Nguyễn Ánh xưng vương, Bá Đa Lộc tham chính (1780-2020)

aa

tranh minh hoạ của Phan Thanh nam

Trần Thanh Ái

Cách nay vừa đúng 240 năm, vào những ngày đầu xuân Canh Tý 1780, Nguyễn Ánh được triều đình tôn lên làm vua khi bước sang tuổi 19. Về sự kiện này, Quốc Sử Quán triều Nguyễn có ghi trong Đại Nam thực lục như sau:

“Năm Canh Tý, lại năm thứ 1 [1780] (Lê – Cảnh Hưng năm thứ 41, Thanh – Càn Long năm thứ 45, năm ấy vua mới lên ngôi nên lại chép năm thứ 1) mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý mão[1], vua lên ngôi vương. Khi vua mới quyền coi quốc chính, quần thần đều khuyên lên ngôi. Vua cho rằng thù nước chưa trả xong, nhún nhường không chịu, quần thần hai ba lần nài xin, vua mới theo, lên ngôi vương ở Sài Gòn.” (Quốc Sử Quán triều Nguyễn, 2002, tr. 208)

Sự kiện này được xem là một động thái nhằm tạo sự chính danh cho cuộc chiến tranh chống lại anh em nhà Tây Sơn, để dễ bề huy động sự ủng hộ của nhân dân xứ Đàng Trong. Nguyễn Ánh là hậu duệ duy nhất còn sót lại của nhà Nguyễn, sau khi thoát khỏi một cách ngoạn mục sự truy diệt của quân Nguyễn Huệ ở sông Khoa (Khoa giang)[2] năm Đinh Dậu (1777). Trước khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã lập được một số thành tích quân sự đáng kể, mà quan trọng nhất là việc đánh chiếm lại được Gia Định, dẫn đến danh xưng Đại Nguyên soái vào tháng Giêng năm Mậu Tuất (1778).

Một sự trùng hợp khá thú vị mà mãi sau này người ta mới biết được: trong đất liền, khi triều đình đang chuẩn bị các thủ tục lên ngôi vua của Nguyễn Ánh thì ở Côn Đảo xảy ra một sự kiện trên lĩnh vực bang giao quốc tế. Sự kiện này tuy nhỏ nhưng ẩn chứa nhiều ý nghĩa, thậm chí có thể nó còn chứa đựng những bí mật mà có lẽ mãi mãi sẽ không bao giờ được giải mã. Đó là cuộc “chạm trán” ngoài dự kiến giữa đoàn thám hiểm người Anh ghé vào đảo và thuộc cấp của Giám mục Adran, mà sử sách Việt quen gọi là Bá Đa Lộc[3], xảy ra vào đầu năm 1780. Điều đặc biệt trong sự kiện này, không chỉ là sự xuất hiện của tên tuổi nhà truyền giáo Bá Đa Lộc, mà còn là sự hợp thức hóa thân phận của Bá Đa Lộc với cách là đại quan trướng Nguyễn Ánh vừa lên ngôi. Hơn thế nữa, sự kiện này lại xảy ra trên hòn đảo tiền tiêu đã bao phen nằm trong kế hoạch chinh phục của nhiều cường quốc hàng hải châu Âu, đặc biệt là Pháp và Anh.

Bá Đa Lộc phụng mệnh Đức Vua

Đại Nam Liệt truyện, bộ sách ghi tiểu sử các vua quan trong triều, có nhắc đến nhưng rất sơ lược sự hiện diện của Bá Đa Lộc trong sự kiện Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1780: “Năm Canh Tý (1780), Thế Tổ Cao Hoàng đế lên ngôi Vương ở Gia Định, Đa Lộc đến yết kiến xin cố sức giúp việc, vua nhận lời”. Thế nhưng theo tài liệu của các nhà thám hiểm người Anh, trước đó mấy tháng, người ta thấy Bá Đa Lộc đã “điều binh khiển tướng” để thực hiện một chiến dịch đón tiếp quân cứu viện đầu tiên trong cuộc chiến đương đầu với quân Tây Sơn.

Đó là ngày 21 tháng 1 năm 1780, tức ngày Ất Sửu 15 tháng Chạp năm Kỷ Hợi. Đoàn thuyền gồm chiếc HMS Resolution trọng tải 462 tấn và chiếc HMS Discovery trọng tải 395 tấn của nhà thám hiểm J. Cook[4] ghé lại Côn Đảo để tìm kiếm lương thực và nước ngọt. Sau khi đã bắn pháo hiệu thông báo đoàn thuyền cập bến mà không thấy ai xuất hiện, một nhóm nhỏ đổ bộ lên đảo để tìm hiểu tình hình. Ngày hôm sau vẫn không thấy một bóng người nào xuất hiện, và thế là đích thân thuyền trưởng J. Gore và thuyền trưởng J. King lên đảo. Họ gặp một người dân có những hành vi bí ẩn và thái độ lạ lùng khiến họ phải chú ý: khi trò chuyện cùng đoàn thám hiểm, chốc chốc nhân vật này lại chạy vào gian nhà trong trước khi trả lời, như thể để nhận sự chỉ bảo phải trả lời như thế nào. Cuối cùng thì anh ta mang ra một mẫu giấy trên đó có mấy dòng chữ bằng tiếng Pháp:

“Peter Joseph George[5], Giám mục Adran, Đại diện Tông tòa xứ Đàng Trong vv.,

Viên quan nhỏ mang tờ giấy này được Triều đình phái đến Côn Đảo để chờ đợi và tiếp đón mọi tàu thuyền châu Âu có lộ trình cập bến ở đây. Vì vậy, thuyền trưởng có thể tin tưởng ở anh ta, hoặc để cập thuyền vào bến, hoặc để chuyển tin tức mà ông ta cho là cần thiết.

Làm tại Sài Gòn ngày 10 tháng 8 năm 1779.” (Cook J. & King J. 1784, tr.264)

Sau khi thông báo mục đích ôn hòa của cuộc viếng thăm để trấn an người tiếp chuyện, họ trở về thuyền. Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, một chiếc thuyền nhỏ chở 6 người chèo về hướng đoàn thuyền thám hiểm. Một người đàn ông đến gặp thuyền trưởng Gore: ông ta có gương mặt dễ nhìn, dáng vẻ lương thiện và lịch sự, chắc hẳn rằng ông ta không phải là cư dân ở đây, mà là từ nơi khác đến. Ông ta cho biết ông chính là viên quan được giám mục xác nhận trên tờ giấy mà thuyền trưởng Gore đã đọc sáng nay. Viên quan này tự giới thiệu là người theo đạo Thiên chúa, có tên thánh là Luco[6], và đã ra đảo từ tháng 8 năm 1779 để đón tàu Pháp đưa về xứ Đàng Trong. Khi biết các vị khách không mong đợi này là người Anh, và cũng biết là nước Anh và Pháp đang có chiến tranh với nhau, viên quan này cho biết rằng nhiệm vụ của ông là hướng dẫn bất cứ tàu thuyền nào muốn buôn bán với xứ Đàng Trong. Đoạn ông chìa ra một bức thư có niêm phong và nài nỉ thuyền trưởng Anh đọc: thư này cũng do chính Giám mục Adran viết cùng ngày tháng với mảnh giấy giới thiệu khi sáng:

“Kính gửi quý vị thuyền trưởng các tàu thuyền châu Âu sẽ thả neo ở Côn Đảo,

Nhiều tin tức gần đây đến từ châu Âu cho phép chúng tôi mong rằng nay mai một con thuyền sẽ đến xứ Đàng Trong, vì thế chúng tôi đã bẩm tấu Triều đình quyết định cử đến Côn Đảo viên quan mang thư này để chờ thuyền đến. Nếu thuyền này thả neo ở đó, thuyền trưởng có thể báo tin cho chúng tôi qua trung gian người mang thư này, hoặc cũng có thể tin tưởng anh ta để đưa thuyền vào một cảng an toàn của xứ Đàng Trong, cách Côn Đảo một ngày đường. Nếu quý vị muốn ở lại Côn Đảo cho đến khi viên sứ giả trở lại thì chúng tôi sẽ gửi người phiên dịch và những hỗ trợ khác không liệt kê được ra đây, vì không phải lúc cung cấp thêm nhiều chi tiết mà thuyền trưởng có thể quan tâm đến.” (Cook J. & King J., 1784, tr.267-268)

Đoàn thuyền thám hiểm của James Cook: chiếc HMS Resolution và HMS Discovery.

Qua trao đổi với Luco, và sau khi đọc thư, thuyền trưởng tàu Anh nghĩ rằng anh ta đang chờ đợi một tàu Pháp đến. Anh ta suy đoán rằng có lẽ tàu Pháp đang bỏ neo ở Tirnon[7] và sắp giương buồm đến đây, nhưng anh ta vẫn sẳn sàng làm hoa tiêu cho tàu Anh. Thuyền trưởng tàu Anh không khai thác được gì từ anh ta về mục đích cụ thể của con tàu Pháp sắp cập bến đó. Đó là con tàu nào? Có phải đó chính là chiếc tàu đồng mà Mạn-hòe chỉ huy trong trận thủy chiến ở Ngã bảy cửa biển Cần Giờ năm 1782, hay là một con tàu khác? Mạn-hòe đến Việt Nam từ lúc nào? Bá Đa Lộc đã chiêu mộ Mạn-hòe lúc nào? Ông đã lên kế hoạch cầu viện hải quân từ khi nào, và ông đã liên lạc với những ai? Các câu hỏi này vẫn còn bỏ ngõ. Tuy nhiên, điều chắc chắn là kế hoạch này đã có sự chuẩn bị trước ngày 10 tháng 8 năm 1779 khá lâu, đủ lâu để có sự bàn bạc thống nhất giữa Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc và thời gian thư từ qua lại giữa vị Giám mục với một đối tác nào đó ở nước ngoài! Tóm lại, “sự kiện Côn Đảo năm 1780” hé lộ cho chúng ta biết là vào thời điểm đó Bá Đa Lộc đã nhận được sự tin tưởng cao độ của Nguyễn Ánh, với nhiệm vụ cụ thể là liên lạc với nước ngoài để tìm cầu viện, cùng với hệ thống thuộc cấp được tổ chức và hoạt động khá hữu hiệu của ông.

Trong thư đề ngày 26 tháng 7 năm 1779, Bá Đa Lộc kể lại một chi tiết về vai trò trung gian của ông giữa triều đình Nguyễn Ánh và các thương nhân đến từ Macao trong vụ mua bán vũ khí:

“Hai chiếc tàu từ Macao đến Bassac trong năm nay để buôn bán… Một người Trung Hoa đưa ý kiến với ông lớn ở Xứ Cochinchine cho ông ta biết rằng tàu chứa đầy đại bác, diêm tiêu, lưu hoàng và các thứ khí giới, đạn dược khác. Ông quan mà tôi rất quen đó đương hết sức cần các thứ hàng hóa này, vội vã bắt tôi viết thư cho các quan coi tàu yêu cầu họ bán cho ông hết hay một phần. Hay nếu có thể, họ đem tàu giúp xứ Cochinchine: đổi lại, họ được hưởng quyền ghé bến và những quyền lợi khác nữa.” (Launay A., 1925b, tr. 74-75, dẫn theo Tạ Chí Đại Trường 1973, tr.106)

Một bằng chứng khác về nhiệm vụ liên lạc với nước ngoài của ông là tháng 4 năm 1780, ông có nhận một bức thư của toàn quyền Macao (không rõ thời gian viết) nhờ cậy ông làm trung gian nhận thư của Nguyễn Ánh gửi cho toàn quyền thành Goa (lúc ấy đang là thuộc địa của Bồ Đào Nha). Nhưng việc không thành vì lúc ấy ông đang ở Campuchia, như sau này ông đã thuật lại trong thư đề ngày 8 tháng 7 năm 1785 gửi Thượng viện Macao:

“Tháng 4 năm 1780, tôi có nhận được một bức thư của ông Francisco-Xavier de Castro, lúc ấy là toàn quyền Macao, trong đó ông ấy nhờ tôi nhận giúp xin??? thư của vua xứ Đàng Trong viết một lá thư gửi Toàn quyền Thành Goa, với những điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán của xứ ông, và đổi lại ông ấy sẽ cung cấp mọi thứ cần thiết để nhà vua chiếm lại ngai vàng. Tôi nhận được thư này lúc tôi đang ẩn náo ở vương quốc Campuchia, nên không thể thỏa mãn yêu cầu của ông ta.” (Cadière L., 1926, tr.28)

Qua các ghi chép ngắn gọn như trên, chúng ta cũng có thể hình dung ra những hoạt động của Bá Đa Lộc trong những ngày đầu Nguyễn Ánh xưng vương.

Tầm nhìn Bá Đa Lộc

Việc cử người ra trực ở Côn Đảo cho thấy Bá Đa Lộc hiểu rõ vị trí chiến lược của đảo này trên vùng biển Việt Nam, mặc dù ông chưa hề đặt chân lên đó, và cũng chỉ mới hai chuyến đi ngang Côn Đảo bằng đường biển, lần đầu vào cuối tháng 9 – đầu tháng 10 năm 1766, lần sau vào tháng 3 năm 1775, theo lộ trình Pondichéry (Ấn Độ) – Ma Cao – Hà Tiên để nhận nhiệm vụ truyền giáo ở Hà Tiên. A. Faure, nhà viết tiểu sử Bá Đa Lộc, đã tiết lộ nhiều thông tin liên quan đến quãng thời gian Bá Đa Lộc dời trường dòng về Pondichéry:

“Trong khoảng thời gian bốn năm ở Pondichéry, Pigneau de Béhaine chắc chắn đã hiểu được tầm quan trọng của xứ Đàng Trong đối với quyền lợi của Pháp ở Viễn Đông. Thư từ của Dupleix, của Poivre, các câu trả lời của các bộ trưởng và quan điểm của họ về các vấn đề phương Đông, tất cả những thông tin ấy đã mang đến cho ông niềm xác tín rằng một ngày nào đó nước Pháp sẽ được mời gọi đóng một vai trò quan trọng ở miền đất châu Á này.” (Faure A. 1891, tr. 32)

Thật vậy, từ lâu phương Tây đã biết tầm quan trọng của Côn Đảo trên tuyến đường hàng hải biển Đông nước ta, và Ấn Độ là trạm dừng chân của mọi tàu thuyền từ Âu sang Á, ở đó mọi tin tức thời sự liên quan đến hai châu lục này được lan truyền rất nhanh chóng. Vả lại, ngay từ thế kỷ XVII, nhiều nhà hàng hải đã ghi nhận vị trí đắt địa của Côn Đảo trong thời chiến cũng như trong thời bình: Fernão Pires de Andrade (Bồ Đào Nha, 1516), Jan Huyghen van Linschoten (Hà Lan, 1596), Véret (Pháp, 1686), Dampier (Anh, 1687) đã từng lưu ý đến vị trí yết hầu của tuyến hàng hải nối liền các cảng Trung Hoa, Nhật bản và các eo biển đi Ấn Độ dương để sang châu Âu. Và cũng đã từng có không ít kế hoạch chiếm hữu được vạch ra tỉ mỉ, thậm chí đã có hai cuộc chiếm đóng thực sự, của Anh từ năm 1702 đến 1705[8] và của Pháp từ cuối năm 1720 đến tháng 6 năm 1722 nhưng đều thất bại.

Chắc chắn rằng những thông tin ấy không thể thoát khỏi tầm mắt của Bá Đa Lộc. Vì thế, ông hiểu rõ những thuận lợi cũng như những chướng ngại ở Côn Đảo, và do đó ông phải biết sẽ chuẩn bị những thứ gì cho tàu thuyền sẽ cập bến. Đoàn thám hiểm người Anh có những quan sát thực địa và so sánh thú vị với những mô tả của W. Dampier về Côn Đảo trong thế kỷ XVII và của kỹ sư người Pháp Dedier[9] mà họ đã đọc được. Theo họ, động thực vật trên đảo lúc này phong phú hơn trước nhiều: đã có nhiều trâu, thậm chí theo lời những người dẫn đường là có nhiều đàn trâu, nhiều heo cúi, nhiều mảnh ruộng lúa, nhiều vườn chuối, dưa, cam, lựu, bưởi… Từ những quan sát này, họ suy luận là có lẽ Giám mục Bá Đa Lộc đã chuẩn bị những thứ ấy để tiếp tế lương thực thực phẩm tươi sống cho tàu thuyền Pháp sắp đến xứ Đàng Trong:

“Theo những gì chúng tôi vừa nói về Giám mục Adran, chắc hẳn rằng hòn đảo phải mang ơn người Pháp về những đổi thay này, có lẽ được đưa đến đây nhằm mục đích biến hòn đảo trở thành một nơi hữu ích hơn cho việc tiếp tế thực phẩm tươi sống cho các tàu thuyền của họ đi xứ Đàng Trong hoặc đi Campuchia. Nếu ngày xưa hoặc nếu hôm nay họ có kế hoạch đặt cơ sở trên vùng này, thì chắc chắn rằng Côn Đảo sẽ rất thích hợp cho mục tiêu ấy, và cho cả việc quấy nhiễu việc giao thương của kẻ thù của họ khi có chiến tranh xảy ra.” (Cook J. & King J. 1784, tr. 275)

Có thể họ đã cường điệu khi cho rằng nhóm người Pháp do Bá Đa Lộc đứng đầu đã mang lại sự cải thiện về cây trồng vật nuôi, nhưng chắc là không phải hoàn toàn vô cớ. Tuy mới ra đảo được 5 tháng (từ tháng 8 năm 1779 đến tháng 1 năm 1780), nhưng nhóm tiền tiêu của Luco cũng có thể trồng hoa màu ngắn ngày như dưa, chuối… Nhưng để có được thành quả về chăn nuôi hay trồng những cây dài ngày như cam, lựu, bưởi… thì cần phải có nhiều thời gian hơn thế. Cũng không thể cho rằng đó là thành quả của hai đoàn thám hiểm người Pháp[10] đã từng đến trước đây vào các năm 1720-1722 bởi vì đoàn này gặp rất nhiều khốn đốn đến độ nhiều người phải bỏ mạng do thời tiết khắc nghiệt gây ra. Vì vậy đó chỉ có thể là thành quả của người dân sống trên đảo từ hơn 100 năm: theo ghi nhận của D. F. Navarette vào năm 1669 và Véret[11] năm 1686, ngay từ thế kỷ XVII người Việt và Campuchia đã có mặt trên đảo, và thường tới lui giữa Côn Đảo và đất liền theo mùa gió thổi để trao đổi sản vật địa phương mà họ thu hoạch được. Cứ thế năm này qua năm khác, từng bước họ cải tạo đất đai trên đảo để có thể trồng trọt và chăn nuôi, để giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn cung cấp của đất liền, phòng khi những lúc biển động thuyền bè không vào được. Hay là Luco đã cung cấp cho đoàn thám hiểm nhiều thông tin khác mà các nhà thám hiểm người Anh không tiết lộ trong bộ hồi ký của họ? Tưởng cũng nên nhắc lại là từ năm 1764, Giám mục Canathe đã gợi ý thành lập một thương trạm tại Côn Đảo (Duteil J.-P. 1998, tr. 286), và tháng 7 năm 1768, đích thân ông cùng với linh mục Levavasseur đã đến Bãi Xàu, sau đó lại ra một làng ven biển (có lẽ đó là Mỹ Thạnh), tìm thuê người đưa ra Côn Đảo để tìm nơi xây dựng chủng viện. Linh mục Levavasseur mô tả nơi đó như sau: “nơi mà chỉ có người Hoa và người Việt sinh sống, và cũng là nơi mà dân Côn Đảo đến mua lương thực dự trữ khi có tàu thuyền nước ngoài đến nằm chờ gió mùa” (Levavasseur, 1821, tr. 224-225). Nhưng cuối cùng không ai dám nhận lời vì sợ viên quan người xứ Đàng Trong cai quản Côn Đảo trừng phạt. Liệu sau lần đó đã có nhà truyền giáo nào đặt chân lên đảo để thực hiện ý định đó chưa? Chúng ta chưa thấy tài liệu nào trả lời chính xác câu hỏi đó, vì thế cũng chưa thể cho rằng nhờ người Pháp mà vật nuôi ở Côn Đảo phong phú hơn.

  1. Faure cho rằng hành động của Bá Đa Lộc nằm trong tính toán nhìn xa trông rộng của vị Giám mục, nhằm loại bỏ người Anh ra khỏi cuộc chạy đua tranh giành ảnh hưởng ở mảnh đất ven biển Đông. Ông viết:

“Những tài liệu này [tức giấy xác nhận và bức thư] không chỉ chứng tỏ ảnh hưởng to lớn mà Giám mục Adran có được trong nội bộ xứ Đàng Trong, mà còn cho thấy sự chu đáo của ông nhằm loại bỏ sự can thiệp của người Anh đã xuất hiện trên mặt trận ngoại giao, và nhằm đặt hoạt động của ông dựa trên sự tài trợ và giúp đỡ của nước Pháp. Thật vậy, mọi người đều thấy rằng ông đang chờ đợi một tàu chiến sẽ tham gia vào cuộc giao tranh sắp xảy ra xung quanh Sài Gòn.” (Faure A., 1791, tr. 40)

Nhận xét của Faure trên đây có ám chỉ đến một sự kiện có thật liên quan đến sự dòm ngó của người Anh, xảy ra vào năm 1778 và đã được chính người trong cuộc viết ra và xuất bản năm 1802 trong tạp chí The Asiatic Annual Register 1801. Đó là chuyến công cán đột xuất đến xứ Đàng Trong của Chapman, một nhà ngoại giao người Anh đóng ở Bengale tiếp theo một sự cố hy hữu: sau khi quân chúa Trịnh tràn xuống phương Nam chiếm Phú Xuân, linh mục Lorico[12] cùng hai quan nhà Nguyễn[13] chạỵ xuống Đà Nẵng để tìm đường vào Nam theo chân Duệ Tông. Ba người gặp con thuyền Rumbold của người Anh và nhận ra đó là chỗ quen biết với linh mục Lorico, trước đây thuyền của họ bị nạn và ông đã từng giúp họ sửa sang. Vì thế cả ba được họ cho quá giang vào Đồng Nai. Nhưng hôm ấy thời tiết quá xấu khiến cho họ không kịp nhận ra bến đậu nên đi quá xa, và đành đi thẳng và đến Calcutta vào tháng 2 năm 1778. Sự kiện này đã gây xôn xao trong giới chính trị và quân sự phương Tây đóng ở Ấn Độ, nhưng hơn ai hết, phía Pháp dành một sự quan tâm đặc biệt. Ngày 15 tháng 2 năm 1778, Chevalier, tư lệnh vùng Chandernagor viết một bức thư gửi De Bellecombe, toàn quyền Pondichéry, lúc ấy hai địa phương này là nhượng địa của Pháp, trong đó có đoạn như sau:

“Thưa ông, xét dưới mọi góc độ, đối với chúng ta, vụ này phải được xem là vụ có tầm quan trọng cao độ và liên quan đặc biệt đến chính sách của chúng ta, vì tất cả những hệ lụy mà nó có thể dẫn đến từ một dân tộc hùng mạnh, năng động và dám làm như là người Anh. Thật vậy, ta không thể giấu diếm rằng nếu họ gửi cứu viện đến xứ Đàng Trong thì chẳng mấy chốc họ sẽ làm chủ cả đất nước như họ đã từng làm ở Bengale và phần còn lại của lãnh thổ của họ ở Ấn Độ. Sau đó, họ sẽ mở rộng dễ dàng lãnh địa của họ sang Xiêm rồi đến xứ Đàng Ngoài. Cứ thế mà họ sẽ xây dựng một đế chế mới, mà với vị trí, nguồn lợi và đất đai phì nhiêu nó sẽ đem đến cho họ một nguồn tài nguyên phong phú và sức mạnh khác, thậm chí ai biết được điều mà họ có thể làm đối với Trung Hoa, nơi mà các kho tàng vô tận chỉ khơi dậy lòng tham của họ.” (Gaudart M., 1937, tr. 369)

Nhưng người Anh đã nhanh tay hơn: khi nắm bắt được sự việc, viên toàn quyền Anh đã cho thuyền Jenny đưa hai quan người Việt về nước, và cử Chapman đi trên một con thuyền khác, tên là Amazon. Khi đến cảng Bãi Xàu, họ nhận được tin là vua xứ Đàng Trong đã bị giết, và quân Tây Sơn đã làm chủ cả xứ Đàng Trong. Họ bèn đi thẳng ra Qui Nhơn và được Nguyễn Nhạc tiếp đãi cùng với nhiều hứa hẹn.

Thái độ của các nhà truyền giáo về sự cộng tác với Nguyễn Ánh

Sự cộng tác với Nguyễn Ánh đã khiến giám mục Bá Đa Lộc gặp không ít rắc rối từ phía một số nhà truyền giáo phương Tây, nhất là những người thuộc dòng tu khác không thuộc Hội Truyền giáo hải ngoại ở Paris (Société des Missions étrangères de Paris). Ông đã bị tố cáo lên cả Tòa Thánh La Mã (Louvet L.-E. 1885) về các mối quan hệ của ông với Nguyễn Ánh, mà người ta cho là đã vi phạm Huấn dụ 1659[14] liên quan đến điều cấm thứ 10 là không được tham gia vào chuyện chính trị tại nơi truyền giáo:

“Sự thân mật của Giám mục Bá Đa Lộc với Nguyễn Ánh đã khơi dậy nơi những người không quen biết giám mục mà lại thích chê trách hơn là tìm hiểu, nỗi lo sợ là vị đại diện tông tòa quên nhiệm vụ tông đồ của mình; thậm chí người ta còn tố cáo ông tham gia chiến tranh và tham mưu cho các sĩ quan về nghệ thuật quân sự.” (Launay A. 1925a, tr. 137)

Thật ra, sự hiềm khích này không phải chỉ xuất hiện khi Giám mục Bá Đa Lộc giúp đỡ Nguyễn Ánh, mà nó đã âm ỉ từ lâu. Ngay sau khi đặt chân đến Hà Tiên được 9 tháng, thì ngày 8 tháng 1 năm 1768, Bá Đa Lộc bị đóng gông tại Hà Tiên hơn 2 tháng do lời tố cáo của các tu sĩ thuộc dòng Phanxicô. Sự việc này được Giám mục Piguel tiết lộ trong một bức thư đề ngày 22 tháng 6 năm 1770 và Silvestre ghi lại như sau:

“Phya-Thac, từ khi biết là Châu-Si-Sang tẩu thoát về phía Hà Tiên, đã viết thư cho Mạc-Tôn để nhờ ông bắt sống hay là giết chết vị hoàng tử này. Kèm theo thư là nhiều món quà choáng ngợp, trong đó hai khẩu đại bác châu Âu; ông ta còn hứa hẹn nhiều quà cáp hơn nữa nếu giao kẻ đào tẩu cho ông ta. Từ trước đến giờ chưa từng nhìn thấy khẩu đại bác nào có nòng to đến thế, và cũng muốn có thêm nhiều khẩu khác, và cũng vì lo ngại cho chính số phận của mình, nên vị phó vương Hà Tiên ra lệnh lùng sụt khắp hang cùng ngõ hẹp. Các tu sĩ dòng Phanxicô vội vàng tố cáo các cha người Pháp ở chủng viện Hòn Đất, kết tội họ đã che giấu hoàng tử Xiêm nhiều ngày trong chủng viện, và sau đó đã cho người đưa ông ta vào đất Campuchia.” (Silvestre J., 1895, tr. 402)

Mặc dù gặp nhiều trở lực từ nhiều phía, nhưng Bá Đa Lộc không chùn bước, vì ngoài sự kiên định của người truyền bá đức tin, ông còn thấy nghĩa vụ công dân của ông, được Faure tóm tắt như sau:

“Ông cảm thấy, ông linh cảm rằng đây là cơ hội tốt để cắm những chiếc cột mốc và ông không do dự; và ông càng ít do dự hơn khi mà ông nhận thấy rằng đạo Thiên Chúa có thể hưởng được rất nhiều từ những thành quả mà các nhà truyền giáo đơn độc có thể đạt được. Sau này người ta sẽ trách móc ông đã làm chính trị thay vì chỉ chăm lo cho tôn giáo. Ứng xử của ông trước hết là cách ứng xử của một người yêu nước; lịch sử không thể quở trách cách ứng xử ấy.” (Faure A. 1891, tr. 32)

Thái độ của triều đình nhà Nguyễn đối với Bá Đa Lộc

Không chỉ gặp rắc rối từ phía một số nhà truyền giáo châu Âu, Bá Đa Lộc còn phải đối diện với sự thiếu thiện cảm của các quan trong triều đình nhà Nguyễn, ngay từ thời còn chống Tây Sơn và cả đến khi đã giành được vương quyền. Đại Nam Liệt truyện có ghi vụ lấn lướt của một ông quan người Việt đối với Bá Đa Lộc:

“Mùa đông năm Đinh Tỵ (1797), ông [Hoàng tử Cảnh] thay Nguyễn Văn Thành trấn thủ Diên Khánh, Bá Đa Lộc, Tống Viết Phước đều lệ thuộc theo cùng. Viết Phước từng lấy lời nói đè lấn Bá Đa Lộc, vua nghe thấy, dụ ông rằng: nhân hậu tất nên quả quyết, mới nên việc ngươi trấn giữ Diên Khánh, việc ở ngoài cửa kinh thành trở ra đều phải trông coi cả; từ phó tướng trỏ xuống, ai không theo lệnh thì chém đầu để nghiêm tướng lệnh. Viết Phước sợ không dám nói nữa.” (Quốc Sử Quán, 2006)

Trầm trọng hơn nữa, có quan còn dâng cả sớ lên vua xin chém đầu Bá Đa Lộc vì cho rằng ông kiêu ngạo và dùng đạo Thiên chúa “để lừa ngu dân”. Trong phần ghi tiểu sử Trần Đại Luật, Đại Nam Liệt truyện còn ghi lại sự kiện này như sau:

“thấy người Tây là Bá Đa Lộc kiêu ngạo, [Trần Đại Luật] dâng một sớ nói: “Cái hại về đạo Phật Lão tệ hơn đạo Dương Mặc, mà cái hại về đạo Gia Tô lại tệ hơn đạo Phật Lão, nên trị mối dị đoan thánh nhân răn về hại ấy, giữ về tà đạo, tiên vương bảo tất phải giết, là rất ghét về loạn chính, dối dân để họa về sau. Nay Đa Lộc mang giáo Thiên Chúa để lừa ngu dân, không có tình thân cha con, nghĩa lớn vua tôi, lại tự cậy là bảo hộ Đông cung có chút công lao, sinh lòng kiêu ngạo, không sợ hãi gì, nay như thế, ngày khác lại như thế nào, kẻ ấy mà không giết, sao gọi là pháp luật được. Tôi xin thanh gươm của vua dùng chém đầu hắn treo ở cửa chợ, để tạ cả nước mà bỏ được sự mê hoặc của mọi người”. (Quốc Sử Quán, 2006)

Riêng về sự cộng tác của Bá Đa Lộc với Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh giành vương quyền, bộ chính sử nhà Nguyễn Đại Nam thực lục đã không nói gì về Bá Đa Lộc trong giai đoạn từ khi Nguyễn Ánh bôn ba lần đầu ở Vịnh Thái Lan năm 1777 đến khi thu nạp ông vào guồng máy chiến tranh trong những năm đầu chống quân Tây Sơn. Lần đầu tiên tên của ông được nhắc đến trong bộ sử này là khi nói về Màn Hòe[15] tử trận vào năm “Nhâm dần năm thứ ba”, tức 1782:

“Tháng 3 [Nhâm Dần, năm thứ ba, tức 1782], giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ vào đánh phá. […] Giặc nhân gió mạnh xông thẳng tới. Quân ta phải lùi. Một mình Cai cơ là Màn Hòe đi tàu tây cố sức đánh rất lâu. Giặc đổ quân bao vây bốn mặt, ném hỏa khí đốt tàu, Màn Hòe bị chết. (Màn Hòe là người Phú Lãng Sa, Bá Đa Lộc giới thiệu là người dùng được, vua trao cho chức Khâm sai cai cơ, coi đội Trung Khuông, sau được tặng là Hiệu nghĩa công thần phụ quốc thượng tướng quân).” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, tr. 211-212)

Còn Đại Nam liệt truyện, bộ sách ghi tiểu sử các vua quan trong triều thì có nhắc đến một cách sơ lược sự hiện diện của Bá Đa Lộc trong sự kiện lên ngôi năm 1780: “Năm Canh Tý (1780), Thế Tổ Cao Hoàng đế lên ngôi Vương ở Gia Định, Đa Lộc đến yết kiến xin cố sức giúp việc, vua nhận lời.” Cách ghi như thế chẳng những không cho thấy vai trò của Bá Đa Lộc hiện đang đảm trách, mà còn có thể khiến người đọc hiểu đây là lần đầu tiên Bá Đa Lộc đến yết kiến Nguyễn Ánh (bởi các chữ “xin cố sức giúp việc”, “vua nhận lời”. Có thể các đại thần phụ trách biên soạn không ai có mặt bên cạnh nhà vua trong giai đoạn nói trên (hai quan tổng tài phụ trách biên soạn Đại Nam Thực lục và Đại Nam Liệt truyện là Vũ Xuân Cẩn sinh năm 1772, Trương Đăng Quế sinh năm 1793), nên họ không có dịp mục kích những sự việc đương thời. Nhưng cũng có thể sự lạnh nhạt này xuất phát từ nhiều lý do khác, trong số đó có cả sự thiếu thiện cảm của các quan người Việt như vừa nói ở trên.

