Alfred Cunningham

Hội Viên Hội Á Châu Hoc Hoang Anh Anh Quốc, Chi Nhánh Trung Hoa

Member China Branch, Royal Asiatic Society

 

HẢI PHÒNG, HÀ NỘI &

DU HÀNH LÊN MẠN NGƯỢC

[Năm 1902]

 

Ngô Bắc dịch

 

 

 

Lời Người Dịch:

 

       Dưới đây là phần dịch Lời Giới Thiệu và Các Chương về Hải Phòng, Hà Nội và Du Hành Lên Mạn Ngược, trong tác phẩm nhan đề The French In Tonkin and South China của Alfred Cunningham, một ký giả người Anh thường trú tại Hồng Kông, giới thiệu về Bắc Kỳ nhân cuộc viếng thăm nơi đây trong mùa xuân năm 1902, dưới thời Toàn Quyền Doumer.  Cũng như các tác giả người Anh khác cùng thời, tác giả cổ vũ cho việc mở cửa Đông Dương cho hoạt động tự do mậu dịch, hầu cho phép người Anh tham dự nhiều hơn nữa vào thị trường Đông Dương lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, văn phong vẫn chứa đựng cách nói mỉa mai, châm biếm người Pháp thường thấy trong các tác phẩm của các tác giả người Anh cùng vào thời kỳ đó.

 

*****

 

DẪN NHẬP

 

Các trang sau đây là kết quả của một cuộc thăm viếng Bắc Kỳ với một chiếc máy chụp ảnh trong mùa xuân năm 1902, và của các sự quan sát ghi nhận được bởi người viết với tư cách một ký giả thường trú tại Hồng Kông.  Một số độc giả có thể nhận định rằng đã có quá nhiều tầm quan trọng được gắn liền với các tham vọng của các láng giềng của chúng ta, những kẻ, như bị cáo giác, phần lớn bị ảnh hưởng bởi xúc cảm; và rằng các công tác của ông Doumer đã được gán cho sự nổi bật và nhấn mạnh không cần thiết.

Nhiều con số trích dẫn được rút ra từ báo cáo của ông Doumer; các con số khác đước biên soạn từ nhiều nguồn tin đáng tin cậy khác nhau.

Người viết nhân cơ hội này xin ghi lại lòng biết ơn của mình đối với các nhà Chức Trách tại Bắc Kỳ về sự lịch sự đã dành cho người viết.

Người viết không dự tính trưng dẫn lịch sử cổ xưa của Bắc Kỳ hay ngay cả việc kể lại sự chiếm đoạt nó: các sự kiện này được thảo luận một cách thích đáng tại các tác phẩm khác.  Mục tiêu của người viết là cố gắng và trình bày một sự phác thảo chính xác về thuộc địa y như hiện trang vào lúc này, và để thiết định một sự so sánh giữa Pháp và Anh, trong hoạt động chính trị và thuộc địa, với hy vọng rằng chúng ta có thể được khích động để tiến tới các thành quả tốt đẹp hơn nữa.

 

A [lfred]. C[unningham].

 

Hồng Kông, ngày 1 Tháng Tám, 1902.

 

—–

 

LỜI TỰA CHO ẤN BẢN THỨ NHÌ

Sự ấn hành ấn bản lần thứ nhì đã giúp cho người viết thực hiện được các sự hiệu chính và tăng bổ.

  1. C.

Hồng Kông, ngày 1 Tháng Mười, 1902

***

Hải Phòng

Vị Trí – Hải Cảng Mới Đề Nghị — Sự Mô Tả Trước Đây – Đồ Sơn – Khu Định Cư – Các Khía Cạnh Xã Hội Và Kinh Doanh – Các Câu Lạc Bộ — Giải Trí – Thương Mại – Lao Động – Các Kỹ Nghệ — Đường Rầy Xe Hỏa

__

Trong các năm tám mươi [của thế kỷ thứ 19, chú của người dịch] khi nước Pháp sáp nhập Bắc Kỳ, đã hiện hữu một niềm tin chính thức rằng Hải Phòng sẽ cạnh tranh với Thượng Hải như một hải cảng thương mại, nhưng mặc dù các sự tin tưởng hăng say vẫn còn ngự trị ở đó, thời gian đã làm dịu bớt nhiệt tình này.  Chính Quyền Thuộc Địa sau các năm ngập ngừng và nhiều kinh phí, sau cùng đã quyết định rằng hải cảng thương mại chính yếu phải được tái thiết lập trên bờ biển Bắc Kỳ, và rằng Hải Phòng, nơi hiện nay nắm giữ vị thế đó, phải trở lại thành một trung tâm phân phối nội địa.  Thời đại của Hải Phòng đang chính thức được tính từng ngày bởi vì vị trí không thuận tiện của nó, là một cảng sông và gồm chứa trên lối tiếp cận, hai hàng rào cản, tại cửa con sông Cửa Cấm.  Các toàn quyền trước đây, trong khi thừa nhận các điểm bất lợi phát sinh từ vị trí của nó, đã ngần ngại để tiến hành bất kỳ điều gì khác hơn một sự chữa trị tại chỗ, hậu quả của các khoản tiền lớn lao đã sẵn được chi tiêu để làm cho hải cảng được tiếp cận dễ dàng hơn.  Tuy thế, các tàu với tầm nước sâu từ mười tám đến hai mươi bộ Anh giờ đây có thể vào được thành phố.  Một khoản tiền khác nữa tổng số 4,000,000 phật lăng đã được biểu quyết trong năm 1902 để cải thiện hải cảng.  Tuy nhiên, ông Doumer đã đề nghị rằng một hải cảng hải vận mới cho Bắc Kỳ (Tonkin) sẽ phải được tạo dựng tại vịnh xinh đẹp Hạ Long, kề cận các mỏ than Hòn Gay và Ke Bao[?] phong phú, và rằng một con kinh sẽ nối kết nó với Hải Phòng, khoảng cách giữa hai nơi vào khoảng hai mươi lăm dặm.  Đa số các thương nhân của Hải Phòng đã ca ngợi kế hoạch, mà họ nghĩ sẽ thúc đẩy sự phát triển của thuộc địa và sẽ làm lợi cho họ, một cách cá nhân.  Các tàu hơi nước chạy đường đại dương có trọng tải lớn sẽ có thể tiến vào hải cảng mới, và các tàu hơi nước chở thư tín của Công Ty Vận Tải Đường Biển (Compagnie des Messageries Maritimes) sẽ có thể không cần đến các tàu nhỏ, nối chuyến hiện đang chạy từ Sàigòn đến Hải Phòng và sẽ cập bến trực tiếp nơi hải cảng mới.  Sông Bặch Đằng Giang, một chi lưu của sông Cửa Cấm, nối liền thành phố kể sau [tức Hải Phòng, chú của người dịch] với Vịnh Hạ Long, nhưng nó chỉ có thể hải hành được bằng tàu hơi nước loại nhỏ.  Hải Phòng nằm cách 300 dặm phia nam  Hồng Kông.

 

Mặc dù không có gì để nghi ngờ rằng sự tạo lập một cảng biển tại bờ biển phía bắc của Bắc Kỳ, đặc biệt tai nơi đề nghị, sẽ làm lợi một cách cụ thể cho thuộc địa, điều vẫn còn có thể tra hỏi rằng nếu sự bất khả tiếp cận của Hải Phòng đối với các tàu hơi nước loại to có hạn chế mậu dịch một cách nghiêm trọng hay không.   Nếu cần phải chuyển hàng hóa đến Hải Phòng, để người ta lấy nó một khi chúng đã sẵn ở đó, như ở Thượng Hải, chắc chắn còn nhiều khó khăn cho sự tiếp cận. Đúng hơn dường như các nhà thương mại ở Hải Phòng sẽ vui vẻ phục tùng cả rào cản bằng cát và bùn, một khi chỉ cần vứt bỏ đi hàng rào khó chịu của sở Quan Thuế và Công Quản (Douanes et Regies).  Nếu ông Doumer, hay người kế nhiệm ông, có thể nghĩ ra một đường dây xâm nhập rào cản đó, khi đó ông sẽ thực sự là ân nhân của giới thương gia và của xứ sở.

