Jacques Prévert và “Les feuilles mortes”

Jacques Prévert sinh năm 1900 trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu tại Neilly-sur-Seine gần thủ đô Paris của nước Pháp, có một người anh trai chết sớm vì bệnh thương hàn nên rất được cha mẹ yêu thương và có một thời thơ ấu rất êm đềm. Cha ông làm việc ở Trung tâm Cứu trợ người nghèo ở Paris, thường dẫn ông theo những khi thăm viếng những gia đình nghèo nên ông đã sớm có mối đồng cảm với những người thuộc tầng lớp lao động và những người kém may mắn trong cuộc sống. Ngoài công việc ở Trung tâm Cứu trợ, cha ông còn làm thêm công việc phê bình những vở kịch ở nhà hát cho một số tờ báo ở địa phương nên thường dẫn ông đi xem hát và thế giới sân khấu đầy sắc màu đã sớm kích thích trí tưởng tượng của ông. Ông đã thấy chán ngán không khí buồn tẻ trong trường học nên đã bỏ học sớm khi mới 14 tuổi và về sau, ông tự hào kể rằng chính đường phố đã dạy dỗ ông nên người.

Năm 1920, ông đi quân dịch và trong thời gian đóng quân ở Lunéville, miền Đông nước Pháp, làm quen với Yves Tanguy, một người bạn về sau sẽ trở thành một họa sĩ theo trường phái Siêu thực, rồi năm sau, khi chuyển đến thành phố Constantinople của Thổ Nhĩ Kỳ lại làm quen thêm với Marcel Duhamel, một người bạn về sau sẽ trở thành một nhà văn nổi tiếng. Sau khi xuất ngũ, Prévert và hai người bạn thân trở về Paris, bắt đầu một cuộc sống lang bạt phóng túng tại khu Montparnasse gần Paris, một nơi có nhiều văn nghệ sĩ của kinh đô ánh sáng. Sau khi kết hôn với người bạn gái Simone Dienne, ông và hai người bạn được giới thiệu tham gia nhóm Siêu thực của những nhà thơ trẻ tuổi chống lại những ước lệ trong xã hội và trong nghệ thuật và mặc dù không trở thành một trong những thủ lĩnh của nhóm nhà thơ trẻ có tinh thần cấp tiến này, ông đã mang lại nhiều cảm hứng cho những người bạn nhờ óc khôi hài và tính tình phóng khoáng. Sự liên kết của ba người bạn với nhóm Siêu thực chấm dứt vào năm 1928 do bất đồng ý kiến trầm trọng với André Breton, một trong những thủ lĩnh của nhóm Siêu thực. Prévert vào làm việc cho một công ty quảng cáo và bắt đầu sáng tác thơ.

Thiện cảm với những người cánh tả đã đưa Prévert đến với Nhóm Tháng Mười (Groupe Octobre), một nhà hát vốn có mối liên hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp và trong một thời gian ngắn, ông đã viết những vở kịch pha trộn tinh thần tự do của phái Siêu thực với quan điểm chính trị của cánh tả. Năm 1933, ông theo Nhóm Tháng Mười sang Liên Xô dự buổi ra mắt vở kịch “Trận chiến Fontenoy” (La Bataille de Fontenoy) do ông sáng tác và bắt đầu viết một số ca khúc cho những ca sĩ như Marianne Oswald. Giữa thập niên 1930, Prévert hợp tác với một số đạo diễn điện ảnh như Jean Renoir, Marcel Carné, viết kịch bản phim và lời thoại. Thời kỳ này, ông chia tay với người vợ đầu Simone Dienne và bắt đầu yêu Jacqueline Laurent. Năm 1936, Nhóm Tháng Mười tan rã và bài thơ “Thập tự giá trên không trung” (La Crosse en l’ air) của ông ra mắt độc giả. Năm 1940, khi phát xít Đức chiếm nước Pháp, ông chuyển về miền Nam, tiếp tục cộng tác với các đạo diễn để thực hiện một số bộ phim.

Đỉnh cao trong sự nghiệp thi ca của Prévert là năm 1945, khi Thế chiến thứ hai vừa kết thúc: sau khi bài thơ “Những đứa con của thiên đường” (Les Enfants du paradis) ra mắt, ông cho ấn hành “Paroles”, một tuyển tập thơ rất thành công, bán được nửa triệu bản. Nhà phê bình Lawrence Ferlinghetti nhận định rằng “thơ của Prévert nói với những người trẻ tuổi ở Pháp ngay sau khi cuộc chiến vừa kết thúc, những người đã lớn lên trong thời kỳ nước Pháp bị chiếm đóng, cảm thấy hoàn toàn xa lạ với Giáo hội và chính quyền”, còn nhà phê bình nổi tiếng Gaeton Picon đã gọi ông là “nhà thơ đích thực duy nhất cho tới lúc này đã thành công trong việc vượt qua biên giới của một công chúng thơ hạn hẹp và chuyên biệt”. Thơ của Prévert đã nổi tiếng khắp nơi từ khi Joseph Kosma hợp tác với ông để phổ nhạc một số bài thơ trong tập “Paroles”.

Năm 1951, ông cho in “Spectacle”, một tuyển tập thơ và kịch, rồi 4 năm sau cho in tiếp tập thơ “La pluie et le beau temps” (1955). Năm 1955, ông trở về Paris và đã nổi tiếng đến mức những người lạ mặt gặp ông ngoài đường đã tới chào ông và đọc thuộc lòng cho ông nghe những câu thơ của ông. Sau một thời gian bị bệnh, ông từ trần ngày 11 tháng 4 năm 1977 ở Normandie và người bạn của ông là đạo diễn Marcel Carné đã gọi ông là “nhà thơ duy nhất của điện ảnh Pháp mà khí chất và thơ đã nâng được những điều tầm thường lên đỉnh cao của nghệ thuật”.

Bài thơ nổi tiếng nhất của Jacques Prévert là bài thơ “Les feuilles mortes” ông viết để làm lời ca cho một bản nhạc trong một bộ phim của Marcel Carné. Năm 1945, đạo diễn Marcel Carné rất yêu thích vở ballet “Cuộc hẹn” (Le Rendez-vous) của Roland Petit và có ý định chuyển thể thành một bộ phim nên đã nhờ Jacques Prévert viết kịch bản và đặt lời cho bản nhạc nhạc sĩ Joseph Kosma đã soạn cho các diễn viên múa. Trong bộ phim ra mắt năm 1946 với cái tên “Những cánh cửa của đêm tối” (Les portes de la nuit), một bộ phim thất bại hoàn toàn về doanh thu, hai nhân vật chính Diego (Yves Montand đóng) và Malou (Nathalie Nattier đóng) chỉ hát vài câu trong bản nhạc của Joseph Kosma với cái tên “Les feuilles mortes” (Lá thu) và ai cũng ngỡ nó sẽ nhanh chóng bị lãng quên như bộ phim, nhưng điều bất ngờ là ca từ thấm đượm chất thơ của Jacques Prévert và giai điệu cuốn hút đã giúp cho nó có được một đời sống độc lập với bộ phim suốt nhiều năm sau đó.

“Les feuilles mortes” là lời tâm sự của một người đàn ông với người yêu của “những ngày hạnh phúc”, thuở hai người còn ở bên nhau, cùng nghe một bài hát cũng thiết tha như tình cảm dành cho nhau, thấy cuộc sống ở chung quanh thật tươi đẹp và nắng vàng thật rực rỡ. Rồi cuộc sống đã làm cho hai người phải chia tay âm thầm, lặng lẽ, gió lạnh của mùa đông đã thổi về, nhưng ở nơi thẳm sâu của tâm hồn người đàn ông, “tình yêu thầm lặng và thủy chung vẫn nở nụ cười rạng rỡ” và vẫn còn lại mãi hình ảnh cô gái xinh đẹp không thể nào quên:

Oh, je voudrais tant que tu te souviennes,
Des jours heureux quand nous étions amis,
Dans ce temps là, la vie était plus belle,
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’hui.
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Tu vois je n’ai pas oublié.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Les souvenirs et les regrets aussi,
Et le vent du nord les emporte,
Dans la nuit froide de l’oubli.
Tu vois, je n’ai pas oublié,
La chanson que tu me chantais…

C’est une chanson qui nous ressemble,
Toi qui m’aimais, moi qui t’aimais.
Nous vivions, tous les deux ensemble,
Toi qui m’aimais, moi qui t’aimais.
Et la vie sépare ceux qui s’aiment,
Tout doucement, sans faire de bruit.
Et la mer efface sur le sable,
Les pas des amants désunis.

Nous vivions, tous les deux ensemble,
Toi qui m’aimais, moi qui t’aimais.
Et la vie sépare ceux qui s’aiment,
Tout doucement, sans faire de bruit.
Et la mer efface sur le sable,
Les pas des amants désunis…

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon amour silencieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie
Je t’aimais tant, tu étais si jolie,
Comment veux-tu que je t’oublie?

En ce temps-là, la vie était plus belle
Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’hui
Tu étais ma plus douce amie
Mais je n’ai que faire des regrets
Et la chanson que tu chantais
Toujours, toujours je l’entendrai.

(Anh mong rằng kỷ niệm của đôi ta
Sẽ đọng mãi trong tâm hồn đôi ta
Những niềm vui và biết bao hạnh phúc
Ôi cuộc đời thuở ấy đẹp làm sao!
Mặt trời rực sáng hơn ngày hôm nay
Những chiếc lá khô rụng đầy trước ngõ
Ta gom những chiếc lá khô cho vào trong xẻng
Em thấy không, anh vẫn chưa quên

Ta gom những chiếc lá khô cho vào trong xẻng
Cùng niềm vui, hạnh phúc xa xưa
Và cơn gió lạnh lùng mang chúng
Vào trong đêm tối của lãng quên
Em thấy không, anh vẫn chưa quên
Bài hát yêu xưa mà em từng hát.