*

*   *

Chỉ cần quan sát sự việc đã xảy ra ở Côn Đảo ngày 21 tháng 1 năm 1780 cũng có thể biết vai trò của Bá Đa Lộc trong triều đình còn non trẻ của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ, và có thể kết luận chắc chắn rằng trước khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã có nhiều dịp tiếp xúc với Bá Đa Lộc, đã đặt niềm tin nơi ông và đã giao nhiều trọng trách. Thế nhưng trong các thư từ của ông, chúng ta ít khi thấy ông nhắc đến các hoạt động của mình. Giải thích về sự im lặng này của Bá Đa Lộc, Maybon cho rằng:

“Nếu Giám mục không nói gì về chuyện này, đó là do tính tình kín đáo tự nhiên của ông, và đó cũng là do thận trọng, vì các nhà truyền giáo bị cấm dính líu vào chuyện chính trị của nơi mà họ phải thực hiện mục vụ, mặc dù ý đồ của họ hoàn toàn trong sáng, Pigneau không muốn tạo điều kiện cho những kẻ vu khống có hội sử dụng trò thâm hiểm của họ” (Maybon Ch. 1920, tr.205)

Và như mọi người đã biết, mặc dù bị tố cáo, bị lên án, bị đố kỵ, Giám mục Bá Đa Lộc đã không lùi bước; ông còn dấn thân sâu hơn nữa vào con đường mà ông đã chọn, và đi theo nó đến cuối cuộc đời: đó là song hành với Nguyễn Ánh để khôi phục sự trị vì của nhà Nguyễn trên đất Đại Việt.

(Đã đăng trong tạp chí Xưa & Nay số tháng 1 năm 2020)


Tài liệu tham khảo

Cadière L., 1926. Nguyễn Ánh et la mission, Documents inédits. Tạp chí Bulletin des Amis de Vieux Hue, số 1 Janvier-Mars 1926.

Chapman Ch. 1802.  A Narrative of a Voyage to Cochin China. Trong tạp chí The Asiatic Annual Register for the year 1801. London: J. Debrett, Piccadilly and T. Cadell Jun. & W. Davies, Strand. Tr.62-84.

Cook J. & King J. 1784. A voyage to the Pacific Ocean: Undertaken by Command of His Majesty, for Making Discoveries in the Northern Hemisphere Performed under the Direction of
Captains COOK, CLERKE, and GORE, In the Years 1776, 1777, 1778, 1779, 1780
. Volume 4. London, Printed for John Stockdale, Scatcherd and Whitaker, John Fielding and John Hardy.

Cook J. & King J. 1785. Troisième voyage de Cook. Voyage à l’Océan Pacifique. Tome 4, (M. Demeunier dịch từ tiếng Anh). Paris: Hôtel de Thou.

Duteil J.-P., 1998. Entre deux États en révolution : Pierre-Joseph Pigneaux de Béhaine, la France et le Dai-Viêt. Tạp chí Revue d’histoire de l’Église de France, Quyển 84, n°213, pp. 283-297.

Faure A. 1891. Mgr Pigneau de Béhaine Evêque d’Adran. Paris: Challamel Editeur.

Gaudart M., 1937. Les archives de Pondichéry et les entreprises de la Compagnie française des Indes en Indochine, au XVIIIe siècle. Trong Bulletin des Amis du Vieux Hue, Octobre-Décembre 1937.

Launay A. 1925a. Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823. Tome 2. Paris: Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux.

Launay, A. 1925b. Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Tome 3: Documents Historiques III: 1771-1823. Paris: Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux.

Levavasseur N.-J., 1821. Abrégé du journal de M. Levavasseur, missionnaire apostolique au Camboge, pendant les années 1768, 1769 et 1770. Trong Nouvelles Lettres édifiantes des Missions de la Chine et des Indes Orientales, T. 6. Paris: Imprimeur Le Clere.

Louvet L.-E. 1885. La Cochinchine religieuse, Tome 1. Paris: Ernest Leroux.

Maybon Ch.-B., 1920. Histoire moderne du pays d’Annam. Paris: Plon.

Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002. Đại Nam thực lục, Tập Một. Hà Nội: Nxb Giáo dục.

Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006. Đại Nam Liệt truyện, Tập Một. Huế: Nxb Thuận hóa.

Silvestre J., 1895. Politique française dans l’Indo-Chine. Trong tạp chí Annales de l’École libre des sciences politiques, số 4 năm thứ 10.

Tạ Chí Đại Trường, 1973. Lịch sử nội chiến ở Việt Nam. Sài Gòn: Nxb Văn Sử học.

Chú thích:

[1] Nhằm ngày 24 tháng Giêng năm Canh Tý, hoặc ngày 28 tháng 2 năm 1780 (tính theo thuật toán được Hồ Ngọc Đức lập trình sẵn trên trang http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/ )

[2] Tức sông Ông Đốc ngày nay. A. Faure (1891, tr. 31) ghi sai là “làng Kao Giang” (“village de Kaogiang”).

[3] Tên ông là Pierre-Joseph-Georges Pigneau de Béhaine, người Pháp. Adran là tên một giáo phận cổ ở Trung Đông bị mất vào tay dị giáo. Để tưởng nhớ, Giáo hội La Mã đã đặt ra chức danh Giám mục in partibus (tiếng Việt gọi là Giám mục hiệu tòa, để phân biệt với giám mục chính tòa) để phong cho các nhà truyền giáo hoạt động ở những nơi chưa thành lập giáo hội. Vì giám mục hiệu tòa chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ La Mã, do đó họ thường được giao thêm nhiệm vụ “đại diện tông tòa” (vicaire apostolique).

[4] Đây là chuyến thám hiểm Thái Bình dương từ năm 1776 đến 1780 ban đầu do thuyền trưởng J. Cook chỉ huy. Sau khi ông qua đời ngày 14/2/1779 thì thuyền trưởng Clerke tiếp nối. Clerke chết ngày 3/8/1779 thì thuyền trưởng Gore kế tục chỉ huy đoàn. Đoàn ghé Côn Đảo từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 1 năm 1780.

[5] Cook & King chuyển sang tiếng Anh từ tên tiếng Pháp Pierre-Joseph-Georges.

[6] M. Demeunier chuyển sang tiếng Pháp là Luc (Cook J. & King J., 1785, tr. 441).

[7] Trên tuyến hàng hải đi từ châu Âu qua phương Đông không có địa danh nào có tên như thế. Có lẽ đây là chữ Turon (Đà Nẵng) mà bản viết tay không rõ nét khiến thợ xếp chữ đọc nhầm là Tirnon?

[8] Sách Đại Nam thực lục ghi là 1702 đến 1703. Chúng tôi đã tìm ra bằng chứng cho thấy là cuộc tấn công vào quân Anh trên Côn Đảo diễn ra vào đêm 2 rạng sang ngày 3 tháng 3 năm 1705 (Xem bài cùng tác giả “Ai tổ chức tấn công thương điếm Anh ở Côn Đảo năm 1705?” đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9 năm 2019).

[9] Nhiều tài liệu viết là Deidier hoặc Didier. Về chuyến đi Côn Đảo của kỹ sư này, xem “Người Pháp đổ bộ lên Côn Đảo” trong tạp chí Xưa & Nay số tháng 10 năm 2019.

[10] Nguyên văn của câu nhận xét của Cook và King là: “it is probable, that the island is indebted to the French for these inprovements”. Chữ “the French” có thể hiểu là người Pháp nói chung. Bản dịch sang tiếng Pháp cũng viết là “les Français”.

[11] Xem bài cùng tác giả “Ai tổ chức tấn công thương điếm Anh ở Côn Đảo năm 1705?” đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 9 năm 2019.

[12] Linh mục người Bồ Đào Nha, tên chính xác là João Loureiro. Ông vừa là nhà toán học, thực vật học và bác sĩ phục vụ dưới thời chúa Nguyễn từ 1742-1778. Ông đã biên soạn bộ sách Hệ thực vật xứ Đàng Trong bằng tiếng latinh (Flora Cochinchinensis).

[13] Tài liệu không ghi tên hai vị quan này, chỉ nói là bà con thông gia với chúa Nguyễn. Quốc sử quán triều Nguyễn cũng không ghi sự kiện này nên chúng ta cũng không có thông tin cụ thể hơn.

[14] Tên đầy đủ là Instructio Vicariorum Apostolicorum ad regna Sinarum, Tonchini et Cocincinae proficiscentium  1659 nghĩa là Huấn dụ các đại diện tông toà đi các nước Trung Quốc, Đàng Ngoài và Đàng Trong năm 1659.

[15] Đại Nam liệt truyện ghi là Mạn Hòe (mục “Bá Đa Lộc”).

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Một ghi chép về việc Nguyễn Nhạc tiếp sứ Anh


Tháng 2/1778, hai người Việt cập bến Calcutta (Bengal, Ấn Độ). Họ là cựu thần của chúa Nguyễn, đi nhờ tàu buôn phương Tây từ Đà Nẵng chạy vào Gia Định, nhưng vì gặp gió mạnh nên tàu bị chệch khỏi lộ trình ấy và buộc phải đi thẳng sang Ấn. Nhận thấy tiềm năng thương mại từ việc này, chính quyền thuộc địa Anh tại Bengal cử Charles Chapman đưa 2 viên quan này về nước(*), đồng thời thăm dò tình hình Đàng Trong. Tàu của họ đến Quy Nhơn tháng 7 năm ấy, nơi Chapman gặp gỡ với vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc. Dưới đây là những ghi chép của Charles Chapman về cuộc gặp gỡ này, trích từ cuốn “Narrative of a voyage to Cochin China”.

“Lúc 6 giờ sáng hôm sau (25/7), một lời nhắn được đưa tới chỗ chúng tôi, báo rằng Đức vua (his Majesty) đã sẵn sàng đón tiếp chúng tôi. Thế là chúng tôi theo chân người dẫn đường gần nửa dặm, tới khi khung cảnh một cung điện trên gò đất cao hiện ra trước mắt; tại đây chúng tôi được yêu cầu để lại toàn bộ tùy tùng, và tháo bỏ kiếm, vì không ai được phép vào tham kiến khi mang vũ khí. Những thủ tục này đã xong, chúng tôi tiến đến cung điện. Trước cửa là hai hàng lính, mỗi hàng 100 người, với giáo (spears), sóc (pikes), kích (halberds), v.v. đủ kiểu dáng, một số cờ xí tung bay, và từ bên trong thò ra nòng súng của 2 khẩu đại bác dài bằng đồng. Ở giữa khoảng sân đầy sỏi trước cửa cung điện, là nơi đặt quà tặng của chúng tôi. Ngay khi chúng tôi tiến vào sân, viên quan và người dẫn đường bảo rằng hãy tuân theo đúng nghi thức mà ông ta làm, bao gồm bái lạy ba lần với trán chạm mặt đất. Tuy nhiên, cách thức chào này quá lăng nhục đối với chúng tôi, nên chúng tôi kiên quyết cũng cúi đầu chừng đấy lần, nhưng theo lối người Anh. Chúng tôi leo khoảng năm sáu bậc thềm lên gian phòng nơi Đức vua và triều thần của ông tề tựu. Cửa mở toang phía trước và hai bên, mái lợp ngói và xây theo kiểu Đàng Trong, chống đỡ bởi những cột gỗ tốt, mặt tường phía sau ốp gỗ; tựa vào đấy là ngôi báu, nằm trên hai ba bậc thềm so với nền nhà; và trên cao là một chiếc ghế tựa, sơn đỏ, trang trí hình đầu rồng, nơi nhà vua ngồi, phía trước ông là 1 chiếc bàn nhỏ đặt 1 tấm nệm bằng lụa màu đỏ, thêu hoa vàng, để ông ta tựa vào. Mỗi bên ngai vàng đặt 1 chiếc ghế tựa; một cái do một người em trai của ông ngồi, cái kia bỏ trống, mà, như tôi hiểu, thuộc về người em còn lại, bấy giờ đang ở Đồng Nai (Donai). Vài băng ghế dài nằm phía sau, nơi các quan viên ngồi, theo thứ bậc của họ.

[…]

Tôi sau đó, thông qua người thông ngôn, giới thiệu bản thân với nhà vua, nói rằng “Tôi là công bộc (servant) của chính quyền Anh tại Bengal, được ủy thác đến đây để thiết lập giao thương với cư dân Đàng Trong.” Ông ta nói: tiếng tăm của người Anh trên biển đã đến tai ông, và ông nghe rằng họ đứng trên mọi quốc gia khác về số lượng tàu thuyền, và vượt trội về tài điều khiển chúng; nhưng họ sử dụng ưu thế này sai trái, vì ông ta cũng được biết họ tấn công và cướp bóc bất kể tàu bè nào mình gặp; ông rất sẵn lòng cho phép người Anh buôn bán ở cảng của mình, và hy vọng đổi lại họ sẽ không quấy rối tàu thuyền và các phương tiện khác của ông. Tôi trả lời: phần đầu tiên trong thông tin của ông, về việc tôn trọng sức mạnh trên biển của người Anh, là cực kì đúng; nhưng phần sau hoàn toàn sai, và hẳn đã được phao đến tai ông bởi những kẻ ghen ghét sự thịnh vượng của chúng tôi, hòng tạo ấn tượng không tốt đẹp và bất công về chúng tôi. Người Anh lúc này đang giữ hòa bình với mọi quốc gia; và tàu bè của họ đi khắp mọi vùng đã biết trên thế giới, thương nhân của họ trứ danh về lòng trung thực và ngay thẳng khi thỏa thuận. Ông ta sau đấy báo cho tôi, rằng người Anh có thể buôn bán ở cảng của ông; và sau vài lời giải thích, đi đến quyết định rằng các tàu có ba cột buồm phải trả phí 7.000 quan (họ cho phép chúng tôi đổi 5 quan cho 1 dollar Tây Ban Nha), với tàu hai buồm là 4.000, và tàu nhỏ hơn thì 2.000 quan mỗi chiếc.

Đức vua sau đó sớm lui về phòng riêng, nhưng ít lâu sau lại triệu chúng tôi đến đấy, khi đã cởi bỏ áo bào và mũ thiết triều, đổi sang một chiếc áo khoác (jacket) lụa đơn giản, khuy đơm bằng những hạt kim cương nhỏ, và một dải lụa đỏ quấn quanh đầu kiểu như khăn turban. Cuộc đối thoại của chúng tôi ở đây đại lược rằng: ông ta mở chuyện bằng việc nhắc lại thiện chí của mình với người Anh, cũng như mong muốn liên kết với chúng tôi – tuy nhiên, để giữ thể diện trước mặt triều thần, ông mới đề cập đến món tiền mà tàu của chúng tôi phải trả để tự do buôn bán, nhưng nhằm có được tình hữu nghị với nước Anh ông sẽ không bao giờ bắt họ phải trả nó, mà sẽ dành cho họ mọi đặc ân trong quyền hạn của ông. Ông liệt kê những vật phẩm sản xuất ở nước mình, như hồ tiêu, bạch đậu khấu, quế, gỗ trầm, ngà voi, thiếc và nhiều thứ khác, mà ông nói rằng sự vô tri của người dân khiến họ không biết tận dụng chúng; và vì lí do ấy, cũng như nhằm chỉ dạy người dân của ông về nghệ thuật quân sự, ông thành tâm mong muốn Thống đốc Bengal gửi cho mình vài người có năng lực.

Ông ta sau đấy thổ lộ vài dự định tương lai cho tôi; chúng không gì khác ngoài thu phục vương quốc Chân Lạp (Cambodia), với toàn bộ bán đảo, đến tận nước Xiêm, và những tỉnh thuộc về Đàng Trong ở phía bắc, bấy giờ đang nằm trong tay người Đàng Ngoài. Để tiến hành những điều này, ông muốn có sự hỗ trợ từ một số tàu thuyền Anh; đổi lại ông sẽ ban cho họ những vùng đất để định cư (make them such grants of land for settlements) mà họ thấy phù hợp.

Tôi hứa với ông ta sẽ báo cáo thành thực những điều ông đã nói cho Thống đốc Bengal. Ông ta đặc biệt yêu cầu rằng, ngoài những việc trên, tôi hãy gửi cho ông ta một con ngựa, bất kể tốn kém bao nhiêu, trên con tàu đầu tiên đến Đàng Trong, với màu nâu đỏ. Sau khi được đãi trà và trầu cau, chúng tôi xin phép rời đi. Vào buổi chiều ông ta gửi chúng tôi ba thứ giấy tờ; một đóng dấu bằng chiếc ấn lớn của vương quốc, trình bày những điều kiện để tàu thuyền Anh buôn bán trong cương thổ của ông; hai tờ kia đóng bằng một chiếc ấn nhỏ hơn; một cái miêu tả về con ngựa, v.v.; cái kia chứa giấy phép để cập bến bất kì cảng nào của ông.

[…]

Bản thân Nguyễn Nhạc (nguyên văn: Ignaack) có tài lược, nhưng dưới trướng ông là những quan viên cai trị kém cỏi; họ đều là kẻ kém học thức. Đói kém, và bạn đồng hành của nó, dịch bệnh, đã hủy diệt một nửa cư dân nước này. Thật kinh hoàng trước lời tường thuật về cách thức mà số người còn lại sử dụng để duy trì sự tồn tại khốn khổ: Ở Huế, kinh đô, mặc dù nằm trong tay người Đàng Ngoài, và được chu cấp tốt hơn bất kì nơi nào khác, thịt người được bán công khai ở chợ.

Quân lực của Nguyễn Nhạc trên đất liền rất nhỏ bé, và kém cỏi về quân sự đến mức, tôi có thể quả quyết rằng 300 người có kỷ luật sẽ quét sạch toàn bộ quân đội của ông ta. Thủy quân của ông ta, bao gồm một ít thuyền chèo (gallies) và vài thuyền mành (junks) đoạt từ người Hoa, hầu như cũng tệ hại như vậy. Và cuối cùng, chính quyền của ông ta bị căm ghét cực độ; nhưng vì tinh thần của người dân đã kiệt quệ bởi vô vàn thảm họa phải hứng chịu, họ thiếu lòng dũng cảm để chống đối hiệu quả. Nhiều binh lính của ông ta, và gần như toàn bộ những người chủ chốt mà tôi đã gặp, công khai tuyên bố với tôi rằng họ bất đắc dĩ phải phủ phục, và bày tỏ mong muốn người Anh dành cho họ sự bảo hộ; cam đoan với chúng tôi rằng, chỉ cần một đội quân xuất hiện, cả đất nước sẽ chạy đến gia nhập.

[…]

Nếu Công ty (Công ty Đông Ấn Anh) quyết định lập một điểm định cư tại Đàng Trong, nó hẳn sẽ được thực hiện trên những nguyên tắc cực kì chính đáng và chi phí nhỏ. Một vài người trong vương thất (royal family – chỉ họ Nguyễn), bên cạnh hai viên quan ở Bengal, cùng nhiều tướng sĩ của chính quyền cũ, hối thúc tôi trình bày với chính quyền Bengal để đem đến sự giúp đỡ cho họ, hứa hẹn rằng sẽ có một sự ủng hộ lớn bất cứ khi nào chúng tôi thành tâm đứng về phía họ. Khôi phục vị quân vương hợp pháp (Nguyễn Ánh) trở lại ngai vàng, bấy giờ là một mong muốn rất phổ biến, nên không có gì phải hoài nghi sự thành thực trong lời đề nghị của họ. Giải thoát một dân tộc bất hạnh, rên rỉ dưới ách áp bức tàn bạo sẽ là một hành động xứng đáng với nước Anh. Năm mươi lính bộ binh châu Âu, pháo binh bằng một nửa số ấy, và 200 lính sepoy (lính bản địa Ấn Độ phục vụ cho Anh) sẽ là đủ cho mục tiêu này lẫn mọi mục tiêu khác. Dân bản xứ Đàng Trong kém hơn nhiều cư dân Hindostan (bắc Ấn Độ) về kiến thức quân sự; tuy nhiên, tôi không nghi ngờ gì một đội quân xứ ấy, nếu có kỉ luật tốt và trả lương đầy đủ, sẽ hữu dụng với chúng ta, và đóng góp cho an ninh của các thuộc địa mà chúng ta có thể có được ở phương đông, như cách lính sepoy đã đóng góp cho lãnh thổ của chúng ta ở Ấn Độ. Trong tình huống viễn chinh họ sẽ vượt trội hơn, vì hoàn toàn tự do khỏi định kiến tôn giáo, và không gặp trở ngại gì khi đi biển.

Trong khi Đàng Trong nằm trong tình trạng rối loạn hiện tại, một cánh cửa hứa hẹn đã mở ra cho quốc gia châu Âu đầu tiên có thể đạt được chỗ đứng trên nước này; vì vậy nếu Công ty cân nhắc kế hoạch lập một cơ sở ở Đàng Trong, không được phí phạm thời gian mà phải đưa nó vào thực thi ngay.”

Nguồn: Chapman, Charles (1778), “Narrative of a voyage to Cochin China”
Đăng lại từ bài viết của tác giả Quốc Bảo
Đăng trên Fanpage Hội những người thích tìm hiểu Lịch Sử

(*) Hai viên quan của chúa Nguyễn đi theo Charles Chapman, một người qua đời dọc đường tại Malacca, người kia theo tàu đến Huế rồi tìm chỗ trú ở nhà họ hàng.

Bạn đang sao chép nội dung của Trí Thức VN. Nếu là cá nhân sử dụng, vui lòng ghi rõ nguồn trithucvn.org. Nếu là website, kênh truyền thông, vui lòng chỉ sử dụng nội dung khi có sự cho phép của Trí Thức VN.

Source: https://trithucvn.org/van-hoa/mot-ghi-chep-ve-viec-nguyen-nhac-tiep-su-anh.html

Posted in Uncategorized | Leave a comment

CÚNG MÙNG 10…

Người Miền Nam cúng mùng 10 là cúng đất đai và tri ơn người mở đất chứ không phải vía thần tài.

Hôm nay mùng 10 Tết, cái mùng cuối cùng của Tết.

Thấy mọi người nghe lời truyền thông cứ nói mùng 10 dân Nam Kỳ cúng Thần Tài, dân ào ào mua vàng lấy hên,tiệm vàng không còn vàng để bán, nghe riết thành quen.

Với người Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày mùng 10 rất quan trọng, nó không phải vì Thần Tài.

Lịch sử Nam Kỳ quá trẻ, quá gần, không có nhiều quá khứ, nhưng quá khứ huy hoàng. Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc.

Hồi xưa dân Nam Kỳ thích ở ruộng vườn nên để thương trường cho người Tàu thao túng.

Từ lịch sử Nam Kỳ, có nhiều người thắc mắc vì sao người Tàu lại nắm kinh tế, nền thương mãi của Nam Kỳ, trong khi người Nam Kỳ suốt ngày lo làm ruộng, làm vườn.

Tàu lập chành lập vựa, xuất khẩu, nắm luôn tiệm tạp hóa, lũng đoạn thị trường, duy trì độc quyền, đầu cơ tích trữ, làm giá, đút lót, mua chuộc nhân sự trong chánh quyền làm giàu bất chấp thủ đoạn.

Nguyễn Chánh Sắt giải thích vầy:

“Trong Nam Kỳ dân ít mà đất đã tốt lại nhiều, thì tất nhiên dân chẳng cần phải lo làm nghề chi khác nữa, chỉ chuyên lấy một nghề nông thì cũng đủ mà kinh dinh sự nghiệp.

Xưa nay người Nam Kỳ không lo thương mãi và công nghệ là bởi cớ đó”.

Người Nam Kỳ mình không luông tuồng, chuyên về ruộng vườn, Việt sống bên những ruộng lúa quằn bông nặng hột, có đám lúa chín vàng, có đám còn vừa mới ửng vàng nửa hột chen chúc trong đám lá xanh rì.

Nhà văn Sơn Nam trong “Cơn chuyển mình trước và sau Âu châu đại chiến” ghi:

“Vào khoảng năm 1875 đến năm 1880, dân số Nam kỳ hơn 1.620.000 người, diện tích trồng tỉa là 520.000 mẫu, tính đổ đồng, mỗi người sản xuất được 518 kí lô lúa”.

Cuộc khai phá Nam Kỳ là vì tìm đất mới, tìm đất sống,đất đai luôn là ước mơ của nhiều lưu dân.

Ông bà ta khẩn hoang, phát đất rừng, bồi đất trũng thành khoảnh vuông vức mà làm ruộng. Ruộng Nam Kỳ là ruộng dây, ruộng mẫu.

Nhà có chừng 500 mẫu điền là nhà giàu rồi,mà người Nam Kỳ có vài trăm, vài ngàn mẫu điền nhiều vô kể.

Nghề làm ruộng ở Nam Kỳ là nghề hái ra tiền, có một lớp điền chủ rất giàu có sống bằng nghề này, bao nhiêu người tá điền sống nhờ gieo mạ, cấy lúa, đập lúa, vác lúa, làm mướn.

Chúng ta dân Nam Kỳ kêu là “điền chủ” chứ không phải là “địa chủ” như ngoài Bắc là vì sao?

Điền chủ nó thoáng, nó vẫn mở và nó ở mức độ dễ chịu nhiều hơn “địa chủ”, ngoài Bắc địa chủ đồng nghĩa với cường hào ác bá, cái vế cường hào ác bá cũng của xứ Bắc, mức độ khốc liệt vì đất Bắc ít mà lại có nạn nhân mãn, cộng với thói quen “lũy tre làng”, hương ước, dòng tộc, dân thủ cựu dân ngụ cư khắc nghiệt.

Nam Kỳ có tá điền, nếu không mướn ruộng bà này thì qua xứ khác mướn đất ông kia, làm gì có cảnh máu me, dồn nén, ruột đổ gan bầm như ngoài Bắc.

“Xứ Nam kỳ nầy là một xứ đất rộng dân thưa. Đã vậy mà ruộng đất lại cao du, từ sông Bến Lức, Vũng Gù thẳng xuống giáp Vịnh Xiêm, chẳng luận là tỉnh nào, hễ phát cỏ gieo mạ thì tới mùa lúa đổ đầy vựa; chớ khỏi tốn tiền mua phân mà vãi trong ruộng, lại cũng khỏi đắp bờ rồi cả ngày phải cong lưng mà tát nước dưới ruộng thấp đam lên ruộng cao; như thế thì dân Nam kỳ làm ruộng sung sướng là dường nào”(Nguyễn Chánh Sắt 1919)

Cái mục đích đầu tiên của tổ tiên ta là làm ruộng kiếm hột lúa đặng nuôi con, để ăn sống ấm no.

Nói tới dân Lục Tỉnh xưa rày chỉ nghe nhắc tới những người chỉ biết lo làm ruộng, làm vườn, đi làm ruộng hò vang trời, đọc thơ Vân Tiên, tối vác cây đờn ra tăng tẳng đờn ca tài tử, hát cải lương, rồi ba chưn bốn cẳng chạy đi về đình khi nghe trống thúc thùng thùng vì qua say mê hát bội.

Mùng 10 từ ngày ban đầu được định ra là cúng Đất, là Tạ Ơn. Rất hợp lý, Tết có mùng 9 là ngày cúng Trời, mùng 10 cúng Đất, còn tất cà các mùng khác là vì tổ tiên, ông bà, là chữ Nhân Con Người. Cái quan niệm Thiên-Địa-Nhân ngẫm quá trúng.

Người Miền Bắc có ngày 23 tháng Chạp là cúng “Ông Công Ông Táo”, tức là cúng Táo Quân và cúng luôn Thổ Công.

Dân Nam Kỳ thì 23 tháng Chạp chỉ đưa Ông Táo, còn Đất (Thổ) thì cúng riêng ngày mùng 10.

Ngày mùng 10, bà con Nam Kỳ mình có tục sẽ làm một mâm cúng cho vị thần thích ngồi ở cái bàn thờ “sát đất” ngoáy đầu nhìn ra cửa chánh, đó là đất đai, là Ông Địa.

Mâm cúng đó gồm bộ tam sên như tôm, cua, hột vịt, thêm dĩa bún tươi, dĩa rau sống, dĩa trầu cau, đặc biệt Nam Kỳ gốc phải có cá lóc nướng trui.

Nhiều người kêu mùng 10 cúng Thần Tài, tôi cực lực bác bỏ và phản đối.

Nhìn cách cúng thì biết không phải cúng ông Thần Tài rồi, Thần Tài là một sản phẩm của người Tàu và sau này được đem vô thờ “ké” chung với Ông Địa thôi.

Vì lịch sử Tàu cũng chưa nói tới Ông Thần Tài nào ngồi dưới đất ăn cá lóc nướng trui hết.

Trong nhà người Nam Kỳ có Ông Địa tượng trưng cho đất, ngồi bàn thờ sát đất mà ngoài Bắc, ngoài Trung và người Hoa ở các nước khác không hề có tục này.

Cá lóc nướng trui là món đặc trưng của ông bà Nam Kỳ mình từ thời khẩn hoang xa xưa.

Con cá lóc dưới sông, dưới ruộng còn nhảy xoi xói dưới đìa bắt lên để nguyên con còn đủ ruột gan, vảy cá.

Rồi cắm cái cây vô họng nó dựng đứng lên,phủ rơm thui cho nó chín. Khi chín để nguyên con bỏ vô dĩa và đặt trước bàn thờ Ông Địa cúng mùng 10.

