Phố Hàng Đào

Hàng Đào là hàng nhuộm màu đỏ. Ở Trường Yên thành Hoa Lư xưa, bây giờ người ta còn trỏ một chỗ là Hàng Đào. Thì ra Hàng Đào là cái phố đặc trưng của kinh đô. Thế thật, ở Hàng Đào, cửa hàng san sát tủ kính bóng bảy, các cô ngồi hàng lịch sự. Thế mà, dân phố lớn này lại đều có gốc tích ở tứ tuyên. Toàn là người quê : Nhị Khê, Tây Tựu, Kim Lũ, Đông Mẫu, Bình Hồ, Đông Cảo, Đông Ngạc, Đan Loan, v.v…

Từ bờ Bắc Hồ Gươm, chỗ Bãi Dừa, nay là “Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục” trở lên là Hàng Đào. ở chỗ này, sau khi hạ thành Hà Nội, Jean Dupuis và Puginier đã đem ông cử Tạ Vǎn Đình ra chém. Rồi sau đấy, kinh lược Bắc Kỳ, nǎm 1887, cũng lôi ông thủ khoa Nguyễn Cao ra hành hình.Từ phía cuối lên giữa phố, là phường Đại Lợi. Đình của phường ở nhà số 47. Nhà này, nǎm 1917 mở ra cửa hàng bán tạp hóa đầu tiên. Còn một đình nữa ở số 5 Gia Ngư. Bên phía tây, số chẵn, bắt đầu bằng cái nhà nhỏ hai tầng, chỗ ở của “phu điếm”. Đoạn phố trên là phường Đồng Lạc, đình số 38. Dưới đình một nhà là dinh cơ của cụ tuần Đồ ng Lạc. Trên đình, có dinh cơ của cụ thượng Bình Hồ, trên cửa treo một bức hoàn lộng lẫy “Kiều mộc thế thần”. Giữa hai nhà to ấy, là cái nhà nhỏ của ông lang Tuấn, làm từ đời Lê , có nhiều câu đối cũ. Đó là cái nhà cũ nhất phố.Cả phố, chỉ có hai nhà gác, nhà số 82 của ông giáo Mễ , và nhà số 21 của ông Vạn Tường. Có những nhà rất nhỏ. Nhà số 6, nǎm 1890 còn lợp lá.Thế đất, bên dẫy số lẻ, phía trong các nhà đều thấp: Vì đây là bờ Hồ Hàng Đào ngày xưa. Phố Hàng Bạc có Hồ Ngõ Miêu, thông với Hồ Hàng Đào rồi chảy vào Hồ Gươm, qua một con kênh, trên bắc cầu gỗ. Hồ Hàng Đào lắm cá, nên Gia Ngư thành chợ cá.Hai dãy phố Hàng Đào, từ xưa vẫn thắng và rộn như bây giờ. Khi đặt đường tàu điện người ta trồng hai hàng cột, 4 cây sắt thước thợ, có thang chằng lấy nhau.Có lẽ những dân Hàng Đào thứ nhất là người Đan Loan (Hải Dương), quê ông Phạm Đình Hổ. Sau này nghề nhuộm màu dọn sang phố Cầu Gỗ. Hàng Đào chuyển thành phố bán các hàng tấm: the, lượt, lụa, là, cấp, đũi, bǎng, sa, xuyến, chồi. Lượt để chít khǎn. The có nhiều thứ: the đơn, the kép (dầy), the La Cả ( mỏng nhất). Sa trong suốt, cũng có sa hoa. Bǎng như sa, có hoa gọn. Xuyến như sa, có cát nổi ngang. Vǎn nhân hay mặc sa đơn. Phố bán cả vóc, gấm, nhiễu, kỳ cầu, cố y, đoạn. Làng La dệt được gấm đẹp, nhiễu mua từ Bình Định. Đoạn, kỳ cầu, mua của khách thương Hàng Ngang Lãnh ( lĩnh) thâm rất thông dụng, may quần phụ nữ, dệt ở Bưởi và Trích Sài.Thường mua vải, phải đến phố Hàng Vải.Hàng Đào, dọn hàng thế này: ngoài hiên, có tấm màn viết hai chữ tên hiệu. Rồi từ một cái sào, rủ xuống những sợi dây lưng bằng dạ. Dưới là một lượt thạp chè cũ. Bên tường kê một cái tủ kính nhỏ bán các thứ khuy. Đó là khoang ngoài, ở đó, thường có một cô hay một bà ngồi để chào khách. Khách phần lớn ở nông thôn ra, nên thường cứ rụt rè . Trông thấy, mà mời ngay thì dễ vào Phần chính cửa hàng là phần ở trong cửa. Dựa vào tường có tủ kính to, bầy các tấm gấm vóc, phần lớn là ống tre bọc gấm, vóc, làm cho khách tối mắt. Trong cùng là hai cái bao, đựng hàng tấm. Bà chủ ngồi ở phần trong này.Có khách đi qua, là bà chào hàng hỏi: “Bà mua gì ? Bà vào đây?” rồi nhẹ tay, kéo cái “màn gió” buông xuống. Bà chủ mở bao, đưa hàng ra. Màn