Bài hát ấy như cuộc đời chúng ta
Cũng đôi lứa yêu nhau tha thiết
Cũng bên nhau và đắp xây mộng đẹp
Nhưng cuối cùng nào có được bên nhau
Họ xa nhau cũng êm ái, ngọt ngào
Khi biển xoá những dấu chân trên cát
Để những đôi tình nhân không còn dấu vết gặp nhau.

Hai chúng ta đã từng bên nhau
Và từng yêu nhau tha thiết
Cùng bên nhau đắp xây mộng đẹp
Nhưng cuối cùng nào có được bên nhau
Họ xa nhau cũng êm ái, ngọt ngào
Khi biển xóa những dấu chân trên cát
Để những đôi tình nhân không còn dấu vết gặp nhau.

Ta gom những chiếc lá khô cho vào trong xẻng
Cùng niềm vui hạnh phúc xa xưa
Nhưng tình anh vẫn âm thầm lặng lẽ
Luôn bên em với niềm vui đợi chờ
Anh luôn thầm cảm ơn cuộc sống
Đã cho anh gặp em, người đẹp của anh
Hãy nói đi anh phải làm sao
Mới có thể quên đi hình ảnh ấy.

Cuộc đời thuở ấy đẹp làm sao
Mặt trời rực sáng hơn ngày hôm nay
Trong anh, em vẫn thơ ngây
Dù anh vẫn còn tiếc nuối
Bái hát yêu xưa mà em từng hát
Suốt cuộc đời anh vẫn còn nghe…)

Nhạc sĩ Johny Mercer đã đặt lời tiếng Anh với tựa đề “Autumn leaves”:
The falling leaves
Drift by the window
The autumn leaves
Of red and gold
I see your lips
The summer kisses
The sunburned hands
I used to hold
Since you went away
The days grow long
And soon I’ll hear
Old winter’s song
But I miss you most of all
My darling
When autumn leaves
Start to fall.

Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã đặt lời Việt cho ca khúc này với tựa đề “Lá thu phai”:

Vàng rơi dăm cánh dạt qua song vắng
Hồn mùa xa đỏ quạnh thu phong
Hạ tàn môi em nồng nàn trao
Cầm đôi tay ngoan sợ nắng phai dần
Từ xa khuất hình bóng ngày dài trông mong
Nghe chừng đông sang, lời hát âm vang
Lòng ray rứt mãi tiếc nhớ người vắng xa
Khi ngàn lá thu phong bắt đầu rơi
Tưởng bài hát cũ bền duyên đôi lứa
Tưởng em yêu tôi và tôi yêu em
Tình ngùn ngụt cháy tưởng như mãi mãi
Tưởng yêu không thôi mà mất nhau rồi
Mà ngăn cách dường ấy, tiếng đời phôi pha
Nghe từng lặng lẽ chìm khuất trong ta
Biển im vắng bỗng xôn xao dậy gió cát bay
Mà xóa dần dấu chân ai biết tìm ai.

Ca khúc “Les feuilles mortes” với giọng ca Francoise Hardy:
https://youtu.be/CrR4fVUd1cs

Ca khúc “Les feuilles mortes” với giọng ca Dalida:
https://youtu.be/IZzsHWsWFF0

Ca khúc “Autumn leaves” với giọng ca Doris Day:https://youtu.be/VZMD_2RZrm4

Ca khúc “Les feuilles mortes” với giọng ca Yves Montand:https://youtu.be/Xo1C6E7jbPw

Ca khúc “Les feuilles mortes” Yves Montand hát trong phim “Les portes de la nuit”:
https://youtu.be/JWfsp8kwJto

Ca khúc “Les feuilles mortes” với giọng ca Andrea Bocelli:
https://youtu.be/rvdIrcSxhKA

Ảnh: Jacques Prévert, thủ bút trong bài thơ “Les feuilles mortes” và poster phim “Les portes de la nuit”

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Không có mô tả ảnh.
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Sức mạnh hải quân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Không thể đăng 1 lần hết tất cả, sẽ cập nhật tài liệu thường xuyên
________________________________________________________________

I – Lực lượng hàng không mẫu hạm

1 – Hàng không mẫu hạm lớp Gerald R. Ford
– số lượng hiện tại: 1
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2017
– tình trạng sử dụng: chưa chính thức sẵn sàng

– lượng giãn nước: 103000 tấn
– dài: 337.1m
– rộng: 78m
– động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A1B, 4 động cơ hơi nước
– công suất: 700000shp
– tốc độ tối đa: lớn hớn 30 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– biên chế hải đoàn: 2600 người
– biên chếkhông đoàn: 2000 người

– cách thức vận hành: CATOBAR
https://en.wikipedia.org/wiki/CATOBAR
– máy phóng: 4 máy phóng điện từ

* Máy bay:
– 55 tiêm kích đa nhiệm F-35C Lightning II
– 4 máy bay tác chiến điện tử EA-18G Glowler
– 4 máy bay cảnh báo sớm E-2D Advance Hawkeye
– 6 trực thăng đa nhiệm MH-60S Knighthawk
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 3 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 4 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

2 – Hàng không mẫu hạm lớp Ronald Reagan (lớp con của Nimitz)
– số lượng hiện tại: 2
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2003
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 100000 tấn
– dài: 334.9m
– rộng: 78.3m
– động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 động cơ hơi nước
– công suất: 520000shp
– tốc độ tối đa: lớn hớn 30 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– biên chế hải đoàn: 3100 người
– biên chếkhông đoàn: 2500 người

– cách thức vận hành: CATOBAR
https://en.wikipedia.org/wiki/CATOBAR
– máy phóng: 4 máy phóng hơi nước

* Máy bay:
– 36 tiêm kích đa nhiệm F-18E Super Hornet
– 12 tiêm kích đa nhiệm F-18C Hornet
– 6 máy bay tác chiến điện tử EA-18G Glowler
– 6 máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye
– 2 máy bay vận tải C-2A Greyhound
– 6 trực thăng đa nhiệm MH-60S Knighthawk
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 4 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

3 – Hàng không mẫu hạm lớp Theodore Roosevelt (lớp con của Nimitz)
– số lượng hiện tại: 5
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1986
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 106000 tấn
– dài: 332.9m
– rộng: 78.3m
– động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 động cơ hơi nước
– công suất: 540000shp
– tốc độ tối đa: lớn hớn 30 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– biên chế hải đoàn: 3600 người
– biên chếkhông đoàn: 2500 người

– cách thức vận hành: CATOBAR
https://en.wikipedia.org/wiki/CATOBAR
– máy phóng: 4 máy phóng hơi nước

* Máy bay:
– 36 tiêm kích đa nhiệm F-18E Super Hornet
– 12 tiêm kích đa nhiệm F-18C Hornet
– 6 máy bay tác chiến điện tử EA-18G Glowler
– 6 máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye
– 2 máy bay vận tải C-2A Greyhound
– 6 trực thăng đa nhiệm MH-60S Knighthawk
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 3 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 10 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

4 – Hàng không mẫu hạm lớp Nimitz
– số lượng hiện tại: 3
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1975
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 103000 tấn
– dài: 331.7m
– rộng: 78.5m
– động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 động cơ hơi nước
– công suất: 540000shp
– tốc độ tối đa: lớn hớn 30 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– biên chế hải đoàn: 3600 người
– biên chếkhông đoàn: 2500 người

– cách thức vận hành: CATOBAR
https://en.wikipedia.org/wiki/CATOBAR
– máy phóng: 4 máy phóng hơi nước

* Máy bay:
– 36 tiêm kích đa nhiệm F-18E Super Hornet
– 12 tiêm kích đa nhiệm F-18C Hornet
– 6 máy bay tác chiến điện tử EA-18G Glowler
– 6 máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye
– 2 máy bay vận tải C-2A Greyhound
– 6 trực thăng đa nhiệm MH-60S Knighthawk
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 10 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

II – Lực lượng đổ bộ

1 – Mẫu hạm đổ bộ trực thăng lớp America
– số lượng hiện tại: 1
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2014
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 45700 tấn
– dài: 257.4m
– rộng: 45.7m
– động cơ:
2 động cơ turbine khí LM-25000
6 động cơ điện diesel Fairbanks-Morse
– công suất: 80000shp
– tốc độ tối đa: 22 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: 9500 hải lý với tốc độ 20 hải lý/giờ
– biên chế hải đoàn: 1060 người

– cách thức vận hành V/STOL
https://en.wikipedia.org/wiki/V/STOL

* Máy bay:
a – Cấu hình thông thường
– 6 tiêm kích đa nhiệm F-35B Lightning II
– 12 máy bay đổ bộ tốc độ cao MV-22B Ospery
– 4 trực thăng đổ bộ CH-53K King Stallion
– 3 trực thăng đổ bộ đa nhiệm UH-1Y Veynom
– 4 trực thăng tấn công AH-1Z Viper
– 2 trực thăng đa nhiệm MH-60S Knighthawk
b – Cấu hình kiểm soát trên biển
– 20 tiêm kích đa nhiệm F-35B Lightning II
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

* Sức chở:
– lên tới 1115 mét vuông diện tích đặt phương tiện khí tài
– lên tới 4531 mét khối thể tích hàng hóa có thể chứa
– lên tới 1687 lính thủy đánh bộ
– khu bệnh viện lên tới 2 phòng mổ và 20 giường bệnh

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 3 khẩu pháo liên thanh Mark 38 Bushmaster 25mm
– 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 8 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

2 – Mẫu hạm đổ bộ trực thăng lớp Wasp
– số lượng hiện tại: 8
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1989
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 41800 tấn
– dài: 257.3m
– rộng: 42.7m
– động cơ: 2 động cơ turbine hơi nước Westinghouse
– công suất: 77000shp
– tốc độ tối đa: 24 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: 9500 hải lý với tốc độ 20 hải lý/giờ
– biên chế hải đoàn: 1070 người

