Việt Nam năm 1946 đầy biến động khó lường (phần 1)

Ngày 24/2/1946, tại Hội quán của Việt kiều tại Hà Nội, đại diện của Việt Minh và các đảng phái quốc gia thảo luận vấn đề tham chính. Một thỏa hiệp được ký kết chia thành phần chính phủ như sau này:

Tất cả 10 bộ trưởng: Việt Minh và đảng Dân chủ chiếm Bộ tài chính, giáo dục, giao thông, công chánh và tư pháp; Việt Quốc, Đồng Minh hội với bộ ngoại giao, kinh tế, canh nông và xã hội. Còn hai bộ quan trọng hơn hết là nội vụ và quốc phòng giao cho 2 nhân sĩ không đảng phái.

Một nhóm nhân sĩ quốc gia họp thành Ủy ban cố vấn, do cố vấn tối cao Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) làm chủ tịch.

Một Ủy ban kháng chiến gồm 9 người sẽ chỉ huy công cuộc phòng thủ Bắc Việt.

Ngày 25/2/1946, Việt Minh khởi sự tuyên truyền, loan báo cho dân chúng rằng:
Hôm rày, Chính phủ Việt Nam đã cùng Sainteny, thay mặt Pháp, đàm phán về việc Pháp nhìn nhận Việt nam độc lập. Và có Độc lập rồi, Pháp Việt sẽ hợp tác trong mọi vấn đề khác…

Pháp đã công nhận cho Việt Nam có Chính phủ, có Quốc hội, có quân đội, có tài chính riêng trong Liên hiệp Pháp.

Hai bên Pháp Việt đang đàm phán về việc ngoại giao, đặt đại sứ hay lãnh sự ở ngoại quốc.

Pháp Việt đã thỏa thuận về việc gây không khí thân thiện giữa hai dân tộc. Có vậy cuộc thương thuyết sẽ tiến hành mau lẹ“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa lần vấn đề “thỏa hiệp” với Pháp, đặng dọn đường hiệp tác… trong khi, bên cánh quốc gia cực lực phản đối, vì “chưa đánh sao lại đầu hàng”?

Không dọn sẵn con đường này, chừng ký kết hiệp ước, khó chịu đựng nỗi với các đảng phái quốc gia.

Đối nội, Hồ Chí Minh cải tổ chính phủ. Đối ngoại, với quốc dân Hồ Chí Minh lên tiếng trước. Trải qua 6 tháng, Bộ trưởng Bộ thông tin và tuyên truyền do Trần Huy Liệu cầm đầu không ngớt công kích Pháp, kêu gọi dân chúng phải sẵn sàng đnáh Pháp không để quân Pháp đổ bộ. Nay, cũng lại Trần Huy Liệu, đứng ra kêu gọi hợp tác với Pháp, tiếp rước Pháp đổ bộ sao? Thế là, Tổng bộ Việt Minh rút Trần Huy Liệu ra khỏi Chính phủ.

Bên phái Quốc gia luôn luôn chống sự hợp tác với Pháp, nên kêu gọi quần chúng đừng nghe lời Việt minh phải triệt để chống Pháp, không để quân đội Pháp đổ bộ.

Mặc dầu vậy, cánh quốc gia biết không đủ lực lượng chống Việt Minh, nên đoàn kết lại đòi cho được đứng trong Ủy ban Khánh chiến và tham gia Chính phủ, đặng kiểm soát việc làm của Hồ Chí Minh sau này và nhứt là không để cho Việt Minh hợp tác với Pháp.

Một ngày trước khi đạo chiến thuyền Pháp đổ bộ hải Phòng, Võ Nguyên Giáp triệu tập họp Quốc hội sớm 1 ngày so với lịch ngày 3/3/1946,.

Quốc hội nhóm họp từ 9h sáng tới 1h rưỡi trưa mọi vấn đề được giải quyết xong.

Quốc hội chấp nhận việc để cho Việt quốc và Đồng Minh hội 70 ghế và chấp nhận đề cử Chủ tịch Hồ Chí Minh, phó Chủ tịch Nguyễn Hải thần đứng ra lập Chính phủ mới, một Chính phủ Kháng chiến; Quốc hội cũng chấp nhận thành lập một Ủy ban cố vấn gồm nhiều nhân sĩ, dưới quyền chủ tọa của Vĩnh Thụy và một Ủy ban Kháng chiến.

Các đảng phái quốc gia đòi sửa đổi Hiến pháp, nên Quốc hội biểu quyết đề nghị cử một Ủy ban xem xét Hiến pháp lại.

Như vậy, Quốc hội mới, gồm thêm 70 ghế của các đảng phái quốc gia, đã đưa ra nhiều biện pháp, chế ngự bớt quyền hành của Việt Minh, như Ủy ban kháng chiến, Ủy ban cố vấn… Nhưng liệu có thể nào “kiềm” Việt Minh không?

Thì ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tính trước rồi. Dầu các đảng phái quốc gia có đòi hỏi gì nữa, Việt Minh vẫn chấp nhận hết.

Chấp nhận, đặng ký kết hiệp ước quân đội Pháp. và một khi có lực lượng Pháp ở Bắc Việt rồi, Việt Minh sẽ mượn lực lượng đó mà khủng bố tất cả các đảng phái đối lập.

Quốc hội bế mạc họp sau 300 phút, để rồi các nghị sĩ ai về quận nấy!

Chiều lại, ngày 2/3/1946, Chính phủ kháng chiến được công bố danh sách gồm có nhiều nhân sĩ quốc gia, nhiều bộ trưởng Việt Minh nhường chỗ lại cho Huỳnh Thúc Kháng, Chu Bá Phương, Bồ Xuân Luật, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh.

Chính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắt 2/3/1946

Chính phủ kháng chiến họp phiên đầu vào ngày 4/3/1946 để rồi đưa ra chương trình:
– Bảo vệ sinh mạng và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và ngoại quốc sống trên lãnh thổ Việt Nam
– Kết thân hữu với các đồng minh và đặc biệt với Trung Hoa
– Đối với các công dân Pháp, công dân Việt nam không hề có thù hằn gì hết. Nhưng cực lực chống chế độ thực dân, và bằng lòng hợp tác với chính phủ Pháp với nguyên tắc “dân tộc tự quyết” theo hiến chương Đại Tây Dương.

Với chương trình mới, chính phủ “kháng chiến” lại bảo vệ sinh mạng và tài sản của Pháp. Thứ hai, kết thân với đồng minh, tức là Pháp quốc, Thứ ba, không thù hằn với công dân Pháp. Như vậy chính phủ mới phản bội nhân dân, vì chỉ mấy tháng trước, Trần Huy Liệu chống Pháp triệt để không ngày nào không kêu gọi nhân dân đừng hợp tác với Pháp.

Vả lại, kêu gọi như vậy, có nghĩa là Chính phủ mới ở Hà Nội không nhìn nhận Nam Bộ. Vì Nam Bộ đã và đang kháng chiến. Pháp đang sát hại nhân dân Nam Bộ, hằng triệu người ở thủ đô và các châu thành ở tỉnh đều tản cư.

Không chịu hợp tác với quân địch. Những ai đứng ra làm việc với Pháp đều bị liệt vào hàng Việt gian; và những công chức đã làm việc với Pháp hồi trước 1945, nay đi tản cư, cũng bị lên án  tử hình, nhiều người bị sát hại, (mà được gọi là Tòa án nhân dân đã lên án).

Nay, Chính phủ mới ở Hà Nội làm như không biết tới nam bộ, không biết đồng bào Nam bộ đã bỏ Sài Gòn từ tháng 9/1945 cho tới tháng 3/1946, cũng chẳng mấy người về. Nhà cửa, phố phường… còn bỏ trống.

Hà Nội dọn đường rước quân đội Pháp và Chính phủ còn ra lịnh “bảo vệ sinh mạng và tài sản của Pháp” trong khi Pháp ở Nam bộ mở nhiều mặt trận giết đồng bào đoạt tài sản của những người đi tản cư chưa về.

Hà Nội không biết tới Sài Gòn, không biết tới công cuộc kháng chiến anh  dũng của toàn dân Nam Bộ, nên không còn ai ngạc nhiên. 2 ngày sau, Hồ Chí Minh ký hiệp ước 6 tháng 3, bỏ rơi Nam bộ hẹn sau này khi Pháp bình định xong, sẽ trưng cầu dân ý!

Cũng vì Hiệp ước 6 tháng 3 mà Đô đốc d’Argenlieu nhìn nhận Chính phủ Nam kỳ quốc.

Ngày 5 tháng 3, Sainteny và Hồ Chí Minh cũng chưa làm xong hiệp ước! Vì Pháp không chịu để danh từ “Độc lập” trong bản Hiệp ước. Còn Hồ Chí Minh thì lại sợ các đảng phái chống lại một Hiệp ước ký với Pháp mà không có hai chữ “Độc lập”.