Có thêm dĩa bún,cùng các loại rau. Cúng xong ăn cá lóc nướng trui với bánh tráng quấn cùng các loại rau dân dã như rau rừng như lá cóc, rau nhái, diếp cá, ngò gai, hẹ, quế vị, lá lụa, trâm ổi, lộc vừng, đọt kim cang, sộp, lá cách, bứa rừng, bứa sông, đọt chiếc, mặt trăng, bằng lăng, trâm sắn cùng với chuối chát, thơm, xà lách, dưa leo và phải chấm nước mắm hoặc mắm nêm.

Nướng trui là gì?Là trui trong lửa,trong than nóng. Nó như con dao trui trong lửa đỏ vậy.

Cá lóc nướng trui là món thuộc trường phái ẩm thực khẩn hoang Miền Nam.

Từ ẩm thực dân gian con cá lóc nướng trui của lưu dân Lục Tỉnh xưa đã lên bàn thờ mùng 10 để thành phong tục tập quán.

Nguyên thủy thì tục mùng 10 là cúng chú Thổ, tức đất đai. Người già Nam Kỳ vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai, cúng Tết đất, Tết nhà.

Bao đời nay, từ đời ông bà cố tổ, ông bà sơ ông bà cố, ông bà nội ngoại, đời cha và đời con đều như vậy.

Biết ơn mảnh đất cho ta có cơm ăn, áo mặt, mảnh đất làm ruộng vườn, mảnh đất cất nhà, mảnh đất chôn ông bà mình.

Những khoảnh ruộng Nam Kỳ có lác đác vài lùm mả là bằng chứng vậy.

Mái nhà Miền Nam um khói chiêu lan tỏa đặng cả nhà đề huề bên mâm cơm đơn sơ với rau cải, tôm cá. Không cao lương mỹ vị, nhưng tràn đầy niềm yêu thương nồng đậm của gia đình Nam Kỳ.

Người Nam Kỳ kêu con lớn là anh hai, không có anh cả, số hai là lớn nhứt vì dân Nam Kỳ đi khai hoang đất, lấy quẻ Thuần Khôn (đất) làm trọng.

Cúng chú Thổ tức cúng chủ đất, cũng là gợi lên hình ảnh người chủ đất cũ là người Khmer (Người Thổ) .

Món cúng bắt buộc là con cá lóc nướng trui, sau này có bộ tam sên là cua, tôm hay thịt ba rọi luộc, hột vịt.

Chú Thổ ăn bốc, thành ra nguyên mâm cá lóc nướng trui, bộ tam sên cúng đâu có đôi đũa hay muỗng nĩa gì.

Chú Thổ gợi ta điều gì?

Nam Kỳ xưa còn được ông bà mình kêu là xứ Đàng Thổ vì đất Nam Kỳ vốn trên danh nghĩa là đất của người Khmer, nói “danh nghĩa” vì Nam Kỳ vốn đất của Phù Nam, sau đó Khmer tuyên bố chủ quyền nhưng dân sống trên đất này rất ít thành ra đất Nam Kỳ xưa gần như vô chủ.

Nhưng khi vô trong này, người Việt đã gặp người Khmer bổn địa tóc quắn, da đen, mắt có khoen, đó là người đang sống ở đất Nam Kỳ.

Lưu dân Nam Kỳ tìm đất mới đã rất kiên trì, mềm dẻo, hiền hòa theo lẽ sống an vui, thân thiện và khả năng thích ứng tốt.

Người Nam Kỳ đi khai hoang đất, tìm đất mới để sanh tồn mà tạo ra văn minh Nam Kỳ Lục Tỉnh nên đất trong tâm linh xứ này vô cùng quan trọng.

Chúng ta nhớ trong những đám cúng kiếng của Nam Kỳ luôn có mâm đất đai, bàn thờ Nam Kỳ luôn có Ông Địa ở giữa nhà.

Văn minh Nam Kỳ là văn minh miệt vườn, là di dân mới nên đất quan trọng lắm, cúng đất quan trọng, người mình có buôn bán giống người Tàu đâu mà cúng thần tài đặng mà “mong ước” mua một bốn lời, giàu nứt trứng.

Sau này ảnh hưởng người Tàu nên có thờ thêm ông thần tài chung với ông địa, và nhiều người nói cúng mùng 10 là vía thần tài là sau này thôi. Thêm thắt thần tài là cho “ăn ké” chú Thổ rồi bắt chước người Tàu cúng cây mía, sau đó hớt luôn ngày mùng 10 thành “ngày vía thần tài” giống như đảo chánh đất đai vậy.

Nhiều người nói cúng bộ tam sên là của ông Thần Tài cũng không đúng.

Tam sên cua, tôm và hột vịt luộc cũng là lễ vật cúng đất, bằng chứng là khi động thổ xây nhà và trước khi hạ huyệt chôn cất người chết thì người Nam Kỳ cũng cúng bộ tam sên.

Trong phong tục tập quán, người Nam Kỳ gốc và người Việt không cúng cây mía trong ngày mùng 10.

Nói cúng mùng 10 là cúng thần tài là đánh tráo khái niệm. Xứ tui vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai hoặc Tết nhà cửa, cúng chú Thổ.

Khẳng định lại rằng, Lục Tỉnh cúng mùng 10 tháng Giêng là cúng đất đai, tạ ơn Chú Thổ giữ sung túc, an vui nhà cửa.

Người Mỹ có ngày Tạ Ơn diễn ra vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 thì Lục Tỉnh mình có ngày Tạ Ơn vào Mùng 10 Tháng Giêng.

Cúng đất là cúng tạ ơn đất đai cho một mùa bội thu, cho nhà cửa an bề và ghi nhớ những người khai khẩn đã chết trong quá trình hình thành đất Nam Kỳ.

Chú Thổ có hình ảnh là Thổ Địa và Ông Tà Nam Kỳ là gốc người Khmer.

Cúng cá lóc nướng trui ngày Mùng 10 là một phong tục văn hoá của người Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa nay. Đó là món ăn nhắc nhớ nguồn gốc khẩn hoang thời ông bà mình còn làm lưu dân khai khẩn.

Đó là nguồn cội của người Nam Kỳ

Tổ tiên ta là ai?

Trước tiên là ông bà cha mẹ trực hệ sanh ra ta, có máu mủ với ta rồi, những người đang ngồi trên bàn thờ giữa nhà đó.

Xa hơn, là tất cả những người Miền Nam đi trước đã gầy dựng, bảo vệ, giữ và đòi quyền lợi chánh trị cho mảnh đất này.

Nhà văn Bình-nguyên Lộc dạy rằng:

”Một quê hương phải bắt nguồn trong một dĩ vãng lâu đời mà nước mắt và nụ cười của bao thế hệ đã ràng buộc con người vào đất, vào vật, vào người. Đất, có ở lâu, tình đất mới sâu”

Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt, đất này gốc của Phù Nam rồi Khmer và người Việt phải trầy vi tróc da giữ nó, khai phá nó mới có cơm gạo.

Xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh gần như là một thế giới riêng biệt.

Người Miền Nam có giọng nói và cách nói riêng biệt, ẩm thực huy hoàng,có quan điểm sống, nhìn nhận cuộc sống và tư duy dân chủ, tự do cũng khác.

Chúng ta tự hào có Đỗ Thành Nhơn, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Thủ Khoa Huân, Quản Lịch Nguyễn Trung Trực, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu…

“Canh trắng, chong đèn soi quá khứ

Viết đời biển lặng tiếp sông trong”.

NGUYỄN GIA VIỆT

CÚNG MÙNG 10…

Người Miền Nam cúng mùng 10 là cúng đất đai và tri ơn người mở đất chứ không phải vía thần tài.

Hôm nay mùng 10 Tết, cái mùng cuối cùng của Tết.

Thấy mọi người nghe lời truyền thông cứ nói mùng 10 dân Nam Kỳ cúng Thần Tài, dân ào ào mua vàng lấy hên,tiệm vàng không còn vàng để bán, nghe riết thành quen.

Với người Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày mùng 10 rất quan trọng, nó không phải vì Thần Tài.

Lịch sử Nam Kỳ quá trẻ, quá gần, không có nhiều quá khứ, nhưng quá khứ huy hoàng. Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc.

Hồi xưa dân Nam Kỳ thích ở ruộng vườn nên để thương trường cho người Tàu thao túng.

Từ lịch sử Nam Kỳ, có nhiều người thắc mắc vì sao người Tàu lại nắm kinh tế, nền thương mãi của Nam Kỳ, trong khi người Nam Kỳ suốt ngày lo làm ruộng, làm vườn.

Tàu lập chành lập vựa, xuất khẩu, nắm luôn tiệm tạp hóa, lũng đoạn thị trường, duy trì độc quyền, đầu cơ tích trữ, làm giá, đút lót, mua chuộc nhân sự trong chánh quyền làm giàu bất chấp thủ đoạn.

Nguyễn Chánh Sắt giải thích vầy:

“Trong Nam Kỳ dân ít mà đất đã tốt lại nhiều, thì tất nhiên dân chẳng cần phải lo làm nghề chi khác nữa, chỉ chuyên lấy một nghề nông thì cũng đủ mà kinh dinh sự nghiệp.

Xưa nay người Nam Kỳ không lo thương mãi và công nghệ là bởi cớ đó”.

Người Nam Kỳ mình không luông tuồng, chuyên về ruộng vườn, Việt sống bên những ruộng lúa quằn bông nặng hột, có đám lúa chín vàng, có đám còn vừa mới ửng vàng nửa hột chen chúc trong đám lá xanh rì.

Nhà văn Sơn Nam trong “Cơn chuyển mình trước và sau Âu châu đại chiến” ghi:

“Vào khoảng năm 1875 đến năm 1880, dân số Nam kỳ hơn 1.620.000 người, diện tích trồng tỉa là 520.000 mẫu, tính đổ đồng, mỗi người sản xuất được 518 kí lô lúa”.

Cuộc khai phá Nam Kỳ là vì tìm đất mới, tìm đất sống,đất đai luôn là ước mơ của nhiều lưu dân.

Ông bà ta khẩn hoang, phát đất rừng, bồi đất trũng thành khoảnh vuông vức mà làm ruộng. Ruộng Nam Kỳ là ruộng dây, ruộng mẫu.

Nhà có chừng 500 mẫu điền là nhà giàu rồi,mà người Nam Kỳ có vài trăm, vài ngàn mẫu điền nhiều vô kể.

Nghề làm ruộng ở Nam Kỳ là nghề hái ra tiền, có một lớp điền chủ rất giàu có sống bằng nghề này, bao nhiêu người tá điền sống nhờ gieo mạ, cấy lúa, đập lúa, vác lúa, làm mướn.

Chúng ta dân Nam Kỳ kêu là “điền chủ” chứ không phải là “địa chủ” như ngoài Bắc là vì sao?

Điền chủ nó thoáng, nó vẫn mở và nó ở mức độ dễ chịu nhiều hơn “địa chủ”, ngoài Bắc địa chủ đồng nghĩa với cường hào ác bá, cái vế cường hào ác bá cũng của xứ Bắc, mức độ khốc liệt vì đất Bắc ít mà lại có nạn nhân mãn, cộng với thói quen “lũy tre làng”, hương ước, dòng tộc, dân thủ cựu dân ngụ cư khắc nghiệt.

Nam Kỳ có tá điền, nếu không mướn ruộng bà này thì qua xứ khác mướn đất ông kia, làm gì có cảnh máu me, dồn nén, ruột đổ gan bầm như ngoài Bắc.

“Xứ Nam kỳ nầy là một xứ đất rộng dân thưa. Đã vậy mà ruộng đất lại cao du, từ sông Bến Lức, Vũng Gù thẳng xuống giáp Vịnh Xiêm, chẳng luận là tỉnh nào, hễ phát cỏ gieo mạ thì tới mùa lúa đổ đầy vựa; chớ khỏi tốn tiền mua phân mà vãi trong ruộng, lại cũng khỏi đắp bờ rồi cả ngày phải cong lưng mà tát nước dưới ruộng thấp đam lên ruộng cao; như thế thì dân Nam kỳ làm ruộng sung sướng là dường nào”(Nguyễn Chánh Sắt 1919)

Cái mục đích đầu tiên của tổ tiên ta là làm ruộng kiếm hột lúa đặng nuôi con, để ăn sống ấm no.

Nói tới dân Lục Tỉnh xưa rày chỉ nghe nhắc tới những người chỉ biết lo làm ruộng, làm vườn, đi làm ruộng hò vang trời, đọc thơ Vân Tiên, tối vác cây đờn ra tăng tẳng đờn ca tài tử, hát cải lương, rồi ba chưn bốn cẳng chạy đi về đình khi nghe trống thúc thùng thùng vì qua say mê hát bội.

Mùng 10 từ ngày ban đầu được định ra là cúng Đất, là Tạ Ơn. Rất hợp lý, Tết có mùng 9 là ngày cúng Trời, mùng 10 cúng Đất, còn tất cà các mùng khác là vì tổ tiên, ông bà, là chữ Nhân Con Người. Cái quan niệm Thiên-Địa-Nhân ngẫm quá trúng.

Người Miền Bắc có ngày 23 tháng Chạp là cúng “Ông Công Ông Táo”, tức là cúng Táo Quân và cúng luôn Thổ Công.

Dân Nam Kỳ thì 23 tháng Chạp chỉ đưa Ông Táo, còn Đất (Thổ) thì cúng riêng ngày mùng 10.

Ngày mùng 10, bà con Nam Kỳ mình có tục sẽ làm một mâm cúng cho vị thần thích ngồi ở cái bàn thờ “sát đất” ngoáy đầu nhìn ra cửa chánh, đó là đất đai, là Ông Địa.

Mâm cúng đó gồm bộ tam sên như tôm, cua, hột vịt, thêm dĩa bún tươi, dĩa rau sống, dĩa trầu cau, đặc biệt Nam Kỳ gốc phải có cá lóc nướng trui.

Nhiều người kêu mùng 10 cúng Thần Tài, tôi cực lực bác bỏ và phản đối.

Nhìn cách cúng thì biết không phải cúng ông Thần Tài rồi, Thần Tài là một sản phẩm của người Tàu và sau này được đem vô thờ “ké” chung với Ông Địa thôi.

Vì lịch sử Tàu cũng chưa nói tới Ông Thần Tài nào ngồi dưới đất ăn cá lóc nướng trui hết.

Trong nhà người Nam Kỳ có Ông Địa tượng trưng cho đất, ngồi bàn thờ sát đất mà ngoài Bắc, ngoài Trung và người Hoa ở các nước khác không hề có tục này.

Cá lóc nướng trui là món đặc trưng của ông bà Nam Kỳ mình từ thời khẩn hoang xa xưa.

Con cá lóc dưới sông, dưới ruộng còn nhảy xoi xói dưới đìa bắt lên để nguyên con còn đủ ruột gan, vảy cá.

Rồi cắm cái cây vô họng nó dựng đứng lên,phủ rơm thui cho nó chín. Khi chín để nguyên con bỏ vô dĩa và đặt trước bàn thờ Ông Địa cúng mùng 10.

Có thêm dĩa bún,cùng các loại rau. Cúng xong ăn cá lóc nướng trui với bánh tráng quấn cùng các loại rau dân dã như rau rừng như lá cóc, rau nhái, diếp cá, ngò gai, hẹ, quế vị, lá lụa, trâm ổi, lộc vừng, đọt kim cang, sộp, lá cách, bứa rừng, bứa sông, đọt chiếc, mặt trăng, bằng lăng, trâm sắn cùng với chuối chát, thơm, xà lách, dưa leo và phải chấm nước mắm hoặc mắm nêm.

Nướng trui là gì?Là trui trong lửa,trong than nóng. Nó như con dao trui trong lửa đỏ vậy.

Cá lóc nướng trui là món thuộc trường phái ẩm thực khẩn hoang Miền Nam.

Từ ẩm thực dân gian con cá lóc nướng trui của lưu dân Lục Tỉnh xưa đã lên bàn thờ mùng 10 để thành phong tục tập quán.

Nguyên thủy thì tục mùng 10 là cúng chú Thổ, tức đất đai. Người già Nam Kỳ vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai, cúng Tết đất, Tết nhà.

Bao đời nay, từ đời ông bà cố tổ, ông bà sơ ông bà cố, ông bà nội ngoại, đời cha và đời con đều như vậy.

Biết ơn mảnh đất cho ta có cơm ăn, áo mặt, mảnh đất làm ruộng vườn, mảnh đất cất nhà, mảnh đất chôn ông bà mình.

Những khoảnh ruộng Nam Kỳ có lác đác vài lùm mả là bằng chứng vậy.

Mái nhà Miền Nam um khói chiêu lan tỏa đặng cả nhà đề huề bên mâm cơm đơn sơ với rau cải, tôm cá. Không cao lương mỹ vị, nhưng tràn đầy niềm yêu thương nồng đậm của gia đình Nam Kỳ.

Người Nam Kỳ kêu con lớn là anh hai, không có anh cả, số hai là lớn nhứt vì dân Nam Kỳ đi khai hoang đất, lấy quẻ Thuần Khôn (đất) làm trọng.

Cúng chú Thổ tức cúng chủ đất, cũng là gợi lên hình ảnh người chủ đất cũ là người Khmer (Người Thổ) .

Món cúng bắt buộc là con cá lóc nướng trui, sau này có bộ tam sên là cua, tôm hay thịt ba rọi luộc, hột vịt.

Chú Thổ ăn bốc, thành ra nguyên mâm cá lóc nướng trui, bộ tam sên cúng đâu có đôi đũa hay muỗng nĩa gì.

Chú Thổ gợi ta điều gì?

Nam Kỳ xưa còn được ông bà mình kêu là xứ Đàng Thổ vì đất Nam Kỳ vốn trên danh nghĩa là đất của người Khmer, nói “danh nghĩa” vì Nam Kỳ vốn đất của Phù Nam, sau đó Khmer tuyên bố chủ quyền nhưng dân sống trên đất này rất ít thành ra đất Nam Kỳ xưa gần như vô chủ.

Nhưng khi vô trong này, người Việt đã gặp người Khmer bổn địa tóc quắn, da đen, mắt có khoen, đó là người đang sống ở đất Nam Kỳ.

Lưu dân Nam Kỳ tìm đất mới đã rất kiên trì, mềm dẻo, hiền hòa theo lẽ sống an vui, thân thiện và khả năng thích ứng tốt.

Người Nam Kỳ đi khai hoang đất, tìm đất mới để sanh tồn mà tạo ra văn minh Nam Kỳ Lục Tỉnh nên đất trong tâm linh xứ này vô cùng quan trọng.

Chúng ta nhớ trong những đám cúng kiếng của Nam Kỳ luôn có mâm đất đai, bàn thờ Nam Kỳ luôn có Ông Địa ở giữa nhà.

Văn minh Nam Kỳ là văn minh miệt vườn, là di dân mới nên đất quan trọng lắm, cúng đất quan trọng, người mình có buôn bán giống người Tàu đâu mà cúng thần tài đặng mà “mong ước” mua một bốn lời, giàu nứt trứng.

Sau này ảnh hưởng người Tàu nên có thờ thêm ông thần tài chung với ông địa, và nhiều người nói cúng mùng 10 là vía thần tài là sau này thôi. Thêm thắt thần tài là cho “ăn ké” chú Thổ rồi bắt chước người Tàu cúng cây mía, sau đó hớt luôn ngày mùng 10 thành “ngày vía thần tài” giống như đảo chánh đất đai vậy.

Nhiều người nói cúng bộ tam sên là của ông Thần Tài cũng không đúng.

Tam sên cua, tôm và hột vịt luộc cũng là lễ vật cúng đất, bằng chứng là khi động thổ xây nhà và trước khi hạ huyệt chôn cất người chết thì người Nam Kỳ cũng cúng bộ tam sên.

Trong phong tục tập quán, người Nam Kỳ gốc và người Việt không cúng cây mía trong ngày mùng 10.

Nói cúng mùng 10 là cúng thần tài là đánh tráo khái niệm. Xứ tui vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai hoặc Tết nhà cửa, cúng chú Thổ.

Khẳng định lại rằng, Lục Tỉnh cúng mùng 10 tháng Giêng là cúng đất đai, tạ ơn Chú Thổ giữ sung túc, an vui nhà cửa.

Người Mỹ có ngày Tạ Ơn diễn ra vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 thì Lục Tỉnh mình có ngày Tạ Ơn vào Mùng 10 Tháng Giêng.

Cúng đất là cúng tạ ơn đất đai cho một mùa bội thu, cho nhà cửa an bề và ghi nhớ những người khai khẩn đã chết trong quá trình hình thành đất Nam Kỳ.

Chú Thổ có hình ảnh là Thổ Địa và Ông Tà Nam Kỳ là gốc người Khmer.

Cúng cá lóc nướng trui ngày Mùng 10 là một phong tục văn hoá của người Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa nay. Đó là món ăn nhắc nhớ nguồn gốc khẩn hoang thời ông bà mình còn làm lưu dân khai khẩn.

Đó là nguồn cội của người Nam Kỳ

Tổ tiên ta là ai?

Trước tiên là ông bà cha mẹ trực hệ sanh ra ta, có máu mủ với ta rồi, những người đang ngồi trên bàn thờ giữa nhà đó.

Xa hơn, là tất cả những người Miền Nam đi trước đã gầy dựng, bảo vệ, giữ và đòi quyền lợi chánh trị cho mảnh đất này.

Nhà văn Bình-nguyên Lộc dạy rằng:

”Một quê hương phải bắt nguồn trong một dĩ vãng lâu đời mà nước mắt và nụ cười của bao thế hệ đã ràng buộc con người vào đất, vào vật, vào người. Đất, có ở lâu, tình đất mới sâu”

Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt, đất này gốc của Phù Nam rồi Khmer và người Việt phải trầy vi tróc da giữ nó, khai phá nó mới có cơm gạo.

Xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh gần như là một thế giới riêng biệt.

Người Miền Nam có giọng nói và cách nói riêng biệt, ẩm thực huy hoàng,có quan điểm sống, nhìn nhận cuộc sống và tư duy dân chủ, tự do cũng khác.

Chúng ta tự hào có Đỗ Thành Nhơn, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Thủ Khoa Huân, Quản Lịch Nguyễn Trung Trực, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu…

“Canh trắng, chong đèn soi quá khứ

Viết đời biển lặng tiếp sông trong”.

NGUYỄN GIA VIỆT

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bài cuối: Cuộc di tản của quân viễn chinh ở Đà Nẵng

Chiến dịch Đà Nẵng (1858-1860) qua tường thuật của sĩ quan tham chiến Pháp

Ngày 26 và 27-2-1860, chúng tôi bắt đầu sơ tán khỏi khu vực Chơn Sảng (nguyên văn: Kien-Chan). Các tường thành ở đồn Trấn Dương hầu như được phá bỏ hết.

Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí của liên quân Pháp-Tây Ban Nha và phòng tuyến của quân triều Nguyễn trên hai bờ sông Hàn ngày 15-9-1859. (Ảnh: NQTT chụp lại)
Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí của liên quân Pháp-Tây Ban Nha và phòng tuyến của quân triều Nguyễn trên hai bờ sông Hàn ngày 15-9-1859. (Ảnh: NQTT chụp lại)

Sáng 29-2-1860, lúc 4 giờ, quân An Nam, những người nhìn thấy sự chuẩn bị cho việc sơ tán của chúng tôi, đã giễu cợt bằng cách dùng súng bắn đá bắn một vài quả đạn vào những tiền đồn của liên quân.

Lúc 7 giờ, pháo đài Isabelle (pháo đài bằng đất do quân Nguyễn xây ở gần đồn Chơn Sảng- NQTT), đồn Chơn Sảng (nguyên văn là “pháo đài Núm vú”: fort du Mamelon) đã bị cho nổ sập. Khu vực Chơn Sảng bị bỏ ngỏ, liên quân rút về những tiền đồn ở Đà Nẵng.

Ngày 1-3-1860, các nhà kho trên bãi biển bị phá hủy, các thuyền chiến đấu rút khỏi sông Hàn.

Đêm mồng 2-3-1860, quân An Nam bắt đầu chơi lại màn hài kịch nhỏ của mình: họ đến bắn một vài quả đạn đá tại thành Điện Hải, còn những đại bác của họ dường như không nạp đạn, vì không nghe tiếng rít của viên đạn bay ra.

Cả ngày, tiếng tầm-tầm (tiếng súng hỏa mai – NQTT) vang lên trên sông Hàn và tại đồn Chơn Sảng. Quân An Nam đi lại trên phòng tuyến của mình và liên tục phất cờ (thực ra lính triều đình đang truyền tin bằng tín hiệu cờ – NQTT).

Ngày 4-3-1860, ở trên sông Hàn đã giảm bớt tiếng súng. Tại đồn Chơn Sảng quân An Nam đang làm việc để khôi phục lại pháo đài bằng đất. Phía đồn Trấn Dương người ta thấy họ di chuyển trên bộ.

Ngày 5-3-1860, vào lúc nửa đêm, quân An Nam nã đại bác vào thành An Hải. Đến 4 giờ sáng họ bắn vào thành Điện Hải và công sự ở các góc. Một trong số những quả đạn rơi vào thành Điện Hải, nhưng không nổ.

Bộ phận cứu thương di tản những người bệnh đến mạn các con tàu. Pháo đài Phòng Hải của đồn Trấn Dương bị phá hủy, các tiền đồn được phá tan bởi thuốc súng cũ của người An Nam.

Ngày 17-3-1860, lúc nửa đêm, trạm chuyển tiếp nhỏ và các tiền đồn của Sơn Trà bị tấn công và bao vây bởi đội giáo binh của An Nam. Họ bị đẩy lui sau một trận đánh giáp lá cà, hai thủy quân lục chiến bị thương vì giáo đâm. Liên quân ngay lập tức củng cố lại đồn nhỏ. Hai giờ sau lại bị một cuộc tấn công mới bởi toán lính đông hơn. Những loạt súng trường và tiếng kèn hiệu vang lên. Đây là lần đầu tiên quân An Nam dám liều mình đến tận các tiền đồn của chúng tôi ở Đà Nẵng, bởi cho đến nay tất cả các cuộc tấn công của họ chỉ xảy ra quanh khu vực sông Hàn.

Liên quân sắp xếp lại việc bố trí lực lượng trong trường hợp bị tấn công vào các tiền đồn. Mỗi đại đội điều động một tốp lính, một chiếc sà lúp vũ trang chiến đấu thiết lập một trạm gác lớn. Mỗi chiếc tàu sẽ có một thuyền vũ trang bảo vệ, sẵn sàng xuất hiện mỗi khi có tín hiệu đầu tiên được phát ra bằng một ngọn lửa màu đỏ, đặt trên cột cờ của chòi canh ở các tiền đồn. Những thuyền chiến đấu này được đặt dưới sự chỉ huy của một phó thuyền.

Ngày 19-3-1860, những chiếc sà lan và thuyền chiến đấu của tàu được kéo thành đoàn bởi tàu Lampra. Liên quân di dời các khẩu pháo ở thành An Hải, thành Điện Hải và những công sự ở các góc.
Pháo hạm Alarme neo đậu ở phía nam vịnh để bảo vệ thuyền bè đang tiến hành tháo dỡ vũ khí quân dụng ở các pháo đài ven sông Hàn. Liên quân đặt thuốc nổ phá bung pháo đài Phòng Hải và ụ pháo nhỏ của lính Tây Ban Nha ở đồn Trấn Dương. Khói lửa cuồn cuộn bốc lên khắp nơi.

Ngày 20-3-1860, nửa đêm, quân An Nam tấn công các thành An Hải và Điện Hải, chúng tôi đáp trả hai loạt đạn cối. Người An Nam ném vào cùng lúc trên sông hai chiếc sọt khá nguy hiểm, được làm bằng tre nhồi rơm trộn thuốc súng. Chiếc đầu tiên bị thu giữ trước khi bắt lửa, chiếc thứ hai bùng cháy sau khi lướt qua các thuyền chiến đấu. Những khẩu đại bác cuối cùng ở các pháo đài ven sông Hàn được chuyển đi. Liên quân đốt bỏ các thuyền mành và thuyền đánh cá vẫn còn trong bến cảng.

Ngày 21-3-1860, trong đêm, quân An Nam đặt một quả nổ trong công sự ở các góc, pháo hạm Alarme trả đũa bằng hai phát đại bác.

Chúng tôi sắp ngựa xuống tàu. Đến giữa trưa, công binh đánh sập những kho thuốc súng ở thành Điện Hải và công sự ở các góc. Ngọn lửa bao phủ tất cả những túp lều phía bờ trái sông Hàn. Các toán quân rút khỏi thành An Hải bằng đường bộ, trở lại với các tiền đồn trên eo đất của Đà Nẵng.

Lúc 3 giờ chiều, kho thuốc súng ở thành An Hải bị công binh thổi tung. Họ đốt luôn những lều ăn ở khu vực pháo đài. Đến 3 giờ rưỡi chiều, cuộc di tản trên dòng sông Hàn đã kết thúc.

Việc xuống tàu của liên quân được bắt đầu với lính Tây Ban Nha, những người vừa rời khỏi sông Hàn. Chúng tôi củng cố các tiền đồn. Vào 11 giờ đêm, quân An Nam như chào mừng sự ra đi của chúng tôi, bắn về trạm chuyển tiếp một loạt gần 40 quả đạn đá. Các vị quan An Nam bây giờ có thể tuyên bố rằng họ đã đánh đuổi chúng tôi bằng những phát đại bác. Đó là sự thật. Than ôi! Chúng tôi đã trao cho họ phần tốt đẹp.

Ngày 22-3-1860, di tản khỏi Đà Nẵng. Từ lúc mặt trời mọc đến tận hoàng hôn, âm thanh những vụ nổ thật lớn, tất cả các pháo đài ở Đà Nẵng bật tung lên từ chỗ này tiếp nối chỗ khác, lửa bao trùm khắp nơi, sức nóng của ngọn lửa thật kinh khủng đến nỗi có thể cảm thấy nó ngay cả khi đứng trên boong tàu.

Đại đội của tôi lãnh nhiệm vụ bảo vệ cuộc rút quân, lên tàu Marne lúc 5 giờ chiều. Đôi mắt nhòe đi, tôi từ biệt Đà Nẵng lần cuối. Tôi trải qua cả đêm trên boong tàu. Như câu chuyện cổ tích, Đà Nẵng mãi mãi bằng lửa rực sáng nói chung.

Hòn đảo Cô được thắp sáng bởi ánh lửa từ một chiếc thuyền mành phản chiếu trên những bước sóng run rẩy nơi bến cảng. Cột buồm cháy tóe ra những tia lửa, loang ra rồi như bị hãm lại bởi một bàn tay vô hình. Những người An Nam chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng như vậy nên dường như cảm thấy sững sờ. Không có âm thanh nào được phát ra ở eo đất và bán đảo Sơn Trà. Họ phải nghĩ gì khi thấy rằng, ngọn đuốc trong tay chúng ta đã hủy diệt không chỉ các pháo đài, mà còn tất cả các công trình do chính chúng ta đã xây dựng, với cái giá quá sức mệt mỏi và nhiều mất mát?

Liệu chúng ta có thể ngạc nhiên, nếu họ gọi chúng ta là “những kẻ man rợ”?

Ngày 23-3-1860, khởi hành từ Đà Nẵng. Lúc 8 giờ sáng, để chứng minh với người dân rằng chúng tôi tự nguyện rút khỏi Đà Nẵng (vì đánh mãi không chiếm được đất liền- NQTT), tất cả các tàu hơi nước chạy một vòng quanh vịnh, và mỗi tàu bắn một phát đạn cối về hướng chiến tuyến của quân An Nam. Sự chứng minh này đem lại cho chúng tôi một chút an ủi. Chúng tôi nhìn thấy trên sông Hàn một số lượng lớn các thuyền mành treo cờ; nhưng người An Nam giữ một khoảng cách tôn trọng tầm đại bác trên tàu của chúng tôi.