– cách thức vận hành V/STOL
https://en.wikipedia.org/wiki/V/STOL

* Máy bay:
a – Cấu hình thông thường
– 6 cường kích/tiêm kích AV-8B Harrier II
– 12 máy bay đổ bộ tốc độ cao MV-22B Ospery
– 4 trực thăng đổ bộ CH-53E Super Stallion
– 3 trực thăng đổ bộ đa nhiệm UH-1Y Veynom
– 4 trực thăng tấn công AH-1Z Viper
b – Cấu hình kiểm soát trên biển
– 20 cường kích/tiêm kích AV-8B Harrier II
– 6 trực thăng săn ngầm MH-60R Seahawk

*Tàu đổ bộ:
– 2 tàu đổ bộ 400 tấn, hoặc
– 3 tàu đổ bộ đệm khí 180 tấn, hoặc
– 6 tàu đổ bộ 110 tấn

* Sức chở:
– lên tới 2127 mét vuông diện tích đặt phương tiện khí tài
– lên tới 3087 mét khối thể tích hàng hóa có thể chứa
– lên tới 1894 lính thủy đánh bộ
– khu bệnh viện lên tới 6 phòng mổ và 47 giường bệnh

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 29 cho 16 tên lửa phòng không tầm trung RIM-162 ESSM
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 3 khẩu pháo liên thanh Mark 38 Bushmaster 25mm
– 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 4 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

3 – Tàu đổ bộ lớp San Antonio
– số lượng hiện tại: 11
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2006
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– thiết kế giảm tán xạ radar
– lượng giãn nước: 25900 tấn
– dài: 208.5m
– rộng: 31.9m
– động cơ: 4 động cơ diesel Colt-Pielstick 16PC2.5
– công suất: 42000shp
– tốc độ tối đa: 22 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: 8000 hải lý với tốc độ 18 hải lý/giờ
– biên chế hải đoàn: 364 người

* Sàn đáp và khoang chứa cho:
– 3 máy bay đổ bộ tốc độ cao MV-22B Ospery

*Tàu đổ bộ:
– 2 tàu đổ bộ đệm khí 180 tấn, hoặc
– 20 xe đổ bộ lội nước 29 tấn

* Sức chở:
– lên tới 2323 mét vuông diện tích đặt phương tiện khí tài
– lên tới 1671 mét khối thể tích hàng hóa có thể chứa
– lên tới 699 lính thủy đánh bộ
– khu bệnh viện lên tới 2 phòng mổ và 24 giường bệnh

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 2 khẩu pháo liên thanh Mark 46 Bushmaster II 30mm
– 4 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

4 – Tàu đổ bộ lớp Harpers Ferry
– số lượng hiện tại: 4
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1995
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 16600 tấn
– dài: 185.8m
– rộng: 25.6m
– động cơ: 4 động cơ diesel Colt-Pielstick 16PC2.5
– công suất: 42000shp
– tốc độ tối đa: 25 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: 8000 hải lý với tốc độ 18 hải lý/giờ
– biên chế hải đoàn: 334 người

* Sàn đáp trực thăng cho:
– 2 trực thăng đổ bộ CH-53E Super Stallion

*Tàu đổ bộ:
– 2 tàu đổ bộ đệm khí 180 tấn, hoặc
– 28 xe đổ bộ lội nước 29 tấn

* Sức chở:
– lên tới 1208 mét vuông diện tích đặt phương tiện khí tài
– lên tới 1133 mét khối thể tích hàng hóa có thể chứa
– lên tới 402 lính thủy đánh bộ

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 2 khẩu pháo liên thanh Mark 38 Bushmaster 25mm
– 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 8 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

5 – Tàu đổ bộ lớp Whidbey Island
– số lượng hiện tại: 8
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1985
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 16600 tấn
– dài: 185.8m
– rộng: 25.6m
– động cơ: 4 động cơ diesel Colt-Pielstick 16PC2.5
– công suất: 42000shp
– tốc độ tối đa: 25 hải lý/giờ
– phạm vi hải trình: 8000 hải lý với tốc độ 18 hải lý/giờ
– biên chế hải đoàn: 320 người

* Chỉ có sàn máy bay cho:
– 2 trực thăng đổ bộ CH-53E Super Stallion

*Tàu đổ bộ:
– 4 tàu đổ bộ đệm khí 180 tấn, hoặc
– 64 xe đổ bộ lội nước 29 tấn

* Sức chở:
– lên tới 1214 mét vuông diện tích đặt phương tiện khí tài
– lên tới 149 mét khối thể tích hàng hóa có thể chứa
– lên tới 402 lính thủy đánh bộ

* Hỏa lực:
– 2 hệ thống phóng Mark 49 cho 42 tên lửa phòng không tầm gần RIM-116 RAM
– 2 khẩu pháo liên thanh Mark 38 Bushmaster 25mm
– 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx sở hữu 1 khẩu M61A1 Vulcan 20mm
– 2 khẩu pháo liên thanh Mark 16 20mm
– 6 khẩu đại liên M2 Browning 12.7mm

II – Lực lượng tàu ngầm

1 – Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp Tennessee (lớp con của Ohio)
– số lượng hiện tại: 14
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1988
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 18750 tấn
– dài: 170.7m
– rộng: 12.8m
– động cơ:
1 lò phản ứng hạt nhân S8G, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 35000shp
– tốc độ tối đa:
12 hải lý/giờ khi nổi
25 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 300m
– biên chế hải đoàn: 163 người

* Hỏa lực:
– 24 ống phóng thẳng đứng cho 24 tên lửa đạn đạo UGM-133 Trident II D5
– 4 ống phóng ngư lôi 533mm cho 12 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

2 – Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa hành trình lớp Ohio (biến thể của Ohio)
– số lượng hiện tại: 4
– bắt đâu nhập biên chế từ:
dưới vai trò mới: 2005
thực tế: 1981
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 18750 tấn
– dài: 170.7m
– rộng: 12.8m
– động cơ: 1 lò phản ứng hạt nhân S8G, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 35000shp
– tốc độ tối đa: 12 hải lý/giờ khi nổi 25 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 300m
– biên chế hải đoàn: 140 người

* Sức chở:
– 2 tàu ngầm mini
– lên tới 102 lính đặc nhiệm SEAL

* Hỏa lực:
– 22 bệ 7 ống phóng thẳng đứng cho 154 tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk
– 4 ống phóng ngư lôi 533mm cho 12 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

3 – Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Virginia
– số lượng hiện tại: 16
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2004
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 7900 tấn
– dài: 114.9m
– rộng: 10.4m
– động cơ: 1 lò phản ứng hạt nhân S9G, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 40000shp
– tốc độ tối đa: 25 hải lý/giờ khi nổi 34 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 490m
– biên chế hải đoàn: 134 người

* Hỏa lực:
– 12 ống phóng thẳng đứng cho 12 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk
– 4 ống phóng ngư lôi 533mm cho 12 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk, 4 tên lửa chống hạm UGM-84 Harpoon và 12 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

4 – Tàu ngầm hạt nhân tấn công USS Jimmy Carter
– là tàu biến thể của tàu ngầm lớp Seawolf
– bắt đâu nhập biên chế từ: 2005
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 12140 tấn
– dài: 115.8m – rộng: 12.8m
– động cơ: 1 lò phản ứng hạt nhân S6W, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 46000shp
– tốc độ tối đa: 22 hải lý/giờ khi nổi 30 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 595m
– biên chế hải đoàn: 140 người

* Sức chở:
– 1 tàu ngầm mini
– lên tới 50 lính đặc nhiệm SEAL

* Hỏa lực:
– 4 ống phóng ngư lôi 673mm cho 12 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk, 8 tên lửa chống hạm UGM-84 Harpoon và 30 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

5 – Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Seawolf
– số lượng hiện tại: 2
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1997
– tình trạng sử dụng: hoạt động tích cực

– lượng giãn nước: 9140 tấn
– dài: 107.6m – rộng: 12.8m
– động cơ: 1 lò phản ứng hạt nhân S6W, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 46000shp
– tốc độ tối đa: 29 hải lý/giờ khi nổi 39 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 595m
– biên chế hải đoàn: 133 người

* Hỏa lực:
– 4 ống phóng ngư lôi 673mm cho 12 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk, 8 tên lửa chống hạm UGM-84 Harpoon và 30 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

6 – Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Providence (lớp con của Los Angeles)
– số lượng hiện tại: 30
– bắt đâu nhập biên chế từ: 1985
– tình trạng sử dụng: đang hoạt động, loại biên dần dần cho tới trước 2030

– lượng giãn nước: 7150 tấn
– dài: 114.9m
– rộng: 10.4m
– động cơ: 1 lò phản ứng hạt nhân S6G, 2 động cơ turbine hơi nước
– công suất: 35000shp
– tốc độ tối đa: 22 hải lý/giờ khi nổi 32 hải lý/giờ khi lặn
– phạm vi hải trình: không giới hạn
– thời gian duy trì hoạt động: 90 ngày
– độ sâu tối đa khi lặn: 450m
– biên chế hải đoàn: 141 người

* Hỏa lực:
– 12 ống phóng thẳng đứng cho 12 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk
– 4 ống phóng ngư lôi 533mm cho 8 tên lửa hành trình UGM-109 Tomahawk, 4 tên lửa chống hạm UGM-84 Harpoon và 14 ngư lôi đa nhiệm Mark 48

