Nhật ký học ngu

Serie bài này trên FB của bạn Lục Phạm Quỳnh Nhi, đọc khá hay. Mạn phép chủ nhà vác nguyên văn về đây làm của riêng.

#0 – Chào hỏi & Giới thiệu

Năm cuối cấp, không nhớ rõ chính xác lúc nào nhưng có lần mình đã tự hỏi: rút cục thì mình đã “biết” và “hiểu” được cái gì? Phải đợi đến khi sắp đối diện với “trưởng thành”, “vào đời”, “đại học”, “nghề nghiệp”, “tương lai”,… mình mới nghiêm túc nghĩ về những gì mình cần có. Mình đã được dạy bài bản trong trường phổ thông, được rèn luyện các kỹ năng cần thiết (thuyết trình, làm việc nhóm, làm dự án), nhưng không hiểu sao mình vẫn cứ thấy sợ. Dường như mình không thể liên kết được những gì đã được dạy và mơ hồ với kho kiến thức ấy – dĩ nhiên, đây là lỗi của mình.

Mình “đổ vỡ”.

“Đổ vỡ” là từ mình dùng để nói về những biến cố trong cuộc sống mà nhờ đó con người ta mới [chịu] nhìn nhận lại bản thân. “Đổ vỡ” để có thể tiến lên một điều gì đó cao hơn – đây là quan điểm của Hegel mà mình sẽ trình bày kỹ hơn ở bài khác. Mình biết đã có “đổ vỡ” khi nhận ra mình không thực sự “hiểu” điều gì một cách tường tận. Ví như khi được hỏi “trừu tượng” có nghĩa là gì, mình đã hồn nhiên trả lời “là làm cho một thứ đang bình thường trở nên khó hiểu” Thực tế nó lại có nghĩa là “chỉ hoạt động tư tưởng, từ những sự vật riêng biệt, phân tích rút ra những điểm chung và tổng hợp thành khái niệm” (Từ điển Hán Việt Thiền Chửu, hanviet.org). Thực sự “trừu tượng” mà mình hiểu [theo cách của mình] chẳng liên quan gì đến nghĩa gốc của nó. Mình thực sự gặp khó khăn với khái niệm, cách tư duy, thậm chí tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ vẫn sử dụng hằng ngày cùng với một mớ các vấn đề khác.

Do đó, mình bắt đầu làm lại.

Bước đầu tiên khi trồng cây là cày xới cho đất vỡ ra, mình cũng bắt chước “làm lại” như vậy – cày xới chính cái đầu của mình trước khi lên Đại học lại “được” nhồi thêm nhiều tri thức khác. Thiệt may mắn vì trong hành trình “làm lại” này mình có thầy DB hướng dẫn. Quá trình “học ngu” này đã diễn ra trong vài tháng gần đây và mỗi ngày mình lại [được] “đổ vỡ”. Nhờ những “đổ vỡ” đó mình mới có một cái nhìn trung thực về chính mình để nhận ra thực sự mình chưa “trưởng thành”, vẫn còn “ngu” lắm.
Vậy nên phải “học ngu”. Chữ “ngu” [愚] theo từ điển Hán Việt Thiền Chửu vừa có nghĩa là “không thông minh”, vừa có nghĩa là “đôn hậu, thật thà”. “Học ngu” chính là để biết mình ngu mà “cải tạo”, học cho bớt ngu đi, mà cũng có thể là học để sau này trở nên đôn hậu, thật thà.
Nhật ký “học ngu” là cách mình đánh giá quá trình học tập của bản thân. Đồng thời khi chia sẻ nhật ký mình cũng mong sẽ nhận được thêm “đổ vỡ”. Với bài đầu tiên này mình xin dừng lại ở mức độ chào hỏi, giới thiệu. Qua các bài sau mình sẽ lần lượt viết về những gì mình [đã – đang] học, phương pháp được dạy, tài liêu học tập, cảm nghĩ khi bị cày xới và cả những mẩu chuyện vui giữa các thầy trò.
12.07.2015

#1 – Học tiếng Việt

Khi mới bắt đầu “học ngu”, mình thực sự bối rối vì có quá nhiều thứ cần phải học lại và nhiều thứ phải học thêm. Giữa rất nhiều “món” như học cách đọc, học tư duy, học triết, học toán, học vật lý,… thầy mình đã chọn tiếng Việt làm “ải” đầu tiên.

