Hình ảnh về Lễ tế Nam Giao xưa

Triều Nguyễn đã lập đàn Nam Giao để hàng năm nhà vua đến cúng tế Thiên Địa. Đàn Nam Giao ở Huế được vua Gia Long chọn đất, chỉ hướng từ năm 1802 và chính thức cho lập vào năm 1807.
Hàng năm trước ngày Tế Nam Giao vua ban ra 3 đạo sắc :
–  Công bố ngày Tế đàn Nam Giao;
–  Cong bố danh sách các quan được tham gia tế;
–   Yêu cầu mọi người tham gia Tế đàn Nam Giao phải chay tịnh.
Trong lịch sử nhà Nguyễn, buổi tế đàn Nam Giao đầu tiên làm năm 1807. Trước đây lệ là mỗi năm tế một lần, đến triều vua Thành Thái (1889 – 1907), do đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ, nhà vua không có thực quyền, kinh tế lại khó khăn, nên nhà vua ban dụ quy định thay vì tổ chức tế Giao hàng năm thì từ năm 1890 trở đi, cứ 3 năm mới làm lễ tế Giao một lần.
Đàn Nam Giao xây cao ba tầng, tượng trưng cho tam tài Thiên Địa Nhân.  Đàn đắp hình tròn tượng trưng cho Trời, Trên mặt đắp hình vuông tượng trưng cho Đất, 
Tại đàn Nam Giao xưa có một phiến đá Thanh đẽo rất khéo, thành một ống vang. Vua đứng trên đài nói vào phiến đá, tiếng nói bị cộng hưởng khiến người đứng dưới đài đều nghe rõ,
Tiếc rằng sau năm 1975, đàn Nam Giao bị phá, tảng đá không biết lưu lạc nơi đâu hay đã bị phá hủy mất.
Sơ lược về lễ tế Giao thời Nguyễn:
Triều Nguyễn chia lễ hội cung đình thành 2 loại: LỄ TIẾT và LỄ TẾ TỰ.
– LỄ TIẾT: Là các dịp triều hội hàng tháng, gồm: Đại triều (vua ngự điện Thái Hòa để nhận chầu) và Thường triều (vua ngự điện Cần Chánh để nhận chầu); 3 cuộc lễ lớn hàng năm nhân các đại tiết: Nguyên đán (Tết âm lịch), Đoan dương (Tết Đoan ngọ), Vạn thọ (sinh nhật nhà vua); các lễ mừng nhân các dịp: Hưng quốc khánh niệm (quốc khánh của triều Nguyễn), Thánh thọ (sinh nhật hoàng thái hậu), Tiên thọ (sinh nhật hoàng thái phi); Thiên thu (sinh nhật hoàng hậu), Thiên xuân (sinh nhật hoàng thái tử), lễ đăng quang (lễ lên ngôi của nhà vua), lễ tấn tôn (lễ sách phong hoàng thái hậu, hoàng thái phi), lễ mừng nhà vua ngự cung mới, lễ mừng hoàng thái hậu ngự cung mới, lễ sách phong… Ngoài ra, vào các tiết: Lập xuân, Đông chí, Thượng nguyên (15 tháng 1), Trung nguyên (15 tháng 7), Hạ nguyên (15 tháng 10), Thất tịch (7 tháng 7), Trùng dương (9 tháng 9)… triều đình cũng tổ chức triều hội hay tế lễ tại các miếu. Những lễ hội này cũng được xếp vào mục lễ tiết.
– LỄ TẾ TỰ: Là các lễ tế tại các đàn, miếu do triều đình lập ra, thờ tự và tổ chức tế lễ hàng năm. Triều Nguyễn quy định các lễ tế tự theo 3 bậc:
+ Đại tự: Gồm các lễ tế tại: đàn Nam Giao; các miếu trong Hoàng Thành gồm: Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu, Thế miếu, điện Phụng Tiên; điện Hiếu Tư; điện Long An; miếu Triệu Tường và miếu Trừng Quốc công; các lăng tẩm của các vị chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn; đàn Xã Tắc.
+ Trung tự: Gồm các lễ tế tại: miếu Lịch đại đế vương; miếu Lê Thánh Tông; Văn miếu; đàn Tiên Nông.
+ Quần tự: Gồm các lễ tế tại: đền Khải Thánh; Võ miếu; miếu Quan Công; miếu Quốc vương Chiêm Thành; miếu Quốc vương Chân Lạp; miếu Khai quốc công thần; miếu Trung hưng công thần; miếu Trung tiết công thần; miếu Đô Thành hoàng; miếu Hội đồng; miếu Thai Dương phu nhân; miếu Nam Hải long vương; miếu Hậu thổ; miếu Mộc thương, miếu Hỏa pháo thần; miếu Tiên Y; miếu Vũ sư; miếu Phong bá; miếu Thiên phi; miếu Hỏa thần; miếu Sơn thần; miếu Tiên nương; miếu thờ thần hồ; miếu thờ thần các đảo; đàn Ân tự; đàn Âm hồn; đàn Sơn xuyên; miếu thờ Thổ kỳ; từ đường thờ các thân huân, hoàng thân; từ đường thờ gia tiên các phi tần có công lao, đức hạnh lớn với triều đình, hoàng gia…
Như vậy, tế Nam Giao thuộc hàng “đại tự”, là lễ tế quan trọng nhất trong năm của triều Nguyễn. Theo sách “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Nội các triều Nguyễn biên soạn, thì lễ tế Giao diễn ra vào một ngày tốt trước ngày 19 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ tế diễn ra tại đàn Nam Giao, ở làng Dương Xuân (nay thuộc phường Trường An, thành phố Huế).
Trước khi tế Giao, vua phải “nhập” Trai Cung (Tòa hành cung xây ở góc tây nam của đàn Nam Giao), lưu lại đó 3 ngày để chay tịnh (ăn uống kiêng khem, không được gần gũi phụ nữ…) để “thanh trần”. Đến giờ Dần ngày thứ 3 vua và tùy tùng mới đi từ Trai Cung sang đàn Nam Giao, đi qua Nam Môn, thượng đàn để cử hành lễ tế. Lễ tế gồm 3 phần: sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ, kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ, trong đó phần “thài” các nhạc chương là quan trọng nhất. Ngoài ra còn có phần trình diễn điệu múa Bát dật do 128 vũ sinh trình diễn.