Posted in Uncategorized | Leave a comment

10 đứa con của rồng trong văn hóa Hoa Việt

Truyền thuyết “Long sinh cửu tử” xuất hiện dưới thời Tống – Minh đã tập hợp lại một số hình tượng thú giống rồng có vai trò trang trí trong kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật truyền thống như thao thiết, bồ lao, nhai tí, bí hí, si vẫn,… Số lượng những đứa con rồng theo các tài liệu khác nhau lên tới hơn 10 loại. Những hình tượng này có vai trò khá quan trọng trong văn hóa truyền thống vì chúng làm nên nét riêng biệt của các di tích đền đài và các đồ vật thờ liên quan.
Tuy nhiên, câu hỏi về nguồn gốc nguyên mẫu ban đầu và ý nghĩa sơ khởi của những biểu tượng các đứa con của rồng là gì thì hiện vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Những khảo sát gần đây của các học giả Việt Nam mới dừng lại ở các văn vật từ thời Đinh Lý, chưa đủ để trả lời cho câu hỏi này. Truy nguyên nguồn gốc các đứa con của rồng phải lùi xa hơn nữa, vào lúc và ở nơi mà hình tượng rồng ban đầu xuất hiện thì mới có thể biết những đứa con của rồng được “sinh ra” và “lớn lên” như thế nào. Đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được vai trò của văn hóa Việt Nam trong việc hình thành các hình tượng này.
Hình tượng Rồng trong văn hóa Trung Hoa xuất hiện khá sớm, ngay từ thời kỳ đồ đá mới đã có hình rồng bằng đá ngọc trong văn hóa Hồng Sơn hay trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử. Sang tới thời Thương, thiên hạ Trung Hoa bước vào giai đoạn đồ đồng thì con rồng trở thành biểu tượng hoa văn mỹ thuật rất phổ biến trên các vật dụng. Trên hầu hết các đồ đồng thời kỳ này đều có thể bắt gặp hình rồng với những biến thể khác nhau, rất đa dạng. Đồ đồng Trung Hoa đạt đỉnh cao rực rỡ vào thời Thương Chu, tương ứng thời gian với văn hóa trống đồng Đông Sơn, một nền văn hóa cũng không kém phần huy hoàng ở phía Nam.
Trong truyền thuyết Việt thì sự phát triển của hình tượng Rồng được thể hiện qua Truyện Họ Hồng Bàng. Dòng dõi theo cha Rồng Lạc Long Quân đi xuống biển về phía Đông Nam xưa, tức là Đông Bắc nay, hình thành nên khu vực văn hóa khảo cổ Ân Thương. Dòng theo mẹ đi lên núi về phía Tây Bắc được nhấn mạnh hơn với các hình tượng chim hạc và hươu (Hà và Lạc) trên trống đồng Đông Sơn, chính là văn hóa Chu. Trên thực tế, có thể gặp những hiện vật giao thoa giữa cả 2 dòng văn hóa cha Rồng mẹ Tiên này như hình tượng giao long trong văn hóa Đông Sơn hay chim hạc trên đồ đồng Thương.
Ở Việt Nam tồn tại cả 2 dòng đồ đồng nói trên. Dòng đồ đồng Đông Sơn có mặt ở nước ta thì đã rõ. Còn dòng đồ đồng Thương Chu thường được gọi là đồ đồng Hán, cho dù niên đại của những đồ đồng này có trước thời Hán.
Nghệ thuật thời Thương Chu cũng như Đông Sơn mang tính chất biểu tượng cao. Giai đoạn càng cổ xưa thì tính biểu tượng lại càng cao. Tới cuối thời Chu các hoa văn, hình trang trí trên đồ vật bắt đầu dần trở nên “tả thực” hơn. Sang thời Hán đồ đồng làm dưới dạng các tượng người, thú giống như thật. Cũng chính vì tính biểu tượng cao này mà đồ đồng cổ Thương Chu đóng vai trò nguồn gốc cho các hình tượng văn hóa sau này của phương Đông.
Hình tượng Rồng trong văn hóa phương Đông đạt đỉnh cao đầu tiên là trên các đồ đồng thời Thương Chu – Đông Sơn. Do đó đây cũng là lúc mà “rồng sinh con”, hay là lúc hình thành các biến thể của hình tượng rồng, phù hợp và đáp ứng các yêu cầu khác nhau của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng. Vì vậy, muốn tìm nguồn gốc những đứa con của rồng cần khảo sát hình tượng rồng trong các đồ đồng của thời kỳ này.
Ý nghĩa và nguồn gốc của những hình tượng thường được thể hiện qua ngay tên gọi. Nên việc tìm hiểu các hình tượng con của rồng cần đi sâu phân tích tên gọi của chúng. Nhiều khi tên gọi đọc lên nghe tưởng là tiếng Hán, tên chữ lạ hoắc, nhưng thực ra đó chỉ là cách ghi âm tiếng Nôm mà thôi, vì thực tế các hình tượng này là hình tượng của văn hóa Việt (Bách Việt). Áp dụng “Nôm na pháp” giúp cung cấp thêm thông tin xác thực về ý nghĩa và nguồn gốc của các hình tượng con của rồng.

1. Bí hí
Bí hí 贔屭 theo nghĩa của chữ là “gắng sức làm”. Hình tượng này có hình dáng của con rùa, dùng để đỡ các vật nặng. Các tác giả hiện nay liên hệ nó với truyền thuyết Nữ Oa chặt chân con Ngao ngoài biển để chống trời hay so sánh với con rùa vũ trụ trong Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, Rùa đội bia hay đội vật nặng trong văn hóa phương Đông không thiếu gì khả năng từ những nguồn gốc khác thuyết phục hơn.
Truyền thuyết Việt cho biết người Việt cổ theo hình dáng của con Rùa mà làm ra nhà sàn với các cột lớn chống đỡ cho ngôi nhà. Vậy biểu tượng rùa mang vật nặng hoàn toàn có thể xuất phát ngay từ khi người Việt biết làm nhà sàn, một loại nhà phổ biển trên toàn cõi Đông Nam Á. Hình ảnh Nữ Oa chống trời cũng chỉ là biểu tượng hóa của cách bắt chước rùa làm nhà sàn, chống mái (trời) bằng cột mà thôi. Người Hán ở vùng sông Hoàng Hà không có “bản quyền” về truyền thuyết này vì họ không hề làm nhà sàn mà chỉ có các loại nhà đắp đất. Đồng thời họ cũng không có các loài rùa lớn hay ba ba. Xuất phát điểm của người Hán ở Thiểm Tây thậm chí không hề giáp biển để mà có con Ngao cho Nữ Oa chặt chân. Con rùa chống vật nặng như vậy vốn xuất phát từ vùng ven biển Đông trong lịch sử tộc Việt.
Trên đồ đồng Thương Chu nét biểu tượng của Rùa – Bí hí nằm ở những cái chân của các đồ vật. Chân đỉnh, chân vạc, chân ấm… của các đồ đồng thời kỳ này đều làm to, ngắn, trông giống như chân voi. Bí hí còn có tên là Bá hạ, có thể cùng nghĩa là chống đỡ từ phía dưới. Vậy là có thể thấy chân Rùa hay yếu tố Bí hí trong các đồ đồng cổ bởi người Việt đã theo hình con rùa mà làm nhà, làm chân cột chống đỡ các đồ vật.

IMG_5465
Phần chân của chiếc hủy quang tê giác thời Tây Chu.

Con Rùa còn liên quan trực tiếp tới văn chương chữ nghĩa qua một số truyền thuyết. Đó là việc Việt Thường cống vua Ðường Nghiêu rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa. Rồi từ trên lưng con rùa thần mà Đại Vũ đã ghi lại Lạc thư. Hay Phục Hy chép Bát quái cũng từ lưng rùa. Hiển hiện hơn, loại chữ cổ xưa của Trung Hoa từng được phát hiện cũng là chữ viết trên mu rùa, gọi là chữ Giáp cốt. Chính vì những sự tích này mà con Rùa mới gắn với chữ nghĩa, mới đội văn bia nơi đền miếu.
Cái tên gọi Bí hí như vậy chỉ nên dùng để chỉ Rùa khi nó đội các vật nặng (tháp, công trình kiến trúc), hoặc chỉ các chân đỡ giống như chân Rùa. Những con rùa đội bia nên vẫn gọi là Rùa thì hơn vì nó không có tính chất “gắng sức làm” của từ bí hí mà mang tính chở văn chương.

2. Thao thiết
Xuất hiện sớm nhất trong số các đứa con của rồng trên văn vật cổ là hình tượng Thao thiết. Chữ ghi âm này hiện dùng là 饕餮, gắn với bộ thực 食 là ăn uống. Tuy nhiên hình tượng Thao thiết ban đầu không phải chỉ xuất hiện trên các đồ đựng thức ăn. Nó xuất hiện đầu tiên trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử dưới dạng một bộ mặt có mắt, mũi to, miệng rộng. Sau đó Thao thiết phát triển gặp phổ biến trên các đồ đồng thời Thương có hình mặt thú mắt to, mũi lớn, có sừng. Thao thiết là bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng hình tượng những đứa con của rồng trong truyền thuyết Long sinh cửu tử chính là bắt nguồn từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu.

download (1)Ống tông có mặt Thao thiết của văn hóa Lương Chử.

8b434-lich20ba20cu
Lịch đồng thời Tây Chu với hình Thao thiết ở 3 mặt.

Tông ngọc cũng như các đồ đồng đỉnh, lịch, bình rượu,… thời Thương có mục đích sử dụng chính không phải để đựng thức ăn mà là đồ tế khí. Vì vậy bộ mặt Thao thiết thực chất ban đầu mang nghĩa thần quyền, tạo cảm giác kỳ bí cho hiện vật. Về sau Thao thiết thể hiện tính uy nghiêm, sự cứng rắn của vương quyền.
Thao thiết còn gọi là Thú diện văn. Gốc của từ này đơn giản có thể là dạng tiếng Việt “đầu cứng”, thể hiện trong các thành ngữ “mặt sắt đen sì” hay “rắn mặt”. Thao là biến âm của từ Đầu. Thiết là cứng, là kim loại.
Thao thiết thường có hình dạng một mặt thú, có sừng như sừng trâu. Vị thần đầu trâu trong văn hóa phương Đông là Viêm Đế Thần Nông. Cũng vị thần này đã dạy dân trồng lúa, có cái ăn cái mặc. Có thể vì vậy mà chữ Thao thiết được viết với bộ thực 食 (lương thực). Thao thiết như thế là biểu tượng của Thần Nông hay của sự no đủ.