Mà nay, còn có 1 ngày, tướng Leclerc sẽ dẫn đạo chiến thuyền tới Hải Phòng, hiện thời đã thấy thấp thoáng ngoài biển.

… Bộ tham mưu tướng Lư Hán gặp tướng Salan nói chuyện từ 9h tối twois 4 giờ sáng – trường trải 7 giờ không sao giải quyết được.

Bộ tham mưu của Lư Hán nhấn mạnh rằng:
– Chúng tôi không phải như Anh quốc, mà để cho quân đội Pháp thay thế dễ dàng như vậy được! ( Ý nói trường hợp Pháp thế chân quân đội Anh ở Nam kỳ)

Họ viện lẽ:
– Nếu chúng tôi để cho Pháp đổ bộ, thì nhân dân Việt nam sẽ giận chúng tôi. Họ sẽ trả thù bằng cách khủng bố những Hoa kiều đã sống làm ăn yên ổn ở Bắc Việt lâu nay.
Vả lại, chúng tôi không thể để Pháp đổ bộ, một khi Pháp chưa thỏa hiệp với Việt nam.

Bộ tham mưu của Lư Hán nói vậy với Pháp. Còn Tiêu Văn – cũng người của Lư Hán – lại nói nhỏ với Hồ Chí Minh.

– Đừng gấp ký hiệp ước với Pháp: không có gì lo ngại một khi quân đội Trung Hoa còn ở đây.

Như vậy, rõ ràng Trung Hoa còn có ẩn ý gì.

Đã vậy, ngày 5/3 bộ Tham mưu Trung Hoa ở Hà Nội lại được tin điện của Trùng Khánh, ra lịnh chống Pháp, một khi Pháp đổ bộ.

Đại diện của Pháp mới từ giã Bộ Tham mưu Trung hoa hồi 4h sáng, thì vào 5 h chiều hai bên Pháp – Trung hoa hội đàm nữa.

Những giờ phút nghiêm trọng sắp đến; đạo chiến thuyền của tướng Leclerc đã rời Vịnh Bắc bộ, đêm nay sẽ vào Hải Phòng.

Nếu đêm nay, không giải quyết xong, ngày mai sẽ có chiến tranh, những tướng lĩnh Trung Hoa sẽ hoàn toàn chịu hết trách nhiệm.

Trong lúc phái đoàn tướng Salan đàm phán ở Bộ tham mưu Trung Hoa thì đêm đó phái đoàn chính trị tướng Sainteny và Pignon ở cận ông Hồ Chí Minh. Vào gần 12 giờ khuya, phái đoàn Sainteny ra về, nói lời chót với Hồ Chí Minh:
– Chúng tôi tha thiết yêu cầu ông suy nghĩ lại. Ngày mai mọi việc sẽ trễ hết.

… Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ làm sao không biết mà vào lúc hừng đông, Hoàng Minh Giám – đại diện Hồ Chí Minh – hấp tấp đến nhà Sainteny cho hay: Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng lòng các điều kiện.

Thế là Hoàng Minh Giám và Sainteny hẹn 12h trưa, sẽ gặp nhau để nghiên cứu bản Hiệp ước. Rồi vào 4h chiều sẽ ký kết…

Hoàng Minh Giám ra về.

Vào lúc đó, chiến hạm Triomphant đi lần vào bến Hải Phòng, qua khỏi Lục Đầu Giang.

Vào lúc 8h rưỡi, khi những chiếc tàu nhỏ của Pháp sắp sửa đậu vào cầu tàu Hải Phòng, nhiều loạt súng đại bác từ trên bờ bắn xối xả. Một chiếc tàu nhỏ bị bắn trúng, ngùn ngụt cháy.

Chiến hạm Triomphant cũng bị đại bác bắn thiệt hại nặng, nhiều thuỷ thủ chết và bị thương. Một trái đại bác bắn trúng giữa tàu: 24 người chết.

Chờ 20 phút, tướng Valluy chờ đợi tướng Leclerc ra lệnh. Valluy nổ súng phản công. Đại bác lòng 138 nhả đạn…

Nhiều trái phá rớt ngay bến tàu và kho đạn của quân đội Trung Hoa. Lửa bốc cháy nguyên kho đạn mà tướng Tàu định chở về Mãn Châu…

Không khí nặng nệ như vậy, làm sao tin chắc Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ký hiệp ước?

… Đúng hẹn, 4h chiều tại biệt thự của Tổng giám đốc ngân khố, trước mặt các nhà quan sát Mỹ, Anh, Trung Hoa, Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh ký kết hiệp ước sơ bộ với Sainteny.

Tại sao có Vũ Hồng Khanh?

Những điều kiện của Pháp: “Phải có đại diện của Đảng phái – đối lập với Việt Minh – ký kết hiệp ước. Như vậy, Hiệp ước mới có giá trị, không lo ngại bị phản đối“.

Thế là Pháp biết rõ nội bộ của Việt Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Vũ Hồng Khanh là người của Việt nam Quốc dân đảng, đứng ký kết hiệp ước là như vậy.

HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ VIỆT MINH – PHÁP (6-3-1945)

1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, có Quốc hội, có Quân đội, có tài chính và có chân trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Riêng về việc kết hợp 3 “Kỳ”, Chính phủ Pháp cam kết xác nhận những quyết định của việc trưng cầu dân ý

2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp quân đội Pháp một cách thân thiết khi nào quân đội Pháp áp dụng theo hiệp ước Quốc tế, mà thay thế quân lính Trung Hoa. Một hiệp ước phụ thuộc kèm theo điều ước sơ bộ sẽ chỉ định thể thức công việc thay thế.

3) Các điều lệ nói trên sẽ được tức khắc thi hành triệt để liền sau khi ký hiệp ước, Chính phủ Pháp cũng như Việt phải dùng mọi phương tiện cần thiết để chấm dứt ngay những cuộc phản đối, giữ nguyên quân lính tại vị trí của nó gây một bầu không khí thuận tiện cần thiết để mở ngay cuộc thương thuyết thân thiện và thành thật.

Cuộc thương thuyết này sẽ đề cập:
– Nhứt là việc liên lạc ngoại giao của Việt nam với các quốc gia ngoài
– Điều lệ tương lai của Đông Dương

Những lợi ích kinh tế và văn hóa Pháp ở Việt Nam. Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể chọn làm nơi mở cuộc hội nghị.

Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946
Ký tên
Sainteny, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh
(Theo Hồi ký 1925-1964, nhà báo Nguyễn Kỳ Nam, tập II: 1945-1954)

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng P.M. Leclerc và Ủy viên CH Pháp tại Việt Nam – J. Sainteny tại Bắc Bộ phủ ngày 18.3.1946

Việt Nam năm 1946 đầy biến động khó lường (phần 2)

Cao ủy d’ Argenlieu bay qua Paris, vào lúc tướng De Gaulle buông chính quyền giao cho các đảng phái tấn phong một thủ tướng mới. Ông ta bày tỏ cảm tưởng cho Marius Moutet, tổng trưởng Bộ thuộc địa biết qua tình hình chính trị Đông Dương…

Đoạn ông bay về Sài Gòn và tới đây ngày 2/3/1946. Như vậy, ngày 2/3/1946 là ngày đạo chiến thuyền của tướng Leclerc đã ra khơi rồi, và đang lênh đênh ngoài biển Đông, tiến ra Hải Phòng.

D’ Argenlieu để cho tướng Leclerc hoàn thành dự tính của Leclerc, không xen vào công cuộc bình định Bắc kỳ, bằng lối thương thuyết. Nhưng trước nhiều người, ông nói rằng:

“Về ý nghĩa thành lập Liên bang Đông Dương, thì… Hiệp ước 6 tháng 3, là một Hiệp ước tốt.

Về quốc tế, thì Hiệp ước 6 tháng 3 rất đúng với chủ trương của Hiến chương Đại Tây Dương để “dân tộc tự quyết”.

Pháp nhìn nhận Bắc kỳ là một quốc gia Tự Do, trong Liên bang Đông Dương, trong khối Liên hiệp Pháp, tức là để các … “dân tộc” Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ  tự do trưng cầu dân ý có muốn thống nhất hay mỗi xứ sẽ chia ra tự trị…

Nói thế nhưng cạnh bên Cao ủy có tham biện Langlade. Ông này cùng một ý niệm với Cao ủy, muốn lập Nam kỳ quốc dùng võ lực bình định Nam kỳ. Bởi vì Nam kỳ có nhiều đồn điền cao su như “Đất Đỏ” chẳng hạn – của nhóm Rivaud nên nhiều người tán thành bình định Nam kỳ đặng gìn giữ quyền lợi của các chủ nhân đồn điền cao su.