Đến 8 giờ 30, đoàn tàu di tản khỏi vịnh Đà Nẵng. Tôi phóng tầm mắt u buồn lần cuối về phía nghĩa trang (nằm ở chân bán đảo Sơn Trà, phía đông núi Mỏ Diều, dân gian quen gọi là nghĩa địa Y Pha Nho, tức Tây Ban Nha, cũng gọi là khu Mả Tây, về sau Pháp gọi là đồi Hài cốt – NQTT) mà chúng ta đang bỏ rơi, nơi có rất nhiều người đã hy sinh tất cả cho đất nước của họ.

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN


(Lược dịch và hiệu chỉnh thuật ngữ chuyên môn từ Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896)

https://baodanang.vn/channel/5399/201801/chien-dich-da-nang-1858-1860-qua-tuong-thuat-cua-si-quan-tham-chien-phap-bai-cuoi-cuoc-di-tan-cua-quan-vien-chinh-o-da-nang-2586171/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bài 4: Sự chống trả kiên cường của người An Nam

Chiến dịch Đà Nẵng (1858-1860) qua tường thuật của sĩ quan tham chiến Pháp

Tháng 2-1859, trong đợt đưa phần lớn quân số ở Đà Nẵng vào chinh phục Sài Gòn, quân An Nam, với hy vọng không nghi ngờ gì nữa, muốn quét sạch chúng tôi ra khỏi Đà Nẵng, đã tăng gấp đôi hoạt động trong công việc của mình và gần như tiến sát bờ biển.

Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí của liên quân Pháp-Tây Ban Nha và phòng tuyến của quân triều Nguyễn trên tả ngạn sông Hàn ngày 8-5-1859.               (Ảnh NQTT chụp lại)
Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí của liên quân Pháp-Tây Ban Nha và phòng tuyến của quân triều Nguyễn trên tả ngạn sông Hàn ngày 8-5-1859. (Ảnh NQTT chụp lại)

Vào ngày 6-2-1859 (mồng 4 Tết Kỷ Mùi – NQTT), để mừng năm mới, người An Nam đã thực hiện đợt tấn công đầu tiên. Buổi trưa, vào giờ ăn, tận dụng các thuyền chiến đấu tập trung quanh vị trí của Thiếu tá Faucon, chỉ huy các tiền đồn trên sông Hàn, tất cả các ụ pháo và các pháo đài mới xây dựng của họ đồng loạt khai hỏa. Sau một khoảnh khắc bất ngờ, những thuyền chiến của liên quân đã bắn trả, thành An Hải và một pháo hạm cũng nổ súng. Tiếng đạn pháo cả hai bên nổ liên hồi. Cuối cùng, vào khoảng một giờ chiều, quân An Nam ngưng bắn.

Thuyền trưởng Thoyon, tổng chỉ huy ở Đà Nẵng, ngay lập tức gửi các đại đội đổ bộ vào bờ bến cảng, dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng tàu Catinat là Béranger, với sự hỗ trợ của hạm đội, nhằm tiếp cận các pháo đài An Nam để tiêu diệt.

Vào 3 giờ chiều, lực lượng liên quân hùng hậu gồm 400 người đổ bộ lên bờ trái sông Hàn và tấn công các ụ pháo nằm trên bờ biển và phía sau các kho lương thực cũ. Quân An Nam phản kích mãnh liệt, đại bác của họ không ngừng gầm vang.

Vào thời điểm cuộc tấn công diễn ra, những tường thành sáng rực, cháy bùng trong tiếng nổ và bắn ra những quả cầu lửa (hỏa cầu: quả cầu kim loại rỗng có tay cầm, trong nhồi thuốc súng và mảnh kim loại, có ngòi để châm và ném – NQTT). Quân xung kích cũng bị tưới dầu sôi, nước axit (nước sôi có pha độc – NQTT), chậu lửa (dầu chứa trong bình hoặc chậu, đốt lửa để ném – NQTT) xuống người…

Trời đã muộn nên thuyền trưởng Béranger phải hoãn cuộc tấn công các pháo đài khác sang ngày mai, nơi quân An Nam không ngừng nhả đạn. Liên quân tịch thu được những súng trường phóng lửa nòng cỡ lớn (súng hỏa hổ – NQTT) có trọng lượng cỡ một pound (0,453kg), những ống phóng tên lửa (súng hỏa thương – NQTT) và súng phun lửa nòng lớn (súng hỏa đồng – NQTT).

Súng hỏa thương gồm một ống tre được gắn ở đầu súng hoặc giáo, và một tên lửa, một thành phần đặc biệt mà người An Nam có bí quyết riêng, gắn vào phần trên của ống tre. Súng này liên tiếp bắn ra ba hoặc bốn tên lửa, rất khó dập tắt. Đối với súng hỏa đồng, nó có kích thước lớn và được sử dụng để phun dầu sôi hoặc nước sôi. Tính hài hước của người Pháp không bao giờ mất đi, khi vài người lính thủy quân lục chiến và hải quân làm nhiệm vụ cứu thương đã tự trang bị cho mình loại vũ khí chiến đấu mới này.

Ngày hôm sau, điểm nhấn trong ngày là những thuyền chiến và thành An Hải khạc đạn vào các pháo đài còn đứng vững hôm trước, quân An Nam không phản pháo. Liên quân lao lên tấn công và đột nhập vào trong các ụ pháo, nhưng chúng đã bị bỏ rơi trong đêm sau khi lính An Nam đã di chuyển các khẩu đại bác.

Sau khi phá hủy các ụ súng, các đại đội di chuyển quay trở lại bến cảng Đà Nẵng. Trong cuộc đụng độ hôm qua, chúng tôi có khoảng mười lăm người bị thương, hai người trong số đó bị thương nặng.
Trong thời gian còn lại của tháng 2-1859, người An Nam xây dựng lại các pháo đài đã bị phá hủy trước đó. Rõ ràng là họ không từ bỏ hy vọng đẩy chúng tôi ra khỏi dòng sông Hàn. Người ta phải công nhận ý chí bền bỉ của dân An Nam.

Mặc dù thường xuyên bị chúng ta bắn phá, quân An Nam vẫn xây dựng một pháo đài mới, lần lượt đánh bại các thuyền chiến và thành An Hải. Một chòi canh tương tự như chòi canh của đồn Cẩm Lệ (nguyên văn: Camlé) được dựng lên ở pháo đài mới.

Trên sông, người ta thấy nhiều thuyền chiến và xuồng chở vật liệu quân sự đi lại. Trong một chuyến trinh sát, chúng tôi bắt giữ được hai thuyền mành cất giấu đạn dược và 35 khẩu đại bác cỡ nòng khác nhau.

Ngày 2-3-1859, lúc 1 giờ sáng, một đơn vị lính An Nam bò vào con đường dẫn đến thành An Hải, tại lối vào nhà bếp của sĩ quan và lều ăn của sĩ quan. Theo nguồn tin đáng tin cậy do những ngư dân cung cấp, các sĩ quan ngồi trong lều ăn bị lính Annam phóng hỏa, sau khi sục sạo tất cả mọi thứ trong nhà bếp, kể cả chiếc rương con đựng quân trang của một chuẩn úy hải quân.

Động thái táo bạo này chứng tỏ nhu cầu cần thiết lập một trạm gác đêm ở lối vào con đường kín. Trong đêm 2-3-1859, quân An Nam cũng đốt cháy cột cờ của chòi canh ở thành Điện Hải, nơi liên quân thiết lập một trạm quan sát kể từ ngày nơi đây trở thành một đống đổ nát.

Ngày 6-3-1859, vào 9 giờ 30 tối, liên quân ở thành An Hải bị tấn công. Trên những cao điểm xung quanh thành, quân An Nam bố trí một số lượng lớn các súng cỡ nhỏ, nhiều nhất là súng bằng tre (các loại súng hỏa thương, hỏa hổ – NQTT) để dễ dàng cơ động từ vị trí này sang vị trí khác. Bộ binh của họ ẩn mình trong những lùm bụi rậm rạp.

Thành An Hải, ngoại trừ mặt thành nhìn ra phía bến cảng, đều bị bao quanh bởi một vòng tròn lửa. Pháo binh của chúng ta bắn trả kịch liệt; nhưng người An Nam, để nghi binh, đã đặt trên các ngọn đồi những hình người nộm (nguyên văn: mannequins) bằng rơm được chiếu sáng dưới ánh đèn lồng. Đến 11 giờ khuya, họ lại tiếp tục cuộc tấn công, bao vây siết chặt thành An Hải hơn, vài nơi trong thành bị bốc lửa ngùn ngụt.

Tối ngày hôm sau, lại một cuộc tấn công mới. Liên quân đáp trả bằng những loạt đại bác, rồi mọi thứ trở nên yên lặng. Liên quân cho rằng những cuộc tấn công này nhằm nghi binh để cho phép quân An Nam triển khai hoạt động xây dựng một pháo đài ở bờ trái sông Hàn, mà việc thiết lập sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với những tiền đồn của chúng ta. Trong hai đêm liền, một vùng ánh sáng rộng đã được quan sát thấy ở hướng này.

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN


(Lược dịch và hiệu chỉnh thuật ngữ chuyên môn từ Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896)

https://baodanang.vn/channel/5399/201801/chien-dich-da-nang-1858-1860-qua-tuong-thuat-cua-si-quan-tham-chien-phap-bai-4-su-chong-tra-kien-cuong-cua-nguoi-an-nam-2586042/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bài 3: Cuộc tàn phá thành Điện Hải và lần thoái bộ đầu tiên

Chiến dịch Đà Nẵng (1858-1860) qua tường thuật của sĩ quan tham chiến Pháp

Ngày 4-9-1858, một mùi khó chịu xuất hiện từ các đống đổ nát của kho thuốc súng (ở thành An Hải – NQTT). Theo yêu cầu của chỉ huy đơn vị chúng tôi, liên quân cử đến một toán lính Tagal và đội công binh để phụ giúp chúng tôi trong một công việc u buồn ảm đạm. 45 tử thi được thu lượm và chôn cất ở gần bờ sông. Chúng tôi cũng tìm thấy bản thiết kế của tòa thành, nó rất chuẩn mực, nhưng bản vẽ trông thô sơ hơn so với bản vẽ thành Điện Hải được lính công binh tìm thấy ngày hôm qua.

Toàn cảnh vịnh Đà Nẵng: đánh chiếm đồn Ba. Theo tranh vẽ của Đại úy pháo binh hải quân F. Lacour, trích từ Le Monde Illustré, Paris, 1860 (1/Đồn Hai – 2/Pháo đài Phòng Hải của đồn Trấn Dương – 3/ Đồn Trấn Dương – 4/ Nhà kho – 5/ Xưởng đóng thuyền – 6/ Khu mổ gia súc – 7/ Ụ pháo – 8/ Ống dẫn nước). Nguồn: Aubert, Histoire militaire de l’Indochine française des débuts à nos jours (juillet 1930), Tome I, Imprimerie d’Extrêmme-Orient, Hanoi-Haiphong, Exposition Coloniale Internationale de Paris de 1931.
Toàn cảnh vịnh Đà Nẵng: đánh chiếm đồn Ba. Theo tranh vẽ của Đại úy pháo binh hải quân F. Lacour, trích từ Le Monde Illustré, Paris, 1860 (1/Đồn Hai – 2/Pháo đài Phòng Hải của đồn Trấn Dương – 3/ Đồn Trấn Dương – 4/ Nhà kho – 5/ Xưởng đóng thuyền – 6/ Khu mổ gia súc – 7/ Ụ pháo – 8/ Ống dẫn nước). Nguồn: Aubert, Histoire militaire de l’Indochine française des débuts à nos jours (juillet 1930), Tome I, Imprimerie d’Extrêmme-Orient, Hanoi-Haiphong, Exposition Coloniale Internationale de Paris de 1931.

Tại thành Điện Hải, những người lính làm công việc thu dọn chiến trường đi thu lượm đạn dược và thu giữ những khẩu đại bác bằng đồng. Họ đóng đinh vào họng những khẩu súng bằng gang sau khi đã đập vỡ các trục quay nòng súng. Công binh đào những lỗ đặt mìn dưới chân các ổ hỏa lực tại những góc lồi để chuẩn bị làm nổ tung tòa thành.

Ngày 5-9-1858, những người lính thu dọn chiến trường tiếp tục công việc ở thành Điện Hải. Họ tìm thấy những kho lúa gạo lớn trên bờ trái sông Hàn. Các giếng nước xung quanh được công nhận là nước có chất lượng đủ tốt, mặc dù có một chút vị giác lờ lợ.

Các phái viên của Đức cha Pellerin vừa mới đến doanh trại, họ thông báo rằng có thể đêm nay chúng tôi sẽ bị tấn công bởi một đội quân chừng 10.000 người.

Vào 7 giờ chiều, các mệnh lệnh được ban hành để chuẩn bị nghênh chiến. Các toán quân từ thành Điện Hải đổ bộ lên bờ sông phía chúng tôi (phía hữu ngạn – NQTT) và đóng quân dọc theo bờ biển, phía sau thành An Hải. Họ đặt những trạm gác lớn. Thành An Hải phải trở thành cứ điểm chống trả của phòng tuyến chiến đấu được kéo dài đến tận trại quân, với sự tăng cường thêm Đại đội 24 của Đại úy Mitrau và một khẩu đội súng cối.

Suốt đêm chúng tôi đều hết sức cảnh giác. Đến 11 giờ khuya, một khẩu súng đại bác đã bị hất tung bởi chiếc xuồng vũ trang chiến đấu, tách ra khỏi chốt bảo vệ con sông. Cùng thời điểm này, một đại đội của Đại úy Aubein từ doanh trại triển khai thực hiện một chuyến đi trinh sát. Quân An Nam đã không xuất hiện. Nếu họ thực sự ở gần chúng tôi, điều có thể bảo đảm chắc chắn là chúng tôi sẽ không bị bất ngờ.

Ngày 6-9-1858, binh lính ở thành Điện Hải đã hoàn tất cuộc di tản. Những khẩu súng cối và đạn dược đều đã được di chuyển sang thành An Hải. Vào 11 giờ sáng, tòa thành bị kích nổ thổi tung lên, thiêu cháy cả những ngôi nhà ở khu vực phụ cận. Không có sự cố nào xảy ra trong đêm đó.

Ngày 7-9-1858, điểm nhấn trong ngày là một phân đội vũ trang được cử đi để tìm kiếm sự sống trên eo đất nối bán đảo Sơn Trà với đất liền. Lúc 8 giờ sáng, họ trở lại thành An Hải với 27 bảy con gia súc, gồm bò đực, bò cái, bê, heo (lợn) cùng gà vịt, lúa gạo, dưa chuột, những quả cam xanh ngon mắt, chanh, cà tím, đậu xanh, chuối, lựu, hẹ, muối và đường miếng. Cuộc vơ vét này là cần thiết; bởi vì, đoàn quân viễn chinh thiếu thốn thực phẩm tươi sống, một số trường hợp bệnh nhân mang bệnh suy nhược đã được nhận diện nghiêm trọng, nhất là số thủy thủ đoàn của các tàu đã từng ở Trung Quốc (trước khi sang Đà Nẵng – NQTT).

Những toán lính Tagal chiếm đóng ở đồn Hai trên đảo Cô được đối xử bình đẳng. Họ nói rằng chuột xạ với số lượng lớn ở dưới con đường sàn đóng cọc nối đảo với đất liền mà tất cả ưa thích đều có trong tự nhiên.

Liên quân tiếp tục gửi đạn dược đến thành An Hải. Chúng tôi vẫn nhận được ba khẩu súng cối và các thiết bị y tế cứu thương từ đoàn quân viễn chinh.

Vào 4 giờ chiều, các xuồng vũ trang chiến đấu tiến vào sông Hàn, một trong số thuyền đó bắn một phát đạn pháo. Đến 6 giờ chiều họ trở lại vị trí quan sát của mình. Doanh trại được đổi hướng bởi sự chuyển đổi phòng tuyến sang bên phải mà thành An Hải là vị trí then chốt.

Ngày 10-9-1858, vào lúc 4 giờ chiều, các toán quân rời khỏi doanh trại và triển khai chiếm giữ các vị trí được giao trong trường hợp bị tấn công. Phòng tuyến trải dài theo những cồn cát bên trái thành An Hải. Các khẩu đội súng cối được bố trí trong phạm vi của các tiểu đoàn. Hai đại đội, bao gồm đại đội lính Tagal, được triển khai tỏa ra phục kích cách 200 mét phía trước phòng tuyến. Các đại đội ở thành An Hải được thay thế bằng lực lượng hải quân. Đến 6 giờ chiều, vị trí của từng đơn vị tác chiến đã được xác định xong, các toán quân trở lại doanh trại.

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN


(Lược dịch và hiệu chỉnh thuật ngữ chuyên môn từ Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896)

https://baodanang.vn/channel/5399/201801/chien-dich-da-nang-1858-1860-qua-tuong-thuat-cua-si-quan-tham-chien-phap-bai-3-cuoc-tan-pha-thanh-dien-hai-va-lan-thoai-bo-dau-tien-2585868/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bài 2: Cuộc đánh chiếm hai thành An Hải và Điện Hải

Chiến dịch Đà Nẵng (1858-1860) qua tường thuật của sĩ quan tham chiến Pháp

Ngày 2-9-1858, lúc 4 giờ sáng, tiểu đoàn của Trung đoàn 2 Thủy quân lục chiến và đội pháo binh rời khỏi doanh trại dã chiến, đến 6 giờ 30 thì tiếp cận với doanh trại của cánh quân dẫn đầu.

Một góc thành Điện Hải sau khi bị liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh chiếm lúc 10 giờ sáng ngày 2-9-1858 thể hiện rõ tường thành phía đông và nhà chứa súng bị hư hại nhiều do trúng đạn pháo, những cỗ thần công còn đặt bên trong nhà súng, những cỗ thần công dùng để chiến đấu bị hất tung nhiều nơi, cột cờ cạnh tường thành phía nam đã cắm quốc kỳ Pháp và cảnh liên quân Pháp - Tây Ban Nha đang thực hiện di chuyển những cỗ súng thần công chiếm đoạt được ra khỏi thành. Tranh của Lebreton đăng trên họa báo Journal Universel, Paris, 1858.                                                                                              (Nguồn: Alamy stock photo)
Một góc thành Điện Hải sau khi bị liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh chiếm lúc 10 giờ sáng ngày 2-9-1858 thể hiện rõ tường thành phía đông và nhà chứa súng bị hư hại nhiều do trúng đạn pháo, những cỗ thần công còn đặt bên trong nhà súng, những cỗ thần công dùng để chiến đấu bị hất tung nhiều nơi, cột cờ cạnh tường thành phía nam đã cắm quốc kỳ Pháp và cảnh liên quân Pháp – Tây Ban Nha đang thực hiện di chuyển những cỗ súng thần công chiếm đoạt được ra khỏi thành. Tranh của Lebreton đăng trên họa báo Journal Universel, Paris, 1858. (Nguồn: Alamy stock photo)

Phân đội công binh do Đại úy Labbe chỉ huy đã chiếm đóng thành An Hải vào lúc rạng đông, sau đó họ được thay bằng Đại đội 16 của Đại úy Guillot thuộc Trung đoàn 4 Thủy quân lục chiến (Lâu nay sử triều Nguyễn và các công trình nghiên cứu đã công bố đều nói thành An Hải thất thủ vào ngày đầu tiên của cuộc chiến; song qua tường thuật của Đại tá Ponchalon, có thể khẳng định đúng là quân đội triều Nguyễn đã rút khỏi thành An Hải ngay ngày 1-9-1858, sau khi kho thuốc súng bị nổ tung vì trúng đạn từ pháo hạm Mitraille bắn trúng vào lúc 10 giờ 30 sáng, nhưng liên quân Pháp – Tây Ban Nha cuối đêm hôm đó mới chỉ dừng lại đóng trại cách thành An Hải 4 cây số, và đến rạng sáng ngày 2-9-1858 mới chiếm đóng thành này – NQTT).

Vào 8 giờ sáng, các pháo hạm Dragonne, Fusée, Mitraille khai hỏa về phía thành Điện Hải. Nửa giờ sau, một quả đạn trái phá từ pháo hạm Dragonne làm thổi bùng kho thuốc súng trong thành Điện Hải, đến 9 giờ ngọn lửa mới chịu chùng xuống.

Lúc 10 giờ, phân đội công binh được hỗ trợ bởi một đội lính hải quân vượt qua sông Hàn trên những chiếc ca-nô và chiếm được thành Điện Hải mà không gặp sự kháng cự nào, bởi dường như quân An Nam đã rút lui từ đêm hôm trước, sau vụ nổ ở thành An Hải.

Eo đất của bán đảo Sơn Trà là lưỡi cát dài như ruột chiếc bánh mì và chật hẹp. Phần đất liên quân đang đóng doanh trại khá thấp, bị thiêu đốt bởi ánh nắng mặt trời, gần như không có cây cối gì sinh trưởng.

Khoảng 6 giờ 30 chiều, một làn gió nhẹ làm dịu bớt cái nóng bức, mặt trời đang dần dần tắt nắng. Bước lên trên một đụn cát gần doanh trại, tôi (tức Đại tá Ponchalon- NQTT) lặng ngắm bức tranh toàn cảnh hùng vĩ đang trải ra trước mắt mình.

Ở phía bắc nhô lên hai dãy núi dựng đứng đồ sộ, trùm bóng lên cả lối vào trong vịnh (nguyên văn là “vũng tàu”: rade). Ở tiền cảnh, đảo Cô được tách thành một mảng sáng nhạt đẹp như tranh vẽ. Phía đông, dãy núi Sơn Trà nặng nề giăng ra những cánh rừng tím thẫm, kéo dài đến giáp ranh của eo đất nối bán đảo với đất liền.

Phía tây thì tương phản lạ kỳ, mặt trời nhuốm đỏ chiếu những tia nắng cuối ngày qua những vòng triền đồi và nhẹ nhàng tỏa xuống vịnh Đà Nẵng, vẽ lên ở đó những nếp cuộn duyên dáng, những vũng tán cây từ những cụm dừa. Phía nam, Ngũ Hành Sơn (nguyên văn: Montagnes de marbre) với những đỉnh núi phớt hồng nổi lên như bộ ngực của biển cả, phản chiếu lung linh vô vàn sắc màu.

Vào 9 giờ sáng ngày 3-9-1858, thuyền trưởng của tôi nhận lệnh đi cùng đại đội của mình đến thành An Hải. Sau một giờ hành quân trên cát dưới cơn nắng nóng như thiêu đốt, chúng tôi buộc phải dừng lại, vì một người lính tên Kroemer vừa mới ngã xuống chết do bị say nắng.

Lúc 11 giờ, đơn vị lại lên đường. Chúng tôi đến thành An Hải vào 1 giờ 30 chiều với những đôi chân kéo lê trên đất và xác thân lừ đừ bởi cơn khát nước. Vào 2 giờ chiều, Phó Đô đốc Rigault de Genouilly đến thành An Hải.

“Tại sao các anh lại đến trễ? Đúng ra các anh phải lên đường trước khi mặt trời mọc”. Đúng là Thượng đế muốn dành cho các chỉ huy của chúng tôi những lợi thế huấn thị khôn ngoan này!

Phó Đô đốc ban bố các mệnh lệnh của ông: Thành Điện Hải sẽ phải được di tản trong thời gian ngắn; Đại đội 35 ở thành An Hải sẽ phải bảo vệ doanh trại và các xuồng vũ trang di chuyển ngược lên sông Hàn. Đến 6 giờ chiều, Đại úy Guillot trở về doanh trại với Đại đội 16 của mình.

Người An Nam đã rời bỏ những ngôi làng duyên dáng ở Đà Nẵng nằm trải dọc theo hai bên bờ sông Hàn, còn gọi là sông Đà Nẵng, ở khoảng cách rất gần hai thành An Hải và Điện Hải. Những ngôi nhà nên thơ như tranh vẽ (nguyên văn là “những túp lều đẹp như tranh”: les cases pittoresques) được bao quanh bởi những khu vườn và những lùm cây xanh rì. Đồng bằng xung quanh được bao phủ bởi những ruộng lúa và đồng ruộng mọc lên tươi tốt.

 NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN


(Lược dịch và hiệu chỉnh thuật ngữ chuyên môn từ Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896)

https://baodanang.vn/channel/5399/201801/chien-dich-da-nang-1858-1860-qua-tuong-thuat-cua-si-quan-tham-chien-phap-bai-2-cuoc-danh-chiem-hai-thanh-an-hai-va-dien-hai-2585464/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bài 1: Ngày đầu tiên của cuộc chiến ở Đà Nẵng (01/09/1858)

Chiến dịch Đà Nẵng (1858-1860) qua tường thuật của sĩ quan tham chiến Pháp

LTS: Cuộc chiến tranh của liên quân Pháp – Tây Ban Nha tại Đà Nẵng những năm 1858-1860 do Đại tá Henri de Ponchalon tường thuật lại một cách chi tiết, được xuất bản vào năm 1896 tại Paris. Henri de Ponchalon là sĩ quan thuộc tiểu đoàn lính viễn chinh của Trung đoàn 2 Thủy quân lục chiến Pháp, khởi hành từ Brest, một cảng quân sự lớn thứ hai sau Toulon, trên chiếc vận hạm Saône vào ngày 18-2-1858 và lênh đênh suốt nửa năm mới đến Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 8-1858. Ông tham gia trọn vẹn chiến dịch Đà Nẵng và Nam Kỳ suốt từ 1858 đến 1860.

Nhân dịp thành Điện Hải, một trong những nơi diễn ra cuộc chiến, vừa được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt, hướng tới kỷ niệm 160 năm Đà Nẵng kháng Pháp (1858-2018), Báo Đà Nẵng giới thiệu tư liệu này qua bản dịch của Nguyễn Quang Trung Tiến.

Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí tấn công và cuộc hành quân trên eo đất nối bán đảo Sơn Trà với đất liền ngày 1-9-1858.  Ảnh: N.Q.T.T
Sơ đồ vẽ tay của Đại tá Ponchalon về các vị trí tấn công và cuộc hành quân trên eo đất nối bán đảo Sơn Trà với đất liền ngày 1-9-1858. Ảnh: N.Q.T.T

Lực lượng liên quân Pháp – Tây Ban Nha có 12 tàu chiến tham dự cuộc tấn công mở màn, gồm soái hạm Némésis do Phó Đô đốc Rigault de Genouilly đặt bộ chỉ huy viễn chinh, các chiến hạm hơi nước Primauguet và Phlégéton, tàu hơi nước Tây Ban Nha El Cano (tiếng Tây Ban Nha viết là Elcano – NQTT), các pháo hạm Alarme, Dragonne, Avalanche, Mitraille, Fusée, các vận hạm Gironde, Saône, Dordogne (vận hạm Durance chỉ có mặt từ 13-9-1858, còn vận hạm Meurthe mãi tới 2-2-1859 mới xuất hiện – NQTT).

 Lối vào phần phía đông của vịnh Đà Nẵng là nơi thả neo tốt nhất, được bảo vệ bởi đồn Trấn Dương (nguyên văn là “pháo đài Bắc”: fort du Nord), nằm trên đỉnh núi đầu tiên của khối núi và rừng cây của bán đảo Sơn Trà (nguyên văn: la presqu’Île de Tien-Tcha) bao quanh khu cảng.

Đồn Trấn Dương được hỗ trợ bởi pháo đài Phòng Hải ở bên dưới (nguyên văn là “ụ pháo thấp”: batterie basse). Thêm bảo Trấn Dương 2, cũng gọi là đồn Hai, nằm trên đảo Cô, còn gọi là hòn Mồ Côi (nguyên văn “là pháo đài đảo Quan sát”: fort de l’ îlot de l’Observatoire), được nối liền với bờ bằng con đường được xây dựng trên một dãy sàn đóng cọc.

Tiếp đến là bảo Trấn Dương 3, cũng gọi là đồn Ba, (nguyên văn là “ụ pháo Nơi lấy nước ngọt”: batterie de l’Aiguade), có hỏa lực bắn chéo với các pháo đài khác. Về phía nam, ở hai bên lối vào sông Hàn, có hai thành An Hải (nguyên văn là “pháo đài Đông”: fort de l’Est) và Điện Hải (nguyên văn là “pháo đài Tây”: fort de l’Ouest).

Vào 7 giờ 45 sáng, một sĩ quan tham mưu của Phó Đô đốc Hải quân Pháp Rigault de Genouilly tiến đến gần lối vào đồn Ba để đưa tối hậu thư cho vị quan chỉ huy tối cao An Nam yêu cầu giao nộp các pháo đài trong thời hạn hai giờ.

Vào 9 giờ 45, không một phản hồi nào được đưa ra, soái hạm Némésis của Phó Đô đốc liền phát tín hiệu khai hỏa. Soái hạm Némésis, vận hạm Gironde và tàu hơi nước Tây Ban Nha El Cano khạc lửa vào đồn Hai trên đảo Cô.

Các chiến hạm Primauguet và Phlégéton tấn công đồn Trấn Dương và pháo đài Phòng Hải, đồng thời chiến hạm Phlégéton còn có nhiệm vụ giám sát cả con đường nối từ đảo vào bờ của đồn Hai trên đảo Cô, để ngăn chặn lính phòng thủ của An Nam ở đó rút lui.

Vận hạm Saône hướng hỏa lực vào đồn Ba và đồn Hai, rồi nó bị trúng một quả đạn từ đồn Ba bắn ra làm vỡ toác cột buồm trước mũi. Pháo hạm Avalanche cũng tấn công đồn Ba.

Các pháo hạm khác đậu ở giữa vịnh bắn phá các thành An Hải và Điện Hải. Vào 10 giờ 30, pháo hạm Mitraille bắn nổ kho thuốc súng của thành An Hải.

Các toán quân và các đại đội đổ bộ lèn chặt nhau trên những chiếc sà lúp được hạ xuống, lao vào tiếp đất! Tiểu đoàn hải quân tấn công lên đồn Trấn Dương; lính bộ binh và hải quân của soái hạm Némésis tấn công đồn Hai; tiểu đoàn của chúng tôi (tức đại tá Ponchalon – NQTT) đánh chiếm đồn Ba; còn trung đoàn 4 là lực lượng dự phòng.

Khi thâm nhập đồn Ba, chúng tôi tìm thấy trên bàn làm việc bức tối hậu thư của Phó Đô đốc gửi trước đó; nó đã không hề được mở ra để đọc.

Các pháo đài ở Đà Nẵng được xây dựng phần lớn dưới triều Gia Long, theo kiến trúc Vauban, dưới sự hướng dẫn của các sĩ quan và của các kỹ sư Pháp (các công trình phòng thủ tại Đà Nẵng thực ra đều do người Việt xây dựng dưới các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, theo dạng kiến trúc quân sự truyền thống kết hợp kiến trúc Vauban –  NQTT), súng ống được trang bị là súng đồng và súng gang được sản xuất phần lớn từ Pháp hoặc Bỉ.

Ở đồn Trấn Dương chúng tôi tìm thấy một khẩu súng bằng đồng là vũ khí với biểu tượng oai vệ của “Vua – Mặt trời”. Mặt đất còn rải đầy các loại súng hỏa mai (nguyên văn là “súng trường cũ”: vieux fusils) sản xuất tại Saint-Etienne (Pháp), kiếm, giáo, những thùng thuốc súng do Anh sản xuất bị vỡ toác.

Những kho thuốc súng đều mở toang. Khắp nơi mọi vật cực kỳ hỗn độn, kinh tởm, là cảnh tượng được gây ra bởi cuộc tấn công của liên quân (nguyên văn là “cuộc tấn công của chúng tôi”: notre attaque).

4 giờ chiều, sau khi các pháo đài bị chiếm đóng bởi các phân đội hải quân và lính Tagal (lính người Philippines đi theo Tây Ban Nha tham chiến – NQTT), Phó Đô đốc Rigault de Genouilly phát mệnh lệnh hành quân về phía eo đất nối bán đảo Sơn Trà với đất liền và kết thúc vịnh Đà Nẵng ở hướng đông-nam. Mục đích của cuộc hành quân là để nhận diện địa hình xung quanh, các pháo đài hai bên sông Hàn và nếu cần thiết, để đẩy lùi quân An Nam (nguyên văn là “kẻ địch”: ennemi).

Cánh quân dẫn đầu gồm tiểu đoàn hải quân và Trung đoàn 4 Thủy quân lục chiến đã tiếp cận eo đất mà không có đụng độ. Đến 6 giờ chiều, một vị trí được chỉ định để đóng trại cách thành An Hải bốn cây số. Tiểu đoàn của Trung đoàn 2 và đội pháo binh đi trước nó lập thành tuyến đóng quân thứ hai.

Liên quân tạm nghỉ hành quân trên mỗi chặng đường. Các đội pháo binh gặp nhiều vất vả mỗi khi phải đưa những khẩu súng cối (súng cối đời cũ ở thế kỷ XIX còn khá cồng kềnh và nặng – NQTT) băng qua những con đường mòn hẹp và xấu dọc theo bờ vịnh.

Ngày đã qua, liên quân bắt buộc phải đóng quân ngoài trời lúc 8 giờ tối trên lối vào của eo đất.

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN


(Lược dịch và hiệu chỉnh thuật ngữ chuyên môn từ Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896)

https://baodanang.vn/channel/5399/201801/chien-dich-da-nang-1858-1860-qua-tuong-thuat-cua-si-quan-tham-chien-phap-bai-1-ngay-dau-tien-cua-cuoc-chien-o-da-nang-1-9-1858-2585293/?fbclid=IwAR0liakk3wdKm5txSMICNUaPNVUO2KA_Dk1XcIwglH9pLr0m4IcHAWS4cew

Posted in Uncategorized | Leave a comment

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT, QUỐC VƯƠNG XỨ SEDANG

Một câu chuyện kỳ lạ trong lịch sử

Câu chuyện đã được kể sơ lược với các bạn trên trang Facebook này. Sách vừa được nhà xuất bản Tổng Hợp TPHCM ấn hành, dự kiến đưa ra thị trường từ thứ hai 1.4.2019 (ngày Cá Tháng Tư, nhưng việc phát hành là có thật).

Sách bán tại hai cửa hàng chính của NXB

– Nhà sách Tổng hợp 1: 62 Nguyễn Thị Minh Khai – Quận 1 – TPHCM –

ĐT: 38 256 804

– Nhà sách Tổng hợp 2: 86-88 Nguyễn Tất Thành – Quận 4 – TPHCM

ĐT: 39 433 868

và các cơ sở phụ của nhà xuất bản.

Xin mời các bạn đọc Lời Nói Đầu của tác giả quyển sách giới thiệu qua về nhân vật chính của câu chuyện lạ lùng này.

Lê Nguyễn

31.3.2019

*****

LỜI NÓI ĐẦU

Câu chuyện “một người Pháp làm vua ở Tây Nguyên” từng được một vài sách báo nhắc đến, song hầu như chưa có ai miêu tả một cách đầy đủ về cuộc đời của một nhân vật đã từng khuấy động xã hội Việt Nam và xã hội châu Âu vào những năm cuối cùng của thập niên 1880. Quyển sách mà các bạn đang có trong tay là sự thể hiện lòng mong mỏi vẽ lại một cách tương đối rõ nét hình ảnh một kẻ sống đời lang bạt, thỏa chí phiêu lưu và từng làm cho chính quyền thực dân Pháp phải nhiều phen điên đảo.

Nhân vật chính trong câu chuyện có tên đầy đủ là Auguste Jean-Baptiste Marie Charles David, về sau các sách báo thường viết với cái tên Marie-David de Mayréna, sinh ngày 31.1.1842 tại Toulon, Pháp, con trai của một sĩ quan thủy quân lục chiến. Y sung vào quân ngũ rất sớm và vào năm 20 tuổi (1862) đã có mặt trong đạo quân viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ.

Giải ngũ năm 1868, trở về Pháp, lập gia đình và tái ngũ trong trận chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, rồi lại giải ngũ sau khi chiến tranh kết thúc, Mayréna chọn cuộc sống lang bạt rày đây mai đó và cuối cùng quay trở lại Việt Nam năm 1885.

Cuộc gặp giữa y và Toàn quyền Đông Dương đầu tiên Constans làm thay đổi hẳn cuộc sống của y. Y nhận lãnh một sứ mạng vô cùng nặng nề, song với bản chất hiếu động, thông minh, hoạt bát, kèm theo ít nhiều giảo hoạt, y đã thành công trong việc tập hợp các sắc tộc trên cao nguyên miền Trung dưới ngọn cờ của Pháp.

Song cuộc sống có những bất ngờ không ai lường trước được. Sự thay thế nhân sự trong chức vụ Toàn quyền Đông Dương kéo theo sự thay đổi chính sách của thực dân Pháp, biến Mayréna từ một kẻ có công trở thành kẻ tội đồ. Sau một chuyến công du Lào và Thái Lan không thành công, y trở về “vương quốc” nhìn thấy sự đổ vỡ được báo trước, người vợ đầu ấp tay gối qua đời, các giáo sĩ quay lưng vì sợ đụng chạm với bộ máy cầm quyền …

Để vượt qua khó khăn và kiếm sống, Mayréna phải rời bỏ “vương quốc” của mình, phiêu dạt ở Hải Phòng, Hà Nội, Hong Kong, rồi Paris (Pháp), Bruxelles (Bỉ), lợi dụng sự ngây thơ và tính hám danh hám lợi của xã hội trưởng giả để sống qua ngày.

Qua câu chuyện về David de Mayréna, người đọc sẽ rơi vào một loạt tâm trạng hỉ, nộ, ái, ố tiếp nối, đan xen nhau. Ta có thể khinh bỉ trước những hành vi giảo hoạt của y nhằm đạt được mục đích tối hậu, bất bình nhìn thấy y trở thành nạn nhân của một chính sách thiếu nhất quán của Phủ Toàn quyền Đông Dương, bật cười trước trò đời nhố nhăng của đám trưởng giả học làm sang thời nào cũng có, và se lòng trước cái chết cô đơn của y trên một hòn đảo nghèo nàn và xa vắng.

Câu chuyện về David de Mayréna được kể lại sau gần 40 năm kể từ cái chết của y, các tài liệu không đồng nhất về nhiều chi tiết có tính minh họa, song vẫn trùng hợp nhau về những nét chính trong cuộc đời nhiều sóng gió của y. Trong những tài liệu phổ biến vào thập niên 1920, gần gũi với người đọc và phổ biến hơn cả có lẽ là tác phẩm của Maurice Soulié nhan đề “Marie Ier – Roi des Sedangs – 1888-1890” (Marie đệ nhất – Quốc vương của người Sedang – 1888-1890) xuất bản tại Paris năm 1927 và hai số chuyên đề 1 và 2 của Tập san Đô thành Hiếu cổ (BAVH) cùng năm 1927. Dù là trên tập san BAVH hay trong tác phẩm của Soulié, phần chính của câu chuyện có độ khả tín khá cao, vì chúng được dựa phần lớn vào những văn kiện chính thức của chính quyền thực dân Pháp, những thư từ liên lạc của các giáo sĩ Cơ Đốc giáo và báo chí đương thời, tức là những văn kiện mà người đọc có thể dễ dàng kiểm chứng.

Một điều khá thú vị là câu chuyện về David de Mayréna có sức thu hút mạnh mẽ đối với một trong những nhân vật lừng danh trong văn học cận đại của Pháp. Đó là văn hào André Malraux (1901-1976), tác giả của “La condition humaine” (Thân phận con người), và từng là Bộ trưởng Thông tin rồi Bộ trưởng Văn hóa Pháp những năm 1959-1969. Malraux gọi Mayréna là “fantôme de gloire” (ảo ảnh vinh quang); nhân vật Perken trong tác phẩm La voie royale (Con đường đế vương) của ông là bản sao của Mayréna; trong một tác phẩm chưa hoàn thành nhan đề Le Règne du Malin (Sự thống trị của quỷ), Malraux cũng dành nói về Mayréna.

***

Như vừa trình bày ở trên, nội dung tập sách này dựa chủ yếu vào tác phẩm của Soulié và Tập san BAVH, đồng thời có sự tham khảo, chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu khác ở các sách báo phát hành sau thập niên 1920. Bên cạnh đó, tác giả cũng lồng vào thời điểm xảy ra câu chuyện những sự kiện lịch sử được ghi chép từ chính sử Việt Nam, từ các văn kiện chính thức của chính quyền thực dân Pháp, cùng các tư liệu bán chính thức hay phi chính thức của các cây bút nước ngoài, để bạn đọc có một cái nhìn rộng hơn về các sự kiện và nhân vật lịch sử sống tại Việt Nam vào các thập niên 1860 -1870-1880, có liên quan ít nhiều đến câu chuyện. Một số văn kiện gồm công văn, thư tín, bài báo có giá trị về mặt tư liệu và lịch sử được viết tỉ mỉ, không tiện lồng vào câu chuyện chính, chúng tôi dịch trọn và xếp trong phần phụ lục để độc giả có thêm tư liệu hầu bổ sung và đối chiếu với phần chính.

Mong muốn thì nhiều, song khả năng có giới hạn, dám mong bạn đọc chỉ cho những chỗ sai sót để chúng tôi bổ chính trong những lần tái bản sau.

Trân trọng

Lê Nguyễn

12.2018

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT – “QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

Câu chuyện tưởng chừng như thuộc loại giả tưởng, song lại là người thật, việc thật trong lịch sử thời Pháp thuộc. Nhân vật chính của truyện là một kẻ giảo hoạt, nổi tiếng về óc phiêu lưu mạo hiểm, đã đóng góp nhiều công sức cho mục tiêu do chính quyền thực dân Pháp đặt ra, song không lâu sau, cũng bị chính bộ máy chính quyền này xem như một kẻ tội đồ. Cuộc đời của anh ta đầy những hỉ, nộ, ái, ố, giàu kịch tính và cũng kết thúc đầy bi kịch. Truyện được đăng tải trên ít nhất 2 loại sách, báo Pháp; một là Tập san Đô thành Hiếu cổ (BAVH) số 1+2 năm 1927, hai là tác phẩm của Maurice Soulié nhan đề “Marie Ier, Roi des Sedangs – 1888-1890” (Marie đệ nhất, Quốc vương xứ Sedangs – 1888-1890), xuất bản tại Paris cũng vào năm 1927. Cách đây nhiều năm, tập bản thảo bằng Việt ngữ về câu chuyện này suýt biến thành sách nếu không có một trục trặc vào giờ chót, khi sắp vào nhà in. Đến nay, nó vẫn còn nằm im trong ngăn tủ, vì chưa gặp người đồng điệu. Loạt bài gửi đến các bạn yêu sử hôm nay và trong thời gian sắp tới là phần tóm lược nội dung tập bản thảo nói trên, chủ yếu dựa vào tác phẩm của Soulié (có nhiều dị biệt với bài đăng trên BAVH 1927) cùng nhiều thư từ, văn kiện chính thức của chính quyền thực dân Pháp những năm 1888-1889, và về sau. Hi vọng, sự có thật trong lịch sử Việt Nam và kịch tính của câu chuyện này sẽ không làm bạn yêu sử cảm thấy chán khi theo dõi nó qua nhiều kỳ.

Cũng nhân đây, xin được bày tỏ tình cảm trân trọng đối với Võ Văn Điểm, nick Diem Vo, người bạn đồng môn thân thiết của tôi, người đã tìm cho tôi tác phẩm gần như là độc bản này tại Việt Nam.

PHẦN I – CUỘC HỘI KIẾN VỚI TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG CONSTANS

Thập niên 1880, Sài Gòn chỉ có khoảng 20 ngàn dân bản xứ và 3 ngàn người Pháp, phần lớn là sĩ quan và viên chức chính quyền; số còn lại là tư nhân mở quán cà phê, nhà hàng, sòng bạc, tiệm hớt tóc… Thành phố lúc ấy trông như một khu vườn nhiệt đới rộng lớn, rải rác những ngôi nhà cất bằng cây ván, chạm trổ tinh vi. Các giống cây nhiệt đới như xoài, cọ, me … được trồng dọc theo các con đường lớn, khách nhàn du buổi chiều gồm đủ mọi sắc dân: Việt, Pháp, Tàu, Khmer, Ấn Độ… Kiều dân Pháp thường sống trong các bungalow làm bằng gỗ, nằm giữa những vườn cây xanh mát, cứ hai hay ba người độc thân sống chung trong một căn hộ, có một cậu trai người Việt giúp việc đi chợ, nấu ăn, quét dọn.

Căn hộ số 57 đại lộ Paul Bert (nay là đường Trần Quang Khải,Tân Định) là nơi cư ngụ của Marie-David de Mayréna, một kiều dân Pháp đẹp mã khoảng 45 tuổi, cao trên mức trung bình, để râu quai nón. Y nguyên là một sĩ quan trong quân đội Pháp, tự nhận đã sinh ra trong một gia đình vọng tộc, song nhiều người biết y, cho rằng y là một thiếu niên sớm bỏ học, lớn lên sung vào đoàn kỵ binh Pháp, tham gia các chiến dịch tại Nam kỳ vào những năm 1860. Y trở về Pháp vào cuối thập niên này và theo lời y nói, y trở thành sĩ quan tham mưu trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870. Năm 1880, máu phiêu lưu lại sục sôi trong huyết quản, y tếch sang Nam kỳ, trước tiên sống ở Bà Rịa, một cảng nhỏ gần Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) để thử nghiệm một chương trình canh nông nhưng không thành công. Tháng 5.1887, y vào Sài Gòn kiếm sống, viết bài cho báo, trông coi nhà hát, mở sòng bạc, nói chung là làm những nghề vặt vảnh để nuôi thân. Tuy nhiên cũng cần phải công bằng nhìn nhận rằng y khá sòng phẳng, trả tiền thuê nhà đều đặn, 30 đồng một tháng, và giao đủ 2 đồng tiền chợ mỗi ngày cho cậu trai giúp việc. Cũng sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc đến một nhân vật đã gắn bó keo sơn với y, đã chia sẻ với y những ấm lạnh của đời lang bạt. Đó là một cô gái người Chăm tên Ahnaia mà theo de Mayréna, là một trong những nàng công chúa còn sót lại của hoàng tộc Chiêm Thành.

Một buổi trưa Sài Gòn năm 1888, trời nóng như thiêu đốt, de Mayréna vừa viết xong một bài báo hai cột cho tờ Le Courrier Saigonnais (Thư tín Sài Gòn) đáng giá 15 franc tiền nhuận bút thì một người khách lạ xuất hiện. Đó là một anh lính người Việt mặc áo màu đen, thắt lưng đỏ, đầu đội nón rơm. Anh ta trao cho de Mayréna một phong thư của Phủ Toàn quyền Đông Dương. Liếc qua phong bì, người bạn thân thiết đang ở chơi trong nhà y là Mercurol đâm hoảng, sợ rằng với bản tánh ưa liều, bạn mình đang gặp chuyện rắc rối gì đây. Nhưng khi xem kỹ nội dung bức thư, họ không còn sợ, thay vào đó là nỗi ngạc nhiên lớn lao khi thấy chữ ký của Toàn quyền Đông Dương Contans dưới bức thư mời de Mayréna đến gặp ông ta. Dẫu sao cũng phải đến gặp Constans để biết chuyện gì đang chờ đợi y.

5 giờ chiều Sài Gòn. Nhiệt độ bắt đầu hạ xuống, de Mayréna diện bộ quần áo sang trọng màu trắng, ngoắc một chiếc xe ngựa đi thẳng đến Soái phủ Nam kỳ. Khi vừa đến nơi, y được đưa ngay vào văn phòng của toàn quyền Constans. Viên chức cao cấp này là một người khá tự tin, ông ta luôn giấu kín cảm xúc của mình đàng sau nụ cười nhếch mép. Song ông ta lại có mỹ cảm với những người thích phiêu lưu, mạo hiểm. Vừa gặp viên toàn quyền, de Mayréna đã mở đầu một cách lịch sự:

– Thưa ngài Toàn quyền, tôi đến theo lệnh ngài.

Constans không đưa tay cho y bắt, lặng lẽ chỉ chỗ cho y ngồi đối diện. Rồi không đợi cho y kịp bày tỏ thắc mắc của mình, ông ta vào đề ngay:

– Tôi đã đọc bài viết của anh trên tờ Le Courrier Saigonnais, phải nói là nó đã làm cho tôi thích thú.

– Rất vinh dự cho tôi, thưa ngài Toàn quyền.

Toàn quyền Constans ngã đầu lên lưng ghế, đôi mắt lim dim như để ôn lại một kỷ niệm nào đó thật xa vời. Mấy phút sau, ông ta nói một cách chậm rãi, như sợ người đối thoại không kịp tiêu hóa hết những lời nói của mình:

– Bài báo của anh đả động đến một vấn đề mà tôi quan tâm từ lâu. Đó là vùng cao nguyên Trung Kỳ, một nơi mà các thế lực đối đầu với chúng ta đã dòm ngó nhiều lần. Tôi vừa được tin là có một đoàn khảo sát người Đức,với sự hỗ trợ của triều đình nước Xiêm, đang cố xâm nhập vào vùng Attopeu (Lào), một nơi mà vàng cũng nhiều như cao su Đồng Nai vậy. Người ta đã nhìn thấy họ ở hữu ngạn sông Mekong. Hình như họ cũng đã có mặt ở Luang-Prabang (Lào) để ký kết một thỏa ước với vua Lào. Do đó, ta cần phải đi trước họ ở cao nguyên miền Trung. Trong lúc lo nghĩ về chuyện này, tôi chợt nhớ đến anh, một người gan dạ, táo bạo, và thông minh, có thể đảm đương những việc khó khăn mà tôi sẽ giao phó. Chắc anh cũng biết, tại cao nguyên, các bộ tộc sống rời rạc, có những lúc xung đột với nhau. Việc hợp nhất họ dưới sự bảo hộ của Pháp, ngăn chặn những ảnh hưởng ngoại lai khác là một yêu cầu khẩn thiết của chúng ta. Có điều cần phải nói thẳng thắn với nhau là nếu anh đồng ý nhận lãnh sứ mạng này, anh sẽ là người duy nhất chịu trách nhiệm về nó. Trên nguyên tắc, tôi phải giấu mình đi, vì một lẽ dễ hiểu là Paris đã ra lệnh cho tôi không được gây chuyện phức tạp với người Anh và người Đức. Bù lại, tôi để cho anh toàn quyền hành động, với sự hỗ trợ của công sứ Bình Định và Hội truyền giáo hải ngoại tại đây, miễn sao đạt được mục tiêu đã vạch ra.

Đối với một người hiếu động, ưa phiêu lưu, mạo hiểm như de Mayréna, yêu cầu của toàn quyền Đông Dương Constans là cơ hội bằng vàng để y thực hiện những ước mơ hằng ấp ủ. Y nhận lời không do dự, cũng không bàn bạc kỹ với Constans những trở ngại, khó khăn khi bắt tay vào việc. Trở ngại lớn nhất là sự bất đồng ngôn ngữ với người địa phương sẽ được khắc phục nhờ hai giáo sĩ Pháp là cha Guerlach và cha Irigoyen đã hoạt động truyền giáo tại Kontum từ lâu. De Mayréna sẽ khởi hành trên chuyến tàu Le Requin chạy tuyến đường Sài Gòn-Tourane (Đà Nẵng), ghé lại Qui Nhơn, để từ đó đi đường bộ lên cao nguyên. Toàn quyền Constans sẽ ra lệnh cấp cho y 8 người hộ vệ và tiền bạc cần cho chuyến đi.

Trước khi chia tay, Constans tươi cười:

– Ngày mai anh quay lại đây, tôi còn dặn anh một số việc. Nhưng này anh bạn, khi hoàn thành sứ mạng, anh muốn được tưởng thưởng những gì?

– Quyền khai thác mỏ vàng Attopeu và vinh dự được làm lãnh tụ một liên minh những bộ tộc cao nguyên, thưa ngài Toàn quyền!

– Anh vẫn luôn là một người mơ ước viễn vông! Nhưng thôi được, tôi đồng ý.

Ra khỏi dinh toàn quyền, de Mayréna không gọi xe ngựa. Y đi bộ trên đường mà cứ như đi trên mây (còn tiếp)

Lê Nguyễn

25.5.2017

A picture containing text, old, outdoor, vintage

Description automatically generated

A person in a suit

Description automatically generated with low confidence

A picture containing text

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT –

“QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

PHẦN 2 – HÀNH TRÌNH LÊN CAO NGUYÊN – DUYÊN MAY TÌM ĐẾN

(Xin lưu ý: những nhận xét về đời sống, phong tục, tập quán của đồng bào thiểu số trên Tây Nguyên như Bahnar, Djarai, Sedang … là của riêng tác giả Maurice Soulié, có thể khác biệt hay mâu thuẫn với những tư liệu phổ biến đồng thời hay về sau này)

De Mayréna khởi hành lên Tây nguyên vào khoảng tháng 3.1888. Cùng đi với y có người vợ Chăm Ahnaia, người bạn thân thiết Mercurol, một người Tàu đại diện cho nhóm bảo trợ, tất nhiên là có cả 8 người hộ vệ do toàn quyền Constans cung cấp. Khi tàu Le Requin ghé lại Bình Định, họ lên bờ đến thẳng tòa công sứ Bình Định. Công sứ Lemire đón tiếp họ với sự dễ mến cố hữu, sắp xếp cho họ nghỉ tạm và cho hai cô con gái khả ái chăm sóc Ahnaia. Ngày hôm ấy, cũng tại tòa công sứ, de Mayréna và các bạn đồng hành được Lemire giới thiệu với tổng đốc Bình Định, một quan lại cao cấp của triều đình Việt Nam.

Ngày hôm sau, y đến yết kiến giám mục Van Camelbecke, người lãnh đạo Hội truyền giáo tại đây, và nhờ ông viết thư giới thiệu với các linh mục đang truyền đạo trên cao nguyên. Bằng hai lá thư viết vào những ngày 24.3.1888 và 7.4.1888, vị giám mục đề nghị giáo sĩ Vialetton, người lãnh đạo đoàn truyền giáo trong lãnh địa của người Bahnar, tạo điều kiện thuận lợi cho de Mayréna hoàn thành sứ mạng được toàn quyền Constans giao phó. Động thái này khiến de Mayréna cảm thấy phấn khởi, song Mercurol lại bất an, vì trong thư, giám mục Van Camelbecke không nhắc gì đến bộ tộc Djarai vốn có những hoạt động “cứng rắn” trong vùng như thường tấn công các đoàn công-voa (convoi) từ Qui Nhơn lên, cướp lấy hàng hóa…

Sau những ngày ở tạm Qui Nhơn, de Mayréna và các bạn đồng hành được công sứ Lemire lo chu đáo, cung cấp ngựa (cho de Mayréna, Mercurol), võng (cho Ahnaia), 10 anh lính An Nam và 12 phu khuân vác. Họ khởi hành đi Kon-Tum, vượt qua những khu rừng đầy thú dữ, phải vừa đi vừa phát quang những lùm bụi um tùm. Buổi chiều, họ ghé lại làng An Khê là ranh giới giữa Bình Định và vùng cao nguyên còn nằm ngoài vùng kiểm soát của chính quyền Pháp và triều đình Huế. Phiên chợ chung của người miền xuôi và người miền ngược đang diễn ra, lần đầu tiên de Mayréna nhìn thấy tận mắt những đồng bào thiểu số với cách ăn mặc và sinh hoạt không giống người Sài Gòn mà y đang chung sống. Họ mang bầu bí, lúa gạo, thuốc lá, nhựa cây, mật ong, sáp ong, sừng tê giác… xuống chợ An Khê đổi lấy muối, đồ đất nung, cồng, đồ thủy tinh châu Âu, thiếc … Họ tiếp tục đi đến một địa danh có tên Thạch Bàn thì đã gặp cha Guerlach chờ sẵn. Bốn giờ chiều, họ lên đường đi Kon-Tum, nghỉ đêm tại một làng Công giáo của người Việt và đến sáng sớm thì thị trấn Kon-Tum đã hiện ra trước mắt họ. Họ nhìn thấy những người đàn ông ngậm tẩu thuốc lá trên môi đi quan sát những cánh đồng lúa xanh ngát, những phụ nữ quấn quanh người những tấm khăn choàng nhiều màu sặc sỡ để chống lại cái lạnh của núi rừng còn vương vất khi mặt trời chưa kịp lên cao. Nhận ra cha Guerlach, một đoàn người Bahnar đến tung hô ông, la hét, vung gươm nhảy múa như lúc xung trận. Sau đó, mọi người cùng kéo đến nhà rông, de Mayréna, Mercurol và cha Guerlach ngồi trên những chiêc chiếu trải sẵn, Ahnaia chìm khuất trong đám con gái đang chăm chú nhìn ngắm cô với vẻ hiếu kỳ.

Sáng sớm hôm sau, de Mayréna cùng giáo sĩ Guerlach và Mercurol bắt đầu thực hiện chuyến đi vào các buôn làng trong kế hoạch thành lập một liên minh các bộ tộc ở đây. Trước tiên, họ đến buôn Kon-Tran, nơi ở của giáo sĩ Irigoyen. Cuộc đón tiếp cũng nồng hậu như ở Kon-Tum, nhờ sự thuyết phục từ trước, vị buôn trưởng bày tỏ ý muốn gia nhập Liên minh dân tộc Bahnar. Sự thành công vượt quá mong ước của de Mayréna, ngày hôm sau, và những ngày sau nữa, các buôn Kon-Meney, Kon-Kepet, Kon-Djeri, Kon-Klah, Kon-Diah … cũng theo chân Kon-Chan. De Mayréna được chính thức thừa nhận là “Tomul-Tom”, tức chủ tịch của Liên minh người dân tộc Bahnar. Y cùng hai giáo sĩ Guerlach và Vialleton bàn bạc, soạn thảo bản qui chế của liên minh, nội dung gồm 14 điều khoản, trong đó dành cho Tomul-Tom, tức de Mayréna, nhiều quyền hạn rộng rãi như: đề cử Hội đồng Tư vấn, bổ nhiệm Bộ trưởng, lấy Thiên chúa giáo làm tôn giáo chính thức, song không ai có thể bị quấy nhiễu vì lý do tôn giáo. Tên chính thức của liên minh là “Liên minh Bahnar-Rongao”, lá cờ của liên minh có màu đỏ, đính 5 ngôi sao trắng, 4 ngôi sao ở góc, một ngôi sao ở trung tâm. Tomul-Tom được công nhận suốt đời, song có quyền chỉ định người kế nhiệm. Ông ta chỉ huy quân đội của liên minh và bổ nhiệm các sĩ quan, chỉ có ông ta mới được quyết định vấn đề chiến tranh hay hòa bình, liên minh với các lực lượng khác.

Với sự ra đời của Liên minh Bahnar-Rongao và địa vị cao nhất mà người Bahnar dành cho de Mayréna, xem như mọi vấn đề đối với bộ tộc này đã được giải quyết. Người Bahnar sống hiền hòa, sợ thần linh, thờ cúng người chết vì sợ bị linh hồn người chết về phá phách. Họ ưa thích các giáo sĩ Pháp, vì thấy những người này có thực tâm muốn giúp họ cải thiện đời sống. Như vậy, với bộ tộc Bahnar mọi chuyện đều suôn sẻ. Song với hai bộ tộc chính còn lại là Djarai và Sedang, vấn đề không dễ dàng như vậy. Khác với những buôn kể trên của bộ tộc Bahnar, đến lúc ấy, các giáo sĩ phương Tây chưa tiếp cận được các buôn của người Sedang ở phía bắc Kon-Tum, chia cách với khu vực của người Bahnar bởi con sông Pékau. Bộ tộc này rất thiện chiến, có những cách ứng xử đáng ngại đối với những ai từ xa tới. Họ có biệt tài phóng lao, sử dụng khiên hình bầu dục, an táng người chết trên những cánh đồng trống trải, không rào giậu bao quanh, quan tài là những thân cây khoét rỗng. Họ trồng lúa theo cách riêng, cứ mỗi ba năm đốt một khoảnh rừng, phát quang, dùng gậy chọc những lỗ nhỏ trên đất và bỏ hạt lúa giống vào. Một rẫy như vậy cung cấp cho họ số thóc đủ dùng trong ba năm, sau đó họ lại đốt một khoảnh rừng khác để khai thác phần đất màu mỡ mới. Tuy nhiên, họ có nhiều ưu thế hơn các bộ tộc khác về lãnh vực công nghiệp, khi có điều kiện khai thác quặng sắt sẵn có trong vùng núi họ ở, nhờ vậy, họ có thể tự rèn lấy dao, rựa, các loại vũ khí để tự vệ hay giải quyết bất đồng với các bộ tộc khác.

Để có thể tiến hành những bước thăm dò đầu tiên trên lãnh địa của người Sedang, de Mayréna phải nhờ đến giáo sĩ Irigoyen là người nói sỏi ngôn ngữ của bộ tộc này. Sau khi vượt sông Pékau, họ đến buôn Kon-Djeri ở cách sông vài cây số nhưng được biết đang có lệnh cấm người lạ vào buôn, nếu bất tuân sẽ bị xử tử. Loại lệnh cấm này được áp dụng rất chặt chẽ và thường xuất phát từ một biến chuyển bất thường đang xảy ra trong buôn như sinh, tử, hôn nhân… Vào những dịp này, họ thực hiện những nghi thức mà người bên ngoài buôn không được phép chứng kiến. Lệnh cấm được thể hiện bằng những dấu hiệu khắc trên thân cây hoặc bằng những khúc tre kết thành hình thoi. Phản ứng của người Sedang khi có người lạ xâm nhập vào buôn của họ là những phát tên bắn tới tấp vào những kẻ không mời mà đến. Phát hiện những dấu hiệu của lệnh cấm xâm nhập buôn Kon-Djeri, de Mayréna và giáo sĩ Irigoyen vội quay về.

Mấy ngày sau, họ cùng Mercurol tìm đến buôn Pelei-Maria, nơi mà cha Irigoyen đã liên lạc từ trước và được người buôn trưởng tên Liêu thuận tình tiếp xúc. De Mayréna mặc bộ quần áo đại lễ, tay cầm thanh gươm quý, Mercurol thì mặc trang phục màu đỏ. Hôm đó trời mưa như thác đổ, rừng cây rung chuyển từng hồi, nhưng khi họ đặt chân đến nhà rông thì nơi đây đã đông chật người. Tất cả các buôn trưởng người Sedang đều có mặt theo lời mời của Liêu để cùng quyết định về những đề nghị của de Mayréna do cha Irigoyen chuyển đến họ. Họ được tiếp đón bằng một sự im lặng nặng nề khiến một người từng trải như de Mayréna cũng thấy chột dạ. Cha Irigoyen lên tiếng mở đầu buổi gặp mặt, nhắc lại những gì đã thỏa thuận với buôn trưởng Liêu. Khi ông vừa kết thúc phần trình bày, một số người Sedang khạc nhổ xuống đất, theo tập tục lúc bấy giờ là họ đồng tình với những gì ông phát biểu. Tới phiên mình, de Mayréna dọn sẵn một bộ mặt thân thiện, bày tỏ sự ngưỡng phục đốivới dân tộc Sedang và mong được cống hiến tài sức cho hạnh phúc của họ. Khi cha Irigoyen dịch xong những lời nói trên, số người khạc nhổ xuống đất nhiều hơn trước. Sau màn uống rượu cần khiến cả chủ lẫn khách đã ngà ngà say, các binh sĩ người Sedang mời các vị khách phương xa thưởng thức màn múa gươm thể hiện sức mạnh của bộ tộc. Tiếng cồng chiêng vang xa cả một góc rừng. Hai buôn trưởng, Liêu của buôn Pelei-Maria, và Tiam của buôn Kon-Ketou, cầm gươm đứng dậy, nhìn nhau thăm dò, miệng thốt lên những âm thanh xen lẫn với tiếng nhạc. Cuối cùng, điệu nhạc trở nên dồn dập, cả hai nhảy xổ vào nhau. Chỉ sau mấy chiêu, Liêu bị thương nhẹ ở cánh tay phải, máu càng làm cho Tiam hăng lên. Tuy nhiên, Liêu sớm giành lại ưu thế và đánh văng gươm của Tiam. Anh này hét lên một tiếng điên cuồng, chụp một ngọn giáo định nhảy tới đâm Liêu, nhưng đám đông can thiệp kịp. Tiam xấu hổ lẫn vào đám đông ở cuối nhà rông. De Mayréna ngồi xem trận đấu, máu liều trộn thêm hơi rượu đẩy anh ta đứng phắt dậy, rút soạt gươm ra. Đang say men chiến thắng, buôn trưởng Liêu cũng bước tới. Cả cha Irigoyen lẫn Mercurol giật mình kinh hãi, nhưng không còn kịp nữa, hai thanh gươm đã chạm nhau rồi! Cũng may mà cuộc so gươm không hẹn trước chỉ diễn ra thật ngắn ngủi. Chỉ sau mấy đường gươm trao đổi, de Mayréna đã đánh văng gươm của Liêu ra xa mấy thước. Anh này cũng như Tiam, xấu hổ, chạy vội xuống cuối nhà rông. Kẻ chiến thắng chưa kịp biểu lộ sự hãnh diện thì bầu không khí nhà rông bỗng nhiên đổi khác. Các binh sĩ Sedang đứng cả dậy, mắt long lên sòng sọc, báo hiệu một điềm chẳng lành. Cha Irigoyen xanh cả mặt, song bậc anh hùng bất đắc dĩ là de Mayréna không hề tỏ ra nao núng. Y nhờ cha thông dịch cho mọi người trong nhà rông là xin đừng bực mình về chuyện đã qua, vì y có được ân sủng đặc biệt của thần chiến tranh (!). Câu nói của y khiến một số gương mặt dịu lại, nhưng vẩn còn nhiều người, trong đó có buôn trưởng Pelei-Tabor, tỏ ra không tin. Biết “đối phương” bắt đầu chột dạ, y nhờ cha Irigoyen bồi thêm câu nói dài dòng sau: “để chứng tỏ cho các bạn biết là tôi được thần linh che chở, tôi đứng trước các bạn đây, ở khoảng cách tùy các bạn lựa chọn, và tôi yên lặng chờ các bạn phóng ngọn giáo vào giữa ngực tôi. Tôi chỉ có thể nói trước với các bạn rằng thần linh sẽ không để những ngọn giáo đó chạm vào ngực tôi, mà chúng sẽ quay lại đâm vào các bạn (!)”

Trong lúc cha Irigoyen phiên dịch những lời ngang tàng và khoác lác đó, de Mayréna bình thản lấy thuốc lá ra châm hút. Một phút trôi qua dài như một tháng, các buôn trưởng xúm vào nhau, bàn bạc. Rồi bất thình lình, buôn trưởng Liêu tiến đến trước mặt de Mayréna, nhờ cha Irigoyen phiên dịch như sau: “chúng tôi thấy rằng chính ông là đấng cứu thế mà người Sedang chờ đợi từ nhiều thế kỷ qua. Chính ông đã được thần linh cử đến. Chúng tôi muốn ông là “Agna” tức là quốc vương của chúng tôi”. Rồi không đợi cho de Mayréna và hai người đồng hành kịp phản ứng, Liêu cùng các buôn trưởng khác đã chạy lại, xúm quanh vị ‘quốc vương” và thề trung thành với “ngài” bằng cách giết một con gà mái, lấy máu bôi lên trán de Mayréna. Buổi lễ đăng quang đơn giản kết thúc, các buôn trưởng quay về buôn của họ, còn cha Irigoyen và Mercurol thì hộ tống “tân quốc vương Sedang” trở về Kon-tum

(còn tiếp)

Lê Nguyễn

31.5.2017

A picture containing text, person, outdoor, person

Description automatically generated

A person with a beard

Description automatically generated with medium confidence

A picture containing text, person, person, black

Description automatically generated

A picture containing outdoor, ground, person

Description automatically generated

A picture containing outdoor

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT –

“QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

PHẦN 3 – TỔ CHỨC VƯƠNG QUỐC MỚI

CUỘC CÔNG DU ĐẦU TIÊN, MÀ CŨNG LÀ CUỐI CÙNG

Sáng hôm sau, ngày 1.5.1888, de Mayréna tham khảo ý kiến của giáo sĩ Irigoyen và Mercurol rồi soạn thảo bản “Hiến pháp của vương quốc Sedang” với 11 điều khoản, chủ yếu gồm:

– Sáp nhập vương quốc Sedang vào Liên minh Bahnar-Rangao

– Quốc kỳ màu xanh có một ngôi sao đỏ ở giữa

– Quốc vương có quyền hạn tuyệt đối, có sự phụ giúp của một hội đồng phụ chánh

– Cấm chỉ việc buôn bán nô lệ và đem người hiến sinh (trước đó, người Sedang thường bán nô lệ do họ bắt được)

– Mọi tôn giáo đều được tự do hoạt động, song Thiên Chúa giáo là tôn giáo chính thức

– Những đất đai không do buôn làng sở hữu đều thuộc về quốc vương. Đất của buôn làng không được tặng dữ hay buôn bán nếu không có sự ưng thuận của quốc vương.

Xem ra nét nhân bản nổi bật nhất trong bản hiến pháp là điều khoản về sự hiến sinh và buôn bán nô lệ, nếu thực hiện được, công của de Mayréna không phải là nhỏ.

Văn kiện soạn thảo xong, de Mayréna triệu tập 42 buôn trưởng lại, đọc cho họ nghe bản dự thảo hiến pháp được cha Irigoyen dịch ra tiếng Sedang. Sau khi mọi người đồng thanh chấp nhận, cha Irigoyen soạn một văn bản ghi rõ:

“ Tôi ký tên dưới đây là giáo sĩ Irigoyen công bố rằng tất cả buôn trưởng đã nghe đọc bản hiến pháp bằng tiếng Sedang và đã điểm dấu bên trên tên của họ, vì họ không biết ký tên. Trước khi họ áp dấu, tôi đã giải thích bằng ngôn ngữ của họ rằng nghi thức này đã được tiến hành trước mặt đức vua Sedang. Ký tên: Irigoyen”

Tân quốc vương Sedang lấy niên hiệu Marie đệ nhất, bản chính hiến pháp do quốc vương chấp giữ. Mấy ngày sau đó, những diễn biến tại “vương quốc Sedang” được tờ báo Le courrier d’Haiphong (Thư tín Hải Phòng) đăng tải đầy đủ, lại còn có thêm một tuyên bố dài của buôn trưởng buôn Dak-Drai bày tỏ sự tán đồng bản hiến pháp của vương quốc.

Thế là việc đăng quang của “quốc vương xứ Sedang” đã diễn ra trong một tình huống bất ngờ, ghi dấu sự thành công đầy may mắn của con người thích phiêu lưu này. Có người đặt ra câu hỏi tại sao ba nhà tu khả kính Vialleton, Guerlach và Irigoyen lại dễ dàng buông xuôi theo một tấn tuồng hài hước như vậy. Lời giải thích có thể dựa vào những chỉ thị của toàn quyền Constans cho công sứ Lemire, viên chức đứng đầu bộ máy chính quyền toàn vùng, và yêu cầu giúp đỡ của Constans gửi đến Hội truyền giáo hải ngoại ở Qui Nhơn.

Dù sao với những gì vừa làm được, de Mayréna có quyền hi vọng sẽ hoàn thành nhiệm vụ do Constans giao phó. Sau khi liên minh Bahnar-Rongao-Sedang đã hình thành dưới sự lãnh đạo thống nhất của de Mayréna, vấn đề còn lại là phải thuyết phục bộ tộc lớn còn lại của người Djarai. Họ sống gần người Sedang, song nguồn gốc xuất phát rất khác nhau. Nhiều người cho rằng họ cùng một chủng tộc với người Chăm, hoặc ít ra, họ và người Chăm cũng có những mối quan hệ vô cùng chặt chẽ. Người Djarai có đôi mắt linh hoạt, ngôn ngữ gần giống với ngôn ngữ của người Chăm, phong tục cũng tương tự, nhất là tục thờ cúng người chết. Trong lúc người Sedang bỏ quan tài ngoài rừng rồi chạy thục mạng về nhà để không bị người chết “hớp hồn” thì người Djarai tổ chức nghĩa trang đàng hoàng, trong nhà mồ, họ tạc trên các cây cọc những pho tượng với vẻ mặt trầm tư, hai bàn ta đặt lên đầu gối. Cuối cùng thì sau bao nhiêu khó khăn, phải vận dụng mưu ma chước quỷ, kể cả những lúc suýt xảy ra xung đột nghiêm trọng, người Djarai cũng chịu thần phục, de Mayréna qui về một mối.

***

Lên ngôi quốc vương rồi, một trong những việc đầu tiên mà de Mayréna nghĩ đến là tổ chức cuộc sống sao cho phù hợp với một cung đình. Ngôi nhà y ở với Ahnaia được sửa sang lại cho xứng đáng với một “hoàng cung”, lá quốc kỳ của “vương quốc” tung bay trên nóc ngôi nhà. Người bạn thân cận nhất của y là Mercurol được bổ làm Thượng thư Bộ Ngoại giao kiêm Quốc phòng, còn cha Irigoyen được giao sứ mạng làm Đại giáo sĩ tư tế của “nhà vua”. Và dĩ nhiên Ahnaia được tấn phong làm “hoàng hậu”.

Cuộc sống cung đình của de Mayréna mang nhiều sắc thái mới mẻ. Hàng tuần, vào ngày chủ nhật, “quốc vương” đi lễ nhà thờ trong bộ trang phục lộng lẫy, bên cạnh có “cận thần” Mercurol không còn có vẻ luộm thuộm như trước đây nữa. Để việc điều hành vương quốc đạt hiệu quả cao, y ban hành một loạt sắc lệnh thiết lập ba loại huân chương: huân chương hoàng gia Sedang, huân chương chiến công Sedang, và huân chương Sainte-Marguerite. Các sắc lệnh ghi rõ chi tiết từng loại huân chương, hình thể, tiêu chuẩn tặng thưởng, cách đeo ra sao …, nói chung không khác gì các văn kiện lập qui đăng trong công báo Pháp thời đó. Về sau, những văn kiện do “quốc vương Marie 1er” ban hành được tập hợp lại, in trong một tập san nhan đề “Tập san các luật và sắc lệnh và chỉ dụ của vương quốc Sedang năm 1888-1889”. Những người được cấp huân chương chiến công đầu tiên là Mercurol, huân chương hạng nhì; các giáo sĩ Guerlach, Irigoyen, Vialleton huân chương hạng ba. Vào những năm 1920, người ta còn tìm thấy một số văn kiện do de Mayréna ban hành về chuyện ban phát huân chương này.

Tin về sự ra đời của “vương quốc Sedang” nhanh chóng bay về Qui Nhơn và công sứ Lemire lập tức báo cáo cho Phủ Toàn quyền Đông Dương. Lúc này, Constans đã được triệu hồi về nước, người thay thế ông ta là Richaud còn bận rộn nhiều việc khi mới vừa chân ướt chân ráo bước lên đất Việt Nam. Vì vậy, mãi đến ngày 15.9.1888, ông ta mới gửi cho Lemire một văn thư với nội dung như sau:

“Saigon 15.9.1888,

Toàn quyền Richaud gửi Công sứ Lemire – Qui Nhơn,

Xin chuyển đến de Mayréna lời ngợi khen của tôi về những kết quả mà anh ta báo là đã đạt được. Tuy nhiên, theo tôi, có lẽ không có lợi khi đưa các lãnh tụ sắc tộc về Sài Gòn trong lúc này như anh ta yêu cầu. Tôi chưa thể nghĩ đến việc bàn rộng ra về khía cạnh này do những khó khăn hiện nay”.

Qua văn thư của tân toàn quyền Đông Dương, chúng ta biết rằng de Mayréna đã đề xuất đưa lãnh đạo các bộ tộc về Sài Gòn, có lẽ để minh chứng cho sự thành công bước đầu của sứ mạng mà anh ta đang thực hiện. Các viên chức Pháp ở Sài Gòn cũng muốn công nhận “vương quốc Sedang”, vì theo họ, không có lý do gì phủ nhận một hành động phù hợp với kế hoạch đã được cựu toàn quyền Constans vạch ra.

Cuối cùng thì tin tức về “vương quốc” của de Mayréna cũng bay tới Paris, kinh đô ánh sáng của châu Âu. Tháng 9.1888, tờ Nhật báo Paris đăng một bài viết về “quốc vương xứ Sedang” do bạn bè của y gửi đến với nội dung làm cho y không mấy hài lòng. Y đã viết trả lời bài báo đó với những lời lẽ cao ngạo của một kẻ bề trên. Y bảo vệ thần dân Sedang của mình bằng cách nhấn mạnh những đức tính của họ, tài sử dụng súng Remington và súng colt (!) của họ, và cuối cùng mời mọi người sang thăm vương quốc của y mà y đảm bảo rằng chẳng có vẻ gì “dã man” như mọi người lầm tưởng. Trong bài viết trên, y cũng tiết lộ là sẽ tiếp xúc với triều đình nước Xiêm (Thái Lan ngày nay) để tách họ ra khỏi tầm ảnh hưởng của những người Đức. Đây là nỗi ám ảnh dai dẳng của de Mayréna, mà cũng là lý do chính khi cựu Toàn quyền Constans chọn cử y lên vùng đất này. Nỗi ám ảnh càng nặng nề hơn khi có tin đoàn công tác của người Đức đang lảng vảng gần “vương quốc” của ngài. Một số người từ Attopeu về cho hay một người cháu vua Xiêm đang chỉ huy một đạo quân vượt qua sông Mekong. Đi chung với đạo quân này là những người cao lớn, đeo kính mà de Mayréna tin đó là các sĩ quan Đức.

Trong lúc vạch kế hoạch cho chuyến công du quan trọng với tư cách một quốc vương, de Mayréna nhận thấy Lào là một đất nước nằm sâu trong đất liền, giữa Xiêm và Việt Nam, việc kết thân với họ để họ nhìn thấy ở người Pháp một chỗ dựa vững chắc là điều hết sức cần thiết. Được tin vua Lào đang có mặt ở Bassac, cách Kon-Tum khoảng 300 km, de Mayréna quyết định đến đó ngay để thuyết phục người láng giềng gần gũi này. Y để “hoàng hậu” Ahnaia và Mercurol ở lại Kon-Jéri và ra đi một mình. Nếu Mercurol tháp tùng thì sự nóng nảy của ông bạn thân thiết này có thể làm hỏng việc lớn của y.

Cuối tháng 9.1888, de Mayréna lên đường cùng một đoàn quân hộ tống và hai con voi. 15 ngày sau, y đến thành phố Bassac khi mặt trời vừa khuất cuối chân trời. Thành phố đầy những vườn cây xanh, các đại lộ trồng cây cọ, trông như một ốc đảo. Trong cái dịu dàng ngát hương đó, người Lào chỉ làm việc đủ để sống, thì giờ còn lại, họ tận hưởng tình yêu và lạc thú. Trong suốt mùa trăng, từ sáng sớm cho đến nửa đêm, từng nhóm trai gái, đầu giắt hoa thơm, vừa đi tản bộ, vừa ca hát trên những đại lộ đông người. Tôn giáo của người Lào là một nền Phật giáo hiền hòa, các sư sãi ở chùa rất hiếu khách, họ mở trường dạy học cho trẻ con trong làng. Các tín đồ người Lào thường đến viếng ngôi chùa nào họ thích, nghi lễ rất đơn giản, họ đặt gạo, hoa lên bàn thờ và thắp nến. Mỗi buổi sáng, các sư sãi mặc áo vàng, tay xách giỏ đựng đồ cúng, xếp thành hàng dài đi trên đường phố. Phụ nữ Lào đợi họ đi qua, bỏ vào giỏ của họ một ít cơm. Họ chỉ được phép ăn cơm sau khi mặt trời đã lặn. Họ không nhận tiền bố thí, cũng không được liếc nhìn vào đồ cúng của tín đồ. Những người Lào thuộc xã hội thượng lưu, các hoàng thân, những nhân vật quan trọng trong xã hội thường có tập quán vào làm công quả trong chùa một thời gian.

Ngay khi vừa đến Bassac, de Mayréna đã đề nghị được hội kiến với vua Lào. Hai ngày sau, nhà vua tiếp y trong cung điện của ông nằm trên một ngọn đồi cây cối um tùm. Chung quanh y, các quan Lào đều quỳ gối, hai cùi tay chống xuống đất để không nhìn thấy long nhan. De Mayréna vẫn đứng, gọi vua Lào là “người anh em”, thậm chí còn cư xử với một vẻ cao đạo. Song có vẻ như vua Lào chẳng mấy chú ý đến những việc như thế, qua người thông ngôn, ông trả lời de Mayréna rằng với đề nghị liên minh của y, ông chưa thể có ý kiến được, đề nghị y trở lại vào tối hôm sau.

Ngày hôm sau, đúng hẹn, de Mayréna trở lại hoàng cung Bassac, được hướng dẫn vào một căn phòng tù mù, chỉ được thắp sáng bằng vài ngọn nến. Hồi lâu sau, một cụ già đẩy cửa bước vào. Gương mặt ông cụ trắng bệch, đôi mắt như không còn thần sắc, ông tự giới thiệu là người cai quản ngôi chùa hoàng gia, năm ấy đã 80 tuổi, và từ 30 năm qua, hoàn toàn sống trong bóng tối ở chốn tu hành, không hề ra ngoài ánh sáng. Không cần vòng vo gì cả, ông ta thông báo thẳng với de Mayréna là sau khi bàn bạc với vua Lào, ông ta thấy rằng nước Lào không thể ràng buộc số phận của mình với ai khác ngoài nước Xiêm. Có lẽ nhằm để cho người khách phương xa bớt hụt hẫng, ông ta nói thêm là ngày hôm sau, anh nhà vua sẽ có chuyến đi Bangkok, nếu muốn, de Mayréna có thể tháp tùng đến đấy, gặp thẳng vua Xiêm là ChuLa Long Korn, sẽ được nhà vua tiếp và trả lời thỏa đáng…

(còn tiếp)

Lê Nguyễn

6.6.2015

A picture containing text, outdoor

Description automatically generated

A flag with a red star

Description automatically generated with low confidence

A close-up of some medals

Description automatically generated with medium confidence

A picture containing diagram

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT –

“QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

PHẦN 4 – SỰ THẤT BẠI CỦA CHUYẾN CÔNG DU

VÀ NGÀY TÀN CỦA VƯƠNG QUỐC

Ngày hôm sau, de Mayréna ngồi trên lưng một con voi do vua Lào cấp cho và đi Bangkok bằng đường bộ, qua các ngả Korak và Ayuthia. Ba tuần lễ sau, y đã có mặt ở kinh đô nước Xiêm. Thời bấy giờ, Bangkok được ví như một Venise của Viễn Đông, kênh rạch chằng chịt, dân chúng thường sống trong những nhà sàn cất trên sông Mé-Nam. Chùa Vat-Chen nổi bật giữa thành phố với ngọn tháp trung tâm, chung quanh là những ngọn tháp nhỏ trang trí bằng những đồ sành sứ đủ màu men xanh, đỏ, hồng, vàng. Cung điện của vua Chulalongkorn cũng là một quần thể những ngọn tháp bóng loáng, một số được cẩn bằng những mảnh gốm sứ Trung Hoa có hình cỏ, hoa, chim, thú. Khi đó vua Chulalongkorn còn trẻ lắm, trông chừng hơn 30 tuổi (ông sinh năm 1853), nét mặt thanh tú, dáng vẻ như một người châu Âu, rất am tường về thần học Bà La Môn. Viên lãnh sự Pháp tại Bangkok là Hardouin không nhận được chỉ thị gì từ phủ Toàn quyền Đông Dương, song trước lời khẩn khoản yêu cầu của de Mayréna, ông ta cũng cố dàn xếp một cuộc hội kiến giữa y và vua Xiêm.

Vua Chulalongkorn tiếp “quốc vương xứ Sedang” tại một ngôi nhà trang trí theo kiểu “đế chế thứ hai”. Ông ngồi trên một ngai vàng kê lên những bông sen bằng bạc, mặc một chiếc áo khoác bằng gấm vàng, một chiếc quần ngắn bằng lụa thêu, đội trên đầu chiếc mũ của sĩ quan hải quân. Cũng giống như ở Lào, các quan lại quỳ mọp dưới chân nhà vua, cùi tay chống xuống đất. Chung quanh nhà vua còn có một tốp nữ binh ăn mặc diêm dúa, đầu đội mũ không vành có gắn lông chim. Theo thói quen khi ở Lào, de Mayréna mở đầu câu chuyện bằng cách gọi vua Xiêm là “người anh em” và định đưa tay cho ông ta bắt. Tuy nhiên, không biết do sợ hãi trước cử chỉ bất ngờ của de Mayréna hay khinh miệt thái độ thân tình không đúng cách của y, vua Chulalongkorn vụt đứng lên, rời bỏ căn phòng mà không thốt lên một lời nào cả. Các quan lại và đám nữ binh cũng lục tục đi theo sau nhà vua.

Hẳn nhiên là thái độ bất ngờ của vua Xiêm đã làm cho “quốc vương xứ Sedang” phẫn nộ một cách chính đáng, khiến viên lãnh sự Hardouin vừa ra sức dỗ dành y, vừa cố khuyên y không nên nấn ná ở lâu trên đất Xiêm nữa. Trưa hôm đó, de Mayréna trở về khách sạn Phương Đông, lòng vẫn chưa nguôi lửa giận. Đến giờ ăn tối, nghe tiếng chuông reo, y xuống phòng ăn, định dùng ít cháo cho nhẹ bụng. Bỗng nhiên y giật mình, nhìn thấy trước mặt mình là một phụ nữ đẹp tuyệt vời. Cô len lén nhìn y và điều này tiếp thêm sức sống cho trái tim y đang tan nát, rã rời. Mặc dầu đã gần 50 tuổi, song y vẫn chưa ở vào thời điểm mà các tham vọng chính trị lấn át cả tình yêu. Và y đã làm quen người phụ nữ có cái tên Dalberg đó, lòng say sưa với một cuộc phiêu lưu mới, ở một chân trời đầy cỏ lạ hoa thơm, nỗi ray rứt vì sự thất bại của chuyến công du bỗng chốc tan biến như bọt xà phòng.

Thay vì rời Bangkok vào ngày hôm sau như đã hứa với Hardouin, de Mayréna tiếp tục ở lại khách sạn Phương Đông với cô gái đẹp vừa quen. Y được biết cô là người Thụy Điển, em gái một doanh nhân đang buôn bán ở Hải Phòng. Phần cô ta, theo lời tự kể, cô đến Bangkok để nghiên cứu về những đền đài nước Xiêm. De Mayréna là một gã đàn ông khá điển trai, Dalberg đẹp và đang sống khá tự do, họ như lửa gần rơm, thiêu đốt cả mọi phiền muộn chung quanh, kể cả hình ảnh bà “hoàng hậu” Ahnaia đang thắc thỏm chờ y ở một góc rừng xa xôi…

Đã 8 ngày trôi qua kể từ hôm de Mayréna dự định quay về Kon-Jéri. Lãnh sự Hardouin không giấu được nỗi bồn chồn, lo lắng, nhiều lần thúc giục y rời Bangkok để tránh những điều bất trắc có thể xảy ra. Cuối cùng y cũng kịp nhớ rằng mình còn một trách nhiệm rất nặng nề đối với “vương quốc Sedang”, với lời ủy thác của phủ Toàn quyền Đông Dương. Y lưu luyến chia tay Dalberg, nói nhỏ lời tạm biệt, vì cả hai còn nhiều hi vọng gặp lại nhau ở Hải Phòng…

***

Khi quay về “kinh đô” Kon-Jéri của mình, de Mayréna không ngờ rằng trong lúc y vắng mặt, đã có quá nhiều chuyện rắc rối xảy ra. Ngài “Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Quốc phòng” Mercurol đã tỏ ra mẫn cán quá mức đến đỗi làm cả công việc của một Bộ trưởng Thương mại. Anh ta mua bán thoải mái với người dân các làng biên giới mà không đếm xỉa gì đến lời can gián của các giáo sĩ. Đã thế, anh ta còn định xâm nhập vào một buôn đang có lệnh cấm đi vào để tán tỉnh một cô gái trong đó, và nếu không có sự can thiệp của cha Guerlach thì anh ta đã mồ yên mả đẹp rồi. Cùng lúc đó, một trận dịch bệnh đậu mùa đã tàn phá các buôn làng của người Sedang. Họ tìm đến các thầy mo và sau khi đập vỡ các quả trứng, hỏi ý kiến thần linh, những vị này cho biết nguyên nhân gây ra dịch bệnh là vị “quốc vương” từ xa đến đã làm cho thần linh nổi giận!

Tình hình ở Sài Gòn và Hà Nội lúc đó cũng đầy bất trắc. Toàn quyền Đông Dương mới là Piquet sang thay Richaud là người có khuynh hướng thân Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie), chống lại các giáo sĩ Thiên Chúa giáo. Vì thế, một vương quốc Sedang chịu ảnh hưởng của các giáo sĩ là điều ông ta không mong muốn. Vì thế, qua trung gian của công sứ Bình Định Lemire, tân toàn quyền Đông Dương gửi đến Giám mục Van Camelbecke, người đứng đầu Hội truyền giáo tại địa phương, những nhận định không có gì đáng phấn khởi về cái vương quốc mà các giáo sĩ đang ủng hộ. Nhận được thư, vị Giám mục đâm hoảng, vội cử một phái viên đi gặp giáo sĩ Vialetton, nhờ ông này ra tay tốp bớt những trò ngông cuồng của de Mayréna.

Lúc này, câu “họa vô đơn chí” thật phù hợp với hoàn cảnh của de Mayréna. Giữa lúc y đang đau đầu vì bao nhiêu chuyện rối beng thì sức khỏe của Ahnaia ngày càng suy kiệt. Sau một lần sẩy thai, cô gái Chăm cơ hồ không gượng dậy nổi. Giữa mùa mưa bão, cô bị sốt liên miên, những triệu chứng bên ngoài cho thấy có thể cô mắc bệnh lao, một trong “tứ chứng nan y” (phong, lao,cổ, lại) thời đó. Cô ngày càng ít nói, sống xa cách mọi người, kể cả với de Mayréna. Mỗi đêm, khi vầng trăng khuyết vừa lên khỏi khu rừng xa, cô lại lê bước ra bờ suối vắng, hát nho nhỏ những bài hát cổ xưa của dân tộc Chăm, như những lời khấn nguyện cuối cùng. Nhìn thấy sự sa sút thảm hại của người bạn đời, de Mayréna cố gắng chăm sóc cô nhiều hơn. Nhưng đã muộn! Một buổi sáng nọ, Ahnaia không dậy nổi nữa. Cô nằm quay đầu hướng về chiếc hàng rào tre và đến chiều thì thở hơi cuối cùng, gục chết như một con chim gãy cánh giữa mùa giông bão.

Trước một mất mát quá lớn, de Mayréna vô cùng đau đớn và bối rối. Y muốn an táng vợ theo nghi thức “hoàng gia” nhưng các giáo sĩ phản đối quyết liệt. Họ không muốn chôn một cô gái Chăm trên đất thánh của đạo Thiên Chúa. Cuối cùng, de Mayréna đành phải chọn lựa cách đưa Ahnaia về quê nhà của cô ở Phan Rang, an táng theo nghi thức dành cho một công chúa Chăm. Thi thể cô được đưa lên lưng voi, đi gấp về Qui Nhơn, rồi từ đó xuôi thuyền về Phan Rang. Trong ngày an táng, đầu Ahnaia được đặt nằm về hướng mặt trời mọc, người ta phủ lên cơ thể cô nhiều đạo bùa và những dải băng màu vàng, trên ghi những hàng chữ theo mẫu tự Chăm. Cô nằm trên 9 chiếc chiếu bằng lá cọ, tượng trưng cho 9 tháng mang nặng đẻ đau của người mẹ. Một chiếc chiếu cói bó chặt cơ thể lên đến cổ, bên trên là những chiếc áo lễ xếp gọn gàng, bên cạnh là bộ đồ trà, hộp đựng vôi, trầu, thuốc lá… Đến ngày hỏa táng, người ta khiêng thi thể Ahnaia ra một cánh đồng, dàn nhạc đưa tang theo sau, trổi lên những khúc ai oán. Cô được đặt nằm lên giàn hỏa, hai người đứng sẵn cầm đuốc châm lửa đốt. Khi lửa vừa bốc lên, hai thầy tu bước đến tách chiếc đầu ra khỏi cơ thể người chết rồi bẻ xương trán ra thành 9 mảnh nhỏ, bỏ tất cả vào một chiếc hộp bằng bạc. Theo tín ngưỡng của người địa phương, số mệnh của mỗi con người được ghi lên trán người đó. Cuộc hỏa táng kết thúc, các thầy tu đi đến nhà tang lễ, nơi đang nhốt một người thủ vai “kẻ giữ nhà” để ngăn cản vong hồn người chết quay về. Người ta dùng một tảng đá có khắc chữ để ghi dấu ngôi mộ của Ahnaia. De Mayréna trồng hai cây táo cạnh ngôi mộ người vợ yêu thương, cầu mong bóng mát của chúng che chở cho một linh hồn đã từng trải qua những năm tháng luân lạc trên cõi thế gian.

***

Khi de Mayréna quay lại Kon-Tum, mọi việc càng trở nên tồi tệ hơn. Từ khi được phong là “công tước Kon-Tum”, Mercurol ngày càng tỏ ra hống hách và khó tính, các giáo sĩ không buồn nhắc tới anh ta. Họ cũng nhận được tin là chính quyền thực dân Pháp không còn hậu thuẫn cho de Mayréna nữa. Hai thành viên trong liên minh do y lãnh đạo là bộ tộc Djarai và bộ tộc Sedang xung đột lẻ tẻ với nhau. Một bữa nọ, người Djarai châm ngòi thuốc súng. Họ tấn công một buôn của người Sedang, giết chết ba cư dân và bắt nhiều người khác làm nô lệ. “Quốc vương Sedang” quyết định mở cuộc hành quân trừng phạt kẻ gây chiến. Trận chiến diễn ra thật ngắn ngủi, có lẽ bị ám ảnh bởi lời tiên tri của các thầy mo (đã nhắc ở trên) nên mới giao chiến với người Djarai vài phút, họ đã hè nhau bỏ chạy.

De Mayréna chạy về Kon-Jéri trong một tâm trạng phẫn hận cùng cực. Giáo sĩ Guerlach gây áp lực buộc y phải “thoái vị”, bởi vì nếu y còn ở ngôi, sự xung đột giữa các bộ tộc sẽ còn tiếp diễn và người Bahnar theo Thiên Chúa giáo sẽ gặp nhiều nguy hiểm nếu hai bộ tộc Sedang và Djarai liên kết với nhau để tiêu diệt họ. De Mayréna suy nghĩ nhiều về tình thế này và nhận thấy nếu không có sự hậu thuẫn của giáo hội, “vương triều Marie 1er” của y không còn có lý do tồn tại. Một buổi sáng nọ, y thông báo cho cha Guerlach biết ý định đi Qui Nhơn để ”trao đổi với công sứ Lemire một số vấn đề liên quan đến việc củng cố vương quốc Sedang”. Cha Guerlach cung cấp cho y mấy người phu khuân vác của hội truyền giáo, một toán hộ tống độ một chục người Bahnar và ngựa. Ông không hề biết rằng câu trên chỉ là một cách nói của de Mayréna. “Triều đại” của y xem như đã cáo chung sau nửa năm tồn tại, y không còn lòng dạ nào để “trao đổi” với ai hết. Hình ảnh xinh đẹp của Dalberg hiện ra trong ký ức y, với những kỷ niệm mà y khó lòng quên được. Mấy ngày sau, y cùng Mercurol đến Qui Nhơn, từ đó xuống tàu khách đi Hải Phòng …

(còn tiếp)

Lê Nguyễn

11.6.2017

A person holding a baseball bat

Description automatically generated

A statue of a person wearing a crown and holding a staff

Description automatically generated with low confidence

A group of people posing for a photo

Description automatically generated with medium confidence

A picture containing bedclothes

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT – “QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

KỲ 5 – TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG

Vào năm 1888, Hải Phòng còn là một ngôi làng lớn với vài căn nhà gạch lợp ngói nằm dọc theo bờ sông, là nơi cư ngụ của một số công chức và quân nhân Pháp. Đàng sau một đầm lầy, những người Việt giàu có sống trong những căn nhà gỗ, giữa những khu vườn có rào tre bao quanh. Địa phương này cũng có một quán trọ nhớp nháp được gắn cho mỹ danh Grand Hotel và một vài căn hộ cho người Tàu thuê mướn. Nhiều vụ cướp bóc thường xuyên diễn ra, không ít thành viên của các băng nhóm là người Âu. Họ mua bán hàng hóa bất hợp pháp, làm gián điệp, cung cấp vũ khí cho cả quân thổ phỉ lẫn quân Pháp. Trong số những người này, có cả Dalberg, anh ruột cô bạn gái mà de Mayréna đã gặp ở Xiêm.

Khi đặt chân lên đất Hải Phòng, y và Mercurol đã cạn hết tiền, không đủ cả tiền thanh toán chi phí ăn ở tại quán trọ Grand Hotel. May mắn là ông chủ quán trọ không bận tâm lắm đến điều này, vì ông cảm thấy rất vinh dự được một nhân vật trọng yếu chiếu cố đến cơ sở làm ăn của mình. Cô Dalberg vui mừng khi gặp lại de Mayréna, giới thiệu y với ông anh ruột và ông này không ngần ngại mở rộng hầu bao để hậu đãi vị “quốc vương ” đẹp mã, có một nếp sống khá bình dân. Cách ứng xử hào phóng của anh em Dalberg đã khiến con người thất chí đó tìm thấy lại sự hưng phấn để phục hồi cung cách “hoàng gia” của mình. Với tiền vay của ông Dalberg, y đặt in các bằng khen, giấy viết thư có tiêu đề vương quốc Sedang… Từ đó, y hào phóng ban cấp bằng khen và huân chương cho những ai có thừa tiền nhưng thiếu chút danh vọng hão. Loại hoạt động này ngày càng phất lên, giúp y có một cuộc sống tương đối thoải mái, thanh toán đủ tiền cho ông chủ quán trọ Grand Hotel và sắm sửa cho ra vẻ một ông vua … lưu vong. Nhưng sau một thời gian thì số thân chủ hám danh của y cũng thưa dần. Y bắt đầu nghĩ đến thành phố Hà Nội sầm uất, nơi có thể bán nhiều huân chương hơn, và nhất là có dịp hội kiến với viên Tổng trú sứ Rheinart để bàn cách cứu vãn cái “vương quốc” của y.

Trong lúc lênh đênh trên sông Hồng, thuyền của de Mayréna bị một thuyền của băng cướp Winchesters chặn lại (sở dĩ có tên trên vì băng này chuyên sử dụng súng Winchester). Sau khi biết mình đang đối diện với một “quốc vương” đang vi hành, hai thành viên của băng này là William S. và T. thay đổi hẳn thái độ và cùng với de Mayréna sớm trở thành một bộ ba tương đắc. Khi y đến Hà Nội thì thành phố này đang xôn xao về cái tin một lãnh tụ kháng chiến kiệt hiệt là Đốc Văn sắp bị thực dân Pháp hành hình. Con người mưu trí và dũng cảm ấy đã nhiều phen làm cho giặc kinh tâm táng đởm. Người ta kể rằng trong các cuộc hành quân của Đốc Văn, có cả sự hiện diện của một thiếu nữ người Âu bịt mặt. Ngày thi hành án tử, ông bị bỏ vào một chiếc cũi và giải về Hà Nội. Đến pháp trường cạnh tòa sứ, ông thản nhiên bước ra khỏi cũi, hất hàm bảo viên đao phủ “nhanh lên”. Người anh hùng đó đã hi sinh trong nỗi tiếc thương của bao nhiêu người dân đất Việt!

Do tình hình nhiều biến động, khó khăn lắm de Mayréna mới cấp được vài huân chương, mỗi cái thu về từ 50 đến 300 franc tùy theo điều kiện của mỗi khách hàng. Sau khi bị Tổng trú sứ Rheinart tại Hà Nội từ chối tiếp kiến, y cảm thấy nấn ná ở thành phố này cũng không ích lợi gì, bèn quay lại Hải Phòng và việc đầu tiên là gửi cho công sứ Bình Định Lemire một thư đề ngày 3.11.1888. Tất nhiên, lá thư của y đầy rẫy những điều bịa đặt như ông chủ Grand Hotel treo lá cờ của “vương quốc Sedang” to tướng trên cột cờ khách sạn, trưởng ban biên tập tờ báo Courrier d’Haiphong (Thư tín Hải Phòng) khuyên y công bố bức thư gửi cho Tổng thống nước Cộng Hòa Pháp, khi trở về “vương quốc”, y sẽ có sự phục vụ của một bác sĩ, một kỹ sư tốt nghiệp trường Bách khoa và một kiến trúc sư …. Nội dung bức thư cũng tiết lộ một điều không vui là công sứ Lemire đã trả lại y bằng khen y cấp cho ông ta với lời lẽ pha chút an ủi “xin hãy chờ nhé, tôi trả lại anh lúc này”.

Điều đáng nói nhất là trong thời gian này, de Mayréna dành nhiều thì giờ cho việc viết thư, có lẽ để nhắc nhở mọi người rằng, trên danh nghĩa, y vẫn còn là “quốc vương xứ Sedang”. Trong thư viết cho một người bạn cũ đang làm cho tờ báo Petit Journal (Tiểu nhật báo), y than phiền về sự lạnh nhạt của người Pháp trước những thành tích y lập được, tặng người bạn một huân chương hoàng gia Sedang và một tấm ảnh của y, “mong rằng tờ Petit Journal sẽ bảo vệ quyền lợi của tôi, tức quyền lợi của nước Pháp”. Trên tờ Courrier d’Haiphong, de Mayréna đăng một bài viết dài, sau khi kể lể do đâu y trở thành quốc vương, đã thêm thắt nhiều chi tiết đầy tính hư cấu, lãng mạn, hứa hẹn tặng cho mọi người các mỏ vàng, mỏ sắt, mỏ thiếc trong vương quốc của y.

Cho rằng đánh động dư luận như thế vẫn chưa đủ, y quyết định viết cho “ông anh họ” là Tổng thống Pháp Sadi Carnot một lá thư trần tình. Thư không được chuyển theo hệ thống hành chánh mà đăng toàn văn trên tờ Le Courrier d’Haiphong. Tất nhiên phần đầu bức thư là những lời kể lể dài dòng về công lao tập hợp các bộ tộc tại cao nguyên, về trường hợp lên ngôi quốc vương xứ Sedang, đặc biệt là phần mô tả về phong tục, tập quán, sinh hoạt của các bộ tộc ở đây. Lá thư này không phải là không có giá trị về mặt nghiên cứu. Điều đáng nói là không ít nội dung trong thư dựa vào tác phẩm L’histoire de l’Annam (Lịch sử An Nam) của Petrus Trương Vĩnh Ký.

Một bữa nọ, quay lại quán trọ Grand Hotel, de Mayréna nhận được phong thư của Phó Công sứ Hải Phòng Benoit mời y đến tòa Công sứ càng sớm càng tốt. Tại đó, bằng một thái độ lịch sự nhưng kiên quyết, Benoit khuyên de Mayréna đừng tiếp tục tiến hành trò lố bịch là bán huân chương, và vì sự an toàn cá nhân, không nên đi lại với anh em Dalberg nữa. Những tài liệu tịch thu được khi bắt lãnh tụ nghĩa quân Đốc Văn cho thấy anh em Dalberg có dính líu tới cuộc kháng chiến của ông và họ có nguy cơ bị trục xuất khỏi lãnh thổ của thực dân Pháp. Tuy nhiên, khi gặp lại hai người này, de Mayréna thấy họ vẫn bình thản và đang sửa soạn chiếc du thuyền Le Freidj, dự định ngày hôm sau đi Hong Kong. Cô Dalberg mời y cùng đi và y đã nhận lời không chút do dự. Hải Phòng không còn là đất có thể dung thân của y nữa. Tuy nhiên, đến lúc này, sự cùng quẫn đã kéo lùi cuộc đời de Mayréna thêm mấy bước nữa. Bên cạnh tính phiêu lưu, khoác lác, y còn mất dần sự lương thiện, giữ trong ví một tờ “hối phiếu” của Giám mục Van Camelbecke ở Hội truyền giáo Qui Nhơn cho phép y nhận một khoản tiền lên tới mấy ngàn quan từ vị linh mục quản lý tu viện ở Hong Kong. Trên tờ hối phiếu đó, y chỉ cần thêm vào vài con số không là số tiền y nhận được có thể lên đến hàng chục, hàng trăm ngàn quan. Tất nhiên không ai tin rằng giám mục Van Camelbecke ở Qui Nhơn đã tự tay ký cho y tờ hối phiếu đó, vì một lẽ dễ hiểu là trước đó mấy ngày, y còn chưa biết mình sẽ đi Hong Kong nữa là. Giả thuyết được nhiều người ủng hộ là y đã cùng cô Dalberg làm giả tờ hối phiếu và nhái chữ ký của Giám mục Van Camelbecke.

Với tờ hối phiếu giả đó, cô Dalberg đã “mai mối” y với một người Tàu chuyên cho vay nặng lãi tên Akon chịu cho y vay 30 ngàn quan, với điều kiện khi đến Hong Kong, rút tiền ra, y sẽ trả cho ông ta cả vốn lẫn lãi …100 ngàn quan. Lợi lộc và cương vị “quốc vương” của de Mayréna đã làm cho Akon tối mắt, xùy ngay cho y 30 ngàn quan. Tuy nhiên, lão này cũng không phải tay vừa, quyết bám theo ba người tới Hong Kong để nhận tiền. Trong lúc anh em Dalberg còn do dự, de Mayréna đề nghị họ cứ thuận tình với đề nghị của Akon, vì y đã … có cách.

Buổi sáng hôm ấy trời trong vắt, chiếc du thuyền Freidj nhẹ nhàng lướt sóng ra khơi, chở theo de Mayréna, 2 anh em Dalberg, Villeroy, một trong những đầu đảng của băng cướp Winchester mà de Mayréna đã quen khi còn ở Hà Nội, và tất nhiên có cả Akon. Riêng Mercurol không đi Hong Kong mà bỏ vào Sài Gòn. Để cho chuyến đi được thêm phần long trọng, chiếc du thuyền bay phấp phới lá cờ của “Vương quốc Sedang” treo ở cột buồm. Trên đường đi, nhiều lần de Mayréna có ý định vứt lão già Akon cho vay nặng lãi xuống biển để lão đi đòi nợ mấy chú cá mập, song sau đó, y nghĩ ra một kế khác. Một hôm, tàu ghé lại đảo Hải Nam, anh em Dalberg có việc cần ghé lại thủ phủ chính là Kiong-Tcheou. Thời đó, Hải Nam có một trong những trại phong (cùi) lớn nhất vùng Viễn Đông, câu chuyện rôm rả xoay quanh trại này. Theo một kế hoạch sắp sẵn, trong lúc anh em Dalberg đi lo việc riêng, Villeroy đánh cuộc với de Mayréna là y không dám vào trại phong, gặp những người bệnh để xin … mồi thuốc hút. Tất nhiên là de Mayréna chấp nhận lời thách thức, song đề nghị cả Akon đi theo y và Villeroy để làm trọng tài. Akon đồng ý ngay vì cũng không dám ở lại tàu một mình. Cả ba lầm lũi đi qua một nghĩa trang rộng lớn đầy mộ của những bệnh nhân phong đã qua đời.

Buổi chiều, mọi người tập hợp lại trên tàu, ai cũng có mặt, trừ … Akon. De Mayréna giải thích với anh em Dalberg là lão này ở lại đảo để thăm người quen, sẽ đi Hong Kong sau. Tuy nhiên, một tháng sau, Akon tái xuất hiện tại Hải Phòng, kể lại chuyện lão ta đã bị de Mayréna và Villeroy trói chặt, bỏ trên một bãi vắng gần trại phong cho chết đói. May sao, sáng hôm sau, một ngư dân địa phương phát hiện ra lão ta, cỡi trói và đưa lão ta đến gặp ông trưởng trại phong rồi được trại tìm cho phương tiện để trở về Hải Phòng. Sự rủi ro không chỉ có thế. Nhà cầm quyền Hải Phòng biết được lão ta từ trại phong về, đã cách ly lão suốt ba tuần lễ để xem trên người lão đã có con vi trùng Hansen nào chưa.

***

Cái gai Akon đã nhổ đi rồi, de Mayréna tự thấy đã có thể tiêu xài thoải mái 30 ngàn quan vay được. Không còn lo về chuyện tiền nong, y nỗ lực vực dậy cái “vương quốc” đã vuột khỏi tầm tay. Khi vừa tới lãnh thổ Hong Kong, y vội vã đến tòa lãnh sự Đức, đề nghị bán cho chính phủ Đức quyền bảo hộ “vương quốc Sedang” cùng những quyền lợi khác. Trong đời làm ngoại giao, đây có lẽ là một trong những tình huống bất ngờ và khó xử nhất của viên lãnh sự Đức. Ông ta liền điện cho chính phủ Đức ở Berlin về nội dung đề nghị của de Mayréna. Hai ngày sau, ông ta nhận được chỉ thị là đừng thỏa thuận gì hết vì “thời cơ chưa chín muồi”. De Mayréna bèn quay sang tòa lãnh sự Anh, song nơi đây xem y chỉ là một anh khùng, không hơn không kém.

Về phần Dalberg, cô nhận thấy con người đang xuống dốc này không còn gì để khai thác nữa, nên bắt đầu lạnh nhạt với y. Trong tình thế đó, de Mayréna thấy chỉ còn có cách trở về Pháp càng sớm càng tốt. Y xuống một chuyến tàu thuộc Hãng Vận tải Đường biển, không kèn không trống, với chiếc vé hạng nhì trong tay. Như một vị quốc vương thứ thiệt đang bí mật vi hành, y khai trong danh sách hành khách đi Pháp với cái tên “Bá tước de Drey” (Drey vốn là tên một buôn của người Sedang)

(còn tiếp)

Lê Nguyễn

18.6.2017

A group of people posing for a photo

Description automatically generated with medium confidence

A black and white drawing of a person in a dress

Description automatically generated with low confidence

Text

Description automatically generated

A picture containing text, building, old, outdoor

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT – “QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

KỲ 6 – KHUẤY ĐỘNG CHÂU ÂU

Ngày 23.2.1889, cả Paris chào đón de Mayréna, người đã một thời lê bước chân nhàn hạ trên những con đường xanh ngắt bóng cây. Nhưng với “quốc vương xứ Sedang”, như thế chưa đủ. Y đến Paris để được thỏa mãn hai yêu cầu, một là sự công nhận của chính phủ Pháp đối với vương quốc Sedang, và hai là … tiền. Vì vậy, ngay khi vừa đặt chân lên đất Pháp, y đã nghĩ ngay đến việc tận dụng

cái ưu thế của một xã hội có khá nhiều tay trưởng giả học làm sang. Y thuê một căn phòng sang trọng trong khách sạn Grand Hotel với tên “bá tước de Drey”. Thu xếp đồ đạc xong, y xuống ngay đại lộ Capucines và tìm đến tòa soạn báo Le Gaulois, gặp Robert Mitchell, một trong những sếp cũ của y. Ông này giới thiệu y với chủ bút báo Les Echos, lại cũng là một bạn cũ của y. Mấy ngày sau, tờ báo này đăng tải một cuộc trả lời phỏng vấn lý thú mà ngài “quốc vương xứ Sedang” có nhã ý dành cho “bổn báo”. Trong cuộc phỏng vấn, de Mayréna kể nhiều về lịch sử, địa lý, cư dân và nhiều mỏ vàng chưa được khai thác (!) ở vương quốc Sedang. Bài báo còn bổ sung nhiều chi tiết được y vẽ ra đến mức … không thể tin nổi, như dân Sedang có 2 triệu người (!), vua Asbath III của nước Lào cử đến Sedang một đại sứ, ký với y một thỏa hiệp liên minh và thân hữu, y đã ký cho một công ty Anh được quyền bỏ ra 20 triệu quan khai thác mỏ trong 25 năm v…v…. Y còn thêm rằng y sẽ gặp lại cựu toàn quyền Đông Dương Constans, nhờ ông này giúp thu xếp một cuộc hội kiến với tổng thống Pháp.

Chỉ mấy ngày sau, tờ Les Echos tiến thêm một bước trên con đường …liều, cho đăng bài tường thuật nội dung cuộc hội kiến (chỉ có trong tưởng tượng) giữa “quốc vương xứ Sedang” và tổng thống nước Cộng Hòa Pháp Carnot.

Trong cuộc hội kiến, tổng thống Carnot mở lời trước:

– Tôi sung sướng gặp lại người đồng hương thân thiết của tôi…à này, anh cho phép tôi không phải gọi anh là Bệ hạ nhé, vì điều này sẽ làm tôi cảm thấy khó chịu và tướng Brugère sẽ giận tôi.

De Mayréna trả lời nhũn nhặn:

– Xin hoàn toàn theo ý anh, kể cả việc anh có thể …mày, tao với tôi (!)

– Không ai dễ mến hơn anh được. Anh có một dáng vẻ tuyệt vời, còn tôi thì ….

-Thật vậy, tôi thấy da anh hơi xanh, đôi mắt hơi lờ đờ

– Đó là lỗi của Floquet. Ở đó, anh có cần một chủ tịch hội đồng không? Tôi sẽ gừi Floquet cho anh.

– Cảm ơn nhiều. Tôi đã có một chủ tịch hội đồng xuất sắc.

– Anh không thể cho tôi mượn anh ta được sao?

– Anh ta không muốn thế. Vả lại, tôi không thể xa anh ta được. Đó là người hầu phòng của tôi, anh ta chỉ làm Bộ trưởng những lúc … rảnh rổi.

– Ở đó, anh có báo chí riêng không?

– Tôi là nhà báo duy nhất

– Một dân tộc đáng ngưỡng phục biết bao nhiêu! Có khủng hoảng nội các không?

– Hiếm lắm. Vì tôi chỉ có 2 bộ trưởng, một làm chủ tịch hội đồng kiêm hầu phòng cho tôi, một làm Ngoại trưởng, cả ngày không có việc gì khác ngoài việc …đuổi muỗi cho tôi. Ban đêm,việc này do hoàng hậu xứ Sedang đảm trách.

– Không có Thượng viện? Không có Hạ viện ư?

-Tôi chỉ có một nơi để nằm, và nói đúng ra, còn một căn phòng rất khác với phòng của anh, thưa Tổng thống.

– Xứ của anh xa lắm hả?

– Hơi xa. Tôi chỉ ra đi trong vài tuần lễ

– Hãy quay lại gặp tôi. Ta sẽ trở lại chuyện này

Đăng một bài tường thuật đầy sức tưởng tượng như thế, quả là ông chủ bút báo Les Echos đáng xếp vào hạng đại … liều. Tuy nhiên, vào lúc mà cái xứ sở Sedang mờ mờ ảo ảo như thế chưa được mọi người hình dung đang nằm trong một xó xỉnh nào trên trái đất thì bài tường thuật trên làm lợi cho de Mayréna rất nhiều. Công luận bắt đầu chú ý đến y, không ít người xem y như một “yếu nhân” từng nói chuyện ngang cơ với hàng tổng thống. Tờ báo Gil Blas còn tỏ ra nghiêm túc hơn nữa, bày tỏ sự phẫn nộ về việc chính phủ Pháp đã không dành cho “quốc vương xứ Sedang” sự hỗ trợ cần thiết, có nguy cơ để vuột khỏi tầm tay một vương quốc tráng lệ.

Trong lúc một số người cảm thấy một cái gì đó … không bình thường trong cuộc hội kiến “thượng đỉnh’ được báo Les Echos tường thuật thì không ai nghi ngờ gì về việc de Mayréna có mặt trong Ngoại giao đoàn chứng kiến phiên họp ngày 17.3.1889 của Viện Dân biểu Pháp. Y đặt tòa Đại diện vương quốc Sedang trên đường Grammont, cử một tay lang bang trong đám bạn bè cũ làm quan Chưởng Ấn. Ở đó, mỗi buổi sáng, tòa đại diện nhận được nào là đơn xin việc, nào là thư của quý ông, quý bà mong muốn đặt chân đến cái xứ thiên đàng trong mơ ước. Trong số đó có một bức thư rất đáng chú ý:

“ Tâu bệ hạ,

Tôi có vinh dự kính báo bệ hạ biết là vợ tôi, em vợ tôi và tôi sẽ vô cùng biết ơn và gắn bó một cách trung thành nếu bệ hạ có lòng tốt đưa chúng tôi cùng đến cái vương quốc xinh đẹp của bệ hạ, nơi mà chúng tôi sẽ ra sức phục vụ bệ hạ. Em vợ tôi rất có tài làm bánh ngọt, nhưng cố ấy cũng có khả năng hoàn thành những nhiệm vụ khác bên cạnh bệ hạ.

Tôi kính cẩn phủ phục dưới chân bệ hạ với hi vọng được sớm phúc đáp

X… Phó Phòng Bộ …”

Nhưng trong đống thư từ, cũng có cả thư của các chủ nợ cũ, kính cẩn nhắc nhở bệ hạ về những món tiền mà bệ hạ còn nợ từ năm xửa, năm xưa. Loại thư này được de Mayréna xếp vào một hồ sơ đặc biệt, bên ngoài đề “giao lại cho bộ trưởng Tài chánh”. Lúc này, de Mayréna đang khốn quẫn thực sự. Phòng cấp huân chương không còn nhận được đơn yêu cầu, trong khi khoản tiền 30 ngàn quan tước đoạt của lão Akon cũng tiêu tán dần như băng tan dưới ánh mặt trời. Cố gắng lắm, y mới tiêu thụ được vài cái huân chương trong các hộp đêm như Weber, Café de Paris, nhất là ở Montmartre.

***

Dù gì thì những hành động của de Mayréna ở Hải Phòng, Hong Kong, và Paris cũng làm cho các ông giáo sĩ ở Kon-Tum đâm hoảng, vì họ là những người đầu tiên ủng hộ và hỗ trợ cho sự hình thành cái “vương quốc Sedang” đang được y sử dụng làm cái mồi câu các con cá nhiều tiền và hám danh ở châu Âu. Không thể chịu đựng nổi tình trạng bất an, một bữa nọ, cha Guerlach vội chạy ra Hà Nội để biện minh những việc làm của giáo hội tại cao nguyên với Tổng trú sứ Rheinart. Sau đó, ông viết và gửi đăng mấy bài báo trên tờ Le Courrier d’Haiphong để làm sáng tỏ vấn đề trước công luận. Ít lâu sau, Phó công sứ Qui nhơn là Guiomar cùng đệ nhất Tham tá tòa sứ là Simoni được lệnh đi vào các buôn của người Sedang thu hết những cờ và huy hiệu mà de Mayréna đã để lại trước khi ra đi. Những giới chức này cũng chính thức thông báo cho dân buôn biết là vương quyền của de Mayréna đã vĩnh viễn kết thúc. Tuy nhiên, “tác phẩm” do y sáng tác ra không phải là đã hoàn toàn phá sản. Liên minh Bahnar-Rongao dưới sự lãnh đạo của tù trưởng Krui và sự dẫn dắt của các giáo sĩ tiếp tục tồn tại đến năm 1897, là thời điểm mà vùng cao nguyên miền Trung chính thức được đặt dưới sự bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp.

Về phần Tổng trú sứ Rheinart, ông ta cũng cố gắng dàn xếp để hậu quả của chuyện lùm xùm này không lan rộng ra nữa. Ngày 23.2.1889, ông ta gửi cho tù trưởng Krui một lá thư đại ý vạch trần hành động “lừa gạt” người Sedang của de Mayréna và khẳng định chính phủ Pháp không cho phép de Mayréna trở lại vùng cao nguyên Trung phần nữa. Bằng lá thư này, chính quyền thực dân Pháp đã áp dụng chính sách “cạn tàu ráo máng” với một công dân của họ đã từng tận tụy phục vụ mục tiêu do chính họ vạch ra.

Hẳn nhiên, những gì đang diễn ra tại Việt Nam rồi cũng đến tai de Mayréna. Ngày 4.4.1889, y lẳng lặng xuống tàu đi Bruxelles (Bỉ). Tại thủ phủ này, y đến ở tại khách sạn Mengelle, trong một khu phố quý phái nằm trên đại lộ Louise. Từ mấy ngày qua, cái khách sạn cũ kỹ này bỗng trở thành một địa điểm lịch sử, nơi gặp gỡ của nhiều nhân vật lừng danh trong xã hội Bỉ. Trong số những người này, de Mayréna quen được với tướng Boulanger và bà de Bonnemain là một cặp tình nhân nổi tiếng đang từ bỏ nhiều cám dỗ tiền tài và danh vọng để theo đuổi một tình yêu mãnh liệt. Tuy nhiên, không lâu sau, do yêu cầu của chính phủ Pháp, chính phủ Bỉ buộc tướng Boulanger phải rời khỏi Bruxelles. Người ta mất dấu de Mayréna mấy ngày, tưởng y đã đi theo Boulanger sang Luân Đôn, song trên thực tế, y quay lại Paris, tham dự một buổi trình diễn nhạc kịch và một cuộc triển lãm quốc tế. Mánh khóe bán huân chương cho những kẻ háo danh không còn đắc dụng nữa, quan “chưởng ấn” của y cũng đã rời bỏ tòa đại diện vương quốc Sedang tại Paris, mang theo mấy đồng louis còn sót lại trong két sắt.

Rốt cuộc, de Mayréna lại rời Paris, cố tìm vận may tại Bruxelles một lần nữa. Mấy ngày sau, tờ báo Indépendence Belge đăng một bài tường thuật dài với nhiều chi tiết thú vị về nhân thân “quốc vương xứ Sedang” và cái vương quốc tuyệt đẹp của ngài. Trong giới trưởng giả học làm sang tại Bruxelles lúc bấy giờ có một nhân vật nổi bật được mọi người biết đến dưới cái tên Somsy (có tài liệu ghi tắt là S. hay Songié, Somzie), là một kỹ sư giàu có. Nhờ phát minh ra nhiều phương pháp công nghệ mới, ông ta tạo lập được một gia tài khá lớn, cất lên một tòa nhà vô cùng tráng lệ, trang trí bằng những kiệt tác hội họa cổ điển. Ông ta nhiều lần tìm cách tiếp cận quốc vương nước Bỉ Léopold II, song đều bị nhà vua lạnh nhạt, xa lánh. Trong lúc đang hận đời đen bạc, tình cờ Somsy đọc được bài báo trên tờ Indépendence Belge viết về “quốc vương” của xứ Sedang “giàu có và hùng mạnh”. Vui sướng như kẻ đắm tàu vớ được phao, Somsy nhờ một người bạn vận động để được ra mắt ngài. Với nhân vật này thì ông ta không phải thất vọng bẽ bàng nữa. Ngài Marie I khoan dung và nhân hậu sau khi giả vở suy nghĩ mấy ngày, cuối cùng cho phép Somsy được bệ kiến tại khách sạn Grand Hotel. Tới ngày hẹn, Somsy vui như mở cờ trong bụng, nhanh chân đến khách sạn Grand Hotel, ngồi chờ ở phòng khách. Theo lời một người hầu phòng, “quốc vương” đang bận tiếp ngài Đại sứ Anh quốc. Trong lúc Somsy vẫn còn hồi hộp thì “quốc vương” đã xuất hiện. Buổi tiếp kiến diễn ra vui vẻ, thuận lợi ngoài sức mong đợi của ông ta. Cuối cùng, sau những lời khẩn khoản tha thiết của ông ta, và sau một hồi suy nghĩ thật lâu, “quốc vương xứ Sedang” gật đầu nhận lời tham dự bữa tiệc do Somsy khoản đãi.

Ngày hôm đó, tiệc được tổ chức thật long trọng, theo nghi thức hoàng gia mà Somsy vừa được một người bạn tận tình hướng dẫn. Cuối bữa tiệc, de Mayréna ngồi hút xì-gà La Havana, ung dung kể cho Somsy và các nhà công kỹ nghệ nghe nhiều chi tiết hết sức thú vị về “vương quốc Sedang” của y. Y đánh hơi được đây là dịp tốt nhất để tung ra mẻ lưới cuối cùng trong cái xã hội có nhiều anh trưởng giả học làm sang. Và qua những gì y kể, vương quốc Sedang như một thiên đàng trên hạ giới, to lớn gấp … 10 lần nước Bỉ. 8 ngày sau bữa tiệc sơ giao, bằng một “chỉ dụ” ngài “quốc vương” Marie Đệ nhất tưởng thưởng cho Somsy huân chương Sainte-Marguerite và tấn phong ông ta chức Thủ tướng, đổi lại 200 ngàn quan mà Somsy đã vui lòng cung hiến cho ngài. “Chỉ dụ” của “quốc vương xứ Sedang” làm cho Somsy sướng mê hồn, ông ta cứ tơ tưởng mãi cái xứ sở thần tiên có hàng triệu thần dân, nơi ông ta có thể thực hiện bao nhiêu hoài bão của mình….

Kỳ cuối: Bi kịch cuối cùng của de Mayréna

Lê Nguyễn

27.6.2017

A picture containing text, old

Description automatically generated

A picture containing text, envelope, picture frame, stone

Description automatically generated

A picture containing text

Description automatically generated

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT –

“QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG

Kỳ cuối – BI KỊCH CUỐI CÙNG CỦA DE MAYRENA

Ngày 15.1.1890, người ta thấy một chiếc du thuyền cỡ 600 tonneau neo ở Steen, một bến tàu chính của hải cảng Anvers. Du thuyền mang tên Sachsen, treo một lá cờ màu xanh thêu những bông cúc trắng (của “vương quốc Sedang”) do “Nam tước” Somsy thuê để tham gia một chuyến hải hành dài ngày. Nhiều người Bỉ mặc trang phục du khách, trong đó có cả một vị thầy tu, quây quần ở cầu tàu, lắng nghe một nhóm hát dạo hát bài “quốc ca” của “vương quốc Sedang”. Cuối cùng, nhân vật quan trọng nhất là de Mayréna mới chịu xuất hiện trong bộ đại triều phục lộng lẫy. Trên đường y đi qua, mọi người nghiêng mình, cúi đầu cung kính, de Mayréna chào lại theo kiểu nhà binh.

“Triều đình” của y ngoài “nam tước” de Somsy, còn có vài thanh niên giàu có trong giới thượng lưu Bỉ, lòng khấp khởi vui mừng với triển vọng sắp sửa đặt chân lên một vùng đất hứa. Mấy phút sau, tàu Sachsen nhổ neo hướng về vùng Viễn Đông. Suốt chuyến đi, de Mayréna yêu cầu mọi người chấp hành triệt để mọi nghi thức cung đình, hẳn nhiên trừ trường hợp bất khả kháng do say sóng gây nên. Không rõ vì đâu trong câu chuyện kể, y vẫn kể rằng “hoàng hậu” Ahnaia đang nóng lòng chờ y ở “cung điện” Kon-Djeri. Điều này khiến “Nam tước” de Somsy, với tư cách Thủ tướng sẽ được bổ nhiệm, cảm thấy có bổn phận phải kín đáo gửi đi một bức điện chúc mừng “hoàng hậu”. Bức điện lại đi lạc qua Luân Đôn, lọt vào văn phòng ngoại vụ của triều đình nước Anh và được đệ trình cho Nữ hoàng Anh Victoria (trong ngôn ngữ Anh, Pháp, không có sự phân biệt giữa Nữ hoàng và Hoàng hậu). Bà hoàng khả kính của vương quốc Anh đọc xong bức điện đã được một phen cười nôn ruột.

Ngày 18.4.1890, tàu Sachsen đi vào cảng Singapore. Không ai đoán nổi tâm trạng de Mayréna lúc ấy ra sao. Y đang tiếp tục nghĩ ra những trò lừa ngoạn mục hay lo lắng cho âm mưu của y có thể bị phát hiện?

Chiếc sà-lúp đưa “quốc vương xứ Sedang” và “triều thần” cập bến Tandjonj-Pagar, neo lại giữa đám thuyền đông đảo của người Trung Hoa. Ai cũng trông chờ một niềm vui bất ngờ sẽ đến với họ. Nhưng bất ngờ thì có, còn niềm vui thì không. Vừa đặt chân lên đất Singapore, de Mayréna chạm trán ngay với một viên chức của tòa lãnh sự Pháp tại đây. Ông này cho biết viên lãnh sự muốn gặp y càng sớm càng tốt để thông báo một việc khẩn cấp. Y cố làm ra vẻ bình thản, sắp xếp cho những người đi theo ở trong khách sạn Ralph nằm trên đại lộ Nữ hoàng, rồi một mình đến lãnh sự quán Pháp. Viên lãnh sự tiếp y trong một cung cách lịch sự và thoải mái. Ông ta thông báo là theo lệnh của chính phủ Pháp, y bị truất quyền ở “vương quốc” của mình, và từ nay y không được léo hánh trở lại Đông Dương nữa. De Mayréna lên tiếng phản kháng, song viên lãnh sự cắt ngang, cho biết y đã bị kết tội phản quốc, tốt hơn hết là đừng nên để bị bắt trên các lãnh thổ của Pháp. Y tái mặt, nhưng cố tỏ vẻ bình thản, quay về khách sạn Ralph, triệu tập “quần thần” và phát biểu:

– Tòa lãnh sự Pháp vừa báo cho tôi một biết một biến cố nghiêm trọng đang diễn ra trên vương quốc của chúng ta: thần dân Sedang của tôi đang nổi loạn, cảvương quốc của tôi đang chìm trong lửa máu. Hiện giờ, chúng ta không thể đến đó ngay được. Tôi không muốn để cho các ông đến một nơi nguy hiểm, chết chóc như vậy. Nhưng phần tôi, tôi có trách nhiệm phải dẹp yên bạo loạn.Vì thế, trừ những người muốn quay về Bỉ, các ông có thể ở đây chờ lúc tôi quay lại đón các ông.

Các ông trưởng giả nghe cũng xuôi tai, dù trong chuyến đi, đôi lúc họ nghe qua một số phát ngôn đầy mâu thuẫn của ông vua này, lòng đã hơi nghi ngại, song viễn cảnh những mỏ vàng chưa được khai thác, những chức vị Bộ trưởng, Quốc vụ khanh … đã làm mờ lý trí họ. Một số người muốn liên lạc với lãnh sự quán Pháp để biết rõ thực hư, song bằng lòng trung thành tuyệt đối với “nhà vua”, de Somsy đã ngăn trở họ. Mặt khác, toàn bộ chi phí chuyến đi do nhà cự phú de Somsy đài thọ, giấc mơ khanh tướng và làm giàu của họ dù có tan thành mây khói, họ cũng có dịp nhìn ngắm cảnh non xa xứ lạ mà chẳng tốn một đồng xu nào, kể cũng hời chán. Họ tham gia nhiều thú vui khác tại Singapore rồi sau đó lên tàu Sachsen quay mũi trở về Bỉ. Có điều là lần này, trên cột buồm của tàu không còn phấp phới lá quốc kỳ của “vương quốc Sedang” nữa.

Tình huống bất ngờ tại Singapore đẩy de Mayréna vào tình thế tuyệt vọng, cái chính phủ mà y tận tâm phục vụ trong một sứ mạng hết sức khó khăn đã quay lưng hoàn toàn lại với y, không chừa cho y một lối thoát nào hết. Mấy trăm franc còn sót lại trong túi quá ít ỏi so với cuộc sống cam go trước mắt. Có lúc y nghĩ đến việc quyên sinh, nhưng lại cho rằng giờ phút cuối của đời mình chưa đến. Y lánh mặt những ông trưởng giả người Bỉ cho đến khi chiếc tàu chở họ tách bến ra khơi, quay về châu Âu. Y lang thang trên đường phố Singapore, bữa nọ đang mải mê nhìn ngắm ông thợ hớt tóc lấy ráy tai khách hàng thì một bàn tay lạ đặt lên vai y. Y quay lại nhìn, bắt gặp gương mặt quen thuộc của Villeroy, một tay yêng hùng trong băng Winchesters y đã quen ở Hà Nội, người đã cùng y trói gã Tàu Akon bỏ lại trên đảo Hải Nam. Tay bắt mặt mừng, họ dắt tay nhau vào quán cafe kể lể chuyện đời. Villeroy cho biết sau khi chia tay với de Mayréna, anh ta đến đảo Tioman trong vịnh Thái Lan kiếm sống bằng nghề đi gỡ tổ chim yến bán lại cho thương buôn người Tàu. Thỉnh thoảng anh ta đi Singapore chơi, tiêu pha bằng những đồng tiền kiếm được. Trong tình thế cùng cực, de Mayréna dễ dàng thuận theo đề nghị của Villeroy, theo anh ta đên sinh sống trên đảo Tioman để xây dựng một cuộc sống mới.

Villeroy sống trong làng Péwing nằm ở phía đông đảo Tioman, nơi chỉ có một số túp lều của dân chài ven biển. Ngôn ngữ của người Mã Lai ở đây có những nét tương đồng với ngôn ngữ Djarai nên de Mayréna không khó khăn lắm trong việc sống hòa đồng với họ. Ở chung với Villeroy một thời gian ngắn, y mua túp lều của một ngư dân vừa qua đời để sống riêng. Phát hiện trên đảo có nhiều chim seo cờ (Paradis, còn gọi là chim Thiên đường), lông ban rất cao giá trên thị trường, de Mayréna dẫn chú chó Auguste lặn lội trong rừng sâu tìm chúng. Cuộc sống bình ổn dần, tạo điều kiện cho y có nhiều thời gian để sống với những hồi ức đã qua. Y thường kể cho ngư dân trên đảo rằng y nguyên là một quốc vương, sau một cuộc đảo chánh, đã bị đuổi ra khỏi vương quốc, tạm chấp nhận cuộc đời lang bạt, tìm cơ hội trở về “giải phóng” xứ sở. Những người Mã Lai trên đảo tỏ ra khâm phục y lắm, nên dù cho râu tóc y đã điểm bạc khá nhiều, ông trưởng làng cũng cố nài ép y cho ông ta có được cái vinh dự gả cho y cô ái nữ tên Tun-Tedja vừa tròn … 12 tuổi. Sinh vật bé nhỏ và tội nghiệp đó đã sống với y như với một người bạn vong niên, chiều chiều trước ngôi nhà nhỏ cùng nhau chơi bóng “roga” hoặc chơi “gassing”.

Lâu dần cuộc sống êm đềm trên một hòn đảo yên bình dễ khiến một người hiếu động, ưa phiêu lưu như de Mayréna cảm thấy tù túng. Một lần nữa, hình ảnh núi rừng Tây nguyên lại ám ảnh tâm trí y. Ngựa quen đường cũ, y lại viết những lá thư với niên hiệu đề sẵn: “Marie Ier – Năm thứ ba”. Một ngày nọ, nhân chuyến đi Singapore bán lông chim, y gửi một bức điện cho hoàng đế Guillaume nước Đức, chúc mừng sinh nhật ngài, đồng thời nhắc ngài về việc bảo hộ vương quốc Sedang. Bức điện không sử dụng mật mã nên bị chặn lại ở Sài Gòn và viên toàn quyền Đông Dương xem đây là một vấn đề nghiêm trọng. Ông ta cho đăng trên tất cả các tờ báo phát hành ở Nam kỳ những bài viết nhắc lại tội “phản quốc” của de Mayréna. Bạn bè cũ của y đâm ra hốt hoảng, mang đốt sạch các bằng cấp, huân chương được y cấp trước đấy. Ở Paris, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm lưu ý các chính phủ ở châu Âu là những điện tín, thư từ mà de Mayréna có thể sẽ gửi đến họ cần được xem là sản phẩm tưởng tượng của một gã … khùng điên. Đồng thời Bộ này cũng yêu cầu viên Thống đốc Anh ở Pahang đang giữ trách nhiệm bảo hộ đảo Tioman hãy giám sát tên “phản quốc” dùm.

Trong tình thế đó, de Mayréna rơi vào một trạng thái trầm cảm nặng nề. Tính khí y tỏ ra thất thường, nhiều lúc giận dữ vì những chuyện không đâu. Tưởng tượng rằng chính quyền Anh có thể bắt giữ mình để giao cho Pháp bất cứ lúc nào, y củng cố căn lều đang ở, biến thành một pháo đài kiên cố. Y không đi ra ngoài nữa và chĩa súng vào bất cứ ai có ý định đến gần y, kể cả Villeroy và cô vợ trẻ Tun Tedja. Y sống như thế trong hai tháng, người ngày một gầy xọp đi. Ban đêm, y ra bờ biển, lang thang trên bãi cát, hươ tay múa chân, độc thoại với chính mình. Nhiều người trắc ẩn, sợ rằng y không thể kéo dài một cuộc sống như thế lâu hơn. Một ngày nọ, viên sĩ quan Anh tên Owen được Thống đốc Pahang giao nhiệm vụ giám sát y đi tàu đến Tioman. Ông ta đến trước lều của y, nói vọng vào:

– Tâu quốc vương, bệ hạ có vui lòng mở cửa cho hạ thần không?

Giọng nói của con người không quen biết đó trầm ấm, đầy tình cảm khiến de Mayréna xiêu lòng, y mở cửa cho Owen vào nhà. Câu chuyện nổ ra, đầy mối đồng cảm, de Mayréna mời Owen ở lại qua đêm với mình.

Ngày hôm sau, một cơn bão kéo đến Tioman, biển động mạnh, Owen không trở về Pahang được, đành ở lại thêm với de Mayréna. Rạng sáng, cơn bão tan, Owen ở lại nhà chờ, còn y dẫn con chó vào rừng. Hai giờ sau, y trở về nhà, nói với viên sĩ quan Anh bằng giọng nói bình thản:

– Tôi đã bị con rắn tedong-hiar cắn vào chân

Chỉ nghe đến đó, Owen đã nhảy dựng lên. Biết ý, de Mayréna tiếp tục:

– Anh cũng biết đấy, chừng hai tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ chết. Từ giờ đến đó, xin anh đừng bỏ tôi.

Owen cố dằn sự xúc động:

– Có thể dân làng có thuốc giải nọc độc.

– Không có gì giải được nọc độc của rắn tedong-hiar, hãy để định mệnh an bài. Khi tôi yêu cuộc sống, tôi cũng chẳng bao giờ sợ chết.

Owen nói sau một hồi im lặng:

– Anh có giấy tờ gì để lại cho ai không?

De Mayréna do dự một thoáng rồi trả lời:

– Không có gì cả. Tôi đã xé bản di chúc tôi làm hôm qua. Khi một người như tôi qua đời trên đảo Tioman, tôi phải chết trọn vẹn.

Y bắt đầu lạnh hai chân, vội nằm dài trên chiếu, nhờ Owen đắp chăn cho.Viên sĩ quan Anh ngồi trên một chiếc ghế mây, nhìn qua khung cửa sổ. Mặt biển màu vàng lưu huỳnh, báo hiệu một cơn bão sắp kéo đến. Cô bé Tun-Tedja đang vừa hát, vừa thu dọn thóc trước nhà bố mẹ. Trong khi đó, con chó Auguste tru lên một giọng điệu thê thiết. De Mayréna nằm bất động, đôi mắt hướng về một thế giới nào xa lắc, nơi không còn hạnh phúc, khổ đau hay những điều dối trá. Khoảng 10 giờ sáng, y trải qua một cơn co giật. Owen bước lại gần, nắm tay y siết nhẹ. Y không còn nói được nữa vì lưỡi đã cứng đờ. Rời bàn tay Owen, y quay sang một bên, thở hắt lần cuối cùng.

***

Nhiều giả thuyết được xây dựng quanh cái chết của de Mayréna, “quốc vương xứ Sedang”. Người ta đồn là y ngã gục dưới những nhát dao găm lưỡi xoắn của một thanh niên trong làng đang thầm yêu trộm nhớ Tun-Tedja. Cũng có tin là người nấu bếp cho y được tổ chức Thiên Địa Hội của người Trung Hoa thuê đầu độc y để trả thù việc y và Villeroy mưu sát lão già Tàu cho vay nặng lãi Akon. Một bài báo đăng trên tờ Le Petit Journal thì viết rằng de Mayréna tự sát trong một phút điên cuồng sau khi có ý định mưu sát Villeroy. Tuy nhiên, không ai tận mắt chứng kiến cái chết của y ngoài anh sĩ quan cảnh sát Anh, và Owen đã lập một giấy chứng tử đề ngày 11.11.1890 xác nhận y chết vì nọc độc của một con rắn tedong-hiar. Ngày 28.11.1890, Owen gửi một bản dịch giấy chứng tử cho lãnh sự quán Bỉ. Nhiều người tỏ ra ngạc nhiên về điều này vì không thấy Owen gửi bản dịch giấy chứng tử cho lãnh sự quán Pháp, vì de Mayréna có quốc tịch Pháp. Cũng không loại trừ khả năng chính quyền Pháp bí mật nhờ người Anh, mà đại diện là Owen, mượn cớ giám sát de Mayréna để khử y cho khỏi phải bận tâm về những chuyện bốc đồng mà y có thể tiếp tục gây ra.

Dù với lý do nào thì cuộc đời của một con người nửa đáng thương, nửa đáng trách đó cũng đã thật sự kết thúc ở hòn đảo hẻo lánh Tioman. Owen an táng y ở một nghĩa trang nhỏ dành cho kiều dân châu Âu. Đất Tioman mở lòng nhân hậu đón y, kẻ lạc loài đã lê bước chân khắp trời Âu – Á, cuối cùng đành chôn vùi theo mình những ước mơ của một thời phiêu bạt.

HẾT

Lê Nguyễn

5.7.2017

Không có mô tả ảnh.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

10 món ngon ở Italy nhưng ít nổi tiếng

https://vnexpress.net/10-mon-ngon-o-italy-nhung-it-noi-tieng-4470821.html

Những món ăn này được dân địa phương đánh giá ngon và tự hào không kém pizza hay spaghetti, nhưng không được nhiều du khách biết đến.

Dưới đây là danh sách 10 món ăn được người dân địa phương yêu thích và tự hào không kém Pizza hay mỳ Spaghetti, nhưng không được nhiều du khách biết đến, theo gợi ý từ CNN.Pasticcio là một trong những món ăn có từ thời Phục hưng của thành phố Ferrara vẫn được người dân sử dụng cho đến ngày nay. Món ăn gây ấn tượng vì nó là sự pha trộn giữa món ngọt và mặn. Trên thực tế, nó là một chiếc bánh chứa đầy phô mai, mì ống macaroni, thịt hầm và nước sốt bechamel. Vỏ bánh làm từ bột mì và có vị ngọt, còn phần nhân mang vị mặn đậm đà, béo ngậy. Ảnh: Turismo
Pasticcio là một trong những món có từ thời Phục hưng của thành phố Ferrara, và vẫn được người dân ăn ngày nay. Nó gồm một chiếc bánh chứa đầy phô mai, mì macaroni, thịt hầm và nước sốt bechamel. Vỏ bánh làm từ bột mì, ngọt, còn phần nhân mang vị mặn, đậm đà, béo ngậy. Ảnh: Turismo
Penne alla norcina
Penne alla norcina là đặc sản của vùng Umbria, với mì ống được cuộn trong kem, trộn lẫn xúc xích Norcia cổ điển (đã được nấu với hành tây và rượu trắng trước khi cắt nhỏ trộn với mỳ), và phô mai pecorino. Món ăn được miêu tả là “tinh tế” và “ngon miệng”. Ảnh: Adobe Stock
Ghé thăm Venice vào cuối mùa xuân (tháng 5) hoặc đầu mùa thu, bạn không chỉ cảm thấy mình thật may mắn vì nơi đây không phải mùa cao điểm du lịch, mà vì còn đến đúng mùa moeche. Đây là tên gọi của những con cua nhỏ đang đến giai đoạn lột vỏ, được đánh bắt từ đầm phá. Ngư dân thường thu hoạch loài cua này trên đảo Burano, Giudecca và Chioggia. Moeche thường được chiên và ăn nguyên con, đầu bếp sẽ nhúng chúng vào bột mì trộn trứng trước khi chiên. Khi ăn, thực ăn ăn kèm với lát chanh. Ảnh: Adobe stock
Ghé thăm Venice vào cuối mùa xuân (tháng 5) hoặc đầu mùa thu, bạn không chỉ cảm thấy mình thật may mắn vì thời điểm này ít khách du lịch, mà vì còn đến đúng mùa moeche. Đây là tên gọi của những con cua nhỏ đang đến giai đoạn lột vỏ, được đánh bắt từ đầm phá. Ngư dân thường thu hoạch loài cua này trên đảo Burano, Giudecca và Chioggia. Moeche thường được ăn nguyên con, đầu bếp sẽ nhúng chúng vào bột mì trộn trứng trước khi chiên. Khi ăn, thực khách dùng kèm với chanh. Ảnh: Adobe stock
Tagliatelle fritteBạn không thể đến Bologna mà không ăn tagliatelle al ragu. Tagliatelle fritte theo nghĩa đen là mì tagliatelle được chiên giòn - sau đó tẩm đường với vỏ cam và chanh để tạo mùi thơm. Ảnh: Adobe Stock
Sẽ thật thiếu sót nếu đến thành phố Bologna mà không ăn tagliatelle fritte. Tagliatelle fritte theo nghĩa đen là mì tagliatelle được chiên giòn, sau đó tẩm đường và phục vụ cùng vỏ cam hoặc chanh để tạo mùi thơm. Đây là món tráng miệng mà người dân địa phương thường làm trong các lễ hội đường phố trong vùng. Ảnh: Adobe Stock
Thoạt tiên, bò hầm nghe có vẻ như không phải là món ăn quá ngon hay quá nổi bật để bạn phải lựa chọn ăn đầu tiên khi đi du lịch. Nhưng nếu bạn đang ở Rome, hãy nhớ gọi Coda alla vaccinenara. Đó sẽ là món đuôi bò ngon nhất mà bạn từng nếm thử, khi chúng được om nhiều giờ trong nước sốt cà chua và rượu vang. Ảnh: Adobe Stock
Nếu đang ở Rome, hãy nhớ gọi coda alla vaccinenara. Đó sẽ là món đuôi bò hầm ngon nhất mà bạn từng nếm thử, khi chúng được om nhiều giờ trong nước sốt cà chua, cần tây, nhiều loại rau địa phương và rượu vang, theo đánh giá từ CNN. Ảnh: Adobe Stock
Tại vùng Sardinia, mọi người ăn thực phẩm tươi theo mùa và dùng mật ong thay đường. Một trong những món ăn nổi tiếng nhất ở đây là Seada, loại bánh có vỏ làm từ bột được chiên giòn, nhân phô mai percorino chua, ăn cùng vỏ chanh và lớp mật ong bọc bên ngoài. Món ăn được đánh giá là tinh thế một cách đáng ngạc nhiên. Nếu nói về những món ăn lành mạnh nhất của Italy, Seada luôn là cái tên đầu tiên được người dân địa phương nhắc đến. Ảnh: Adobe Stock
Tại vùng Sardinia, mọi người sử dụng thực phẩm tươi theo mùa và mật ong thay đường. Một trong những món ăn nổi tiếng nhất ở đây là seada, loại bánh có vỏ làm từ bột được chiên giòn, nhân phô mai percorino chua, ăn cùng vỏ chanh thái nhỏ và lớp mật ong bọc bên ngoài. Món ăn được đánh giá là “tinh thế một cách đáng ngạc nhiên”. Nếu nói về những món ăn lành mạnh nhất của Italy, Seada luôn là cái tên đầu tiên được người dân nhắc đến. Trước đây, nó thường được ăn trong các dịp như lễ Phục sinh, Giáng sinh. Nhưng hiện tại, món ăn được chế biến quanh năm. Ảnh: Adobe Stock
Người Italy không quá ưa chuộng xu hướng vừa đi vừa ăn trên đường. Nhưng họ lại dành ngoại lệ cho Arrosticini - món thịt cừu xiên nướng xuất hiện trong các xe bán đồ ăn ở vùng Abruzzo, miền trung nam đất nước. Thịt cừu được đặt xen kẽ với mỡ, nướng lên thơm giòn, ngon ngọt và béo ngậy sẽ là một món ăn mà du khách không nên bỏ lỡ. Ảnh: Adobe Stock
Người Italy không quá ưa chuộng xu hướng vừa đi vừa ăn trên đường. Nhưng họ lại dành ngoại lệ cho arrosticini – món thịt cừu xiên nướng xuất hiện trong các xe bán đồ ăn ở vùng Abruzzo. Thịt nạc được đặt xen kẽ với mỡ, nướng lên thơm giòn, ngon ngọt và béo ngậy. Ảnh: Adobe Stock
Potato-potahto, món mì nhồi thịt tẩm bơ, là một trong những món ăn ngon nhất vùng Lombardy.
Casoncelli là đặc sản đến từ vùng Lombardy, được biết đến là một loại mỳ nhồi có vỏ là sợi mỳ gập lại dài khoảng 4 cm, bên trong nhân thịt xay với vụn bánh mì, phô mai… Nếu phục vụ những người ăn chay, nhân thịt được thay thế bằng nhục đậu khấu. Thay vì phủ lên chúng một loại nước sốt, người ta dùng bơ. Ảnh: Adobe Stock
Passatelli là một loại mì ống được làm từ vụn bánh mì có trứng làm chất kết dính và phô mai parmesan để dậy mùi thơm. Chúng là đặc sản đến từ vùng miền nam Emilia-Romagna và miền bắc Marche, ở tỉnh Pesaro và Urbino. Ngày nay, bạn có thể tìm thấy món ăn này ở khắp mọi miền đất nước. Ảnh: Adobe Stock
Trong hàng trăm phiên bản mỳ ống, passatelli là một trong những món hấp dẫn nhất, được làm từ vụn bánh mì, thay vì bột mì, kết hợp cùng trứng để kết dính và phô mai parmesan tạo mùi thơm. Bột được cắt nhỏ thành những đoạn dài bằng hai đốt ngón tay, hình tròn, gần giống hình con sâu. Vì món ăn có sẵn hương vị đầm đà, nên đầu bếp chỉ rưới lên chúng nước dùng đơn giản. Ngoài ra, thực khách có thể ăn món này ở dạng khô, không có nước. Ảnh: Adobe Stock
Cá mòi khô là một đặc sản của vùng hồ Iseo của vùng Lombardy, dù trên thực tế, đó là những con cái sống trong hồ có tên gọi là agone. Dù vậy, người dân vẫn gọi chúng là cá mòi, vì có mùi tương tự giống cá này.Trên Hồ Iseo của Lombardy, cá mòi không giống như những loài bạn sẽ tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác. Đó là một phần bởi vì chúng không hoàn toàn là cá mòi như chúng ta biết - chúng là một loại cá hồ được gọi là agone, mặc dù người dân địa phương gọi chúng là cá mòi (và họ cũng có mùi vị như chúng).Chúng được ngư dân của Monte Isola, hòn đảo giữa hồ, đánh lưới, sau đó treo lên móc để phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Đó là một truyền thống được cho là có từ hơn 1.000 năm trước, khi tu viện Santa Giulia ở Brescia gần đó yêu cầu đánh bắt cá mòi khô hàng năm. Ngày nay, bạn có thể nhìn thấy khô cá khi đi dọc theo con đường ven biển bên ngoài Monte Isola, và sau đó ăn chúng tại các nhà hàng ven biển - theo truyền thống, khô cá được phục vụ với polenta.
Cá mòi khô là một đặc sản của hồ Iseo, vùng Lombardy. Chúng được ngư dân sống ở Monte Osola, hòn đảo giữa hồ, đánh bắt, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Đây là truyền thống ướp cá có từ hơn 1.000 năm trước. Ngày nay, bạn có thể nhìn thấy cảnh phơi cá phổ biến này khi đi dọc theo con đường ven biển bên ngoài Monte Isola. Thực khách cũng có thể dễ dàng thưởng thức đặc sản trên khi ghé thăm các nhà hàng địa phương. Ảnh: Adobe Stock

Cicchetti – món ăn chơi ở Venice

https://vnexpress.net/cicchetti-mon-an-choi-o-venice-4458431.html

Cicchetti là tên gọi chung của những món ăn nhẹ, với miếng bánh mì nhỏ và đồ ăn kèm phía trên.

Nếu yêu cầu người dân Venice định nghĩa cicchetti, bạn sẽ nhận được nhiều đáp án. Bởi đây là món ăn nhẹ, gồm một miếng bánh mì nhỏ với đồ ăn kèm phía trên. Đồ ăn kèm có thể gồm rất nhiều, thay vì cố định một vài thành phần. Ban đầu, nó gồm các topping đơn giản như bạch tuộc, trứng luộc, cá cơm… sau đó được biến tấu thêm nhiều loại hải sản, thịt viên chiên… xiên qua bằng tăm.

Cicchetti không đắt, khoảng 1 - 5 euro, tùy thuộc vào thành phần. Ảnh: TripAdvisor
Cicchetti không đắt, khoảng 1 – 5 euro, tùy thuộc vào thành phần. Ảnh: TripAdvisor

Ở một thành phố kênh rạch chằng chịt với những lối đi bộ cổ điển, nhâm nhi một ly đồ uống và ăn cicchetti, tán gẫu cùng bạn bè trong quán bar là phần không thể thiếu trong cuộc sống người địa phương. Nếu là khách du lịch, lang thang cả ngày, đây cũng là đồ ăn bạn nên mua mang theo.

“Bạn sẽ không thể về nhà sau khi tan tầm mà không dừng lại nhâm nhi đồ uống và ăn nhẹ, gặp gỡ bạn bè, cập nhật tin tức trong ngày. Cicchetti là chất keo dính kết người Venice lại với nhau”, nhà sản xuất mặt nạ nổi tiếng Sergio Boldrin nói.

Người Venice có thể ăn cicchetti như món tráng miệng trước bữa tối, hoặc gọi nhiều loại để ăn bữa trưa muộn. Nếu muốn thử vài địa chỉ khác nhau, bạn hãy ghé quán vào chiều muộn, vì rất nhiều nơi đóng cửa vào khoảng 19-20h. Những quán bán cicchetti được gọi là bacari – bar kiểu địa phương, phục vụ từ cà phê sáng đến rượu truyền thống grappa.

Mỗi chiếc cicchtetto đều là sáng tạo riêng của các đầu bếp. Món ăn nhẹ này được coi như một phần linh hồn của Venice. Người Venice không thích uống rượu khi đói. Vì vậy, món ăn nhẹ này ra đời. Nó bắt đầu từ tiếng latin “ciccus” có nghĩa là “lượng nhỏ”.

Cantinone Gia Schiavi là một trong những quán rượu bán cicchetti nổi tiếng. Ảnh: La Cucina Italiana
Cantinone Gia Schiavi là một trong những quán rượu bán cicchetti nổi tiếng. Ảnh: La Cucina Italiana

Một trong những quán bar có cicchetti ngon nổi tiếng là Schiavi ở quận Dorsoduro. Quán từng là hầm rượu vào cuối thế kỷ 19. Ngày nay, nhà hàng phục vụ hàng chục loại cicchetti tươi, và 25 loại rượu vang. Bạn sẽ thấy chủ quán, Alessandra De Respinis, đứng sau quầy mỗi sáng, trò chuyện với du khách trong khi tay vẫn đều thoăn thoắt chuẩn bị đồ ăn.

De Respinis bắt đầu trông nom quán ăn nhỏ từ 1970, sau khi bố chồng qua đời và chồng bà tiếp quản công việc gia đình. Bà mở rộng thực đơn cicchetti và dồn hết tâm huyết để quán được nhiều người biết đến nhờ đồ ăn ngon. Ngày nay, ở tuổi 70, De Respinis vẫn thích tự tay phục vụ món ăn mặn này cho khách, dù có con cháu hỗ trợ. Dưới bàn tay của bà, thực đơn khoảng 70 loại cicchetti ra đời. Loại nổi tiếng nhất là cá ngừ trộn với với lòng đỏ trứng, nụ bạch hoa, sốt mayonnaise, mùi tây, rắc ca cao đắng.

Ristorante Local cũng là một lựa chọn khác cho thực khách. Quán được trao sao Michellin, và chỉ phục vụ thực đơn nếm thử (từng món chỉ được phục vụ với lượng nhỏ, chỉ đủ một suất một người). Các món cicchetti ở đây được thay đổi liên tục và lấy cảm hứng từ các nguyên liệu địa phương có sẵn.

Một số gợi ý khác cho thực khách là Ae Do Spade tại San Polo, mở cửa từ khoảng thế kỷ 15 và cổ nhất là Cantina Do Mori có từ năm 1462.

Posted in Uncategorized | Leave a comment