IMG_1879Ấm đồng thời Tây Chu trang trí toàn bằng Thao thiết ở cả phần thân và nắp.

3. Tiêu đồ
Tiêu đồ 椒啚 thường có hình mặt thú, nhưng kích thước nhỏ hơn Thao thiết (trong tương quan so với đồ vật có hình tượng này). Đặc điểm nữa là Tiêu đồ có ngậm vòng hay tay nắm với ý nghĩa đóng kín, nắm chắc, khác với Thao thiết có miệng mở rộng.
Tiêu đồ còn có tên là Phô thủ. Phân tích có thể thấy, cả 2 tên này đều cùng một nghĩa. Tiêu tương đương với Phô, nghĩa là nhô lên, nhô ra. Đồ là âm đọc khác của Đầu. Như thế hiểu đơn giản đây là hình cái đầu thú nhô ra. Truyền thuyết kể Tiêu đồ là loài trai ốc. Điều đó có nghĩa là hình Tiêu đồ không có thân, chỉ có đầu nhô ra.
Hình đầu thú nhỏ ngậm vòng hay ngậm tay cầm gặp nhiều trên đồ đồng Thương Chu. Ví dụ trên các chiếc bình có vòng bên hông. Hay thậm chí ở quai các chiếc tước đồng có hình đầu thú ngậm quai cũng có thể coi là tiền thân của biểu tượng Tiêu đồ.

IMG_7247 (2)Hình đầu thú ngậm vòng trên chiếc bình thời đầu Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

IMG_5408
Tay cầm chiếc tước thời Thương có hình đầu thú.

Hình Tiêu đồ tương tự còn gặp cả trên các đồ đồng Đông Sơn, như trên thố đồng hay tay nắm cửa.

P1170134Tay nắm hình mặt thú (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

P1170135Thố đồng Đông Sơn có hình mặt thú ngậm vòng (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

4. Kim nghê
Cho dù cụm từ Toan nghê 狻猊 tiếng Hán dịch là sư tử nhưng chắc chắn nguồn gốc Kim nghê không phải lấy nguyên mẫu của sư tử vì phạm vi phương Đông chưa bao giờ có sư tử sinh sống. Kim nghê lại càng không bao giờ đi đỡ tượng hay làm thú cưỡi cho Phật.
Hình tượng một con vật như loài thú móng vuốt trên nắp đồ vật thực ra đã gặp từ thời Chiến Quốc. Như trên nắp một chiếc liễn đồng thời này, hình dáng hoàn toàn giống Kim nghê ngày nay.

IMG_7255Phủ đựng thức ăn thời Xuân Thu (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

Hay một hình ảnh khác là như trên chiếc nồi hổ ba chân cũng khoảng thời Chiến Quốc. Chức năng của nó là làm tay cầm cho phần nắp (vung nồi).

IMG_1473

Như vậy ban đầu Kim nghê vốn là hình con hổ trên nắp các đồ dùng. Vì Hổ cũng là Hỏa, là lửa, nên Kim nghê dùng biểu trưng cho các vật nóng, sau thành ra loại thích khói lửa để trên nắp các lư hương hay chỗ hóa vàng.
Cần phân biệt hình tượng Kim nghê (nghê trên đồ kim loại) với con Nghê chầu ở các di tích thờ cúng, thường bằng gỗ, đá, sành sứ. Con Nghê ở các di tích mang ý nghĩa là con vật đứng chầu ngay ngắn (ngô – nghê – ngay, thực ra đều là tiếng Việt cả), nghiêm trang. Do đó có rất nhiều loại Nghê khác nhau cùng chức năng đứng chầu từ nghê chó, nghê rồng, nghê sư tử, nghê kỳ lân, đến cả nghê cá.

5. Bồ lao
Bồ lao 蒲牢 là biểu tượng có hình rồng hai đầu, thường dùng làm quai treo chuông. Theo truyền thuyết thì đó là một loài thú hoặc chim ở biển, khi gặp cá kình thì kêu rất to. Chi tiết loài Bồ lao sống ở biển cũng đủ thấy đây là hình tượng của văn hóa Bách Việt vì địa bàn của Hán tộc vốn không giáp biển. Chưa kể một vài tài liệu nói Bồ lao ở biển Nam Hải hay biển Đông. Biển Đông thì chỉ có thể là ở giáp vùng đất Việt ngày nay.
Chữ Lao nghĩa là vật hiến tế. Chữ Bồ không có nghĩa, có thể đơn giản là từ chỉ định “con”, “cái”. Bồ lao hiểu nghĩa đen là con vật dùng để hiến tế. Có thể con vật hiến tế cho thủy thần (cá kình) xưa khi bị giết hay bị ném xuống nước kêu rất to. Người ta mới lấy đó làm truyền tích cho hình tượng Bồ lao.
Hình tượng rồng 2 đầu hay 2 con rồng đấu đuôi vào nhau gặp trên các não bạt, bác (dạng chuông nhỏ) từ thời Chiến Quốc. Những con rồng này được thể hiện với phần miệng đang há to như đang kêu. Rõ ràng rồng hai đầu trên nhạc khí đồng thời Chiến Quốc là tiền thân của hình tượng Bồ lao trên các chuông đồng sau này.

hien_vat 8_kienthuc_cxeoChuông đồng thời Xuân Thu (Ảnh internet).

Bac Son 042
Chuông đồng Chiến Quốc có hình rồng đấu đuôi.

6. Nhai tí
Nhai tí hay Nhai xải có chữ là 睚眥. Chữ này nghĩa thường là nhìn một cách khinh bỉ. Hình tượng Nhai tí dùng đúc tạc ở chuôi cán vũ khí.
Hình rồng trên cán vũ khí đã xuất hiện từ thời Chiến Quốc trong cả đồ đồng Thương Chu cũng như đồ Đông Sơn. Ban đầu là cả một cụm rồng nối nhau như trên chuôi kiếm. Cũng có những chiếc qua đồng của thời này với phần chuôi là hình cả con rồng. Như vậy hình tượng Nhai tí cũng có nguồn gốc là trang trí rồng trên vũ khí đồng từ thời Chiến Quốc.

IMG_7244 (2)Qua đồng thời Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

img_4597-e1508257236855.jpg
Chuôi kiếm có hình hủy long.

7. Si vẫn
Si vẫn 螭吻 còn gọi là Ly đầu hay Ly thủ, nghĩa là đầu con Ly. Hình tượng này dùng trên nóc nhà ở nơi tiếp giáp của mái. Dân gian gọi là con Kìm (ở đỉnh mái) hay con Sô (biến âm của Si) ở góc mái.
Gợi ý về nguồn gốc của Ly đầu là chiếc bình Phỏng Chu Ly thủ phương hồ của vua Minh Mạng làm phỏng theo đồ đồng thời Chu năm 1838. Trên hình mộc bản có thể thấy rõ “Ly thủ” là đầu một loài thú như con hươu, có sừng ở vị trí phía trên nắp của bình.

4
Bản rập Phỏng Chu Ly thủ phương hồ (Ảnh theo Trung tâm lưu trữ quốc gia IV).

Hay thường gặp trên đồ đồng thời Thương như trên dữu (loại bình có nắp và quai) ở chỗ tiếp giáp là hình đầu trâu. Tương tự ở vị trí đó trên các loại đôn vuông hoặc tròn là hình đầu dê với sừng cong, thậm chí cả đầu voi.

duu-e1508257492201.jpg
Dữu đồng đựng rượu thời Thương.

DonĐôn tứ dương thời Thương.

Như thế, nguyên mẫu Ly đầu là hình trang trí đầu thú ở phần tiếp giáp các bộ phận. Có thể chữ Ly này đồng âm với từ ly rời, chỉ chỗ mà các bộ phận có thể tách nhau. Hoặc Ly = lề, chỉ chỗ tiếp giáp. Từ “vẫn” cũng có nghĩa là mép, chỉ nơi tiếp giáp. Không quan trọng hình đầu thú này có ngậm vật hay không. Thời kỳ đầu Thương Chu thể hiện ở vị trí tiếp giáp trên là các loài hươu, dê hay trâu. Về sau hình tượng này được “long hóa” thành ra hình đầu rồng, trong khi tên gọi vẫn là Ly hay Si.

8. Trào phong
Trào phong 嘲風 là biểu tượng hình một con thú dáng như con hổ đang ngẩng đầu (đón gió). Hình tượng này thường đặt trên bờ dải các công trình kiến trúc. Dân gian gọi là con Náp. Xét trên đồ đồng Thương Chu thì hình tượng tạo nổi ở bên hông các vật dụng chính là tiền thân của Trào phong sau này trên các công trình kiến trúc.
Ví dụ trên chiếc bình thời Xuân Thu, một dạng bình tiêu biểu của thời kỳ này có 2 con vật nửa hổ nửa rồng đang ngoảnh đầu ra ngoài. So sánh thì thấy vị trí và hình tượng của nó rất giống với Trào phong trên đền đài. Hoặc trên chiếc bình thời Chiến Quốc có 4 con rồng được tạo bám 4 góc bình. Nhưng hình rồng hổ ở thành bình đồng Thương Chu chính là tiền thân của con Trào phong sau này trên đền đài.
Hình con Náp hay Trào phong phân biệt với con Kìm hay Si vẫn (con Sô) ở chỗ hình này gồm nguyên cả con thú, đầu ngẩng và đặt ở vị trí lưng chừng, chứ không phải vị trí tiếp hợp các bộ phận.