gió làm cho tấm hàng “tôn” lên. Các bà khách cũng không “sành! , chê ỏng chê eo . Bà chủ cất tấm này vào, mở tấm kia ra; có khi lại đưa tấm đã xem rồi. Nếu khách vẫn chê, thì cô ngồi “hàng” chạy sang nhà bên lấy tấm khác về. Được chiều chuộng thế, bà khách khó bỏ đi được. Bán được hàng của nhà thì “người ngồ i hàng” được chia một phần ba lãi. Bán được hàng lấy về thì được chia nửa lãi gọi là “ǎn bẻo” . Các bà hay các cô “ngồi hàng” cũng ǎn mặc đẹp, mấy ai phân biệt được. Các công tử nhấp nhỏm, các sinh viên “cao đẳng” chấp chới. Nhưng các cô Hàng Đào có những tiêu chuẩn khác, các cô “lõi đời”, không dễ gì mà lấy được . M ột chàng “sinh viên”, cưới “cô gái Hàng Đào”, đến ngày “nhị hỷ”, hóa ra chàng “giả cao đẳng”, “thật lái xe”, lấy được “cô ngồi hàng”. Nhưng thật là xứng đôi, tốt đẹp lắm!”Nói thách” là cái bà con khiếp nhất, mua là hay “hớ”. Thế nhưng nhiều nhà trong phố buôn bán có nguyên tắc. Một bà trả tiền, mấy bà hàng trả lại cho một đồng. Bà cụ bảo: “Kiếm được đồng tiền khó lắm. Hàng này chỉ đáng 2 đồng. Bà xem lại xem, hồ nhiều đấy ! Tôi trả bớt bà 1 đồng”. Bà “ngồi hàng” bực lắm, nhà hàng ai lại làm thế ? Thế mà rồi bà ở lại làm đến 30 nǎm vì các khách cũ cứ trở lại, gọi bà chủ là “mẹ”, lại dắt nhiều người làng đến nữa.Hàng Đào có những cửa hàng bóng bẩy, mà lại là cái phố có nhiều nhà vǎn học. Số 4, là nhà ông Cử Lương Vǎn Can ; các con ông, Lương Ngọc Quyến, Lươn Ngọc Nhiễm và hầu hết các học trò của ông đều là cách mạng. Ông cũng là Hiệu trưởng trường “Đông Kinh Nghĩa Thục” , mở ở nhà số 10.Cụ tuần Đồng Lạc, tuần phủ, nhưng trong phố chỉ biết cụ với cái tên hiệu là Vũ Thái Viên. Con cụ là tri huyện Hoành Bồ, cái huyện ấy có tiếng là “cả nǎm chỉ có một mâm sò”. Trong phố ai cũng biết là bà huyện làm ǎn giỏi. Ai làm bánh, cũng đem đến nhờ bà làm. Một hôm đang nặn bánh, thấy bà vào nhà trong độ mộ giờ.’ Lúc bà ra, lại ngồi làm tiếp, mọi người khiếp đảm sao bụng bà bé hẳn đi thế? thì ra, bà đã ở cữ tắm cho con, đặt con, rồi ra làm tiếp. Sao lại có người khỏe như thế! câu chuyện, ai nghe cũng khiếp ; nhưng từ đó các “mợ” đi “vượt cạn” cũng đỡ õng ẹo nhiều.Trong số các bà Hàng Đào, có “bà đồ Cháo”. Nói là Hàng Đào, mà thật ra bà chỉ ở dưới một cái mái vẩy ra, sau nhà cụ Lang Nhượng thôi. Sáng sáng, bà gáng gánh cháo đi khắp phố , rao “Ai cháo mua”. Cháo hoa nửa xu. Cháo đường, một xu. Một xu hai nắm xôi ; thật là sạch sẽ . Bà đặt gánh ngoài cửa, ai cũng chào hỏi bà. Bà vừa múc cháo vừa đưa tin “Bà giáo Mễ đau nặng anh phác bị đội xếp đánh”.’ Ai cũng quý cái tính trung hậu, minh bạch của bà, nói thẳng chả thớ lợ gì cả. Không sao tưởng được Hàng Đào mà lại không có “bà đồ Cháo”. Ông đồ dạy dǎm đứa trẻ trong phố. Đến khoa thi ất Mão, 1915, có tin con bà đồ đỗ “Tú tài”. Làng quê bà cho đến ngày ấy, chưa có ai đỗ đạt cả. Dân làng đến mừng Ông “tân khoa”. Lúc này bà đồ đã già, con dâu đi chợ thay. Hàng phố gọi là “mợ tú”.Số 6, là cái nhà nhỏ của ông cử Lủ, người viết quyển “Việt sử tân ước” quyển sử đầu tiên nói đến Tây Sơn.Nhà số 21, là nhà một thầy đồ, ông Vạn Tường. Cái lạ là ông là nam giới, là thầy đồ mà lại buôn hàng tấm, trở nên giầu có. Sáng sáng ông vẫn đi lên gác tưới cây rồi xuống ngồi dạy học . Việc thích nhất của ông là “bốc thuốc”. Người nghèo đến, ông