Ngày 8 tháng 3, Võ Nguyên Giáp yêu cầu ngưng chiến ở Nam Bộ đúng theo tinh thần của Hiệp ước sơ bộ. Ấy vậy, ở đây phải tổ chức một ủy ban Pháp – Việt, đặng vào Sài Gòn tìm cách đình chiến.

Tướng Leclerc trả lời cho Võ Nguyên Giáp rằng:
– Việc ngưng bắn ở Nam kỳ sẽ lần lần thực hiện, do nhà cầm quyền Nam kỳ, chúng ta không thể xen vào nội bộ của Nam kỳ.

Leclerc dự định việc ngưng bắn như thế nào?
“- Quân lính Bắc kỳ đang đánh ở Nam kỳ sẽ được trả về Bắc kỳ với khí giới của họ.
Còn quân lính Nam kỳ thì sẽ được gởi “khí giới một nơi đã định” đến những toán võ trang không hợp pháp sẽ bị đánh cho đến khi tước hết khí giới của họ”.

Leckerc nhấn mạnh:
– Từ nay đến ngày trưng cầu dân ý ở Nam kỳ, chánh phủ Hà Nội không quyền xen vào nội bộ Nam kỳ.

Các tướng lĩnh Pháp ở miền Tây Nam Bộ thi hành Hiệp ước Sơ bộ bằng cách ngưng chiến, có nghĩa là phải đầu hàng không điều kiện: Phải nạp khí giới cho Pháp!

Cesdille nghe vậy, liền tuyên bố:
– Hiệp ước Sơ bộ 6 tháng 3 không “ăn thua” gì với Nam kỳ quốc và miền Nam Trung kỳ, nghĩa là từ vĩ tuyến trở vào Nam.

“Như vậy, không có vấn đề ngưng chiến”.

Chính phủ Hà Nội mượn cớ để công kích Leclerc do báo chí Việt ngữ nêu ra khẩu hiệu: “Pháp! Một mặt hai lòng!”

Mặt khác, Võ Nguyên Giáp ra lịnh cho các bộ đội ở Nam bộ, cứ tiếp tục kháng chiến đừng để Pháp tước khí giới bằng bất luận biện pháp nào.

Do lịnh của Võ Nguyên Giáp những toán dân quân võ trang mà trước kia làm những việc bất chánh ở Nam Bộ nay cải tà nhập vào các bộ đội chánh quy, dưới quyền tướng Nguyễn Bình.

Tướng Leclerc hay được tin này, liền công khai tuyên bố: Hủy bỏ các chỉ thị của Cédille. Nhưng việc đã muộn rồi: Nam bộ kháng chiến thi hành mệnh lịnh của Võ Nguyên Giáp, đã không đầu hàng mà còn đánh du kích khắp nơi.
Quan điểm của Leclerc khác hẳn Cao ủy d’ Argenlieu!

Cao ủy đã đánh điện về Paris nói rằng: “Chậm chậm, thời gian sẽ giúp ta thành công. Bây giờ, Leclerc đã bố trí ở khắp địa điểm ở Bắc kỳ rồi. Như vậy, Việt Nam sẽ dịu bớt đòi hỏi…”

Câu này biểu lộ rõ rệt ý chí của Cao ủy. Trước kia, định đem quân đánh Bắc kỳ. Nhưng khi Leclerc thỏa thuận lỡ rồi, bây giờ tính tới việc dùng võ lực uy hiếp chính phủ Hà Nội.

Cao ủy d’ Argenlieu chỉ muốn chia Đông Dương làm 5 xứ, mỗi xứ sẽ chịu dưới quyền cai trị của chính phủ Liên Bang.

Làm sao cho chính phủ Hà Nội đừng phản đối?

Cao ủy hỏi ý kiến Paris.

Tổng trưởng Moutet cho chỉ thị: “trước khi phái đoàn Việt Nam sang Paris, phải làm cách nào có một Hội nghị… sơ bộ để thảo luận trước, rồi Hội nghị ở Paris sau…”

Cao ủy liền tìm cách liên lạc với Hồ Chí Minh đặng thăm dò ý kiến lãnh tụ Việt Minh.

Có Sainteny làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội.

Hãy nhờ Sainteny sắp đặt cuộc hội kiến.

Biết Hồ Chí Minh không dám tiếp Cao ủy tại Hà Nội, nên đề nghị hai người gặp nhau ở Vịnh Hạ Long, do lời mời chính thức của Cao ủy.

Hồ Chí Minh bằng lòng.

Sainteny đánh điện cho Cao ủy d’ Argenlieu hay. Ông này thừa dịp biểu dương lực lượng hải quân do mình chỉ huy.

Đoàn chiến thuyền Pháp tới Vịnh Hạ Long ngày 23 tháng 3, tức sau 17 ngày Hiệp ước Sơ bộ.

Sainteny liền mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chung ra vịnh Hạ Long.


Hồ Chí Minh và Sainteny trên thuỷ phi cơ bay ra Hạ Long gặp D Argenlieu 24-3-1946 

Hồ Chí Minh sẽ “mắc lầm” Cao ủy d’ Argenlieu để chấp thuận một đề nghị bất lợi cho Việt Nam trên chiến hạm Emile Bertin.

Sainteny cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chung chiếc thủy phi cơ Catalina, từ giã phi trường Gia Lâm bay sang vịnh Hạ Long.

Cao ủy ở trên chiến hạm Emile Bertin tiếp đón Hồ Chí Minh. Bên Pháp, có đại tướng Leclerc và những cộng sự viên thân tín của Cao ủy. Bên Việt, có Hoàng Minh Giám và Nguyễn Tường Tam.

Sự tiếp đón long trọng theo nghi thức.

Chiều lại, phái đoàn Việt Nam dự một cuộc biểu dương lực lượng hải quân Pháp. Rồi hai bên nhóm lại, thảo luận chương trình Hội nghị Việt – Pháp.

Họp tại Sài Gòn, Hà Nội hay Paris theo điều kiện của Hiệp định Sơ bộ?

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Paris. Cao ủy muốn họp hội nghị tại Đà Lạt. Hai bên bất đồng ý kiến.


Sáng  24-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng tướng Leclerc dùng máy bay từ Hà Nội ra tuần dương hạm Emile Bertin đang thả neo tại Vịnh Hạ Long.Cùng đi, về phía Việt Nam có Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám; phía Pháp có Tướng  Raoul Sallan.

Nhân dịp này Cao ủy có mời Lư Hán vào ngày 25 tháng 3 nên mọi việc phải giải quyết trong nội chiều 25, đặng tối lại sẽ đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.

Cao ủy nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Phải tôi cũng muốn hội nghị sẽ nhóm ở Paris, tôi đồng ý về việc đó. Nhưng, trước khi đi Paris, tôi tưởng nên nhóm Hội nghị sơ bộ tại Đà Lạt để hai bên Pháp – Việt hiểu biết đại cương của Hiệp ước thiệt thọ sẽ ký kết tại Paris. Bằng không có Hội nghị sơ bộ ở Đà Lạt hai bên gặp nhau liền tại Paris, tôi e sẽ không hiểu biết nhau.

Hồ Chí Minh thấy đề nghị này cũng không có gì trở ngại. Vả lại, Cao ủy lại còn đề nghị:
– Tôi tưởng Chính phủ Việt nam nên cử một phái đoàn thân hữu gồm 10 dân biểu Quốc hội để qua Paris đưa lời chào mừng Quốc hội Pháp.

Hồ Chí Minh… chịu nốt!

Tối lại, Cao ủy cho đưa Hồ Chí Minh về Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam cùng đi trên chiến hạm “La Gloire”

Sau cuộc gặp gỡ này, Sài Gòn – Hà Nội trao đổi thơ từ để thông cáo chính thức việc nhóm Hội nghị sơ bộ tại Đà Lạt.

Nhiều lần do dự sau rồi hai bên Pháp Việt chấp thuận thông cáo sau đây:

“Điều 1. Thượng tuần tháng 4, một phái đoàn thân hữu gồm 10 dân biểu của Chính phủ Việt Nam sẽ qua Paris, đem lời chào mừng của Quốc hội Việt Nam gởi sang Quốc hội Pháp.

Điều 2. Cũng ngày đó, một phái đoàn Pháp, đặt dưới quyền chủ tọa của Đô đốc d’ Argenlieu, họp Hội nghị sơ bộ tại Đà Lạt với phái đoàn Việt Nam, dưới quyền Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay đại diện của người.

Điều 3. Hội nghị sơ bộ Đà Lạt sẽ thảo luận các vấn đề trước khi sang Paris, càng sớm càng tốt, trễ lắm là hạ tuần tháng 5.”

Sainteny được lịnh sang Pháp trước để bàn tính cuộc tiếp rước, phái đoàn Việt nam đi dự Hội nghị và nhứt là chương trình tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sainteny giao quyền Cộng hòa Ủy viên Pháp tại Bắc Việt cho tướng Valluy, chỉ huy trưởng đệ cửu sư đoàn lục quân thuộc địa.