Binh Xuan thuBình thời Xuân Thu.

Binh Chien quoc
Bình thời Chiến Quốc.

9. Bệ ngạn
Chữ Ngạn trong Bệ ngạn 狴犴 nghĩa là tù ngục. Chữ Bệ có bộ Khuyển, chỉ một loài vật. Loài vật hình như con hổ, hung dữ dùng bày nơi công đường và nhà ngục cũng đã có từ thời Chiến Quốc. Dưới đây là hình một loài hổ cũng tương đối “long hóa” của thời này.

Bac Son 069

10. Công phúc
Công phúc 蚣蝮 là hình tượng được dùng trang trí cầu cống vì tương truyền loài này thích uống nước. Có thể Công là đọc sai của từ Cống. Còn Phúc nghĩa là con rắn. Loài rắn ưa nước gọi là Công phúc.
Rồng uống nước thì cũng có nhiều mô típ trên đồ đồng Thương Chu. Ban đầu là hình rồng có chức năng làm vòi các ấm rượu, như hình rồng trên ấm đồng Tây Chu sau.

IMG_1855

Tới thời Đường rồng hút nước biến thành 2 tay cầm của chiếc bình.

IMG_1435

Thêm một hình tượng nữa là Phụ hí. Chữ phụ 負 có nghĩa là vác, cõng. Chữ hí 屭 có lẽ cũng như trong tên Bí hí, chỉ việc nặng. Phụ hí là hình tượng sử dụng trên các bia, mộ, được dùng thành cặp đôi. Hình dáng hoàn toàn giống rồng. Tiền thân của Phụ hí trên đồ đồng Thương Chu có thể là hoa văn trang trí các quai vạc, quai đỉnh, thông thường cũng là 2 con rồng đầy đủ. Ví dụ như hoa văn 2 con quỳ long trên quai của chiếc lịch thời Tây Chu sau. Vị trí trang trí này cũng phù hợp với cái tên Phụ hí vì nó mang nghĩa mang vác của tay quai đồ vật.

IMG_7292

Như vậy, các hình tượng con của rồng khác nhau đều có nguyên mẫu từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn hợp lý vì đồ đồng Thương Chu là một trong những nấc thang đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, làm nền tảng cho sự phát triển các biểu tượng nghệ thuật sau này trên các công trình kiến trúc và vật dụng truyền thống. Cho dù tên chữ Nho của những hình tượng này đọc nghe lạ tai nhưng bản chất các hình tượng đó vẫn là văn hóa Bách Việt, là dòng giống của cha Rồng xưa xuống khai phá vùng ven biển Đông Bắc.

Nguồn: https://bahviet18.com/2017/10/17/khao-luan-ve-nhung-dua-con-cua-rong/?fbclid=IwAR3YLiGIutIMZ7JaGlJw_gtKkC4i-ahGtWm3qnDRimkc5qJklkOfcFQ2I1M

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ngắm loạt ảnh cực quý về Hà Nội năm 1885

Hậu Lâu trong Hoàng thành Thăng Long, toàn cảnh chùa Báo Ân, Khuê Văn Các trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám… là những hình ảnh tư liệu hiếm có về Hà Nội năm 1885 do người Pháp thực hiện.

Ngam loat anh cuc quy ve Ha Noi nam 1885

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ảnh xưa hiếm có về cầu Long Biên của Hà Nội

Cầu Long Biên lúc đang được thi công, chợ cóc họp dưới gầm cầu, chuyển tàu hỏa qua cầu… là những hình ảnh lịch sử ít người biết về cầu Long Biên nổi tiếng của Hà Nội thuở xa xưa.

Anh xua hiem co ve cau Long Bien cua Ha Noi

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Hình độc về những cây cầu ngói Việt Nam một thế kỷ trước

Cầu ngói là loại cầu có mái che độc đáo từng được xây dựng phổ biến ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 trở về trước. Ngày nay chỉ còn rất ít cầu ngói được bảo tồn.

Hinh doc ve nhung cay cau ngoi Viet Nam mot the ky truoc

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Kiến thức tổng quát về thép làm dao

Về cơ bản, các loại thép dùng làm lưỡi dao được đánh giá dựa trên 5 tiêu chí sau đây:

Độ cứng – Hardness:

Độ cứng là khả năng chống biến dạng khi chịu áp lực từ bên ngoài vào hoặc khi dao chịu phản lực khi sử dụng. Độ cứng của thép làm dao thường được goi là độ “khỏe” và thường được đo bằng thang đo Tockwell C (còn gọi là HRC)

Độ dẻo – Toughness:

Dẻo dai là khả năng chống lại thiệt hại khi lưỡi dao bị tác động cực mạnh. Điều này xác định bằng khả năng chịu “uốn cong” mà không bị “vỡ – gãy”. Nứt, vỡ là kẻ thù tồi tệ nhất của con dao và không dễ dàng sửa chữa. Lưu ý rằng thép càng “cứng” thì khả năng “dẻo” lại càng kém và ngược lại. Dù sao thước đo độ “dẻo” không được chuẩn hóa như độ “cứng”

Chống hao mòn – wear resistance

Chống hao mòn là khả năng chép chịu đựng sự mài mòn – abrasive và khả năng kết dính – adhensive wear. Mài mòn là khi dao tiếp xúc với bề mặt mềm, mịn, nó sẽ bị mòn đi từng chút một. Khả năng kết dính được đánh giá khi lưỡi dao chịu tác động từ vật liệu thô hơn, nếu kết dính kém, những mảng thép nhỏ sẽ bong ra khỏi kết cấu con dao. Chịu hao mòn thường tương quan với độ cứng của thép nhưng cũng liên quan đến các chất hóa hoc cụ thể trong thép. Thép được tôi với độ cứng như nhau, nhưng nếu thép nào có nhiều Cacbua hơn, thường sẽ chồng hao mòn tốt hơn.

Chống ăn mòn – Corrosion Resistance

Chống ăn mòn là khả năng chống ăn mòn như rỉ sét gây ra bởi các yếu tố như bụi bẩn, độ ẩm và muối. Lưu ý rằng một khả năng chống ăn mòn cao không liên quan đến hiệu năng tổng thể của lưỡi dao

Giữ cạnh sắc – Edge Retention

Giữ cạnh sắc là khả năng giữ cạnh sắc bao lâu trong quá trình sử dụng. Đây là điều mà ta nói hàng ngày nhưng rất tiếc là các phép đo tiêu chuẩn thường là các “dữ liệu” chủ quan (chưa có tiêu chuẩn rõ ràng). Đối với tôi, duy trì cạnh sắc là một sự kết hợp giữa chống mài mòn và chống biến dạng của “cạnh sắc”

Rất tiếc là “thép làm dao tốt nhất” không đơn giản là thép có những đặc tính tốt nhất như trên. Phải có sự đánh đổi. Cơ bản nhất bạn sẽ thấy, sẽ có sự đánh đổi giữa độ cứng và độ dẻo. Một con dao khi rất cứng, thì sẽ giòn, dễ dàng bị gãy, mẻ khi gặp bề mặt cứng. Một con dao dùng thép đủ dẻo để chịu được biến dạng, lại gặp khó khăn khi giữ cạnh sắc.

Và một điều cần lưu ý với khái niệm “stainless steel – thép không gỉ” là nó gây hiểu lầm. Thép không gỉ không có nghĩa là nó không gỉ, chỉ có gỉ ít hay gỉ nhiều. Đa phần phép sẽ “đổi màu” nếu nó tiếp xúc với môi trường trong thời gian đủ dài.

Nếu bạn biết rõ nhu cầu sử dụng dao của mình thì bạn sẽ chọn được thép tốt nhất cho nó.

Các loại thép thông dụng

Các loại thép làm lưỡi dao phổ biến thường rơi vào các loại sau:

Thép công cụ – Tool Steel

Hợp kim thép chủ yếu rất cứng, sử dụng trong các chi tiết chuyên để cắt. Một số thép phổ biên trong nhóm này là D2, O1 và seri thép Crucible CPM  (ví dụ CPM 3V) cộng với thép “high speed” như M4.

Carbon Steel

Thường được sử dụng ở những con dao “thô ráp” mà độ “trâu bò”, độ bền là quan trọng. Các con dao sinh tồn và dao machete thường được làm bằng thép này. Nó có thể mất cạnh sắc nhanh, nhưng cũng dễ dàng mài lại. Sự hi sinh ở đây là thép dễ bị ăn mòn vì lượng Chrome thấp. Thép Carbon phổ biến nhất là 1095.

Thép không gỉ – Stainless steel

Về cơ bản, thép Carbon thêm Chrome và một vài thành phần khác để chống ăn mòn và tăng chất lượng ở một vài khía cạnh khác. Tuy nhiên nó làm tăng giá thành và giảm độ dẻo. Các dao EDC ngày nay thường làm từ các loại thép này như 400, 154CM, AUS, VG, CTS, MoV, Sandvik và seri Crucible SxxV. Chú ý rằng để được gọi là thép không gì, nó phải có ít nhát 13% Chrome.

 

Các loại thép làm dao ngay nay

Dưới đây là các loại thép bạn thường tim thấy trên những con dao ngày này. Vâng, về mặt kỹ thuật thì các loại thép “tốt hơn” trên thị trường ta có CPM-125V, CPM-10V, K294… nhưng chúng cực kỳ hiếm trên thị trường. Do chúng không phổ biến nên tôi không xét đến chúng. Danh sách dưới đây được xây dựng dựa vào “hiệu năng” của thép dựa trên nhiều yếu tố.

