ nên còn gọi là Cờ Vàng, mang tinh thần thống nhất ba miền, quốc gia độc lập với Pháp, Trung Hoa không thể phân tranh trong quốc gia độc lập. Lá cờ được dùng từ 1890 – 1920 đến cuối thời vua Duy Tân.

Giai đoạn cuối, từ năm 1920, Hoàng đế Bảo Đại ấn định dùng cờ Long Tinh (còn gọi là cờ Bắc Trung Kỳ) và được Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux chấp thuận.

Cờ quẻ ly: Sau khi Nhật đảo chính Pháp, hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập, thành lập chính phủ ngày 17-4-1945, đứng đầu là Trần Trọng Kim, quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam và dùng cờ Quẻ Ly trên lãnh thổ Bắc kỳ, Trung kỳ đến khi Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945.  Cờ mang quẻ Ly nói lên vị trí của một Quốc-gia ở phương Nam, tức nước NAM. Nền màu vàng (Hoàng Địa) có nghĩa là dân Việt làm chủ trên mảnh đất đó.

Cờ long tinh khi ấy được chỉnh sửa lại và dùng làm hoàng kỳ.

C. Thời kỳ từ 1945 tới nay:
Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa được dùng từ hiệu kỳ của Mặt trận Việt Minh dùng tại hang Pắc Bó 19-5-1941 (nền đỏ, ngôi sao vàng béo, choãi rộng) và chính thức thông qua làm quốc kỳ ngày 2 tháng 3 năm 1946 trong Hiến pháp đầu tiên. Nhiều tư liệu công bố, lá cờ này đã được sử dụng tại Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.

Có giả thuyết khá hợp lý cho rằng: Khi thiết kế quốc kỳ, cán bộ Đảng ta đã mô phỏng theo những lá cờ của các Đảng anh em, đặc biệt là sao vàng béo, choãi rộng. Ví dụ:

– Quân kỳ của Hồng quân Liên Xô có từ năm 1918.

– Quân kỳ của các đạo quân thứ 4, thứ 5 gia nhập Hồng quân Trung Quốc năm 1928. Năm 1931 Mao thành lập Chính phủ cộng hòa Xô-viết đầu tiên tại Thụy Kim, Giang Tây. Quân kỳ của Hồng quân công nông Trung Quốc với hàng chữ bên trái “Trung Quốc công nông hồng quân”. Hồng quân Trung Quốc dùng trong cả giai đoạn Vạn Lý Trường Chinh 1934-1935.

– Ngày 21/6/1925, Thanh niên, tờ báo đầu tiên của Cách mạng Việt Nam, cơ quan ngôn luận của  Thanh niên Cộng sản Đoàn (nòng cốt cho Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội sau này) ra số đầu tiên đã sử dụng ngôi sao là biểu tượng.

23-9-1946, Pháp gây hấn tại Nam Bộ và lấn chiếm lại. Pháp muốn tách lãnh thổ này khỏi Việt Nam nên lập ra Nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ. 7-5-1946, Chính phủ Nam kỳ tự trị do Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Nguyễn Văn Xuân làm phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quân đội. Cờ Nam kỳ màu vàng, 3 sọc xanh tượng trưng cho 3 sông lớn: Đồng Nai, sông Tiền và sông Hậu. Lá cờ dùng 2 năm thì Nam kỳ tự trị sát nhập vào Quốc gia Việt Nam.

7-12-1947, trên tàu chiến Pháp tại Hạ Long, Bảo Đại và Pháp ký hiệp ước lập Quốc Gia Việt Nam trên cơ sở độc lập, thống nhất trong Liên hiệp Pháp. Chính phủ lâm thời do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng.  8-3-1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée xác nhận nền độc lập của Việt Nam. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, sử dụng chính thức đến 26-10-1955, sau hiệp định Genève 1954 và cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Sau khi bầu cử quốc hội, quốc hội ban hành hiến pháp đổi tên nước thành Việt Nam Cộng hòa và lá cờ vàng ba sọc được dùng tiếp đến ngày 30-4-1975.

Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập với mục tiêu đấu tranh chính trị và vũ trang, chống Mỹ và tiến tới thống nhất đất nước, đã sử dụng hiệu kỳ cờ có nền gồm nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu xanh, ở giữa là sao vàng. Sau này năm 1969, chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập năm 1969 đã lấy hiệu kỳ này làm quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Về hình thức, lá cờ này tương đối giống lá cờ của Cộng hòa Trung Hoa lập tại tỉnh Phúc Kiến (1933-1934) là nước cộng hòa do phái tả chống Tưởng trong Trung Hoa Quốc Dân Đảng lập, chủ tịch là Lý Tế Thâm.

Năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam lấy quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ. Lá cờ đã sử dụng cho đến nay (trước đó bản chỉnh sửa đã được dùng từ tháng 11-1955).
Ý nghĩa của cờ được giải thích như sau: màu đỏ nền tượng trưng dòng máu đỏ/ màu cách mạng, màu vàng ngôi sao tượng trưng da vàng/ dân tộc Việt, và 5 cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh.

Ghi chú: Cách giải thích này cũng tương tự cách giải thích Quốc kỳ Trung Hoa (Ngũ Tinh Hồng Kỳ) ra đời năm 1949. Màu đỏ tượng trưng cho cách mạng. 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của 4 lực lượng nhân dân: giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc theo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng là ngôi sao lớn.

Theo FB: Bùi Quang Minh

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s