Thời Nguyễn chỉ có vua mới được cử hành lễ trên Viên đàn. Có hai lần tế Giao nhà vua không tham dự, xảy ra vào triều Tự Đức (do nhà vua bị ốm) và triều Duy Tân (do vua bị Pháp bắt đi đày). Một vị đại thần phải thay vua làm chủ tế nhưng chỉ được tế ở Phương đàn.

Sau năm 1975, chính quyền đã dựng một Đài Liệt sỹ tại Phú Văn Lâu bằng tôn và gỗ, nhưng sau đó đã bị bọn “phản cách mạng” cho giật mìn nổ. Ngay lập tức, Ðài Liệt sỹ này được xây dựng lại ngay chỗ cũ, tuy nhiên, chính quyền địa phương cho rằng địa điểm này không an toàn nếu có giới chức lớn đến đặt vòng hoa tưởng niệm nên cần xây dựng tại một nơi khác. Trước nhu cầu đó, hai đỉnh cao trí tuệ là Bùi San (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh Bình Trị Thiên kiêm Bí thư Thành phố Huế) và Trần Hoàn (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTT, khi đó là tỉnh ủy viên,  Trưởng Ty Văn hóa Tỉnh) đã nhân danh cách mạng đồng tình cho phá bỏ đài Nam Giao để xây Đài Tưởng niệm Liệt sỹ.
Một thời gian sau  đó, do một vài vấn đề sự cố có tính tâm linh cùng với sự bất bình, lên án gay gắt của các tầng lớp nhân dân Huế cũng như các nhà khoa học, những người yêu xứ Huế nên đài tưởng niệm Liệt sỹ này đã bị phá bỏ. Ngoài ra, không kể đến sự cấp thiết của việc hoàn thành hồ sơ đệ trình lên UNESCO để xin danh hiệu Di sản cho thành phố Huế và vinh danh Nhã Nhạc Huế nên Đàn Nam Giao may mắn đã phần nào được khôi phục lại.
Tuy nhiên, chỉ vì cái ngu xuẩn tột cùng của những kẻ  dốt nát mang danh nghệ sỹ cách mạng nên sự nguyên vẹn của đàn Nam Giao đã bị phá hủy không còn phục dựng được nữa. Mọi kỹ thuật xây dựng vô cùng tinh tế liên quan đến lĩnh vực âm học đã không còn. Đất nước ta mất đi một báu vật, một tinh hoa mà các thế hệ trước đã dày công sáng tạo và xây đắp.  Trước sự mất mát lớn lao này, nhân dân Huế đã cay đắng thốt lên rằng:
“Trần Hoàn cùng với Bùi San,
Hai thằng vô lại phá đàn Nam Giao”

Sự duy lý của  những kẻ đó đã  không phá được đàn Nam Giao. Đến năm 2006, khi tổ chức Festival Huế, các nhà lãnh đạo mới hổ thẹn nhận thấy bắt buộc phải tổ chức tế đàn Nam Giao tại địa điểm cũ,

Đó cũng là trái đắng khó nuốt của một số vị  trước đây.
Dưới đây là một vài hình ảnh về lễ tế tại đàn Nam Giao xưa ở kinh đô Huế trước năm 1945.
Đàn Nam Giao 1903
Ðám rước đi ra cổng thành Ngọ Môn (1935)
Ðám rước qua vọng lầu (1935)
Cột cờ ở Huế ngày lễ Nam Giao (1935)
Vua Bảo Ðại ngồi kiệu (1935)
Xa giá rời cung điện (1935)
Đám rước ra ngoại thành (1935)
Ðám rước tới trai cung (1935)
Ban nhạc dân tộc
Ðánh trống
Ban nhạc dân tộc (1935)
Nhạc cổ truyền
Thổi sáo
Vũ công nhảy múa (1935)
Long tượng (1935)
Các vì sao
Bàn thờ vọng (1935)
Bệ thờ (1935)
Cúng bái
Nam Giao toàn cảnh
Ðám rước đi về
Ðoàn diễu hành trở về
Advertisements

About To Lich's Blog

THƯỢNG VÀNG - HẠ CÁM!
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s