“Trừu tượng” là gì? Đó có phải là hành động làm cho mọi thứ trở nên khó hiểu?
Sự khác biệt giữa “bất” – “phi” – “vô”, “vô nghĩa” và “phi nghĩa” giống hay khác nhau?
Cây bút chì là “phủ định” của cây bút mực: đúng hay sai?
“Tư duy” là gì mà lại hay được cho là “suy nghĩ”, “tư” và “duy” có liên quan gì đến nghĩ?
“Tri thức” là gì, so với “trí thức” thì có gì khác biệt hay không?

Hàng loạt các câu hỏi đã được thầy đặt ra mỗi khi nhóm cùng đọc tài liệu. Phản ứng thông thường của mình là mở miệng thật to tính giải thích, đến khi chuẩn bị cất lời thì bỗng dưng “tịt ngòi” rồi chưng hửng: “con cũng không rõ”. Tại sao lại như vậy? Rõ ràng những từ đó mình vẫn dùng hằng ngày nhưng sao bỗng chốc lại thấy mơ hồ như thế?

Lời ăn tiếng nói hằng ngày, hoàn cảnh sống thay đổi, cùng với các thói quen về ngôn ngữ khiến chúng ta đôi khi ngộ nhận nghĩa của từ và hiểu nghĩa từ sai lệch so với nghĩa gốc của chúng. Nếu không “học ngu” chắc mình cũng không bao giờ nghĩ đến “tra tiếng Việt”, tra từ điển tiếng Việt, từ điển Hán – Việt, từ điển từ nguyên. Thế nên ngôn ngữ – từ phương tiện truyền thông lại trở thành một “hòn đá” cản trở quá trình tư duy.
“Đổ vỡ” tiếng Việt ảnh hưởng tương đối lớn với mình. Chưa kể với thói quen viết văn dạng blog, thi thoảng mình gặp vấn đề với việc đọc tài liệu vì không hiểu lầm cấu trúc câu mà tác giả đang dùng. “Đổ vỡ” gây cho mình cảm giác chưa thực sự làm chủ tiếng mẹ đẻ và cảm giác đó không hề dễ chịu. Mình hạn chế hẳn đăng status/ note trên mạng, bình luận cái gì cũng kiểm tra lại có đang sử dụng đúng từ không, đọc sách phải có cây bút chì đánh dấu từ lạ, thống kê các loại từ điển đáng tin cậy (cũng là bài tập đầu tiên trong nhóm “học ngu”). Thời gian đầu, thầy luôn giúp mình bằng cách liên tục đặt câu hỏi, tìm từ gốc ở các tiếng Hy Lạp/ Đức/ Anh, giới thiệu các thầy có kinh nghiệm trong lĩnh vực từ nguyên, vv. Dần dần mình cũng vượt qua được “dư chấn” của “đổ vỡ” để cẩn thận hơn với tiếng Việt.

Ngôn ngữ là đầu vào của tư duy, do đó mà phải đảm bảo đầu vào chuẩn rồi mới tính tiếp chuyện sau đó. Cô giáo từng dạy mình, hiện đang là dịch giả cũng có lần bảo “muốn làm dịch giả trước hết phải giỏi tiếng Việt”. Đặc biệt đối với tiếng Việt giàu đẹp và uyển chuyển thì lại càng phải tỉ mỉ, kỹ lưỡng.

Cho đến bây giờ, tức là hơn một quý “học ngu”, nhóm mình vẫn còn ngỡ ngàng với tiếng Việt, thậm chí là “đổ vỡ” (tất nhiên là nhẹ hơn so với trước rồi nha). Tuy vậy “đổ vỡ” cũng mang lại những niềm vui nhất định. Ví dụ: “lãnh” là cổ áo, “tụ” là tay áo, hai bộ phận ta tiếp xúc đầu tiên khi mặc áo; từ đó “lãnh tụ” là từ dùng để chỉ cho những người đứng đầu hoặc quan trọng trong một tổ chức. Tra lại những từ [tưởng] đã biết, học thêm nghĩa mới của từ, tìm lại lịch sử ngôn ngữ,… chính là “học ngu” đấy. Càng tra càng thấy sao mà mình ngu thế *cười*