Siêu cao cấp – Ultra Premium

CPM S110V

*Spyderco Paramilitary2 S110V

Giữ cạnh sắc 10 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 1 điểm

Rất đơn giản, chống ăn mòn và giữ cạnh sắc là yêu cầu cơ bản của con dao. Loại thép này vẫn còn tương đối hiếm trên thị trường và không thể phân biệt được nó với CPM-S90V nếu bạn không có phòng thí nghiệm. Nhưng thực sự không có gì giữ cạnh sắc tốt như CPM-S110V. Thực sự tốn kém cho những nhà sản xuất dao muốn mài thép CPM-S110V, khó mài nhưng bù lại sẽ giữ cạnh sắc cực tốt (điều này đã được Spyderco Military “biểu diễn” qua review của họ)

CPM-S90V

*Spyderco Manix 2 S90V

Giữ cạnh sắc 9 điểm, chống ăn mòn 5 điểm, dễ mài 1 điểm

Đây là thép đỉnh cao  về độ chống ăn mòn và giữ cạnh sắc. Như bạn biết muốn nhiều Carbon để thép cứng mà không giòn, bí quyết ở đây là pha vào thật nhiều Vanadium, lượng này gấp 3 lần so với thép Elmax hoặc S30V. Vậng, nó siêu đắt tiền và đòi hỏi một vị thánh có tên “kiên nhẫn” để mài nó. Ngoài một người em họ là CPM-S110V (xem ở trên), thì S90V là vô địch thiên hạ trong khả nặng giữ cạnh sắc và chống mài mòn. Một trong những con dao “hot nhất thị trường” hiện nay dùng thép này là Benchmade 940-1 với hiệu năng vượt trội.

Bohler M390

*Hinderrer M390

Giữ cạnh sắc 9 điểm, chống ăn mòn 7 điểm, dễ mài 2 điểm

M390 là một trong những siêu thép mới, được sản xuất bởi Böhler-Uddeholm (kết quả của sự kết hợp giữa 2 công ty Áo và Thụy Điển – Böhler và Uddeholm). Nó sử dụng công nghệ bột kim loại thế hệ thứ 3 và phát triển chất liệu cho lưỡi dao chống ăn mòn tuyệt vời và độ cứng rất cao. Chromium, Molybdenum, Vanadium, và Tungsten được thêm vào để tăng cường độ sắc, duy trì lợi thế giữ cạnh sắc nổi bật. Không giống với thép Hitachi ZDP-189,  M390 cho thêm vào rất nhiều Crom để chống ăn mòn. Bohler gọi nó là thép “gương”, nó có thể mà nhẵn và phản chiếu như một tấm gương thật. Nó khá khó để mài sắc, nhưng dễ hơn S90V. Benchmade 581 là một ví dụ về con dao dùng thép M390 tốt nhất.

ZDP-189

*Rockstead  ZDP-189

Giữ cạnh sắc 8 điểm, chống ăn mòn 4 điểm, dễ mài 1 điểm

Thép ZDP-189 của Hitachi là một trong những siêu thép mới, có chứa lượng carbon và chrome cực lớn, có độ cứng không thể tin nổi lên đến 66HRC. Tất nhiên, duy trì lợi thế về giữ cạnh sắc tuyệt vời, đổi lại là rất tốn công để mài nó. Bạn nghĩ nhiều chrom sẽ khó bị ăn mòn và không gỉ? sai rồi, vì có quá nhiều carbon nên đi kèm với chrom cũng không giúp thép này chống được ăn mòn. Vì thế nó cứng hơn, giữ cạnh sắc tốt hơn S30V nhưng lại dễ bị ăn mòn hơn. Con dao Spyderco Dragonfly 2 là một ví dụ tốt.

Elmax

*TRC K1 elmax

Giữ cạnh sắc 8 điểm, chống ăn mòn 5 điểm, dễ mài 3 điểm

Uddeholm (nay là Böhler-Uddeholm) giới thiệu siêu thép Elmax là thép kết hợp lượng Chrome, Vanadi-Molypden cực cao, cho khả năng chống ăn mòn rất tốt. Elmax không gỉ và cho đặc tính rất tốt như thép carbon. Khả năng giữ cạnh sắc tuyệt vời, dễ dàng mài lại và duy trì khả năng chống gỉ tốt. Thép làm dao tốt nhất? Có thể là thế. Dễ dang thấy thép Uddeholm  đang mang lại cho Böhler-Uddeholm rất nhiều tiền trong những ngày này. Một ví dụ điển hình là cây dao ZT 0562.

CPM-20CV

*Benchmade 781 CPM 20CV

Giữ cạnh sắc 9 điểm, chống ăn mòn 7 điểm, dễ mài 2 điểm

CPM-20CV là phiên bản khác của thép M390 của Bohler nhưng lai với thép CTS-204P. Là thép công cụ Powder Metallurgy (PM), nó kết hợp giữa khả năng chống ăn mòn tốt và giữ cạnh sắc tuyệt vời trong khi chống gỉ cực tốt vì có nhiều Chrome. Thép này hiện đang khá mới trên thị trường, và Benchmade đã dùng CPM-20CV trong các dòng 556-1 Griptilian của họ. Benchmade khẳng định thép M390 của họ cứng hơn, tuy nhiên 20CV lại giữ cạnh sắc tốt hơn.

Cao cấp – Premium

CTS-XHP

*Cold Steel Recon1 CTS- XHP

Giữ cạnh sắc 8 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 5 điểm

Đây là thép làm bởi công ty Mỹ Carpenter, nó khá mới và giữ cạnh sắc rất tốt, độ cứng khoảng 61 HRC. Đây là một phát minh luyện kim theo kỹ thuật của Carpenter, thép được luyện từ bột hợp kim cực mịn, cho hiệu suất tuyệt vời, nó giữ cạnh sắc tốt hơn S30V một chút nhưng khó mài hơn một chút. Có thể nói CTS-XHP giống như thép D2 có chức năng chống ăn mòn, giữ cạnh sắc vượt trội. Giống như thép D2, không dễ để mài sắc và dễ bị mẻ.

CPM M4

*Spyderco military M4

Giữ cạnh sắc 9 điểm, chống ăn mòn 2 điểm, dễ mài 2 điểm

Thép cực tốt với hiệu năng vượt trội, độ dẻo cao và giữ cạnh sắc tốt hơn bất kỳ loại thép carbon nào. Giống như mọi loại thép CPM, thép CPM M4 sử dụng công nghệ luyện kim của Crucible, sản phẩm là một loại thép đồng nhất, ổn định hơn so với cá quy trình truyền thống. CPM M4 chất lượng rất “cân đối” giữa độ chống mài mòn, độ dẻo (vì nhiều Molypden), vanadi và vonfram, cùng lượng carbon cao (nhưng hợp lý). Nó cứng cỡ 62-64 HRC, nhưng chú ý là CMP M4 không được coi là không gỉ vì lượng crom khá thấp. Đây là loại thép tốt dùng chế tạo công cụ cắt. Nó cần được chăm sóc bảo quản tốt, và sẽ có lớp gỉ theo thời gian. Một số nhà sản xuất sơn bảo quản thép này. Nó không dễ để mài sắc.

CPM S35VN

*Chris Reeve Sebenza 21 S35VN

Giữ cạnh sắc 7 điểm, chống ăn mòn 7 điểm, dễ mài 5 điểm

Năm 2009, hãng Crucible và Chris Reeve đã giới thiệu phiên bản mới vượt trội so với S30V, họ đặt tên là S35VN. bằng cách sử dụng cấu trúc hạt mìn hơn và thêm một lượng nhỏ chất niobi (chữ N đại diện cho niobi), họ khiến cho S30V dễ dàng gia công hơn, động thời tăng độ dẻo dai và dễ mài sắc cạnh. Trong thế giới thực, bạn rất khó phân biệt 2 loại thép này. Nhiều người cho rằng đây là thép đỉnh cao, cân bằng giữa khả năng giữ cạnh sắc, độ dẻo, chống gỉ và giá thành.

CPM S30V

*Buck 110 S30v

Giữ cạnh sắc 7 điểm, chống ăn mòn 7 điểm, dễ mài 5 điểm

Thép của hãng Crucible, CPM S30V thường được gọi tắt là S30V, giữ cạnh sắc tuyệt vời, chống gỉ tốt. Nó được thiết kế sản xuất tại Mỹ và thường được dùng cho các dao gấp bỏ túi cao cấp, dao, kéo nhà bếp đắt tiền. Sự ra đời của Cacbua vanadi mang lại độ cứng cực cao với kết cấu ma trân trọng hợp kim thép. Có thể gọi đây là thép “đáng đồng tiền bát gạo nhất”, nó cho lưỡi dao tốt nhất, duy trì cạnh sắc vượt trội, rất cứng và dẻo dai.  Lưu ý là S30V đã có người anh em tốt hơn S35VN, thép S35VN dễ gia công hơn nhờ pha Niobium. Thép S30V giờ đây vẫn khá phổ biến, là một trong những loại thép yêu thích của chúng tôi.

High-end

154CM

*Strider SMF 154CM

Giữ cạnh sắc 6 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 5 điểm

Thép tương đối cứng và được coi là bản nâng cấp của 440HC thông qua việc bổ sung Molypden. 154CM giữ cạnh sắc tốt sơ với 440HC, chống ăn mòn rất tốt dù có ít Chrom. Nó có độ bền tốt, đủ để giữ cạnh sắc trong điều kiện sử dụng thông thường. Để mài sắc, bạn chỉ cần công cụ mài đơn giản. Bạn sẽ tìm thấy sản phẩm dùng thép này từ những nhà sản xuất hàng đầu như Benchmade. Bạn cũng có thể tìm thấy biến thể CPM 154, một phiên bản được sản xuất theo quy trình Crucible Particle Metallurgy (Hãng thép Thụy Điển Damasteel cũng sản xuất loại thép này). Quá trình luyện thép này làm các hạt Cacbua mịn hơn, giúp lưỡi dao duy trì cạnh sắc tốt hơn… Câu hỏi là liệu người dùng thông thường có thể nhận biết sự khác biệt?