Đoạn Sainteny bay vô Sài Gòn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy d’ Argenlieu mới “thân mật” nhau tại Vịnh Hạ Long ngày 24-3 thì qua 2 ngày sau, tức ngày 26 tháng 3, Sài Gòn dự bị lập Chính phủ Nam kỳ quốc!

Hội nghị Tư vấn Nam kỳ họp Hội nghị ngày 26 tháng 3, biểu quyết:

Đề cử Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng Nam kỳ quốc.

Có 10 hội viên Hội đồng tư vấn dự phiên biểu quyết, có 8 hội viên “không ý kiến” tức bỏ thăm trắng.

Tướng Nguyễn Bình liền ra lịnh khủng bố.

Hai nghị viên Bác sĩ Trần Tấn Phát bị bắn ngày 29 tháng 3, Nguyễn Văn Thạch bị thủ tiêu ngày 3 tháng 4. Bốn ngày trước sau Hội nghị Tư vấn mất hai nghị viên làm sao không chấn động nhân tâm?

Hai cái chết của nghị viện Hội đồng Tư vấn Nam kỳ lại càng làm cho những nghị viện còn sống, không biết giờ nào tới phiên mình cũng bị thủ tiêu như Phát, như Thạch.

Nguyễn Bình ngày càng tăng thêm khủng bố để trả lời gián tiếp Pháp.

Trước ngày Cao ủy gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hạ Long – đúng vào ngày 14-3 – Tổng trưởng Moutet “long trọng” tuyên bố trước… thế giới rằng “Nam kỳ sẽ có một chế độ riêng” mà thông tến AFP ở Sài Gòn đã loan báo lại càng làm cho dân chúng phẫn uất thêm nữa. Nguyễn Bình đưa giáo sư Phạm Thiều, luật sư Lê Đình Chi, Nguyễn Văn Chương về Sài Gòn, liên lạc với các phần tử yêu nước, tổ chức nhiều ban Công tác ở thành để tuyên truyền chống Pháp bằng cách khủng bố những phần tử  hợp tác với Pháp.

7 ban Công tác thành bộ vì không chọn được người có tinh thần yêu nước hợp tác nên họ phải kêu gọi một số lưu manh ra giúp thành thử bọn lưu manh mới thừa dịp trả thù, hoặc thỏa mãn lòng tham lam hay dục vọng bằng mọi thủ đoạn: cướp của, hiếp dâm, hay làm tiền đủ cách.

Cũng vì bọn lưu manh này xen vào ban Công tác mà nhiều người chỉ huy bị bắn và bị giết, vì vô tình đặt tín nhiệm nơi họ.

Tướng Nguyễn Bình khủng bố hay phục kích hoặc đánh du kích bao nhiêu lần thắng Pháp đi nữa, Cédille vẫn cứ tiến tới việc thành lập Nam Kỳ quốc cho kỳ được mới chịu.

Những người Việt ra làm cho Pháp, liền bị những ban Công tác ở thành thủ tiêu. Mỗi lần giết một ai, Nguyễn Bình ra lịnh treo bản án Việt gian ở mình người bị thủ tiêu kể hết tội trạng của người thọ tử hình.

Ở đồng ruộng, hương cả, hương quản… của ban Hội tề ra làm việc đều bị giết.

Cédille vẫn không ngán…

Hội nghị Đà Lạt khai mạc ngày 17-4-1946

Phái đoàn Việt Nam do Nguyễn Tường Tam cầm đầu, gồm có Võ Nguyên Giáp, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền, Trịnh Văn Bính, Nguyễn Mạnh Tường, Cù Huy Cận, Nguyễn Văn Huyên, Dương Bạch Mai.

Phái đoàn Pháp gồm những nhân viên ở Pháp qua, vì tại Vịnh Hạ Long Hồ Chí Minh yêu cầu Cao ủy đừng gởi phái đoàn gồm những Tây… cũ thực dân, trước có ở Đông Dương, – do Max André, Mesmer Bousquer, Bourgoin, d’ Arcy, Pierre Gourou, Leson Pignon, Albert To al, Clarac, Conon, Ner, Guillonton, Salan.

Người ta thấy phái đoàn Việt Nam gồm 10 người, còn phái đoàn Pháp đến 12 người.

Nhưng hai ngày sau: có Bác sĩ Thạch và bác sĩ Tung ở Sài Gòn lên sau để tăng cường phái đoàn Việt nam.

Hai bên Việt – Pháp họp tại trường học Yersin Đà Lạt.

Trước hết, phải đồng ý về một chương trình.

Pháp thì đưa ra các vấn đề phụ thuộc như kinh tế, quân sự, văn hóa.

Phái đoàn Việt nam đưa vấn đề Nam bộ ra giải quyết trước, và nhấn mạnh:

– Không giải quyết vấn đề chính trị thì không giải quyết vấn đề nào được.

Phái đoàn Pháp trả lời:
– Chúng tôi không quyền giải quyết, mọi việc chỉ liên quan giữa chính phủ Pháp – Việt mà thôi.

Họ nhấn mạnh:
– Chúng tôi không nhiệm vụ thảo luận về việc đình chiến ở Nam kỳ. Hơn nữa, ở Nam kỳ, chỉ có những việc tảo thanh do cảnh sát dẹp loạn mà thôi, chớ không có trận đánh lớn.

Tức thì, tướng Võ Nguyên Giáp đứng lên nói:
– Ai nói ở Nam bộ không có chiến tranh, người đó, quả thật là thách đố với sự thật. Bảo rằng: những người kháng chiến ở Nam bộ là những kẻ trộm cướp bất lương, bởi vì ra bưng biền rừng núi đặng kháng chiến với võ khí thô sơ, đi chân không – thì chúng tôi hỏi 50 ngàn người Pháp kháng chiến chống Đức, phải gọi họ như thế nào? Đến Đài phát thanh Sài Gòn, thường gọi kháng chiến quân là Việt Minh. Thật ra thì những người kháng chiến đó là toàn dân kháng chiến, chớ không riêng một đảng phái nào.

Hội nghị Đà Lạt thấy gay cấn ngay từ lúc đầu. Như vậy, làm sao thỏa thuận nhau được?

Đã vậy, bao nhiêu gay cấn ở ngoài Hội nghị, mỗi ngày mỗi diễn biến thêm, bằng cớ là xưa nay quân đội Trung Hoa ở Hà Nội không bao giờ bắn vào quân đội Pháp. Thế mà ngày 21 tháng 4 – sau 4 ngày khai mạc Hội nghị – một chi đội của bộ Chiến tranh của quân đội Lư Hán xả súng bắn vào một toán lính Pháp không võ trang.

Mười một người lính Pháp tử trận và nhiều người bị thương. Phải mất nhiều giờ mới dàn xếp xong.

Pháp cho rằng quân đội Trung Hoa khiêu khích đặng ủng hộ Hội nghị Đà Lạt.

Đến, Nguyễn Bình tấn công ở Nam bộ, Pháp nói: Chúng tôi bắt được tài liệu chắc chắn rằng chính Nguyễn Bình tổ chức đốt kho đạn Sài Gòn ngày 19 tháng 4. Bốn ngàn tấn đạn dược bị thiêu hủy.

Một bằng chứng khác của Việt nam đưa ra: Cao ủy muốn tách Nam bộ ra, để lập Nam kỳ quốc. “Bằng cớ là phái đoàn Thiện Chí ở Hà Nội được mời sang Paris để chào mừng Quốc hội Pháp”.

Phái đoàn này vừa từ giã Hà Nội, ngày 23-4, thì cùng ngày đó Cédille đưa một phái đoàn Thông Tin sang Paris, để đòi tách nam kỳ lập ra Nam kỳ quốc.

( Phái đoàn Thiện Chí Hà Nội gồm có: Phạm Văn Đồng cầm đầu phái đoàn với Trần Ngọc Danh, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Luyện, Trịnh Quốc Quang, Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiếng, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Tấn Gi Trọng.

Phái đoàn Thông Tin Sài Gòn gồm có: Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Bazé, Kresser và Đốc phủ Chấn – Tổng thơ ký Hội Đồng Tư vấn Nam kỳ. Mà Hội Đồng Nam kỳ đã biểu quyết 8 thăm thuận, 2 thăm “không ý kiến” đề cử Bác sĩ Thinh làm Thủ tướng Nam kỳ quốc)

Bao nhiêu vấn đề khác của Cao ủy D’ Argenlieu đều có ý nghĩa: thi hành Tuyên ngôn 24 tháng 3 năm 1945 chia Đông Dương làm 5 xứ với 5… Chính phủ.

Đây lập trường Việt và Pháp khác hẳn nhau và làm sao dung hòa được?

Việt Nam đinh ninh Pháp đã nhìn nhận là một nước tự do, tức là một nước độc lập; còn Liên bang Đông Dương không khác nào một cộng đồng của các nước liên hiệp; bằng nhau về quyền, cũng như về phận sự. Còn Pháp đối với Việt cũng như hai nước liên hệ bởi luật lệ quốc tế.

Việt Nam phải có ngoại giao riêng.

Pháp thì nghĩa khác:
Khi nhìn nhận Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp có nghĩa là Việt Nam chịu sự “cai trị” của Liên bang Đông Dương. Mọi việc gì phải dưới quyền Liên bang Đông Dương.

Về văn hóa, Pháp sẽ mở trường dạy chữ Pháp, phát cấp bằng Pháp.

Việt Nam trả lời, việc học vấn, Việt Nam trọn quyền học chữ Việt. Tất cả trường học của Pháp phải giao hết cho Việt nam, vì tiền xây cất trường học là do thuế má của người Việt đóng góp tám chục năm nay, như: trường Đại học Đông Dương, trường Viễn Đông Pháp và những viện Pasteur phải giao cho Chính phủ Việt Nam.

Về mặt kinh tế, Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Pháp để khuếch trương kinh tế. Hợp tác như vậy, có nghĩa là Pháp đem vốn qua Việt Nam đặng mở mang những nguồn lợi thiên nhiên của xứ sở; cũng như một cuộc hợp tác quyền lợi vậy.

Đến như, về đồn điền cao su, ruộng đất của Pháp phải bắt buộc giao lại cho Việt Nam mua với giá phải chăng. Những cơ sở của Pháp trên xứ này chia ra 2 hạng; một hạng như đã được Phủ Toàn quyền Đông Dương ngày xưa cho khai khẩn; một hạng khác, có ý nghĩa về quyền lợi công cộng thì không quốc hữu hóa.

Phái đoàn Pháp do Bourgoin đứng lên phản đối ngay:
– Phải lập lại tình hình nguyên vẹn trước ngày Nhựt đảo chính. Phải bồi thường cho Pháp những gì bị cuộc cách mạng làm hư hại.

Bourgoin lập lại những điều kiện của Tuyên ngôn 24 tháng 3 năm 1945 *)
Thế là lập trường của Việt – Pháp còn cách nhau xa.

Đến vấn đề Nam Bộ, phiên nhóm chót, đem ra thảo luận lại. Phái đoàn Việt nam do Hoàng Xuân Hãn đứng lên nói rất xúc động; xúc động đến ứa lụy.

– Lấy lực lượng mà giải quyết Nam bộ, chúng tôi tin rằng không thành. Tại sao lại cắt thân thể của một nước Việt nam ra? Tôi cầu xin cho hòa bình mau trở lại ở Nam bộ, dầu cho một nhóm người thù ghét quê hương của họ đến đâu, phần đất Nam bộ ấy sớm muộn sẽ trở về Việt Nam.

Phái đoàn Việt đứng dậy ra về ai ai cũng xúc động, nước mắt lưng tròng…

Hai phái đoàn Việt – Pháp chia tay ngày 12 thyansg 5 năm 1946. Hội nghị kết thúc.

Trở lại việc 2 phái đoàn khác – một phái đoàn Thiện Chí của chính phủ Hà Nội và một phái đoàn khác, gọi là phái đoàn Thông tin của Nam kỳ sang Pháp – hai phái đoàn qua Pháp để làm gì?

Ngày 26 tháng 5, phái đoàn Thông Tin về tới Tân Sơn Nhứt, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân tuyên bố:
– Phái đoàn đi Paris đã thâu nhập được nhiều kết quả tốt đẹp. Chúng tôi có đi thăm các đảng phái chính trị và được nhiều nhà chính trị tiếp đón.

Ông Đốc phủ Chấn đã được Thủ tướng Gouin tiếp và nói: “Chính phủ Pháp luôn luôn để ý tới Nam kỳ. Còn với Bộ trưởng bộ thuộc địa Moutet thì ông này tuyên bố rằng: “Tôi sẵn sàng nhìn nhận lập trường của Nam kỳ quốc”…

Đó, kết quả của phái đoàn Thông Tin Nam kỳ quốc.

Còn phái đoàn Thiện Chí của Chính phủ Hà Nội?

Trước hết, Chính phủ Hà Nội cử Nguyễn Tường Tam cầm đầu phái đoàn sang Paris, nhưng Tam từ chối, viện lẽ… nóng lạnh, Chính phủ mới đề cử Phạm Văn Đồng.

Nguyễn Tường Tam không tham gia đoàn mà giả đau ở lại Hà Nội, vì Tam biết cuộc đi Pháp này không đem lại kết quả mong muốn nên thà ở lại đối phó với Việt Minh vì tình thế ngày một găng giữa Việt Minh với các Đảng chính trị, mà nhứt là Việt Quốc. Tam đã rời bỏ Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, sang Trung Quốc lưu vong từ tháng 5 năm 1946.

Sainteny viết: “Phái đoàn Việt Nam tới Paris ngày 26 tháng 4 được hai nghị viên và nhiều nhân vật cao cấp đón tiếp. Phái đoàn ở lại Paris đến ngày 16 tháng 5 mới về nước.

Họ ở Paris không mục đích nào khác hơn là tiếp xúc các giới và được nhiều giới tiếp rước nồng hậu. Trước khi lên máy bay tại phi trường Bourger, phái đoàn Việt Nam liền họp lại hát bản quốc thiếu Pháp, “La Marsei llaise”.

Phạm Văn Đồng ở lại Pháp luôn, đặng dự Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau sau này.

Trước một số dân chúng Pháp tại phi trường Borget, phái đoàn Việt nam hát bản Marseillase làm chấn động dư luận. Ai cũng hỏi thăm, nên báo chí cộng sản – lúc đó còn xuất bản khá – báo nào cũng đề cao phái đoàn.

(Còn nữa)  

———————
*) Về vấn đề Việt Nam gia nhập Liên Bang Đông Dương, đó chỉ là một danh xưng được Tổng Thống Charles de Gaulle nêu lên trong cái gọi là Bản Tuyên Ngôn 24/3/1945, chứ trong thực tế  chưa có một văn kiện pháp lý nào nói về cái tổ chức chính trị này. Sự kiện này được Cụ Hoàng Cơ Thụy nói rõ trong sách Việt Sử Khảo Luận với nguyên văn như sau:

Căn bản pháp lý của cuộc thảo luận (chứ không phải thương thuyết) là Hiệp Định Sơ Bộ Ngày 6/3/1946  Hiệp định ấy chỉ đưa ra những nguyên tắc tổng quát, như “Việt Nam tự do trong Liên Bang Đông Dương” và “Liên Hiệp Pháp”, “trưng cầu dân ý để thống nhất ba kỳ”, “đình chiến lập tức”, v.v.. song không vạch rõ mọi chi tiết thực hiện những nguyên tắc ấy. Bởi vì hôm 6/3/1946, cả hai bên đều thiếu thì giờ để kỹ càng thảo luận mà có lẽ cũng muốn mơ hồ để dễ dàng ký kết.

Mơ hồ nhất là hai tổ chức Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp, bởi vì chưa có một văn kiện chính thức nào ấn định quy chế hai tổ chức này.

Về Liên Bang Đông Dương, Pháp chỉ mới có Bản Tuyên Ngôn 24/3/1945 của Tướng De Gaulle mà về mặt pháp lý không có một chút giá trị gì.

Về Liên Hiệp Pháp, thì đến ngày 19/4/1946 (đúng ngày họp đầu tiên của Hội Nghị Đà Lạt) ở bên Pháp mới có một bản dự thảo Hiến Pháp mà đến ngày 5/5/1946 Quốc Hội Lập Pháp bỏ phiếu chống! Phải đợi bầu cử một quốc hội lập hiến, quốc hội này sẽ biểu quyết bản dự thảo hiến pháp mới, bản văn này sẽ được quốc dân Pháp chấp nhận hôm 3/10/1946, chừng đó, người ta mới biết quy chế Liên Hiệp Pháp ra sao.”

Việt Nam năm 1946 đầy biến động khó lường (phần 3)

Sainteny về Paris

Sainteny ở lại Paris làm việc gì, khi mà… ông cần có mặt tại Hà Nội với tư cách Cộng hòa Ủy viên Pháp?

Chính phủ Gouin còn cầm quyền, nên mời Sainteny ở lại, đặng tổ chức cuộc tiếp rước Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ từ giã Hà Nội ngày 31 tháng 5.

Nhưng, mấy hôm  sau Chính phủ Gouin bị lật đổ. Bidault được mời tổ chức nội các.

Sainteny sợ hai máy bay chở Hồ Chí Minh, tướng Salan và phái đoàn Việt Nam tới Paris trong lúc Pháp chưa có Chính phủ, nên ông ta liên lạc với hai máy bay, đặng máy bay đáp xuống Biarritz, Sainteny liền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh hay rằng: nên ở Biarritz chờ lập Chính phủ mới, mới tiếp rước chánh thức được.

Hội đồng nội các của chính phủ Bidault cũng đồng ý yêu cầu Sainteny sắp đặt việc ăn ở cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bidault giao Sainteny đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh xa cuộc Hội nghị đặng khi xảy ra việc gì sẽ có Sainteny liên lạc với Hồ Chí Minh. Và Bidault còn nhấn mạnh “tất cả công cuộc liên lạc với Chính phủ Pháp với Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đi ngang qua Sainteny”.

Ngày 12 tháng 6 Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt nam tới Biarritz.


Sainteny tiếp Hồ Chí Minh trong một bữa tiệc.

Sainteny thành thật nhìn nhận rằng: “Hội nghị Fontainebleau sớm muộn cũng thất bại. Vì khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông được biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn trở về Hà Nội”.

Tại sao? Mới cách nhau có 12 ngày, mà ông Hồ Chí Minh lại đổi ý kiến? Trong thời gian đi máy bay, ông Hồ Chí Minh gặp những trở ngại nào?

Sainteny giải thích: “Hồ Chí Minh viện lẽ Hội nghị không cần ích nữa, vì vấn đề thống nhứt Nam Bộ không làm sao thực hiện được. Vì khi bay tới Trung Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh được tin Nam Kỳ quốc đã công khai lập Chính phủ Cộng hòa tự trị rồi, và tuyên bố trước thế giới”.

“Hồ Chí Minh còn nói rõ với tôi (Sainteny); Hội nghị Fontainebleau – dầu có nhóm – cũng không ích lợi gì. Vì Pháp đã nhìn nhận Nam kỳ tự trị rồi, tức là chống lại Hiệp ước 6 tháng 3: Pháp giải quyết xong vấn đề Nam bộ, trước Hội nghị Fountainebleau nhóm”.

Sainteny nói tiếp: “Hồ Chí Minh nói với tôi, đó là nguyện vọng của một nhóm người ở Sài Gòn, chớ không phải nguyện vọng của toàn dân. Như vậy, có nghĩa Pháp không giữ lời cam kết, chờ trưng cầu dân ý theo Hiệp ước Sơ Bộ”.

Nói như thế rồi, Sainteny mới giải thích:
– Tôi phải khổ tâm lắm, mới nói cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt nam chịu ở lại dự Hội nghị.

– Nói… cách nào?

Sainteny phân trần: “Đó là một việc tạm thời, chớ không phải vĩnh viễn. Đây rồi, trật tự trở lại. Đúng ngày trưng cầu dân ý, dân chúng Nam Bộ sẽ bỏ thăm: quyết định muốn thống nhứt hay muốn phân ly. Nếu họ muốn thống nhứt, thì sẽ giải tán Chính phủ Nam kỳ chớ có sao đâu?

Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng (đứng sau) tại Paris

Chuyện ở Sài Gòn

Chúng ta hãy trở về Sài Gòn để tìm hiểu coi tại sao có việc mâu thuẫn đó?

Tại sao cho họp Hội nghị Fontainebleau mà Đô đốc d’Argenlieu lại dám cho thành hình cái gọi là Chính phủ Nam kỳ tự trị?

Với tư cách Chủ tịch của Hội đồng Tư vấn, Béziat viết thơ thúc giục Đô đốc d’Argenlieu ngày 23-5.

Thơ nói rằng:
“Vì nguyện vọng của các từng lớp dân chúng Nam kỳ”
“Với đại đa số người dân Nam kỳ muốn lập Chính phủ trước, rồi tuyển cử sau”.
“Yêu cầu Chính phủ Pháp nhìn nhận Chính phủ Cộng hòa Nam kỳ”.
“Yêu cầu Chính phủ Pháp nhìn nhận Nam kỳ là một… quốc gia tự do, có Quốc hội, có Tài chính riêng, trong Liên bang ĐÔng Dương trong Liên hiệp Pháp:
Thực hành tự do dân chủ.”
“Chính phủ Nam kỳ tự trị sẽ tổ chức lại ban Hội tề ở làng, ban Hội đồng ở các tỉnh…”

Đô đốc d’ Argenlieu liền đánh điện sang Paris cho Chính phủ hay; nhưng lúc đó Chính phủ Gouin đã bị lật… không trả lời. Mà bộ Thuộc địa cũng không biết quyết định sao…

Đó là tại có cuộc tuyển cử ở Pháp, Moutet không có mặt tại Paris vì phải về quận nhà – ở Drôme – mà vận động tuyển cử…

Đô đốc d’ Argenlieu, trong khi chờ đợi Paris trả lời, nhiều sự kiện khác liên tiếp xảy ra, lại càng làm cho Cao ủy muốn nhận lãnh trách nhiệm mà công nhận ngay Nam kỳ quốc với Chính phủ tự trị.

Như ngày 26 tháng 5 một cuộc biểu tình trước Bàn thờ Tổ quốc đặt tại Đài chiến sĩ trận vong, của những hương chức ở các làng về Sài Gòn đoạn họ kéo nhau đến trường Ta-be (lúc còn xây cất tạm ở đại lộ Thống nhứt, trước vườn hoa Bách thảo) mà hội họp, đặng làm kiến nghị: “yêu cầu đại diện tối cao của Pháp ở Đông Dương vui lòng công nhận nguyện vọng của dân chúng Nam kỳ – do những cuộc biểu tình ở Sài Gòn và lục tỉnh đòi thành lập Chính phủ lâm thời để tổ chức chế độ Cộng hòa tại Nam kỳ.

Việc khác nữa là phái đoàn Thông Tin ở Paris về nước tuyên bố những điều thuận lợi của chính khách ở Pháp, cũng muốn trách Nam Kỳ ra lập Chính phủ riêng.

Đô đốc d’ Argenlieu còn ngần ngại gì mà không làm… thỏa mãn “nguyện vọng” của… dân chúng Nam kỳ, gồm vài trăm nhân viên của Mặt trận Bình dân Nam kỳ!

Thật vậy, những cuộc biểu tình ở Sài Gòn đều do những người trong Mặt trận Bình dân Nam kỳ được mướn vài chục đồng mỗi người để đi biểu tình một cách rụt rè, trước số đông dân chúng đứng hai bên lề nguyền rủa.

Thế là, Cao ủy d’ Argenlieu không đợi Paris nữa, liền trả lời cho Béziat lão tổ cho phép lập Chính phủ Nam kỳ tự trị.

Cao ủy tin rằng, thế nào Chính phủ Pháp cũng sẽ công nhận việc làm của ông, là thi hành đúng tinh thần Tuyên ngôn 24 tháng 3 của tướng De Gaulle. Nên ngày 30 tháng 5, Cao ủy viết thơ phúc đáp:

Đại cương của thơ đó, nói rằng:
Chính phủ Pháp thi hành Tuyên ngôn 24 tháng 3, nhìn nhận 5 xứ ở Đông Dương có Chính phủ riêng. Do theo Hiệp ước 6 tháng 3, Nam bộ sẽ do cuộc “Trưng cầu dân ý định đoạt… ” (rút trong Công báo Nam kỳ số 1 ra ngày thứ hai 15 tháng 7 năm 1946).

Cao ủy thêm đoạn này:
“Chính phủ Nam kỳ sẽ có tính cách tạm thời.”
Nguyên văn bức thơ phúc đáp có những câu sau này, nhưng lại không thấy ấn hành trong Công báo:
“… Việc lập Chính phủ này phải tùy ở sự quyết định của cơ quan hiến pháp Liên hiệp Pháp và cũng tùy ở kết quả của cuộc Trưng cầu Dân ý theo Hiệp ước 6 tháng 3 ký kết giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chính phủ Pháp nhìn nhận Nam kỳ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ riêng có Quốc hội, có Quân đội, có tài chính riêng trong Liên hiệp Đông Dương, trong Liên hiệp Pháp:

Chính phủ lâm thời Nam kỳ quốc phải cam kết:

Thiệt hành cái tự do dân chủ.

Phải tổ chức việc phổ thông đầu phiếu lối tháng Bảy này đặng lập Ban hội tề, Hội đồng tỉnh và Quốc hội.

Về cách thức đầu phiếu sẽ do Hội đồng Tư vấn biểu quyết”.

Dựa theo thơ này, Chính phủ lâm thời Nam kỳ quốc ra mắt công chúng Sài Gòn tại trước nhà thờ Nhà Nước, ngày 1-6.

– Chính phủ đâu mà sẵn vậy?

– Thì ra, Bác sĩ Thinh được Hội đồng Tư vấn biểu quyết ngày 7-5 ủy nhiệm làm Thủ tướng, thì liền ngày 10-5, Bác sĩ Thinh lén lên Đà Lạt trình bày với Cố vấn Chánh trị Pignon thành phần của Chính phủ.

Đến ngày 22 tháng 5, là mọi việc xong xuôi, chỉ còn nhờ Cao ủy công  nhận việc lập Chính phủ thôi. Cho nên, hôm sau là Chính phủ ra mắt một số dân chúng ở Sài Gòn, gồm có 2 phần 3 người… Pháp!

Trước nhà thờ có một lư hương lớn. Lính đàn hầu chung quanh.
Bác sĩ Thinh đến trước lư hương làm lễ và công bố thành phần Chính phủ.

Bác sĩ Thinh làm Thủ tướng kiêm Bộ Nội vụ.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, phó Thủ tướng và Bộ trưởng “Quân đội trong nước”.

Trần Văn Tý, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Lương Văn Mỹ, Bộ trưởng Bộ Công chính.
Nguyễn Thành Lập, Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Ung Bảo Toàn, Bộ trưởng Bộ Canh nông.
Nguyễn Thành Giung, Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
Nguyễn Văn Tâm, thứ trưởng Bộ An ninh.
Nguyễn Tấn Cường, thứ trưởng phụ trách Công an Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn.

Tức thì, đàn đờn quân đội thổi bản quốc thiều của Nam kỳ quốc:
“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
( Chinh Phụ Ngâm, Đoàn Thị Điểm)


Quốc kỳ của Nam kỳ quốc là cờ vàng 3 xọc xanh, tượng trưng cho ba dòng sông Đồng Nai ,Tiền Giang và Hậu Giang
Một Chính phủ bù nhìn, một cơ quan làm bình phong cho Cộng hòa Ủy viên Pháp Cédille vừa làm cố vấn chính trị mà còn được toàn quyền về hành chính.

Trái lại, một Đại tá hạng bét mà làm Cố vấn chính trị và toàn quyền hành động thế cho Chính phủ Nam kỳ tự trị!

Thực dân Pháp, những chủ nhân đồn điền thỏa mãn lắm, khi thấy Nam kỳ có Chính phủ riêng. Với Chính phủ này, họ vững lòng lắm, không còn sợ gì nữa. Đã vậy, họ còn cam kết để nguyên vẹn tình trạng của Pháp không thay đổi gì hết.

Họ nói: “Chúng tôi không phải như Chính phủ Hà Nội, đến hủy bỏ cái tên Pasteur. Chúng tôi sẽ thành thật với Pháp, trung thành với Pháp và chúng tôi dự bị một Quốc hội gồm một nửa người Pháp, một nửa người Việt, đặng quyền lợi của người Pháp sẽ có người Pháp đại diện ở Quốc hội binh vực…

Ký giả Philoppe Devillers nói rằng: “Một khi Quốc hội Pháp cứ để vậy, thì Nam kỳ sẽ là một thuộc địa của Pháp“.

*
*    *

Để Nam kỳ tự trị lại đây, chúng ta hãy nhìn thẳng ra Hà Nội.

Ngày 27 tháng 5, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên máy bay sang Pháp. Trước khi đi, Thủ lãnh Cộng sản có hai thủ đoạn, một là, làm dịu lòng người dân yêu nước thật thà, hai là gạt Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh biết cộng sản không được cảm tình với Anh, Pháp, Mỹ. Nên cứ giữ mãi Mặt trận Việt Minh e sẽ hoàn toàn thất bại, nơi Hội nghị Fontainebteau. Phải tổ chức một Đảng chính trị khác, để gom hết, nhân dân vào một Mặt trận khác – có tánh cách quốc gia hơn – để mưu gạt Anh, Pháp, Mỹ, nên dặn dò Trần Huy Liệu phải tổ chức Mặt trận khác gọi là“Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam”

.
Còn Võ Nguyên Giáp giờ chót ở lại Hà Nội, không đi Pháp là Chủ tịch Hồ Chí Minh mưu đồ việc lật Pháp. Trước khi đi, ông Hồ Chí Minh âm thầm nhỏ to với Giáp, đặng hy sinh tất cả, miễn là mua chuộc được thật nhiều khí giới của Trung Hoa, khi họ rời Bắc Việt…
Thật đúng như mạng lịnh của lãnh tụ, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội, Trần Huy Liệu tuyên truyền quyết liệt “Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam” gọi tắt là “Liên Việt“.

Còn nhớ, ở Nam Bộ lúc đó, tướng Nguyễn Bình nắm hết cơ quan quân sự, hành chính trong tay, lại là người gốc Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1946 ra nhập cộng sản). Nguyễn Bình phải tuân lệnh của cộng sản, triệt để ủng hộ Liên Việt, liền đưa ra tuyên truyền rất mạnh “Cương lãnh của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam”.

Một bản danh sách của nhiều phần tử quốc gia được nêu ra để làm “mồi” câu những người thật thà nhập vào Liên Việt. Rất nhiều công chức tín nhiệm ở ông Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng nên ghi tên đông lắm.

Huống gì, dân chúng ở Nam Bộ?

Chủ tịch Hồ Chí Minh quả thật có nhiều thủ đoạn nên tự mình rút tên ra ngoài, không ở trong “Mặt trận Liên Việt“. Không ở trong Ủy ban chỉ huy, ông Hồ Chí Minh lại đứng ở chức vô vị là Chủ tịch danh dự thôi.

Còn chủ tịch hữu quyền lại là Huỳnh Thúc Kháng (không đảng phái), người miền Trung.

Phó Chủ tịch là Tôn Đức Thắng, người miền Nam, cộng sản chính tông.

Tổng thư ký là Cù Huy Cận lại còn đỏ hơn… đỏ nữa!

Những ủy viên khác, gồm có: Trần Huy Liệu, cộng sản.

Phạm Ngọc Thạch trước là quốc gia, sau về Hà Nội, bị… “nhuộm đỏ”.

Ngô Tử Hạ, công giáo.

Nguyễn Tường Long (nhà văn Hoàng Đạo) , Việt Nam quốc dân đảng.

Nhìn vào bản danh sách, quả thật Mặt trận Việt Minh lợi dụng Huỳnh Thúc Kháng để làm bình phong cho cộng sản, che đậy Mặt trận Liên Việt.

Với một “ông già” thật lòng yêu nước từ mấy chục năm trời làm sao đương đầu với một Tôn Đức Thắng, một Trần Huy Liệu?

Nhưng, Mặt trận Liên Việt, có kết quả như ý muốn của những người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh không?

Không. Họ lầm.

Vì họ tưởng rằng, đưa  ra điều 1 của cương lĩnh “Mặt trận Liên – Việt” nên câu: “chống Phát xít” sẽ được Anh, Mỹ, Pháp ủng hộ, không ngờ Đồng Minh biết rõ bên trong của Mặt trận Liên Việt có những ai rồi, ngoài những tay cộng sản quốc tế? Mà cộng sản quốc tế do Đồng Minh Nga- Sô lãnh đạo, đã bị Anh, Mỹ, Pháp ngờ vực từ sau chiến tranh.

Họ sở dĩ đưa Liên Việt ra đời, vì Mặt trận Việt Minh, đã bị Trần Huy Liệu làm “hư bột, hư đường” rồi. Đó là những lời tuyên bố đầu tiên của … Bộ trưởng Bộ Thông tin Trần Huy Liệu rằng: “Mặt trận Việt Minh do “Đông Dương Cộng sản đảng” lãnh đạo…”.. Vì  đã lỡ tuyên bố trước quốc tế như vậy rồi nên nay đưa Mặt trận Liên Việt ra để Anh – Pháp – Mỹ bớt… sợ!

Việt Minh tưởng chừng, danh từ “quốc dân” sẽ có ý nghĩa toàn dân đoàn kết, các thành phần xã hội đoàn kết, chớ không có ý nghĩa riêng một đảng phái nào!

Té ra giấu đầu lòi… đuôi!

Mỗi làng, mỗi tổng, mỗi tỉnh đều có một Ủy ban lãnh đạo, mà nhân viên của Ủy ban chấp hành do cộng sản lãnh đạo!


Nguyễn Bình (1906 – 1951) là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được Hồ Chí Minh cử vào Nam Bộ thống nhất các lực lượng vũ trang. Năm 1948, ông được phong Trung tướng và làm tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ.

Mặt trận… và mặt trận

Nhưng Mặt trận Liên Việt lại “đụng” nhầm “Mặt trận quốc gia liên hiệp” trong Nam làm cho Nguyễn Bình bối rối, trước ủng hộ sau… tiêu diệt!

Mặt trận quốc gia liên hiệp ra đời trong Nam vào hạ tuần tháng 6 năm 1946, để gom góp tất cả các lực lượng quốc gia còn lại đặng kháng chiến chống Pháp. Trụ sở đặt tại Vĩnh Lộc, miệt Bà Quẹo “Mười tám thôn vườn trầu”. Mặt trận này có một cơ quan ngôn luận là tờ Tự Do, xuất bản trong kháng chiến.

– Tại sao Nguyễn Bình trước ủng hộ triệt để, sao sau lại thủ tiêu?

Đây, một đoạn của bức thư Nguyễn Bình gởi cho một nhân vật trong chánh giới Nam bộ. Nguyễn Bình thành thật bày tỏ nỗi khổ tâm mình, là việc ông ra lịnh thủ tiêu mặt trận.

Thư số 210 Q. S đề ngày 26-8-1946, ký tên Nguyễn Bình có đoạn dưới đây:

“… Sau khi Mặt trận quốc gia liên hiệp ra đời, Ngài cũng có tham gia nữa. Thưa Ngài, tại sao có những thông cáo thủ tiêu Mặt trận quốc gia liên hiệp?

… Tôi rất khổ tâm, nên đặt địa vị Ngài vào trách nhiệm của tôi (Ủy viên quân sự kiêm khu trưởng khu 7) vì họ ở trong phạm vi khu 7 cả. Vậy mà ban tổ chức cũng triệu tập họ rồi nghị quyết dùng đa số.

… Tôi biết đã làm sai nguyên tắc (ra lịnh thủ tiêu Mặt trận quốc gia liên hiệp) và có thể bị chỉ trích phê bình là độc tài quân phiệt? Ấy vậy mà cũng đã quá muộn để cho tên C… khai bắt hết nhiều chi bộ rồi.

… Vì bao lẽ trên, phải thủ tiêu Mặt trận quốc gia liên hiệp để thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, cho thống nhứt với Trung ương và để thanh trừng phản động (?) do tại thực dân Pháp, cho lẻn vào hàng ngũ cách mạng để phá rối”.

Đọc hết bức thư này rồi, các bạn nghĩ sao?

Nên nhớ rằng: Nguyễn Bình là cán bộ của Việt Nam quốc dân đảng, chớ không phải của cộng sản Việt Minh nên chính Nguyễn Bình đưa ra sáng kiến lập Mặt trận quốc gia liên hiệp, để rồi 6 tháng sau, cũng chính Nguyễn Bình lại thủ tiêu Mặt trận.

– Tại sao?

– Giấu đầu lòi đuôi: Đoạn chót bức thơ, Nguyễn Bình giải thích – Phải thủ tiêu Mặt trận quốc gia liên hiệp, để thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, của Việt Minh từ Hà Nội đưa vào.

Như vậy, dầu Nguyễn Bình là cán bộ của Việt nam quốc dân đảng đi nữa, cũng phải tuân mạng lịnh của Việt Minh nên không ngần ngại ra tay thủ tiêu một Mặt trận chính Nguyễn Bình đề xướng.

– Nhưng hỏi vậy, Nguyễn Bình có được Việt Minh tín nhiệm không?

– Không.

Mặt trận với Bác sĩ Thinh

Hay là tại “Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt Nam” ưng thuận cho Bác sĩ Thinh thành lập Chính phủ tự trị của Cộng hòa Nam kỳ – Nguyên văn tài liệu của Mặt trận về “Công tác của Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt Nam” – ngày 1 tháng 6 (?)

Trong tài liệu công tác của Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt Nam chương 18, có câu:
… Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt nam chỉ biết có một điều là, nếu không có một Chính phủ ở Nam kỳ – Nam kỳ là lãnh thổ Pháp – theo công pháp quốc tế, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương.

Tiền đồ Tổ quốc sẽ bị xô đẩy vào hai ngả, hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ lại bởi cộng sản quốc tế, hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi

Nhân tiện, trong quyển “Chủ trương của Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt Nam” có ghi:

a) Là việc ưng thuận cho Bác sĩ Thinh thành lập Chính phủ Nam kỳ tự trị.
b) Mặt trận đã ưng thuận cho Bác sĩ Lê Văn Hoạch – lúc bấy giờ là nhân viên của Mặt trận thành lập Chính phủ Cộng hòa lâm thời Nam bộ thay thế cho Chính phủ Thinh.
c) Mặt trận nhứt định giữ nguyên vẹn tình trạng cũ và thỏa thuận cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập Chính phủ Nam phần Việt nam làm trung tâm điểm hoạt động chính trị cho các phần tử quốc gia để đi lần đến sự thống nhứt dân tộc.
d) Cộng hòa vệ binh Việt nam là kết quả dĩ nhiên của các Chính phủ nói trên và số binh sĩ cứ mỗi ngày tuần tự tăng lên.
e) Quân đôi Cao Đài, Cao Đài giáo, hội viên cơ thi của Mặt trận quốc gia liên hiệp VN.
g) Mặt trận quốc gia liên hiệp VN cũng thuận cho Cao Đài giáo lĩnh khí giới của Pháp để lập quân đội tự vệ và làm nền tảng cho quân đội quốc gia sau này.
h) Về quân đội Thiên Chúa giáo ở quận An Hóa (Bình Đại)… Mặc dầu không có sự thỏa thuận của Mặt trận quốc gia liên hiệp VN trong việc thành lập quân đội này nhưng Mặt trận cũng tán thnahf sự có mặt của quân đội Thiên Chúa giáo vì mục đích của nó không khác mục đích quân đội Cao Đài và Hòa Hảo.

“Hơn nữa ngày nay quân đội Thiên Chúa giáo là một lực lượng hùng hậu đóng rải rác khắp cù lao An Hóa và bành trướng ra các vùng lân cận: Thành Triệu, Ba Châu, Vàm Vòng, Tân Thới, Gò Công… khả dĩ giúp ích cho quốc gia sau này”.

i) Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam do thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được Mặt trận quốc gia liên hiệp VN ưng thuận ở ghế Thủ tướng Chính phủ Nam phần Việt Nam, vận dụng để lập thăng bằng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo.

k) Chính phủ Việt nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo… Sự thành tựu này chỉ là một giai đoạn để đi đến sự đại đoàn kết cuối cùng giữa dân tộc đúng với lập trường của Mặt trận quốc gia liên hiệp VN, chủ trương và sắp đặt.

Trên đây là “công tác” của Mặt trận.

Từ năm 1947, giữa lúc kháng chiến mãnh liệt ở các tỉnh miền Đông miền Tây với những trận phục kích long trời lở đất của các chiến sĩ quốc gia thì Mặt trận quốc gia liên hiệp VN dời ban Chấp hành về… Sài Gòn, trụ sở đặt tại 64 đường Général Lizé!

Mặt trận giải thích:
Sau khi đề nghị lập một văn phòng Chánh trị để cùng nhà đương cuộc Pháp, tìm phương pháp thích hợp giải quyết một cách ổn thỏa vấn đề Pháp – Việt tại Sài Gòn được Cao ủy Bollaert chấp thuận và sau khi nhận được hai bức thơ liên tiếp đề ngày 27 tháng 5 năm 1947 và 30 tháng 6 cũng năm 1947 của cựu Thủ tướng Lê Văn Hoạch, Mặt trận quốc gia liên hiệp VN bèn dời ban Chấp hành về Sài Gòn”.

Và giữa lúc khói lửa ở khắp Nam Bộ, quân đội viễn chinh Pháp tàn sát đồng bào ở các nơi – hoặc có khí giới thô sơ, hoặc dân chúng tay không – thì Mặt trận quốc gia liên hiệp VN ngày 21 tháng 8 năm 1947, đưa ban Chấp hành đi nhóm họp tại dinh Thủ tướng của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ…

Có người thắc mắc sẽ hỏi: Còn đối với Pháp, Mặt trận quốc gia liên hiệp VN có thái độ nào?

Xin rút đoạn nơi chương 27, cũng trong tập “Chủ truonwg Mặt trận quốc gia liên hiệp VN”:

“Đối với người Pháp, dân tộc Việt Nam không còn thù dân tộc Pháp.

Chúng tôi (Mặt trận) nhìn nhận rằng, người Việt nam chịu rất nhiều ảnh hưởng văn hóa của Pháp. Hơn nữa quyền lợi của người Pháp trên dải đất này rất nhiều, và sự có mặt của người Pháp trên lãnh thổ Việt nam cũng rất cần thiết về mặt kỹ thuật, chuyên môn hầu giúp sức dân tộc Việt Nam trên đường tiến hóa, theo lịp các nước láng giềng.

Đó là công trình vĩ đại mà nước Pháp với tư cách người anh, người thầy có bổn phận dìu dắt dân tộc Việt Nam đoạt được nguyện vọng chánh đáng hầu điều hòa quyền lợi giữa hai xứ và giữ vững mối tình hữu nghị giữa hai dân tộc”.

Đọc qua “chủ trương” của Mặt trận như vậy, bạn đọc không còn ngạc nhiên, vì sao mà Mặt trận dời “Tổng hành dinh” về Sài Gòn.

(Còn nữa)


Hội nghị Fontainebleau – Phạm Văn Đồng đọc diễn văn khai mạc.

Theo FB: Bùi Quang Minh
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s