xem bệnh, bồc thuốc cho không lấy tiền. Cuối nǎm nào, cũng phải trả cho phố Phúc Kiến một món tiền lớn. Người nhà xót ruột, ai cũng bảo: “Cụ đi vắng!” . Nhưng ông cứ mở cửa to, gọi vào. Nhà ông sa sút dần, nhưng ông làm vẫn khỏe, sống đến 90 tuổi.Bà cả Mọc ở nhà số 25. Bà góa chồng khi 20 tuổi, không có con. Mỗi ngày từ quê ra Hàng Đào ngôi hàng để phụng dưỡng mẹ chồng, trông nom các em, các cháu. Cuối nǎm 1929, con nuôi của bà là Hoàng Vǎn Tiếp, dự vào việc giết tên mộ phu Bazin, bị bắt. Nhà 25 của bà không ai dám qua lại nữa. Bà vẫn cố gắng làm ǎn hàng nǎm đi giúp bà con bị lụt, đói. Đến khi nhiều tuổi sau nǎm 1930 bà rủ các bà, các cô bạn, cùng lập hội tế sinh, để nuôi trẻ nhà khó và người già không nơi nương tựa . Hội không nhận trợ cấp của chính quyền, chỉ bằng tiền góp mà xây ở ngõ Hàng Đũa (sau phố Sinh Từ, Nguyễn Khuyến) một trại trẻ rộng l000m2, mở lớp mẫu giáo đầu tiên, rồi xây dựng một trại dưỡng lão Nội Bài ( Phúc Yên).Khoảng 1906, ở một nhà bên số chẵn, có mấy ông bạn vǎn hay đến chơi. Trong một phòng nhỏ, trên tường treo bức bản đồ Việt Nam bằng giấy bản, có các ông: đình nguyên Đào Nguyên Phổ, ông bảng Kiều Oánh Mậu, ông tuần Cẩn. Nhiều lần có cả ông Nguyễn Thượng Hiền hoàng giáp. Các ông gọi nhau là bạn đồng niên, gặp nhau hay bàn chuyện “thời sự”, cho nhau những tin “hải ngoại”. Mỗi ông một tính. Ông Phổ bồng bột, ông Mậu hay bàn cách cải lương, ông Cẩn cố chấp, ông Hiền ít nói, ông rút quyển thơ của chủ nhà ra, cầm bút son, chấm, chấm, khuyên. Có lúc hứng ông đề một bài, có câu:Giá rượu Hát Giang bao giờ hạ
Để mời bạn đi một cuộc say…
Chủ nhà họa, rồi lẩm nhẩm: “Ông này đi đây?”Ông Hiền đứng dậy, phe phẩy cái quạt lông, đi ra.
Một lần các ông bàn về lối “lạy”, cho là phải bỏ. Ông Tuần lại bênh là “quốc túy”. Các ông viết lên báo Đǎng Cổ. Ít lâu sau, được tin vua Thành Thái “cấm lạy” các ông thích thú lắm.
Phường Đại Lợi, nhà số 80 là nhà bà giáo Mễ. Ông giáo là một trong các thầy giáo “Tây” đầu tiên tiếng to lắm; thế mà bà lại đón cụ đồ Mỗ về ngồi ở nhà, dạy các con bà học chữ nho. Trường học cũ vẫn còn đượ quý lắm. Phố có ít ra là 5 trường: trường ông cử Can ông Hai Vạn Tường, ông đồ Cháo , ông đồ Mỗ, ông cử Đông Mẫu.Bên số lẻ, người ta đã mở hội Hợp Thiện.
Một tháng 6 lần, ở Hàng Đào có phiên chợ hàng Tơ. Hàng Tơ là một chợ không có đất, không có lều. Cứ đến ngày một và ngày sáu, sau chợ Đơ một ngày, là các ông các bà thợ dệt La Cả, La Khê, làng Mỗ, đem the, lụa, cấp mộc ra Hàng Đào bán. Làng Bùng bán lượt, làng Bưởi bán lãnh. Bán rồi, vào các hàng tơ, cũng ở hàng Đào , mua tơ về dệt đợt sau. Đến trưa, các bà Đình Bảng, Phù Lưu (chợ Dầu), các bà Hàng Bông Thợ Nhuộm đem trả hàng nhuộm thâm và nhận các tấm hàng mới mà bà chủ Hàng Đào đã đánh dấu bằng mấy mũ khâu, đem về nhuộm. Các bà ở Bưởi và Cầu Gỗ đến trả và nhận hàng về “chuội” trắng hay nhuộm mầu. Ngày chợ hàng Tơ, Hàng Đào nhộn nhịp từ sáng đến tối. Hàng Đào là phố hào hoa nhất kinh kỳ. Thế mà tiếng súng kháng chiến nổ, là các kỹ sư tây học về, các thanh niên, các công tử vào bộ đội tuốt tuột. Ai cũng nhớ chú Hột, cháu cụ lang Nhượng, bé thì quấy thế, mà chú đã trở thành giáo sư, anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa !

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s