Để kết thúc, mình xin gợi ý cho cả nhà bài viết “Lưỡi không xương…” của thầy Bùi Văn Nam Sơn in trong quyển “Trò chuyện triết học”. Bài viết mở ra nhiều suy nghĩ về tiếng Việt nói riêng và ngôn ngữ nói chung, nhất là trong lĩnh vực khoa học, triết học. http://goo.gl/sYJ5FT
13.07.2014

Tái bút: nếu mà rảnh nữa thì mời bạn nghe bài hát “Tiếng Việt” –http://goo.gl/xkmT2C

#2 – Học cách đọc (Phần 1)

Hiện tại, quy trình của “học ngu” là đọc tài liệu, tóm lược và trình bày nội dung đã đọc cho các thành viên trong nhóm. Việc phải thuyết trình trước các bạn bắt buộc mình phải đảm bảo rằng mình nắm được những gì sẽ nói. Từ đó, vấn đề đặt ra là: làm sao để việc đọc đạt hiệu quả cao nhất (“hiệu quả” theo nghĩa người đọc hiểu tài liệu một cách rõ ràng, mạch lạc). Mình chia chuyên đề đọc thành nhiều phần bởi vì “đọc” ngó vậy thôi chứ không hề đơn giản. Học cách đọc quan trọng không kém học tiếng Việt, hai cái học ấy bổ sung cho nhau và mỗi ngày nhóm “học ngu” vẫn phải liên tục rèn luyện.

Hôm nay mình có cơ hội học hỏi cách đọc từ thầy P. Chỉ trong một buổi sáng ngắn ngủi, sử dụng một quyển sách minh họa, thầy P đã dạy mình một số điểm cốt lõi của việc đọc. Nay mình sẽ lần lượt chia sẻ lại với cả nhà các điểm ấy qua loạt bài về cách đọc.

Lưu ý khi đọc: phạm vi của bài viết đang bàn đến đọc sách, chưa bàn đến các dạng tài liệu khác. Mình cũng xin nhắc luôn là quyển sách đang được minh họa là sách triết học nên sẽ có một số điểm đặc thù chỉ dành cho thể loại sách này.

TRƯỚC KHI ĐỌC SÁCH

Đầu tiên, trước khi đọc sách, nhứt thiết phải biết mình sắp đọc cái gì. Tựa đề sách không chỉ là cái tên để phân biệt mà nó còn ẩn chứa tư duy của tác giả. Thầy có lấy ví dụ tên sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (Trần Ngọc Thêm) để phân tích. Khi nói “tìm về” thì tác giả đã xem “bản sắc văn hóa” là một thực thể và nó có tồn tại. Giống như khi ta đi tìm một món đồ bị thất lạc trong nhà, ta biết nó ở đâu đó nên ta đi “tìm”. Từ đó ta sẽ phân ra nhà bếp, phòng khách, phòng ngủ, vv để “tìm” tương tự như cách tác giả đã chia ra các mảng văn hóa để phân tích, chứng minh. Ngoài ra tựa đề sách còn cho ta biết sách thuộc thể loại nào: tiểu thuyết, triết học, khoa học, tản văn,.. vv để lựa chọn cách đọc phù hợp.

Thứ hai, sau khi đọc tựa đề sách ta nên đọc lời nói đầu, lời chú giải dẫn nhập của người dịch hoặc mục lục của sách để biết cách tác giả khai triển ý tưởng. Nếu có thể thì vẽ lại sơ đồ “xương sống” của sách bằng cách dùng các từ khóa ngắn và các ký hiệu. Có sơ đồ trong tay ta sẽ không bị lạc trong lúc đọc. Đồng thời, ta cũng cần thiết phải tìm ra câu hỏi mà sách đang tìm cách giải đáp. Đó là nền tảng cho ý tưởng của tác giả khi viết sách. Đặc biệt những lúc bị “loạn”, chỉ cần nhớ lại mục đích của sách là gì, nhớ lại câu hỏi hoặc giả định của người viết, ta sẽ thấy lại con đường.

Thứ ba, ở mức độ cơ bản, đọc sách là để lấy thông tin. Do vậy đôi khi không nhất thiết phải đọc hết từng câu từng chữ mà có thể chỉ cần tìm ra những chỗ ta cần. Công cụ hỗ trợ cho việc đọc lúc này là bút chì, thước, bút highlight, giấy ghi chép. Bút và thước để gạch chân các ý, bút hgihlight đánh dấu những từ khóa, giấy để vẽ sơ đồ, vv. Đặc biệt, thầy P nhấn mạnh cần phải rút ra các từ khóa để vẽ nên sơ đồ. (Mình sẽ nói kỹ hơn ở các bài sau).

Cuối cùng, đọc sách không phải là hành động thụ động mà nó là một “hành trình leo núi” chủ động theo cách ví von của thầy P. Bấy lâu nay mình đọc sách với tâm thế của một độc giả bình thường, một người học hỏi nhưng thầy lại mở ra cho mình một hướng suy nghĩ mới: đọc sách như là người dạy – dạy chính mình. Thầy gợi ý có thể tưởng tượng mình đang là một người thầy cần phải giảng bài cho sinh viên. Do vậy phải đọc sách để lấy thông tin rồi sơ đồ hóa kiến thức. Nhìn vào các sơ đồ ấy, “người thầy” đó sẽ trình bày lại nội dung mình đã đọc. Tuy nhiên sẽ có khi “người thầy” cảm thấy “kỳ kỳ”, “rõ ràng mình hiểu phần đó rồi sao lại không thể nói ra?”; lúc đó ta biết mình thiếu từ vựng [của sách] hoặc cách diễn đạt còn yếu. Ta sẽ đọc lại sách một lần nữa, ghi chép bổ sung rồi lại giảng lại cho đến khi nào ta nắm vững nội dung, có thể tự dạy lại “bài” cho mình mới thôi. Hơn nữa, với tâm lý “đi dạy”, người đọc sẽ có trách nhiệm hơn với việc đọc của mình. Đó là lý do nhóm “học ngu” luôn có tiết mục thuyết trình mỗi khi đọc xong tài liệu.

Trên đây là những việc cơ bản nên làm trước khi đọc sách. Mình tâm đắc nhất là việc chuyển đổi tâm thế từ người đọc thành người dạy. Hướng suy nghĩ mới mẻ này làm mình cảm thấy việc đọc trở nên thú vị hơn. Thiệt ra thì dạo này mỗi lần đọc một cuốn sách hay mình luôn nghĩ “nếu trình bày lại cho người khác thì sao”, ý nghĩ đó phần nào giúp mình chuyên tâm đọc hơn. Tuy vậy để có thể “dạy” một cách trơn tru thì cần phải có các kỹ thuật khác hỗ trợ trong và sau lúc đọc mà mình xin hẹn ở các bài viết sau. .
15.07.2015.
‪#‎nhatkyhocngu‬

#3 – Học cách đọc (Phần 2)

Nối tiếp #2 bàn về những việc nên làm trước khi đọc [sách], hôm nay mình chia sẻ một số cách hỗ trợ việc đọc. Mình cũng xin lưu ý lại là phạm vi bài viết đang bàn đến đọc sách chứ không phải các dạng tài liệu khác. Quyển sách đang được minh họa là sách triết học nên sẽ có một số điểm đặc thù chỉ dành cho thể loại sách này. Bạn tự điều chỉnh cách đọc cho phù hợp với từng loại tài liệu nhé.

TRONG LÚC ĐỌC SÁCH

1. Trước hết, khi đã bắt đầu đọc thì nên chuyên tâm. Tính mình đôi khi dễ bị phân tâm nên có mấy bận thầy P phải nhắc mình đọc sách đi. Mình nghĩ nhiều người sẽ đồng ý kiến với mình rằng sự tập trung là quan trọng, không chỉ cho việc đọc mà còn nhiều việc khác nữa. Thế nên sẽ là dư thừa nếu tiếp tục bàn về sự tập trung ở đây. Mình chỉ muốn nói thêm là nếu bạn dễ bị mất tập trung như mình chẳng hạn thì nên tìm một góc yên tĩnh, đủ ánh sáng và không nên mở nhạc để đọc. Tất nhiên đó là kinh nghiệm của mình thôi nha.

2. Thứ hai, không phải sách nào phải cũng đọc từng câu từng chữ, phải dựa vào câu hỏi, mục đích, vấn đề đang được đặt ra để dò thông tin cần dùng. Sẽ thật tiện lợi nếu sách bạn đọc có các đề mục rõ ràng cho từng chương, từng phần bởi vì tiêu đề của các phần nhỏ thường sẽ ẩn chứa gợi ý để tìm thông tin. Mình thấy cách đọc này giống “Scan and Skim”, tuy nhiên vẫn phải luôn giữ tâm thế mình là “người dạy” lúc đọc để ta không dừng lại ở mức độ “tìm đáp án”.

3. Thứ ba, để hỗ trợ cho cách đọc đã nêu trên, bạn nên có bút chì, thước kẻ, bút highlight khi đọc sách. Những vật dụng này giúp chúng ta duy trì sự tập trung và đánh dấu những điểm quan trọng hỗ trợ cho việc trình bày sau này (nếu có). Mình để ý trong sách của thầy hay gạch/ đánh dấu những chỗ này nè:

– Khoanh tròn các từ “là”, “rằng”, “tức là”, “có nghĩa là”,…: sau các từ này thường là định nghĩa, khái niệm của các thuật ngữ. Một thói quen của người đọc là hay hiểu nghĩa thuật ngữ theo cách của mình mà không dùng góc nhìn của tác giả. Ví dụ từ “phản biện” rất hay được hiểu theo nghĩa cãi ngược lại, chê trách, phán xét. Tuy vậy, từ “phản biện” (tiếng Hy Lạp: criticos) có nghĩa đúng là biện biệt, làm cho rõ ràng các vấn đề cái gì đúng, cái gì sai. Phải chăng sự liên tưởng [không cần thiết] và thói quen đoán từ đã tạo ra sự khác biệt ghê gớm này?

– Khoanh tròn từ “tin rằng”, “cho là”, “tin”, “nghĩ rằng”: đây là các từ khóa gợi ý nền tảng mà tác giả đang sử dụng (hay còn gọi là “tiền giả định”). Bất kỳ một nội dung nào khi được viết đều có một nền tảng niềm tin, tìm ra được tiền giả định ta sẽ thực sự bước vào cuộc hội thoại với tác giả.

– Gạch hai gạch cho các ý quan trọng của đoạn văn/ chương. Đây thường là các luận điểm của tác giả. Nếu bài viết có nhiều luận điểm thì mình dễ gặp mấy từ khóa như “thứ nhất là”, “đầu tiên”, “thứ hai”, “kế đó”, “thứ đến”, “vậy”, “mặt khác”, “đồng thời”, “trái lại”,… Đây đồng thời cũng là các từ liên kết giúp nội dung mạch lạc. Nương theo mạch ý của tác giả cũng là một cách hay nếu như ta phải thuyết trình sau đó.

– Gạch chân các ý quan trọng hoặc highlight các từ mới (để tra từ điển). Mình thấy thầy mình gạch từ khóa là chủ yếu, nếu phía trước có các từ thuộc dạng khoanh tròn thì không cần phải gạch nhiều.

– Với các câu có nội dung phủ định hoặc bác bỏ thì có thể gạch chồng lên nội dung. Mình để ý thấy cách gạch này rất ấn tượng vì nhìn vô thì tự khắc sẽ liên tưởng đến điều gì đó bị “xóa” đi.

– Một số đoạn dài nhưng quan trọng thì dùng ngoặc hoặc đường kẻ dài để đánh dấu là nó quan trọng, thầy mình làm vậy đó.

4. Nếu có thể thì bạn chuẩn bị vài tờ giấy hoặc nếu sách còn chỗ thì vẽ thẳng lên đó những sơ đồ tóm lược nội dung bạn đã đọc. Nội dung tóm lược của từng chương, từng phần. Thầy dặn mình nên sơ đồ hóa nội dung, nhất là những nội dung quá dài, quá phức tạp. Dĩ nhiên là bạn dùng từ khóa thôi nha, tránh phải ghi chép quá nhiều cho sơ đồ.

5. Đối với một số sách có các cấu trúc câu phức tạp, chẳng hạn như sách triết học thì nên dùng dấu “/” để phân tách các thành phần của câu cho dễ hiểu. Tưởng tượng câu “Thất kinh nàng chửa biết là làm sao” (Truyện Kiều) mà bị phân tích sai cấu trúc thì sao nhỉ? *cười*

6. Câu văn tiếng Việt rất hay sử dụng các đại từ như “nó”, “đó”, “chúng nó”, “chúng”,… để thay thế cho chủ từ đã dùng trước đó. Tuy vậy với những đoạn có nhiều đối tượng thì đại từ lại trở nên dễ nhầm lẫn một chút. Mẹo ở đây là bạn có thể dùng bút chì ghi lại từ/ cụm từ chỉ đối tượng được thay thế ở kế bên.

7. Nếu có thể thì lúc đọc nên trang bị từ điển bên cạnh. Mình biết là ý tưởng tra từ điển tiếng Việt nghe rất ngộ nghĩnh cơ mà khi chưa làm chủ được tiếng mẹ đẻ thì nên nương vào những nguồn tài liệu sẵn có. Còn việc dùng từ điển nào thì mình sẽ chia sẻ ở một bài khác.

Trên đây là một số kỹ thuật hỗ trợ việc đọc sách (cụ thể trong trường hợp này là sách triết học). Ở bài sau mình sẽ chia sẻ những gì mình làm sau khi đọc. Khoảng thời gian đầu khi phải học lại cách đọc mình thấy khó chịu lắm. Mình nghĩ “đọc thôi mà, sao lại nhiều ‘trò’ quá vậy”. Hóa ra đến lúc cần phải trình bày hoặc đơn giản là kể lại cho bạn nghe về một quyển sách mình lại không tài nào nhớ được ý. Từ dạo luyện tập cách đọc chủ động này mình rèn được tính cẩn thận, sự tập trung và nhất là mỗi lần cần thuyết trình thì chỉ cần “liếc” lại trang sách, bao nhiêu ý tự nhiên nổi lên hết à. Trước lạ sau quen, bây giờ thì ghiền Biểu tượng cảm xúc grin
16.07.2015
‪#‎nhatkyhocngu‬

#4 – Học cách đọc (phần 3)

Sau khi đã thực hiện các quy trình trước và trong lúc đọc, bây giờ mình chia sẻ những gì ta có thể làm sau khi đọc. Mình nhắc lại một lần nữa là phạm vi của bài viết đang là sách, cụ thể là sách triết học. Tuy vậy bạn hoàn toàn có thể vận dụng linh hoạt các kỹ thuật đọc này theo từng loại tài liệu và cả khả năng, sở thích của mình nữa nhé.

SAU KHI ĐỌC SÁCH

Giống như một câu chuyện cổ tích, có “khắc nhập” thì ta sẽ có “khắc xuất”. Sau khi đã đọc sách với tâm thế mình là người dạy, mình nghĩ ta có thể thử “xuất” bằng cách thuyết trình lại những gì đã “nhập”. Thông qua việc trình bày ta có thể kiểm tra mức độ “hiểu” của mình về nội dung đã đọc cũng như bộc lộ những điểm yếu về tư duy, cách dẫn dắt, cách dùng từ,… để khắc phục và hoàn thiện. Đặc biệt, các sơ đồ được vẽ trong lúc đọc là một trợ thủ đắc lực mỗi khi “xuất”. (Bạn xem lại ở #3 nha).

Thầy P gợi ý cho mình 3 giai đoạn của việc “xuất”, mình ghi lại hết ở đây nè:

1. Giai đoạn 1: Bạn gấp sách lại, nhìn vào sơ đồ (gồm các từ khóa và các ký hiệu thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố) và trình bày những gì bạn có thể khai triển được. Thường ở giai đoạn này chúng ta sẽ có cảm tưởng là mình hiểu nội dung nhưng “nó cứ sao sao”, mình muốn trình bày ra lắm cứ thấy khó khăn thế nào. Có thể bạn đang thiếu từ ngữ để diễn tả, hệ thống ý chưa mạch lạc hoặc một số chi tiết chưa rõ ràng.

Lúc này bạn đừng hoảng mà hãy bình tĩnh giở lại những phần còn thiếu sót. Quan trọng nhất là nhìn vào hệ thống từ vựng mà tác giả đang sử dụng để “mượn” những từ đó khi thuyết trình. Mình không nghĩ việc mượn từ của tác giả là một hành động bắt chước hay đạo văn bởi vì ta đang trình bày cho người nghe quan điểm của tác giả đó cơ mà. Đối với hệ thống ý chưa mạch lạc thì nhứt thiết phải xem lại các sơ đồ của mình đã chặt chẽ hay chưa. Lúc này bạn sẽ thấy sự lợi hại của việc gạch/ khoanh/ bôi lúc độc. Lắm lúc mình có cảm giác như chữ nhảy lên khỏi trang sách vậy.

2. Giai đoạn 2: Với những “đổ vỡ” của giai đoạn 1, sang đến bước này ta có thể trình bày nội dung trơn tru hơn một chút và bắt đầu “nhập” vào tác giả để trình bày. Dĩ nhiên là trong lúc đọc ta có những suy tưởng của riêng mình nhưng trước hết hãy làm rõ những luận điểm của tác giả, mình nghĩ đây là hành động thể hiện sự “tôn trọng”. Ta tôn trọng công sức người viết, tôn trọng thành quả “cày bừa” với các trang sách của mình, tôn trọng người nghe và tôn trọng tính khách quan của việc học. Có thể ta không đồng tình với tác giả nhưng trước khi tranh luận nhứt thiết phải hiểu ĐÚNG và trình bày ĐÚNG suy nghĩ của tác giả.

Tuy nhiên ở giai đoạn này có thể bạn vẫn còn gặp một số trở ngại về từ vựng, chi tiết chưa rõ ràng hoặc thiếu sự liên kết giữa các phần. Thế là ta [lại] giở sách ra và bổ sung vào các phần thiếu đó.

3. Giai đoạn 3: Lúc này ta đã có thể làm chủ kiến thức mình đã đọc và trình bày một cách lưu loát. Đồng thời với những suy tưởng khi đọc ta có thể “đối thoại” với tác giả bằng những luận điểm của mình. Có thể đến đây bạn đã thuộc bài nhưng vai trò của các sơ đồ vẫn rất quan trọng, nhất là khi ta lỡ quên một số chi tiết. Kinh nghiệm của mình là nên viết chữ to, rõ và không viết tắt trong sơ đồ. Thầy P có chia sẻ nếu được thì ta nên chuẩn bị một ít giấy để ghi chép, mình thì dùng sổ hoặc giấy note có keo dán.

Trên đây là các bước để trình bày nội dung quyển sách đã đọc. Con số “ba” thực ra có thể linh hoạt thay đổi tùy vào năng lực của mỗi cá nhân. Thầy cũng lưu ý mình là nên nói to để nghe được giọng mình khi nói đã lưu loát chưa, có thành thục từ ngữ chưa. Quan trọng hơn cả là phải liên tục rèn luyện để hình thành thói quen đọc sách chủ động.

Đến đây thì loạt bài về cách đọc sách cũng đã hoàn tất với những kỹ thuật cơ bản nhất. Đây cũng là những gì mình được học trong một buổi sáng cùng thầy P. Kết thúc khóa học ngắn hạn này, thầy chỉ dặn đi dặn lại mình là phải luyện tập bởi vì đa phần kiến thức ta sử dụng lấy từ việc đọc. Do vậy, song song với việc làm chủ tiếng Việt (thứ ngôn ngữ ta đang dùng để tư duy) thì đảm bảo cách “nhập” đúng cũng rất quan trọng. Xem ra hành trình “học ngu” vẫn còn rất dài…
18.07.2015
‪#‎nhatkyhocngu‬

#5 – Trình bày một vấn đề

Sau hai ngày cuối tuần nghỉ giải lao, hôm nay mình trở lại với “nhật ký học ngu” bằng bài viết chia sẻ cách trình bày một vấn đề. Mình nghĩ đây là một kỹ năng quan trọng bởi vì ai cũng phải có lúc đứng ra diễn giải, trình bày một điều gì đó trong đời. Ví như Einstein muốn trở nên vĩ đại cũng phải có người hiểu được “thuyết tương đối” của ông chứ nhỉ?

Dưới đây là kỹ thuật trình bày bằng ba từ khóa WHAT, WHY và HOW mà nhóm “học ngu” sử dụng. Bạn cũng có thể hiểu đây là “họ hàng” của 5W1H cũng được, chẳng qua là sự tinh giản và vận dụng mà thôi. Dù mỗi người có thể có phong cách riêng khi thuyết trình xét cho cùng thì cũng quay về với các yếu tố cơ bản sau đây:

1. WHAT (Cái gì): Vấn đề bạn đang muốn trình bày là gì vậy? Vấn đề đó có mấy phần? Nó phức tạp hay đơn giản? Nó có mang nhiều góc nhìn hay không? Trong phạm vi nào thì ta được bàn về vấn đề này?…

Nói một cách đơn giản thì WHAT là việc xác định vấn đề trọng tâm, đồng thời vạch ra phạm vi và giới hạn của vấn đề để trình bày. Việc xác lập “ranh giới”ngay từ đầu sẽ giúp người nghe hình dung được cái mà mình sẽ nghe. Thời gian đầu thực hành, thầy rất hay hỏi “con đang nói cái gì vậy?”, “rút cục thì bài viết này muốn nói cái gì?” bởi vì mình không nắm bắt được vấn đề. Những lúc đó mình đều phải quay lại đọc bài, tìm những ghi chú trong sách.

2. WHY (Tại sao): Mục đích của bài viết là gì? Tại sao cần phải có nội dung này?
Từ WHY này chỉ đơn giản là “mục đích” nhưng mình đánh giá đây là yếu tố quan trọng bậc nhất để một “sản phẩm” (nói chung) có ý nghĩa. Kể cả “nói cho vui” thì “cho vui” cũng đã là WHY rồi. Thường thì WHY được hình thành do nhu cầu lịch sử, một niềm tin nào đó bị “đổ vỡ” hoặc cái gì đó sẵn có đã không còn phù hợp nữa. Trong chữ WHY này mình có thể kết hợp chữ WHEN (lúc nào), WHERE (ở đâu) và WHO (đối tượng).

*Giữa hai từ WHAT và WHY này đôi khi có thể thay thế cho nhau về thứ tự, tùy người thuyết trình quyết định. Mình để ý nếu dùng WHY trước WHAT thì bài nói sẽ “mềm” hơn vì có cảm giác như ta đang kể chuyện.

3. HOW (Như thế nào): Vấn đề này đang được dẫn dắt như thế nào? Tiến trình của tác giả ra sao? Những câu hỏi nào đã được đặt ra để dẫn đến kết luận cuối cùng?

Tóm lại chữ HOW hướng đến cách thức, quy trình mà tác giả sử dụng để bóc tách vấn đề. Ví dụ như khi đọc triết học Kant ta sẽ thấy cách mà Kant sử dụng là đặt câu hỏi đến tận cùng. Cứ mở ra một câu hỏi rồi sẽ lại có thêm câu hỏi khác cứ hỏi như thế cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng mà ông muốn
.
Trên đây là cách trình bày [đơn giản] cho một vấn đề. Mình không gặp khó khăn khi học lại kỹ thuật trình bày bởi vì thời gian học ở trường phổ thông mình cũng đã quen rồi. Chỉ có điều khác với các bài học văn, sử, địa thông thường thì giờ đây đối tượng thuyết trình của mình đã thay đổi thành triết học nên mình chưa quen với thuật ngữ, khái niệm mới. Điều đó cũng cho thấy dù là lĩnh vực nào thì cốt lõi trình bày vẫn như nhau. Chỉ cần nắm bắt được những nền tảng căn bản ta sẽ có cách để “xoay chuyển” cho phù hợp với đối tượng.

Viết đến đây thì cũng đã tới giờ mình đi “học ngu” rồi. Các bài viết sau mình sẽ đi sâu vào một số vấn đề cơ bản của “học ngu”, cụ thể là trong quyển “Trò chuyện triết học” của thầy Bùi Văn Nam Sơn. Nếu bạn có hứng thú thì có thể tìm đọc cùng mình nhé.
20.07.2015
‪#‎nhatkyhocngu‬

 

Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s