 

Hitachi ATS-34

 

*HATORI HT-05 Dream Hunter
Giữ cạnh sắc 6 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 5 điểm

Đây là thép của Nhật bản, tương đương với thép Mỹ 154CM. Nó rất giống với thép 154CM cả về đặc tính, chất lượng và độ phổ thông trong thế giới làm dao. ATS-34 giữ cạnh sắc tốt nhưng thực tế nó chịu gỉ kém hơn thép 440C một chút

D2

*Medford Marauder D2

Giữ cạnh sắc 8 điểm, chống ăn mòn 2 điểm, dễ mài 3 điểm

Thép D2 là thép công cụ rất tốt, nó được gọi là “semi-stainless”, nó không đủ lượng Chrome 13% chống gỉ nhưng bù lại giữ cạnh sắc cực tốt và chống ăn mòn. D2 cứng hơn các loại thép 154CM và ATS-34 và nó giữ cạnh sắc tốt hơn một chút. Thực tế là nó không dẻo dai bằng loại thép khác và muốn mài nó, bạn phải có chút kỹ năng nhất định.

Takefu VG-10

Giữ cạnh sắc 6 điểm, chống ăn mòn 7 điểm, dễ mài 6 điểm

VG-10 là thép giống 154CM và ATS-34, tuy nhiên nó thêm nhiều chrome hơi để chống gỉ và chứa vanadium tăng độ dẻo dai so với 2 đối thủ. Thương hiệu Nhật Bản này xuất hiện chưa lâu và dần dần phổ biến ở Mỹ, điển hình là hãng dao Spyderco. Nó rất cứng và cực kỳ sắc, nhưng cũng hơi giòn và dễ mẻ

Myodo H1

Giữ cạnh sắc 2 điểm, chống ăn mòn 9 điểm, dễ mài 8 điểm

Thép Nhật Bản Myodo về cơ bản chống ăn mòn và chống gỉ “gần tuyệt đối”. Thực tế nó là thép chống gỉ thực sự. Tuy nhiên so với mức giá của nó thì khả năng giữ cạnh sắc thuộc loại kém. Vì thế nếu là dao cho thợ lặn thì rất tốt, nhưng làm dao cho EDC thì chưa ổn. Rất rất đắt.

Bohler N680

Giữ cạnh sắc 5 điểm, chống ăn mòn 8 điểm, dễ mài 6 điểm

Thép này chưa 0.20% Nitrogen và trên 17% Chrome, nó là thép chống ăn mòn cực tốt. Nếu lưỡi dao của bạn thường xuyên tiếp xúc nước biển, đây chính là loại thép hợp lý làm lưỡi dao. Nó cũng là thép kết cấu từ những hạt rất mịn, cho ra lưỡi dao rất sắc. Nó là phiên bản thay thế rẻ tiền hơn so với H1 và giữ cạnh sắc tốt hơn, nhưng tất nhiên, không thể bằng 154CM

Upper Mid Range

440C

Giữ cạnh sắc 4 điểm, chống ăn mòn 4 điểm, dễ mài 6 điểm

Từng được coi là thép cao cấp của Mỹ, 440c là thép  tốt khá toàn diện, nhưng giờ đã bị lu mờ trước các siêu thép mới. Đây là mẫu thép không gỉ được sản xuất hàng loại với mức giá phải chăng. Nó rất cứng, chống mài mòn và chống gỉ rất tốt. Giữ cạnh sắc tốt hơn người anh em 420HC nhưng chống ăn mòn kém hơn. Lưỡi dao 420HC có thể mài sắc dễ dàng. Đây là thép pha nhiều Carbon và Chrome nhất trong nhòm Upper Mid Range

Aichi AUS-8

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 4 điểm, dễ mài 8 điểm

Thép Nhật này rất giống thép 440B và nó chống ăn mòn tốt hơn 440C nhưng không cứng bằng. Nó khá dẻo dai nhưng không giữ cạnh sắc tốt như một số thép đẳng cấp Premium vốn pha nhiều Carbon hơn. Nhớ rằng nhiều Carbon thì cứng hơn và giữ cạnh sắc tốt hơn. AUS-8 rất dễ mài và cho cạnh sắc như dao cạo.

Carpenter CTS-BD1

Giữ cạnh sắc 4 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 6 điểm

Thép được làm theo yêu cầu của Spyderco. CTS-BD1 là thép nung chảy chân không theo công nghệ của tập đoàn thép Carpenter Mỹ, nó giống thép AUS-8 và 8Cr13MoV, nó ưu việt hơn chút ở khả năng giữ cạnh sắc. Nhiều Chrome hơn và cũng chịu ăn mòn tốt hơn. CTS-BD1 là thép Chrome Carbon cỡ vừa  (thành phần vừa phải, cân bằng các tính năng). Nó giữ cạnh sắc tốt nhưng không chống mài mòn bằng thép Carbon cao như 154CM.

Ahonest 8Cr13MoV

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 3 điểm, dễ mài 8 điểm

MoV (hoặc Cr) series là thép xuất xứ từ Trung Quốc, nó có thể so sánh với AUS-8 Nhật Bản nhưng nhiều carbon hơn một chút. Về mức giá thì rất tốt, và với thương hiệu như Spyderco, chuyên gia về tôi thép sẽ mang lại cho bạn một lưỡi thép cực tốt

Sandvik 1428CN

Giữ cạnh sắc 4 điểm, chống ăn mòn 6 điểm, dễ mài 6 điểm

Thép 14C28N là thép đến từ tập đoàn Sandvik Thụy Điển, đây là bản nâng cấp của thép 13C26 (đọc phía dưới). Thực tế là Kershaw yêu cầu Sandvik làm cho thép 13C26 chống ăn mòn tốt hơn, kết quả là 14C28N ra đời. Bạn sẽ thấy nó chứa nhiều Chrome hơn và ít Carbon hơn 13C26, nhưng điều bí mật của nó là có một lượng Nitrogen, tăng khả năng chống ăn mòn. Nói chung đây là loại thép “đáng kinh ngạc” ở đẳng mid-range và nó có thể mài cực sắc.  Có lẽ đây là thép tốt nhất cho những con dao giá thành loanh quanh $30

Lower Mid-range

440A

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 5 điểm, dễ mài 9 điểm
Rất giống với 420HC như nó nhiều Carbon hơn, kết quả là tăng khả năng chống mài mòn và giữ cạnh sắc, tuy nhiên lại chống ăn mòn kém hơn

420HC

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 8 điểm, dễ mài 9 điểm

Đây là ông của của thép 420. Thép 420HC giống thép 420 nhưng nhiều Carbon hơn (HC nghĩa là High Carbon), việc này làm cho thép cứng hơn. Ta vẫn coi đây là thép đẳng trung bình thấp nhưng những hãng dao lớn (VD: Buck) vẫn mang đến một đẳng cấp cao cho thép này thông qua quá trình tôi luyện. Kết quả là thép giữ cạnh sắc tốt hơn, chống năm mòn tốt hơn. Thực tế đây là thép chống ăn mòn hàng đầu, mặc dù giá thành thấp. Bạn dễ dàng tìm thấy thép này ở những con dao <50$ và trong các Multi-Tool.

Sandvik 13C26

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 4 điểm, dễ mài 7 điểm

Đây là phiên bản thép AEB-L của Sanvik, loại thép mà thường dùng làm dao cạo râu.  Nó giống với thép 440A với lượng Carbon nhiều hơn Chrom, làm cho lưỡi dao cứng hơn, chống mài mòn và chống ăn mòn tốt hơn. Trong thực tế khó phân biệt được chúng hơn gì nhau. Sankvik đã ra phiên bản thép 14C28N nâng cấp một chút so với 13C26

Generic 1095

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 2 điểm, dễ mài 8 điểm

Đây là thép phổ biến nhất trong series thép 10-series (1% Carbon), nó chịu ăn mòn kém và giữ cạnh sắc trung bình. Tại sao bạn cần thép 1095? Thực tế thép 1095 rất bền, dẻo dai, nó chống mẻ rất tốt và cực kỳ dễ mài sắc. Khi mài sắc nó cho cạnh sắc cực tốt và chi phí rất rẻ để sản xuất. Đây là thép tuyệt vời cho những con dao lưỡi lớn, nhưng con dao sinh tồn chuyên sử dụng vào việc nặng nhọc, nó không phù hợp với con dao EDC. Nhiều nhà sản xuất phủ lớp oxide lên thép 1095 của họ để chống ăn mòn, bạn chỉ cần bôi cho chúng một ít mỡ là được.

Low-end

420J

Giữ cạnh sắc 2 điểm, chống ăn mòn 8 điểm, dễ mài 9 điểm

Thép  giá rẻ của 420, giá thành hạ nhưng vẫn rất ổn cho nhu cầu sử dụng thông thường. Nó rất ít Carbon (thường ít hơn 0.5%), cho lưỡi dao ko cứng, dễ mất cạnh sắc nhanh. Thép 420  này làm cho lưỡi dao mất cạnh sắc nhanh trong quá trình sử dụng. Bù lại, nó dẻo và chống gỉ cực tốt, nhưng nó lại không chống mài mòn, chống xước. Bạn sẽ thấy thép này dúng cho các dao giá thành thấp, sản xuất hàng loạt.

Aichi AUS-6

Giữ cạnh sắc 3 điểm, chống ăn mòn 5 điểm, dễ mài 9 điểm

Thép của Nhật tương được với thép 420. Nó là thép mềm, chất lượng thấp, ít Carbon nhưng chống ăn mòn tốt.

 

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment