Việt Nam những năm tháng độc lập đầu tiên (đầu năm 1945)

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Toàn quyền Pháp Decoux tiếp đặc sứ Nhật Matsumoto tại Dinh toàn quyền trước đại lộ Norodom. Lúc 6h, Decoux và phái bộ kinh tế sửa soạn giấy tờ đặng rồi sẽ ký kết thỏa hiệp kinh tế về việc Pháp sẽ cung cấp gạo cho nhà binh Nhật.

Lính cơ động Nhật đang đi tuần 

Thỏa hiệp ký xong, Decoux và đặc sứ Nhật mở cuộc hội đàm riêng tại phòng khác, không ai được dự thính lúc đó là 6h 30.

Sau màn xã giao ướm chuyện chính trị thế giới, đúng 7h, đặc sứ Matsumoto lấy ra một tối hậu thư, đọc xong và trao lại cho Decoux:

“Chính phủ Nhật yêu cầu Toàn quyền Đông Dương bày tỏ bằng chứng thiết tha muốn cùng Nhật hợp tác chặt chẽ phòng thủ chung, cho đến cùng, chống lại lực lượng Anh-Mỹ, có thể đổ bộ bất luận lúc nào.

Cho nên yêu cầu Toàn quyền Đông Dương:

Một là, trong thời gian của tình thế hiện tại, hải lục, không quân và lực lượng cảnh sát vũ trang của Đông Dương phải đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của quân đội Nhật mà họ phải hoàn toàn tuân theo.

Hai là, tất cả công chức ở Đông Dương phải đặt dưới quyền chỉ huy của quân đội Nhật sử dụng bất luận lúc nào.”

Kèm theo tốt hậu thư là một bản phụ lục quy định trả lời trước 9 giờ tối (tức 2 h đồng hồ sau), ngoài ra các lực lượng không được di chuyển,  Toàn quyền phải ở nguyên trong Dinh…

Đúng 8h 15, đặc sứ Nhật rời dinh toàn quyền. Nhưng biết chắc rằng Pháp không thể chấp nhận những đòi hỏi này, quân Nhật đã tiến hành ngay việc chiếm đóng những cơ sở hành chánh và quân sự trên toàn cõi Đông Dương. Ngay đêm đó, quân đội Nhật tới bao vây và chiếm giữ luôn Dinh toàn quyền. Decoux trở thành vị toàn quyền chót.

9h đêm, Decoux viết thơ tay nhưng đặc sứ Nhật đã coi như có sự từ chối hẳn, súng đã nổ vào 9h tối. Decoux và các sĩ quan bị giam cầm trong Dinh Toàn quyền đúng 2 tháng.

Thế là chấm dứt chế độ Toàn quyền Pháp sau 83 năm đô hộ.

Lính Nhật vác súng để canh gác các binh lính Pháp

Kể từ 9h đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945, súng đã nổ không chỉ trên toàn cõi Đông Dương mà cho đến Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu… cũng vào giờ đó, quân đội Thiên Hoàng đã lột khí giới quân đội Pháp. Nhật đã lật đổ Pháp!

Sĩ quan Nhật tập hợp các công dân Pháp

4h sáng, song song với 2 bản bố cáo của Tổng tư lệnh Quân đội Nhật ở Đông Dương, khắp nơi dán bản Tuyên ngôn của Chính phủ Nhật giải thích các biện pháp đã thi hành trong đêm hôm trên toàn cõi Đông Dương.

Đêm 9 tháng 3, vua Bảo Đại đi săn thì nghe tiếng súng nổ liền vội vã về. Quân Nhật chặn đường và giữ lại, đặng rồi đưa về thành nội, có tư lệnh quân đội Nhật chờ sẵn và cho hay: “Việt Nam từ nay đã độc lập!”.

Trong khi đó, nhiều sĩ quan canh gác các cửa của sáu thượng thư Viện Cơ mật: Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính.

Khi có lệnh từ Sài Gòn, họ đưa 6 vị thượng thư đến trước Bảo Đại đặng ký tên vào 2 bản tuyên ngôn: Một là, tuyên bố hủy bỏ tất cả các hiệp ước ký giữa Việt Nam và Pháp. Hai là, các vị thượng thư phải từ chức giải tán Cơ mật viện để Bảo Đại lập chính phủ mới. Đặc sứ Nhật mong muốn cùng Bảo Đại xây dựng thể chế mới và cùng xây dựng khối thịnh vượng Đông Nam Á.

Ngày 11 tháng 3, Viện Cơ mật của Triều đình Huế tuyên bố:
“Cứ tình thế chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam công nhiên tuyên bố, từ ngày nay, Điều ước Bảo hộ 1884 với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.

Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” 

Tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 11-3-1945 được soạn thảo bởi 6 vị Thương Thư gồm có:Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính.

Ngày 12 tháng 3, Vua Bảo Đại ban chiếu:

Trẫm tuyên bố hủy bỏ hết những hiệp ước bất bình đẳng mà nước Pháp đã ép buộc nước Việt Nam ký ngày 6 tháng 6 năm 1862 và ngày 15 tháng 3 năm 1884.

Vậy từ nay, toàn hạt xứ Nam Kỳ thuộc chủ quyền Đế quốc Việt Nam.

Phụng ngự ký Bảo Đại

Năm ngày sau, ngày 17-3-1945, vua Bảo Đại ban chiếu, ấn định chế độ chính trị, lấy khẩu hiệu “Dân Vi Quy” 民爲貴 làm căn bản (Dân là quý nhất, là trên hết).

“Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình xây dựng nền thịnh vượng chung ở Đại Đông Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.

Nay trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân nên tự cầm quyền để bảo vệ quyền lợi cho Tổ quốc và giáng Dụ rằng:

1) Chế độ chánh trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu Dân Vi Quy
2) Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại Nhật bổn trong công cuộc kiến thiết Đại Đông Á
3) Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chánh trị để ban hành phương pháp với nguyện vọng của Quốc dân.

Khâm thử
Phụng ngự ký: Bảo Đại

Đồng thời, Bảo Đại chính thức giải tán nội các cũ, các thượng thư đồng loạt từ chức.

Trong khi đó, Nhật đã đem nhà sử học Trần Trọng Kim từ Singapore về Sài Gòn, rồi đưa luôn ra Huế sau ngày 9 tháng 3. Trần Trọng Kim được Bảo Đại giao nhiệm vụ thành lập nội các mới. Lúc đó vua Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước.”

Ngày 17 tháng 4, Việt Nam đế quốc có nội các đầu tiên do học giả Trần Trọng Kim cầm đầu. Báo chí gọi ông là thủ tướng đầu tiên với nội các tập hợp những trí thức có danh tiếng thời đó. Thực ra, Trần Trọng Kim xưng mình là Tổng trưởng, một người coi hết các bộ. Mỗi bộ có một ông bộ trưởng.

Luật sư Trần Văn Chương – Bộ trưởng Bộ ngoại giao
Bác sĩ Trần Đình Nam – Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Luật sư Trịnh Đình Thảo – Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Tiến sĩ Luật Vũ Văn Hiền – Bộ trưởng Bộ tài chánh
Kỹ sư Lưu Văn Lang – Bộ trưởng Công chính
Bác sĩ Hồ Tá Khanh – Bộ trưởng Bộ Kinh tế
Luật sư Phan Anh – Bộ trưởng Bộ Thanh niên
Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn – Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật, Bộ công chánh

Khi tuyên bố thành lập nội các, Vua Bảo Đại giải thích vì sao có sự chậm trễ này: “Trẫm có mời Ngô huynh (tức Ngô Đình Diệm) nhưng cụ Ngô ở Sài Gòn cáo bệnh để từ chối”.

Tuyên chiếu của Vua Bảo Đại về Nội các mới:

“Chư khanh,

Nội các này là Chánh phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập sau 80 năm thuộc quyền ngoại quốc thống trị.

Trong thời gian đó, dưới chánh thể eo hẹp của người ngoài, dầu có người tài năng ra giúp nước, cũng không thể thi thố được gì.

Nay nhờ Hoàng quân Đại Nhật Bổn, nước nhà đã được giải phóng.

Những người ra gánh vác việc nước ngày nay là được một cái danh dự tối cao mà cũng là đảm đương một trách nhiệm rất to và chịu một hy sinh rất nặng.

Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có đức hạnh, có kinh nghiệm đảm đương được việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc chư khanh sẽ làm tròn chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng.

Điều cần nhất là phải gây sự chú ý đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân, phải đoàn kết chặt chẽ các giai tầng xã hội, vì luôn luôn giữ một mối liên lạc mật thiết giữa Chánh phủ và nhân dân.

Chánh phủ ngày nay, không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả. Quốc dân phải đồng tâm hiệp lực, lại phải nỗ lực cần cù nữa.

Dân nô lệ nhất thiết ỷ lại ở người, Dân độc lập nhất thiết trông cậy ở mình.

Trông ở mình, thì phải gắng sức hy sinh mới mong sinh tồn phát đạt được ở giữa cõi đời cạnh tranh kịch liệt ngày nay.

Dân một nước độc lập là dân biết ham tự do mà cũng biết trọng kỷ luật, giữ trật tự trị an được dễ dàng và Chánh phủ mới hết sức lo việc cải tạo quốc gia được.

Muốn cải tạo quốc gia, Chánh phủ cần hành động cho có quy củ, nghĩa là phải có Hiến pháp.

Hiến pháp tương lai của nước Việt Nam sẽ căn cứ vào sự hiệp nhất quốc gia, sự quân dân cộng tác và những quyền tự do chánh trị, tôn giáo, cùng nghiệp đoàn của nhân dân.

Một hội nghị Lập hiến sẽ căn cứ vào những nguyên tắc kể trên mà khởi thảo một bản Hiến pháp.

Nhưng trong lúc chiến tranh và cơ cẩn này, những vấn đề về quốc tế dân sinh rất là phiền phức và khẩn cấp.

Chánh phủ không có đủ quyền mà giải quyết những vấn đề đó cho mau chóng.

Còn về phương diện dân, sẽ có những cơ quan cố vật đặt trong toàn quốc hay trong các địa phương, để bày tỏ ý kiến với Chánh phủ và liên lạc Chánh phủ với nhân dân.

Đồng thời một ủy ban sẽ nghiên cứu những sự cần cải cách gấp: những việc nghi lễ, quốc kỳ và quốc ca…

Trẫm biết: nói dễ mà làm khó, trên con đường độc lập của nước nhà còn biết bao là nỗi khó khăn, nhưng trẫm tin rằng: một dân tộc hơn hai mươi triệu người như dân Việt Nam ta đã có bốn ngàn năm lịch sử vẻ vang oanh liệt, chẳng kém… gì người sẽ có đủ sức gánh một phần trách nhiệm trong việc kiến thiết nền thạnh vượng chung ở Đại Đông Á và đi tới địa vị một dân tộc hùng cường trong thế giới được“.

Thuận Hóa, ngày 8-5-1945.

Trong những ngày đầu tiên của Chánh phủ mới, Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo đã ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ bao gồm đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và các đảng phái khác.

Chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại 5 tháng (từ 17 tháng 4, 194523 tháng 8, 1945)

Theo FB: Bùi Quang Minh

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s