Ông Hoàng xứ Orléans (Prince d’Orléans) đã viết cho đồng bào ông rằng “Chúng ta đã làm chủ nhân ông của Bắc Kỳ chưa đến hai năm trước khi chúng ta bao quanh nó với một bức tường dầy của các sắc thuế quan, và để làm vừa lòng một số ít các nhà mậu dịch Pháp, chúng ta đã ngăn chặn sự phát triển thương mại của thuộc địa, không suy nghĩ rằng một thuộc địa chớm phát triển cần đến sự tư do tối đa và hành động tự do, rằng các số nhập cảng và xuất cảng càng lớn hơn, các doanh lợi càng nhiều hơn.  Điểm chính là khuyến khích tư bản đên nơi và guồng máy được thiết lập, để khai mở một con đường cho thương mại và làm cho nó trở nên giản dị và rõ ràng càng nhiều càng tốt.  Điều này đã không được để ý tới.” * Về các điều này,  ông Hoàng quá cố người Pháp, giống như các nhà tiên tri khác, không phải lúc nào cũng được dành cho danh dự mà ông xứng đáng được hưởng tại xứ sở của chính ông.

 

Hải Phòng ngày nay là một công trình bất hủ của lao động và sự tính táo bạo của Pháp.  Một sự mô tả hải cảng trong năm 1880 phác họa nó tọa lạc cả bên bờ của một lạch nước.  Các đường xá thì hẹp, gớm ghiếc và dơ bẩn, và cho thấy không có sự cải tiến dưới chế độ giám sát của Pháp.  Các bờ sông thì thấp và chứa bùn phù sa, từ đó khu định cư của người Pháp đã tốn rất nhiều công sức và phí tổn để khai hoang.  Các kiến trúc bản xứ được xây dựng một cách tồi tàn bằng bùn, tre và cói.  Các kiến trúc đàng hoàng duy nhất là các kiến trúc được chiếm ngụ bởi người Trung Hoa và các người ngoại quốc.

Một tác giả khác mô tả địa điểm bốn năm sau đó đã viết “Thị trấn có lẽ tăng trưởng, ngay dù điều này cũng được để ngỏ cho sự tranh luận, nhưng không có tình huống nào để nó có thể phát triển nhanh chóng được, bởi các địa điểm xây dựng chỉ có thể có được bằng cách thu thập một cách khổ sở bùn và đất sét từ các cánh đồng chung quanh, và đắp nó lên để tạo thành một nền trên đó một ngôi nhà có thể dựng trên một bệ cao một hay hai bộ Anh (feet) đối với mặt đầm lầy, trên đó phần lớn hơn của thị trấn bị biến cải bởi một làn sóng cao.  Ngay các đường xá cũng phải được xây dựng theo cách này … Dường như chỉ có nước lợ mới cứu vãn Hải Phòng khỏi trở thành một nghĩa địa thường lệ của người Pháp.  Thoạt nhìn vào đầm lầy trông xấu xa xâm nhập vào mọi phần của thị trấn và bốc hơi dưới ánh mặt trời bừng bừng, người ta sẽ nghĩ không cách gì cứu nó thoát khỏi một dịch bênh.  Như hiện thực, mọi căn nhà thực sự là trung tâm của một hầm chứa phân.” **

Kể từ đó Hải Phòng đã trải qua một sự biến thể, và ngày nay nó là một thành phố tân tiến được xây dựng và thoát nước hoàn hảo với các đường xá tốt và các đại lộ đẹp đẽ, và mặc dù nó không thể tuyên nhận là một thành phố xinh đẹp như Hà Nội, song khi cứu xét đến các khó khăn khởi đầu theo đó nó đã được xây dựng, nó có thể được nhìn như một thắng lợi to lớn hơn cho chế độ thực dân Pháp.

Một con đường được tạo lập gần đây nối liền hải cảng với hòn đảo nhỏ ở Đồ Sơn, nằm ở cửa con sông Cửa Cấm, đã trở thành một nơi làm loãng nước ven biển sang trọng, và thụ đắc một khách sạn xinh đẹp và nhiều biệt thự nhỏ ngoạn mục, nơi mà cư dân Hải Phòng có thể vui chơi cuối tuần.

Một lạch nước rộng bao quanh khu định cư cõ ở Hải Phòng, tách biệt nó khỏi phần dân cư mới, và điều đã được quyết định là lấp đầy con lạch này và tạo nó thành một lối di chuyển khoảng khoát.  Có nhiều khách sạn tốt, chính yếu là các Khách Sạn Thương Mại (Hotel du Commerce) và Khách Sạn Hoàn Vũ (Hotel de l’Univers); các cửa hàng thì to lớn và nhiều, trữ cất đầy hàng hóa, và rõ ràng có hoạt động kinh doanh phát triển.  Có hai tờ nhật báo rất đứng đắn.  Từ một khía cạnh đô thị, thị trấn được quản trị tốt đẹp; các đường xá rộng rãi và được giữ sạch và trong tình trạng tốt; các lối đi bộ thì khoảng khoát và được che mát bởi cây cối, và người đi bộ không bị bắt buộc, như tại Hồng Kông, phải men theo đường lộ để né  tránh các đám đông các phu thợ lê bước bốc mùi ghê gớm.  Thị trấn được thắp sáng bằng điện.

Các cư dân Pháp đón nhận sự lưu vong khỏi xứ sở thân yêu của họ một cách đầy triết lý và thoải mái.  Tất cả đều tuyên bố họ oán ghét sự phân cách, nhưng họ đã đền bù cho sự hy sinh đến mức tối đa có thể làm được.  Họ không phải là những kẻ mà các người bạn Hoa Kỳ của chúng ta sẽ gọi là “các người hăng hái làm việc” (hustlers)”, và sau tách cà phê hay chocolat buổi sáng, họ bắt đầu làm việc vào lúc 8 giờ và nghỉ làm vào lúc 11 giờ để dùng điểm tâm.  Thời lượng được dành cho bữa ăn này vào khoảng hai tiếng rưỡi, và trong thời gian đó công việc hoàn toàn được đình chỉ.  Bưu Điện đóng cửa, các cửa Hiệu khóa trái cửa, và mọi người ngưng làm việc một cách nhàn nhã để ăn và trò chuyện.  Ở mặt ngoài, Hải Phòng khi đó có khía cạnh của một thị trấn địa phương Anh Quốc vào một ngày Chủ Nhật.

Quang cảnh tại phòng khách [salon, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của một khách sạn ở Hải Phòng vào lúc 12:30 trưa, sau bữa ăn, là điều gì đó tân kỳ một cách nổi bật đối với một du khách người Anglo-Saxon.  Hãy tưởng tượng đến một phòng lớn; bàn chơi bi-da, chỗ đọc sách báo, quầy rượu và các buồng chơi bài đều chung một phòng, với hàng hiên mở rộng; hãy chụp hình nó với đông đảo các người đàn ông Pháp đầy sức sống, cùng với vợ và con của họ, trong một tâm trạng nhân hậu mà một bữa ăn ngon mang lại.  Cha mẹ ngồi ở các chiếc bàn nhỏ, đàm thoại và hút thuốc trong khi dùng cà phê, đa số vui chơi một canh bài, các trẻ em đã biển đổi một cách vui vẻ một góc phòng thành gian chơi đùa; các phụ nữ mặc áo dài buổi sáng và đội các chiếc mũ che nắng được trang điểm bởi các rèm xếp nếp – một loại nón đang ghét nhất.  Quang cảnh kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ khi, các đề tài trong ngày đã can kiệt, cuộc họp mặt được giải tán – có những người có thể vui hưởng một giấc ngủ trưa ngắn, số còn lại vật lộn với công việc.

 

Vào 1:30 trưa, công việc nói chung được tái lập, các cửa Hiệu mở khóa các cánh cửa, Bưu Điện rút lại các cảnh cửa chớp và các Văn Phòng Công khác dần dần xác định sự hiện hữu của chúng.  Giờ đây có thể mua sắm đồ vật gì đó, bởi tập tục đóng cửa [nghỉ trưa] là phổ biến, có lẽ không có doanh nghiệp nào bị mất mát.

Vào 5 giờ chiều, các văn phòng thương mại được đóng cửa, nhưng các cửa Hiệu thì không, và Hải Phòng tự hiến mình cho sự vui chơi và giải trí.  Đánh quần vợt xem ra là trò chơi ngoài trời duy nhất được theo đuổi tại Bắc Kỳ, ngoài trò cưỡi ngựa và săn bắn mà người Pháp rất say mê.  Các phụ nữ, các kẻ trong suốt cơn nóng của ban ngày gắng gượng mặc các áo dài buổi sáng và các chiếc mũ che nắng – một trang phục hợp lý và thoải mái nếu không cần biết đến nét thanh nhã – giờ này xuất hiện trên các cỗ xe ngựa, mặc quần áo đúng kiểu Paris, trông thật duyên dáng và sống động.  Đây là thời khoảng thú vị nhất của một ngày, và các cỗ xe ngựa, được kéo bởi các chú lừa bản xứ nhỏ bé, tung tăng theo mọi chiều hướng; có vài con đường tráng lệ, đường xá bất kể có nhiều sự lưu thông bằng xe cộ đã được bảo quản trong tình trạng tuyệt hảo.

Vào 6:30 hay 7 giờ tối, mọi người ăn cơm tối, và theo sau là các trò tiêu khiển xã hội, thường là chơi bài.  Các ban quân nhạc trình diễn tại các địa điểm công cộng thường đóng góp nhiều vào các thú vui của thành phố.  Dĩ nhiên là có nhà hát, là một kiến trúc rất xinh đẹp, mặc dù số chỗ ngồi thì ít so với kích thước của nó.  Nó đã tốn $80,000 để xây lên, và nhà thầu khai thác nhận được từ Chính Phủ $75,000 phật lăng mỗi năm như một khoản trợ cấp, từ khoản đó và các số thu, nhà thầu trả lương cho các nghệ sĩ, nhưng không kể các chi phí về việc mang họ sang từ quê nhà vì các khoản này được đài thọ bởi Chính Phủ.  Mùa nhạc kịch kéo dài ba tháng tại Hải Phòng và ba tháng tại Hà Nội, và nhà thầu khai thác cùng là một người cho cả hai thị trấn, khoản trợ cấp cho ông ta yểm trợ cho cả hai nơi.

Hội Quán Thương Mại (Cercle du Commerce) là một hội nhỏ, giàu có, được điều hành một cách nào đó theo các đường lối của Anh Quốc, mặc dù sinh hoạt của hội như nó hiện diện tại các thuộc địa Anh Quốc không được biết đến tại Bắc Kỳ.  Có các sự sắp xếp bữa ăn tối, và một thư viện nhỏ, với phòng đánh bi-da và một phòng khách (salon) chung, nơi các hội viên ngồi, nói chuyện, hút thuốc và đánh bài.  Trong một số buổi tối, các bà được mời và sảnh đường được dành cho âm nhạc hay khiêu vũ dành nhiều ưu đãi cho các phụ nữ vốn được nói là rất được tán thưởng.  Hội Quán Cây Đa (Cercle Banian), được đặt tên theo một cây đa mọc lên trong vườn, là một câu lạc bộ khác được hỗ trợ mạnh mẽ.  Vòng Đua Ngựa (Race Course) cách thị trấn một dặm, và một vườn hoa công cộng nhỏ, với bục hòa nhạc, tọa lạc phía trước Ngân Hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine).

Ông A. R. Marty, người mà danh tính là một từ ngữ quen thuộc tại Bắc Kỳ, và đang nổi tiếng không kém tại Hồng Kông, đã xây cất một ngôi nhà Trung Hoa tráng lệ bên ngoài thị trấn và bên cạnh đường rầy xe hỏa.  Nó được xây dựng rất công phu, phần lớn các vật liệu được nhập cảng một cách đặc biệt từ Quảng Châu (Canton), cùng với công nhân xây dựng ngôi nhà.  Đó là một ngôi nhà khó tìm được đối thủ tương đương tại miền Nam Trung Hoa, và hẳn phải tốn kém một khoản tiền khổng lồ.  Sự khoái chí của mọi người Trung Hoa khi nhìn thấy nó là điều tự nhiên, và nó được trang bị toàn bộ theo cách Trung Hoa, đầy các đồ cổ và các vật đắt tiền mà ông Marty đã sưu tầm trong suốt thời gian cư trú lâu dài của ông tại Trung Hoa.  Ông đã vô cùng hãnh diện về nó và với lý do vững chắc, mặc dù tên gọi địa phương cho ngôi nhà là “nỗi điên rồ của ông Marty: Marty’s Folly”.

Về mặt thương mại, Hải Phòng đang làm thất vọng.  Như hải cảng chính yếu của một thuộc địa giàu có, với một dân số được ước lượng khoảng 12,000,000 người, giờ đây đã được bình định và phát triển, du khách sau khi nhìn thấy Thượng Hải, Hồng Kông hay Singapore kỳ vọng sẽ tìm thấy một điều gì đó tiến bộ hơn những gì Hỉ Phòng phô bày.  Các ít bến tàu, bến chính được dành cho Sở Quan Thuế, và thay vì nhìn thấy hàng loạt nhiều tàu thuyền, chỉ có trung bình khoảng một tá, và các chiếc tàu này là tầu chạy cận duyên và chuyên chở.  Về mặt thương mại Hải Phòng có thể đã phát triển một cách chậm chạp nhưng không ai có bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng, nếu xứ sở được giải thoát ra khỏi sự tê liệt của Chính Sách Bảo Hộ Mậu Dịch và mở cửa cho thương mại tự do, nó sẽ phô bày một khía cạnh khác xa với bộ mặt ngày nay.

Một số khách du lịch, tuy thế, nhìn Hải Phòng xuyên qua các khía cạnh khác.  Hầu Tước Barthélemy *** nghĩ “Khách du hành lấy làm vui sướng đến một đất nước tràn đầy các thương nhân và nơi Chinh’ Quyền đủ loại như tại Sàigòn”, song với sự châm biếm rõ rệt, ông tiếp tục viết, “lên bờ một cách kỳ lạ, bởi giữa các bến của hải cảng là bảng trang hoàng đề tên “Ty Quan Thuế” và các bảng hiệu hành chính khác có chủ định rõ ràng gây sự kinh sợ cho hoạt động thương mại tự do.”

Các thống kê mậu dịch chứng thực cho một sự phát triển, mặc dù khó khăn để lấy được các con số.  Mậu dịch cho năm 1877 là 2,231,749 phật lăng, gồm 1,134,448 phật lăng cho nhập cảng, và 1,032,092 phật lăng cho xuất cảng.  Tổng số khai quan thuế của các tàu ngoại quốc và Trung Hoa là 309 chiếc, trong đó hơn 50% là của Anh Quốc.  Trong năm 1878 số nhập cảng từ Hồng Kông tương đương với 1,015,938 lạng (Tls: taels?) [không rõ vàng hay bạc?]; và xuất cảng sang Hồng Kông là 734,433 lạng [?].  Số nhập cảng từ Sàigòn là 8,363 lạng và số xuất cảng đến hải cảng đó là 216,133 lạng; phần lớn số xuất cảng xuống Sàigòn đi xuyên qua Hồng Kông.  Sau năm 1878, mậu dịch đã sút giảm một cách lớn lao, chủ yếu là vì sự ngăn cấm xuất cảng gạo và tình trạng bất ổn của xứ sở, nhưng đã bắt đầu phục hồi, và trong năm 1880 trị giá đăng ký số nhập cảng là 5,467,315 phật lăng, và số xuất cảng là 7,507,528 phật lăng, tổng cộng mậu dịch là 12, 974,838 [? phải là 12,974,833, có lẽ do lỗi sắp chữ của nhà in, chú của người dịch] phật lăng.  Số nhập cảng trong năm 1899 vào Bắc Kỳ, trong đó Hải Phòng là cảng biển chính yếu, tương đương với 1,800,000 Bảng Anh (Livres), trong đó 803,000 Bảng Anh là từ các nước ngoại quốc.  Số xuất cảng trong cùng năm là 774,000 Bảng Anh, trong đó chỉ có 50,000 Bảng Anh là từ Pháp và các thuộc địa của nó.  Các số nhập cảng chính là hàng dệt, khoáng chất, kim loại, mứt, rượu nho, vàng lá, bột mì, v.v… tất cả đều cho thấy một sự gia tăng liên tục.  Các phẩm vật xuất cảng hàng đầu là gạo, cá, hạt tiêu, than đá, và lụa.  Các hàng dệt Anh Quốc đang mau chóng nhường chỗ cho hàng dệt của các nhà sản xuất Pháp.

Lao động bản xứ thì rất rẻ so sánh với Hồng Kông và Thượng Hải. và chúng tôi nhận thấy, thí dụ, rằng các thợ in được trả tại Hải Phòng 50% ít hơn tiền công của cả hai nơi kể trên.  Các gia nhân là người An Nam, và một hệ thống đăng ký, chẳng hạn như đã được thảo luận và đề nghị tại Hồng Kông, thì thịnh hành, và nó được nói là rất hiệu quả, các gia nhân được chụp ảnh trước khi nhận được một giấy chứng nhận từ cảnh sát.  Tuy nhiên, thuộc địa, [cũng là] quê hương của gia nhân, giúp cho một hệ thống như thế dễ được thực hiện  một cách hữu hiệu, điều mà trong trường hợp của Hồng Kông sẽ trở nên khó khăn, các gia nhân ở đó đến từ đại lục.

Điều đáng lấy làm thỏa mãn để ghi nhận rằng nhiều kỹ nghệ địa phương đã được khởi sự hồi gần đây, trong đó chính yếu có một nhà máy dệt bông vải và một nhá máy sản xuất xi măng.  Công Ty Dệt Bông Vải Đông Dương (Société Cotonnière de l’Indo-Chine) hiện hoạt động tại Đường Avenue du fort Annamite, và chế tạo các cuộn vải có phẩm chất tốt, và được nói là một cuộc kinh doanh có lãi; trong khi đó Công Ty Xi Măng Portland Nhân Tạo Đông Dương (Société des Ciments Portland Artificiels de l’Indo-Chine), với số vốn 2,000,000 phật lăng, cũng là một doanh nghiệp phát triển, và hiện đang sản xuất một loại xi măng tốt.  Chúng tôi được thông tri rằng để bảo vệ các sản phẩm này và để khuyến khích các kỹ nghệ khác, Chính Quyền đã quyết định gia tăng các thuế quan trên cuộn bông vải và xi măng ngoại quốc nhập cảng.  Dưới các tình huống này, chừng nào mà các xí nghiệp địa phương chưa trở nên tự mãn trong sự thịnh đạt của chúng và nâng cao giá cá của chúng, điều sẽ được giả định là khách tiêu thụ sẽ được thỏa mãn, nhưng một châm ngôn tổng quát rằng sự cạnh tranh trong kinh doanh sẽ làm lợi trong nhiều khía cạnh cho giới tiêu thụ, trong khi sự bảo hộ thuế quan thường tạo bất lợi cho cả nhà sản xuất lẫn giới tiêu thụ.

Kỹ nghệ chính yêu là xưởng đóng tàu của các ông Maty và d’Abbadie, được thiết bị hoàn hảo và phát đạt, và chế tạo ra các tàu với trọng tải lên tới 500 tấn.  Phần lớn các tàu hơi nước chạy trên sông của họ được chế tạo tại đây.  Sự tham khảo đến dịch vụ tàu hơi nước huy hoàng của họ sẽ được tìm thấy ở nơi khác, và chắc chắn Hải Phòng sẽ mắc nợ không ít sự thịnh vượng của nó nơi dịch vụ thuận tiện và sâu rộng của các chiếc tàu hơi nước chạy đường sông của công ty này, liên kết nó với tất cả các địa điểm quan trọng trong nội địa.

Dân số của thành phố trong năm 1899 bao gồm 1,000 người Âu Châu, 10,000 người An Nam, 50 người Nhật Bản, 38 người Ấn Độ, và 5,000 người Trung Hoa.

Một đường xe hỏa nối liền Hải Phòng với Hà Nội đã được mở cho sự lưu thông vào Tháng Bẩy, 1902 và chắc chắn sẽ góp phần cho sự thịnh vượng gia tăng của Hải Phòng.

***

HÀ NỘI

Vị Trí – Một Sự So Sánh – Đời Sống Xã Hội – Một Ý Kiến Của Pháp – So Sánh Hồng Kông và Hà Nội – Các Khách Sạn – Các Kiến Trúc – Các Cửa Hiệu – Khu Sinh Sống Của Người Bản Xứ — Hồ Hoàn Kiếm – Thành Hà Nội – Vườn Bách Thảo – Bãi Đua Ngựa – Các Nài Ngựa An Nam – Phụ Nữ Thực Dân – Các Quán Cà Phê – Kinh Doanh – Đường Xe Điện – Trạm Xe Hỏa – Sự Phát Triển Của Hà Nội – Giới Chức Trách Tòa Thị Chính

Thành phố Hà Nội, hiện là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp, cách xa Hải Phòng khoảng 80 dặm.  Hiện tại du khach có thể di chuyển bởi một trong các tàu hơi nước có tầm nước nông, loại nhỏ của Công Ty Giao Thông & Chuyển Giao Thư Tín Miền Phù Sa tại Bắc Kỳ (Correspondances Fluvials au Tonkin), rời Hải Phòng lúc 8 giờ tối và đến Đáp Cầu, trên sông Cửa Cấm, vào lúc bình minh của ngày hôm sau.  Khi đó du khách có thể lên bờ và tiến vào tàu xe hỏa, sẽ chở du khách đến Hà Nội trong ba tiếng đồng hồ, hay có thể tiếp tục đi đến nơi đến bằng tàu hơi nước.

Một lối đi khác là bằng đường rầy xe hỏa mới giữa Hải Phòng và thủ đô, hiện giờ đi mất năm tiếng đồng hồ nhưng sẽ sớm được giảm xuống thành ba giờ.

Một phóng viên chiến tranh người Anh, ông James G. Scott, kẻ đã thăm viếng Hà Nội trong năm 1884 trong chiến dịch Bắc Kỳ, khi ghi chép các cảm tưởng của ông về thủ đô bản xứ nơi tác phẩm đáng chú ý của ông, France and Tongking, đã viết như sau:

“Có thể không cần bàn cãi rằng Hà Nội sau rốt sẽ vượt xa Sàigòn, thị trấn đẹp đẽ như hiện nay, giống y như sau rốt, nó tất nhiên sẽ thay thế cho Sàigòn như là thị trấn chủ yếu trong các lãnh thổ sở hữu của Pháp tại Viễn Đông.”

Mặc dù điều vẫn còn bị thắc mắc là liệu trong một vài khía cạnh, Hà Nội như một thành phố vượt trội trong hiện tại hơn thủ phủ của Nam Kỳ hay không, song dưới chế độ [régime, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của Toàn Quyền Doumer, sự tiên tri của ông Scott đã được hoàn thành, bởi ngày nay Hà Nội là thủ đô của Đông Dương, bao gồm các xứ Nam Kỳ (Cochin-China), Trung Kỳ (An Nam), Lào, Căm Bốt, và Bắc Kỳ (Tonkin).  Nó rất xứng đáng nhận danh dự đó.

Hà Nội, như một thành phố được xây dựng giữa các vùng ngoai vi mang sắc thái Á Châu, thì vượt trội hơn bất kỳ thành phố nào khác tại Viễn Đông.  Thượng Hải có thể tuyên nhận có nhiều doanh nghiệp hơn; Hồng Kông có thể hãnh diện nói về khu cư dân trên Đỉnh (Peak) cao và các con lộ đục ra từ núi đá tảng; Manila với khu phố cổ của nó, và Singapore với mức độ huy hoàng của nó, nhưng trong tổng thể [tout ensemble, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] Hà Nội chắc chắn là địa điểm trội bật.  Về mặt các đường lộ khoảng khoát và được bảo trì chu đáo, các không gian mở ngỏ và các khu dân cư cách biệt, Singapore đứng ở các vị trí hoàn toàn tương đương với Hà Nội; nhưng sau khi mặt trời lặn, Singapore thiu thiu ngủ trong khi Hà Nội ở vào thời khắc huy hoàng nhất của nó.

Khái niệm Đại Lục (Continental) bình thường của nếp sống thuộc địa Anh Quốc, có nghĩa, với ngoài lệ về sự đam mê của giống dân Anglo-Saxon dành cho thể thao ngoài trong bất kỳ thời tiết nào – điều họ không thể nào hiểu được – các kẻ thực dân bày ra việc tự biên tự diễn một cách công khai là phải chịu khổ sở đến mức tối đa.

Khái niệm Anglo-Saxon về đời sống thuộc địa của Pháp là, các láng giềng của chúng ta chi tiêu tiền của công cộng trong việc giúp cho họ được thoải mái đến mức tối đa.  Trong nhiều khía cạnh, điều này là đúng, và bất kỳ ai đã đến thăm một thuộc địa Pháp đều phải nhìn nhận rằng đời sống thuộc địa Pháp có nhiều sự việc đáng ca ngợi, và nhất định lôi cuốn nhiều hơn so với sinh hoạt thuộc địa của chúng ta.  Thực dân Pháp oán ghét việc phải hy sinh thú vui trong cuộc sống ở quê hương, và chắc chắc không có lý do tại sao người đó phải làm như thế.

Đời sống xã hội tại Bắc Kỳ được tiêu biểu bởi sự vắng mặt của tính chuộng hình thức bất tiện, bởi sự tự do hoàn toàn tách ra khỏi các kiềm chế xã hội của chúng ta, với hậu quả rằng trong khi người Anh dẫn đến, ở một tầm mức lớn lao, một sự hiện hữu xã hội giả tạo, người Pháp hoàn toàn sống thoải mái, và khi công việc đã kết thúc, họ đắm mình toàn diện vào sự giải trí và hưởng thụ.  Các nét đặc thù xã hội tinh tế của chúng ta rõ ràng không có mặt ở đó.  Chúng ta xem sự giải trí một cách nghiêm trọng và thường biến nó thành công việc; người Pháp không làm như thế, và hoàn toàn không theo quy uớc.

Hãy tưởng tưởng, các vị thánh thần ơi, tại Hồng Kông, vợ của một công chức [fonctionnaire, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] hàng đầu, thả bước dọc đường phố trong cái nóng giữa ngày của mùa hè với mũ cối (topee) màu trắng và áo dài buổi sáng thả lỏng, ghé ngang khách sạn để ăn trưa và trò chuyện sau đó.  Hay một sĩ quan quân đội hay hải quân cao cấp ngồi, cùng với vợ, sau bữa ăn tối, ở một chiếc bàn nhỏ trên vệ đường bên ngoài quán cà phê, nhấm nháp rượu ngọt (liqueur), đàm thoại và ngắm nhìn các người nồi trên các cỗ xe ngựa ngang qua!

Để đối chiếu, hãy chụp ảnh một phòng hòa nhạc tại một thuộc địa của Anh tại phương Đông, với khối thính giả an vị một cách nghiêm trọng, ăn mặc với đầy đủ trang phục buổi tối, tất cả mọi thứ đối với đầu óc của dân Gauls [Gallic, tức sắc dân Pháp, chú của người dịch], là cứng ngắc, trông thực trang trọng và không thoải mái đến mức tốí đa.  Người Anglo-Saxon biến sự vui chơi thành một bổn phận; các láng giềng của chúng biến các bổn phận của họ thành một thú vui.

Một buổi tối ở Hà Nội, chúng tôi đã dùng bữa tối với một sĩ quan quân sự quan trọng cùng với bạn của ông – nhà xây dựng chiếc cầu Hà Nội.  Ngôi nhà của ông là một ngôi nhà oai nghiêm với đầy các đồ vật đẹp đẽ.  Bữa ăn tối thật tuyệt hảo, vị chủ nhân đón tiếp chúng tôi vẫn mang đồng phục hàng ngày, với băng quấn từ cổ chân lên đầu gối (putties), người bạn của ông trong bộ y phục mầu trắng cài cúc!

Một lần nữa, khi đi ngược lên vùng trên, chúng tôi được khoản đãi một cách thú vị tại Tòa Trú Sứ Chính của các Tỉnh.  Mười hai người chúng tôi ngồi xuống dùng bữa ăn thịnh soạn, không kém phần thỏa thích mặc dù không có ai mang trang phục buổi tối.  Thật không thể tưởng tượng ra điều này tại một thuộc địa của Anh Quốc.

Song, mặc dù chúng ta có khuynh hướng chế diễu người Pháp, các tục lệ xã hội của họ, và các phương pháp thực dân hóa của họ, chúng tôi là các người đầu tiên sử dụng và tán thưởng các điều này khi chúng tôi đến thăm viếng các thuộc địa của họ. Tuy nhiên, người ta không thể đi xa đến mức nêu ý kiến rằng nữ du khách Anh Quốc sẽ đi trên đường phố trong cơn nóng của ban ngày với một chiếc nón cối và áo choàng buổi sáng.  Cô ta sẽ kinh sợ trước ý tưởng đó!

Cố Hoàng Thân Prince Henri d’Orléans đã nhận xét: – “Khi người Pháp chúng ta thực hiện chính sách thực dân, chúng ta thường biểu lộ sự thiếu kinh nghiệm lớn lao và thiếu sót dự kiến; nhưng đi kèm với các khiếm khuyết này là một số phẩm chất tốt đẹp nào đó mà chúng ta mang theo cùng với mình đến khắp nơi trên địa cầu.  Trước tiên, chúng ta có một sự khéo léo trong việc giải tỏa một thị trấn bản xứ và trong việc xây dựng bên cạnh nó một cái gì đó tức thời sạch sẽ và thanh nhã, ứng dụng các chi tiết nhỏ nhặt nhất sao cho tạo được một hiệu ứng toàn bộ làm vui mắt nhìn.  Khiếu thẩm mỹ thú vị của cô gái bán hàng mặc áo xám tại khu Montmartre có thể được tìm thấy dấu vết trong công việc của kẻ tiền phong ở California và viên hạ sĩ quan (non-commissioned officer) gốc Nam Kỳ, rằng điều gì đó tế vi và vô hình phát sinh từ tính khí của chúng ta và thuộc vào chính bản chất của chúng ta, giải thích cho sự kiện rằng, với khoản tiền chi tiêu nhỏ bé, chúng ta đã khai quang và tái kiến thiết một phần nào hai trong các thành phố đẹp đẽ nhất tại Viễn Đông – Hà Nội và Sàigòn.  So sánh chúng với những thị trấn xây cất bởi người Anh tại Bombay và Calcutta ở Ấn Độ, hay với Hồng Kông ở Trung Hoa, và bạn sẽ tìm thấy ở thành phố kể sau các kiến trúc to lớn, đồ sộ, biểu hiệu cho sức mạnh và quyền lực, nhưng nặng nề; trong khi đó tại những thị trấn do Pháp xây dựng, luôn luôn có sự tương đồng đôi chút với Paris.”

Phần lớn du khách sẽ nhìn nhận sự chính xác trong ý kiến của ông.  Sau một cuộc thăm viếng Hà Nội, người ta sẽ phải thắc mắc để biết những gì mà người Pháp sẽ thực hiện với Hồng Kông nếu họ chiếm hữu nó.  Công trình của người Anh trong nhiều khía canh thật tuyệt diệu, song sự phát triển hòn đảo thuộc địa là do sự kinh doanh tư nhân nhiều hơn công tác chính thức.  Về mặt các kiến trúc thương mại, Hồng Kông vượt xa Hà Nội; không có các tòa nhà kinh doanh khổng lồ như thế ở đây.  Không có nhu cầu về chúng, giống như tại Singapore, bởi đất đai thì tràn đầy, phẳng và rẻ tiền.

Trong việc quản trị hành chính thành phố, Hà Nội tiến bộ hơn nhiều so với Hồng Kông hiện nay hay mãi mãi sau này, trong khi nó lại là một thuộc địa của hoàng gia.  Các chức năng của Chính Quyền Hồng Kông mang tính chất Thành Phố (Municipal) hơn là Đế Quốc (Imperial); lãnh vực hoạt động của nó bị giới hạn trong lãnh thổ vài dặm vuông.  Ngoài công việc Thành Phố, giới Quân Sự hoàn toàn có khả năng một mình điều khiển chính phủ.  Đó là một cơ chế tốn kém như hiện trạng, và công việc quản trị Thành Phố của nó là một thảm họa.  Tại Hồng Kông chúng ta liên tục phải chịu đựng chính sách thiển cận và vụng về của các viên chức trước đây của chúng ta, và Chính Phủ ngày nay thay vì nhìn nhận điều này lại tự làm mất năng lực khi nỗ lực để bào chữa cho các sai lầm trong quá khứ bằng một chính sách chắp vá về quản trị, chống đối sự tự do hành động, né tránh kinh phí lành mạnh về công chánh, và lẩn trốn một hệ thống thành phố tân tiến.  Các ban ngành chính phủ bị cắt giảm tới mức nhỏ nhất có thể được, gần như mọi ngành đều thiếu nhân viên và hậu quả không có khả năng đáp ứng công việc thật bén nhậy mà một thành phố đang tăng trưởng đòi hỏi.  Tham vọng của viên Thống Đốc là muốn phô diễn một khoản thặng dư hàng năm – được tích tụ từ các tổn thất của các công trình công chánh thiết yếu và các sự cải thiện vệ sinh.  Tại Hà Nội, mọi việc mà Chính Quyền có thể làm được để thực hiện các sự cải thiện công cộng nhằm làm đẹp và hoàn chỉnh thành phố, họ đang làm.  Họ cũng sẵn lòng để chi tiêu tiền bạc trong khi chúng ta lại tích trữ nó thật nhiều.  Không có cư dân nào than phiền về thuế khóa quá mức của Thành Phố, nhưng mọi người đều ca ngợi công tác tráng lệ của các kỹ sư thành phố của họ.

Một tính chất nổi bật của việc xây dựng thành phố của Pháp, như được minh họa tại Hà Nội, và gần hơn tại Quảng Châu Văn (Kwang-chau-wan), là viễn kiến mà họ bộc lộ.  Họ thiết kế và xây dựng cho tương lai và trong khía cạnh này họ rõ ràng vượt trội hơn người Anh.  Liệu các kỹ sư của họ có vượt trội hơn các kỹ sư của chúng ta hay không về mặt huấn luyện là một câu hỏi đáng cứu xét; nhưng chắc chắn họ cho thấy các kết quả tốt đẹp hơn.

Thí dụ, Hồng Kông phải chịu đựng hồi gần đây một tình trạng tràn ngập các bệnh dịch, dịch hạch, dịch tả, và đậu mùa, hậu quả mà các chuyên viên đã tuyên bố của nạn quá đông dân, và, cộng đồng cũng tác cũng có bổ trợ, vào việc thoát nước không thích hợp và một tình trạng khan hiếm nước.  Sự việc này phát lộ một sự thiếu sót khả năng quản trị nơi các Thống Đốc trước đây, trong việc không ước lượng sự phát triển nhanh chóng của hải cảng, và sự thất bại của họ trong việc bước theo nhịp với sự phát triển.  Điều đó cũng phơi bày rằng các kỹ sư của chúng ta đã không có khả năng tương ứng với công tác thực sự của họ, hay nếu họ có khả năng, họ đã không thể thực hiện được các ý kiến của mình.  Hiện nay các phương tiện công cộng của sự chuyển vận mau lẹ và rẻ tiền để cứu giúp các quận hạt tắc nghẽn một cách khủng khiếp đều không hiện hữu, và không có phà công cộng cung cấp sự nối liền giữa hòn đảo và đất liền, công việc như thế được dành cho dịch vụ độc quyền của một công ty địa phương.  Tuy nhiên, một dịch vụ xe điện được hứa hẹn, và một viên chức đã đề nghị về một chiếc cầu ngang qua bến tàu, nhưng các chiếc phà hơi nước công cộng, đủ lớn để chở được một chiếc xe điện, sẽ ít tốn kém hơn và thực tế hơn.

Mặc dù thuộc địa đã từng có một bài học khách quan đáng sợ như thế trong sự quản trị chính quyền sai lạc như thế, bất kể điều đó, ở khu Kowloon đang bị xâm nhập bởi cùng các lỗi lầm, cùng các tai hại.  Đất đai, mọi tấc đất có thể được bán, cho mục đích xây dựng, đều được quyết định bởi Chính Phủ.  Các đường xá, mau chóng trở thành các lộ chính tiến vào vùng Đất Mới (New Territory), thì nhỏ hẹp và chiều ngang của nó chỉ bằng với con đường trung bình tại khu vực dân bản xứ của Hà Nội.  các ngôi nhà Trung Hoa cao ngất, nhiều cái được xây cẩu thả, xấu xí và thiếu vệ sinh, đang hàng ngày được dựng lên, trong một số trường hợp giáp với mép lề của các con đường này, và các ngôi nhà ngoại quốc thực sự, đứng biệt lập trên mảnh đất đất riêng của chúng, và thích hợp cho sự cư ngụ tại khí hậu nhiệt đới, trong thực tế còn ít.  Các chủ đất được phép để dựng lên các dẫy nhà dành cho sự cư trú của người nước ngoài, sẽ đua tranh với một khu vực ngoại ô London bị lạm dụng, và hoàn toàn không thích hợp với địa điểm **** và khi các mảnh sất trống được xây lên và người Trung Hoa lũ lượt kéo vào trung tâm và tràn ngập nó, một sự tái diễn các nạn dịch Hồng Kông có lẽ sẽ theo đuôi.  Trong Tháng Tám năm 1902, Ngài Sir William Gascoigne đã khánh thành một công viên nhỏ, trước đó đã không có sự dự trù cho các khoảng không gian trống.

Có mọi lý do để tin rằng nếu người Pháp sắp xếp khu Kowloon nó sẽ là một khu định cư đẹp đẽ, với vườn hoa và các đại lộ xinh đẹp, các ngọn đồi sẽ được cắt thấp xuống và các nhà ở được rải trên một khu vực rộng lớn hơn với các phương tiện lưu thông công cộng.  Người Trung Hoa sẽ có khu đặc biệt của họ và ở lại đó.  Sức khỏe và hạnh phúc tương lai của các đồng hương sẽ là lý tưởng của kỹ sư người Pháp.

Có nhiều khách sạn, quán cà phê, và nhà nghỉ tại Hà Nội để chứa các khách thăm viếng, quan trọng nhất là Khách Sạn Métropole và Khách Sạn Hà Nội.  Khách sạn trước là một kiến trúc tráng lệ, mới được dựng hồi gần đây, và tọa lạc trên Đại Lộ Henri Rivière, đối diện trực tiếp với Tòa Thống Sứ (Résidence Supérieure)  Khách sạn được trang bị một cách thanh nhã, mỗi phòng ngủ có một buồng tắm liền bên; và có một phòng khách chung, salons de conversations [tiếng Pháp trong nguyên bản, phòng nói chuyện,  chú của người dịch], phòng đọc sách báo.  Các sự sắp xếp vệ sinh thì hoàn hảo, và tiện nghi tổng quát không còn thiếu thứ gì.  Dịch vụ thật tốt, các kẻ phục dịch tại phòng ăn là người Trung Hoa và các kẻ trực phòng là người An Nam .  Cách nấu nướng là những gì mà người ta sẽ mong đợi tại một thị trấn Pháp, và giá tiền thay đổi từ $6 đến $7.70 một ngày hay $155 một tháng.  Đối với hai người, $10 đến $12 một ngày và $210 đến $250 một tháng, và theo tục lệ một chai rượu vang trắng hay đỏ, và rượu ngọt (liqueur), được miễn phí ở cả hai bữa ăn, trưa và tối.  Khách Sạn Hà Nội cũng là một địa điểm rộng rãi và được điều hành chu đáo, tương tự, có khách đông đảo, và gồm một quán cà phê rất được ưa chuộng.

Hà Nội là một thành phố rất thuận tiện để du lịch trong đó.  Có nhiều xe kéo [pousse-pousses, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], tên họ gọi cho jinrickisha [tiếng Nhật trong nguyên bản, jin để chỉ người, riki, sức, và sha, xe, tức xe kéo bằng sức người, chú của người dịch], với phu kéo người An Nam.  Một đường xe điện chạy ngang qua thị trấn và các khu ngoại ô trên một khoảng cách dài tám dặm, và có đông khách là người ngoại quốc cũng như dân bản xứ.  Các kiến trúc chính là Tòa Thị Chính (Mairie), Trụ Sở Bưu Điện và Điện Tín, Dinh Thống Sứ, Ngân Khố, Khu Quân Sự và các văn phòng khác.  Các Trường Học Công Lập, tốn phí 175,000 phật lăng, tạo thành một dẫy kiến trúc lộng lẫy, với các phần dành riêng cho con trai và con gái, giảng đường, v.v…  Một Phủ mới cho Toàn Quyền đang trong tiến trình xây dựng gần Vườn Hoa Công Cộng, cũng như một Pháp Đình mới.  Dẫy phố trung tâm nguy nga của các kiến trúc Khu Hội Chợ Triển Lãm, hiện đang hoàn tất, sau rốt sẽ biến thành một viện nghiên cứu về khảo cổ và ngữ học.  Một nhà hát mới với 800 chỗ ngồi, được dựng lên bởi Chính Quyền Thành Phố, chỉ cách vài thước ngôi nhà thờ Tin Lành Pháp nhỏ bé và xinh đẹp.

Các đường xá thì rộng rãi, được che mát bởi cây cối, và trong tình trạng tuyệt hảo.  Chúng đều được đắp bằng đá giăm và tổng số chiều đài của chúng, kể cả các lối đi vùng ngoại ô, lên tới hơn năm mươi dặm Anh (miles).

Các cửa hiệu to lớn và chất đầy hàng hóa tạo thành một đặc điểm nổi bật của đời sống Hà Nội, nhiều hãng may đồ trang phục phụ nữ và vải vóc sẽ làm hài lòng các khách phụ nữ trong suốt thời gian Triểm Lãm.  Trong thực tế, cái nhìn với nhiều đường phố với các cửa hiệu hạng nhất đủ mọi loại, với các mái hiên che nắng bằng vải nhiều màu, các cửa sổ bày biện lôi cuốn, các cửa hàng thịt và bánh nướng ngoại quốc, tất cả đều được điều hành bởi người Pháp và không có người Á Châu, là một bức tranh quyến rũ làm gợi nhớ các cảnh tượng thú vị của đời sống quê nhà.  Như tại các thành phố Trung Hoa, các cửa hàng bản xứ bị giới hạn vào các khu đặc biệt.  Các thợ đồng thau và đồ đồng có một khu vực, các người sản xuất cuộn giấy chiếm một khu khác, v.v….  Công việc bản xứ hay nhất được sản xuất là việc khảm xà cừ trên gỗ màu đen bản xứ, trên các loại hàng đẹp đẽ một cách xuất sắc có thể tạo ra được dưới hình thức các bức bình phong, tủ, khay, hộp, v.v…  Nơi sản sinh sản phẩm này thực sự là thị trấn Bắc Ninh.  Một số đồ thêu trên lụa rất thanh nhã cũng có thể tìm mua được.

Tại trung tâm thành phố có tọa lạc Hồ Nhỏ [Petit Lac, tiếng Pháp trong nguyên bản, để chỉ Hồ Hoàn Kiếm, chú của người dịch], với đảo nhỏ của nó và một chiếc cấu mộc mạc ở một đầu, và ở giữa đảo là một ngôi chùa An Nam trông cổ quái [có lẽ để chỉ Tháp Rùa?, chú của người dịch]], được phủ trên nóc bởi một tượng [Nữ Thần] Tự Do (?statue of Liberty) bằng đồng.  Tiền bạc làm bức tượng này được thu thập từ các khoản tiền nhỏ của nhiều người đóng góp bản xứ.  Hồ rộng khoảng gần nửa dặm vuông,  lối đi quanh hồ tạo thành một lối dạo mát thú vị, và nếu khách bộ hành trở nên mệt mỏi, người đó có thể ngồi nghỉ tại quán cà phê của Khách Sạn Bên Hồ (Hotel de Lac), và chú mục vào phong cảnh trước mặt.  Cạnh hồ là Nhà Thờ Công Giáo La Mã, và ở phía bên kia, bên cạnh Văn Phòng Bưu Điện và Điện Tín, là một vườn hoa công cộng nhỏ với một bục hòa nhạc và một bức tượng bằng đồng tạc hình ông Paul Bert.

Từ Hồ Nhỏ này, du khách có thể lấy xe điện đến Tòa Thành, đồn phòng thủ An Nam cổ xưa đáng chú ý của Hà Nội, các bức tường thành hãy còn hiện hữu.  Tại nơi đây nhiều binh chúng khác nhau của quân đội được đồn trú.  Trên nền tòa thành này, một công ty ở Paris hiện đang bận rộn xây cất một khu vực các nhà ở Âu Châu được thiết kế đẹp đẽ, với chợ cùng các tiện nghị khác đi kèm.  Dùng xe điện đi xa hơn chạy ngang thành phố cổ với những ngôi nhà cổ lỗ nhỏ bé, một khu vực mà người Pháp đã cho thoát nước toàn bộ và cải thiện, và các đường lộ giờ đây thì rộng rãi, sạch sẽ và bảo trì tốt.

Xe điện sau đó sẽ nhập vào các khu ngoại ô, ở một bên nằm rải rác các nhà ở kiểu biệt thự cách biệt đẹp đẽ với mọi kích thước phù hợp với mọi túi tiền, trong khi đó bên phía tay phải trải dài Hồ Trúc Bạch và Hồ Lớn Tây Hồ.  Có nhiều ngôi đền và chùa bản xứ, đền chính yếu là đền Đại Phật (Grand Bouddha), bên bờ Hồ Tây, có chứa một tượng đồng khổng lồ [? có lẽ tác giả muốn nói đến bức tượng đồng đúc hình ông Trọng, người chuyên đúc các tuợng Phạt khi trước, tại Đền Quan Thánh, chú của người dịch].

Gần nơi đây là Vườn Bách Thảo (Jardins Botaniques) thực sự là các vườn hoa công cộng thanh nhã và ngoạn mục nhất tại Viễn Đông.  Các vườn cây được xếp đặt một cách đẹp đẽ, và được cắt ngang bởi các đường xe ngựa che mát bởi cây cối.  Nơi đây trong cơn mát của buổi tối, các cư dân Hà Nội cưỡi trên các cỗ xe ngựa của họ, và những kẻ thích đi bộ hơn tìm được nhiều nơi ẩn náu quyến rũ.  Có một sưu tập nhỏ nhưng hay ho các thú vật, và một số loại đặc biệt về hổ, báo và gấu Bắc Kỳ được  nhìn thấy.  Các khu vườn, bao phủ một diện tích 23 mẫu tây (hectares), chứa đựng hơn 3,000 mẫu các loại thực vật.

Đi xa hơn nữa, đến Sân Đua Ngựa (Race Course), và rõ ràng được bảo trợ tốt.  Các cuộc đua được tổ chức vào ngày Chủ Nhật khi chúng tôi ở đó, và quang cảnh là một loại lễ hội.  Ngựa cưỡi là các con lừa Bắc Kỳ, các con vật nhỏ bé linh hoạt, trông hơi giống nhưng phần nào lớn hơn giống lừa Deli tại vùng Eo Biển [Mã Lai].  Chúng không đủ lớn cho người Âu Châu đễ cưỡi, vì thế các nài ngựa là các người An Nam nhỏ xíu, và hợp lại, họ đã trình diễn một số cuộc đua ngựa đẹp mắt.  Các nài ngựa có vẻ rất lấy làm hãnh diện về công việc của họ, và trông khệnh khạng khi mặc y phục mang màu sắc của chủ nhân của họ, [là] các đối tượng của sự ngưỡng mộ bản xứ.  Các con lừa thì đầy rẫy và rẻ tiền, và bởi có nhiều đường đi thú vị, đa số cư dân sắm một cỗ xe và một đôi lừa.  Các quang cảnh trên các đường lộ xuyên qua các khu vườn làm nhớ đến các dự kiến về khu Lunetta tại Manila trong thời kỳ lệ thuộc Tây Ban Nha, đặc biệt khi một ban nhạc đang hòa nhạc.

Khi đó là thời điểm để nhìn thấy phụ nữ Pháp xinh đẹp nhất.  Người đàn bà cởi bỏ y phục nhẹ, lùng thùng của buổi sớm hơn trong ngày, và có thể được nhìn thấy đang mang trang phục kiểu Paris thanh nhã, trong cỗ xe của bà ta được kéo bởi một đôi lừa, với kẻ đánh xe và “phục dịch” (“tiger”) có cánh tay khoanh lại, mang đồng phục bảnh bao, và đôi giầy ủng ống cao.

Cảnh tượng là một hình ảnh sáng chói, sinh động và thích thú; chuỗi xe ngựa di chuyển xuyên qua các con đường đẹp đẽ, với các người đi xe ăn mặc xinh đẹp.  Hà Nội trong thực tế là một thành phố có nhiều phụ nữ xinh đẹp.

Vào 7 giờ tối, cộng đồng ăn bữa tối, và sau 8 giờ các quán cà phê bắt đầu đông dần.  Các đoàn người kéo tới và tự tìm chỗ ngồi tại các bàn nhỏ bằng đá hoa cương: nhâm nhi rượu congac hay rượu ngọt (liqueurs) hút thuốc và trò chuyện.  Bia cũng là một thức uống được ưa thích.  Một cái vỗ tay, một lệnh gọi ngắn bằng tiếng Pháp “bồi” (pidgin French), và một người “bồi” An Nam mặc quần áo trắng mang ra một tấm khăn nhỏ, được đặt vào giữa bàn, và một cuộc chơi bài tiếp diễn, trong đó có các phụ nữ gia nhập.  Sinh hoạt quán cà phê rất ôn hòa, rất thích thú và rất phổ thông.  Một người Anh Quốc, trừ khi anh ta là một kẻ kiêng cữ, sẽ có thể cần đến các ly rượu mạnh hơn và các sự khích động hơn; một cốc bia hay một ly rượu ngọt nhỏ đủ thích hợp với người đàn ông Pháp vào buổi tối.

Giới quân sự hiển nhiên là đông đúc, các sĩ quan mọi cấp bị bắt buộc luôn luôn phải xuất hiện trong quân phục.  Như thường lệ, áo chẽn quân đội Pháp thường bằng vải đen, với cổ áo hay cửa tay màu đỏ, vàng hay bạc, ấn tượng trên người mặc và người quan sát không hoàn toàn quá xốn mắt như là áo choàng đỏ của một sĩ quan Anh mang lại, nếu người đó bị bắt buộc phải xuất hiện thường trực trong quân phục.  Vải khaki được mặc một cách sâu rộng – đặc biệt ở vùng thượng du, và băng quấn bắp chân theo mẫu thiết kế của Anh đang trở thành thời trang.

Các buổi dạ tiệc (soirées), khiêu vũ, hòa nhạc và diễn kịch cấu thành các thú vui xã hội của cuộc sống Hà Nội.

Hiện có một khối lượng lớn và gia tăng vũng chắc các doanh vụ được giao dịch tại Hà Nội, nơi mà dĩ nhiên sẽ phát triển một cách bao la nếu xứ sở chỉ cần được mở ngỏ cho mậu dịch tự do.  Nhiều kỹ nghệ địa phương đã được tạo lập, trong số đó có nhà máy bia, dệt bông vải, nhà máy giấy, chưng cất rượu bản xứ, và các nhà máy sản xuất diêm.

Cả Hải Phòng lẫn Hà Nội đều chưa đạt tới giai đoạn khi mà tiền tệ địa phương được đầu tư vào các công ty công lập, và dân chúng có thặng dư tiền mặt đầu tư tiền vào doanh nghiệp riêng của họ, hay gửi tiền về Pháp.  Thị trường cổ phần như đang hiện diện tại Hồng Kông hay Thượng Hải chưa được biết đến, nhưng khi một hay hai công ty công lập đã được thành lập để điều hành một ít kỹ nghệ xuất hiện, một định chế như thế là điều khả hữu trong tương lai.

Doanh nghiệp chính yếu là Công Ty Xe Điện (Electric Tramway Company), mà họ giải thích với chúng tôi là một phần tư nhân, một phần là công ty công lập, bất kể theo nghĩa nào.  Công trình được xây dựng trong năm 1900, và một dịch vụ xe điện tuyệt hảo nhất được cung cấp, chiều dài của tuyến đường vào khoảng tám dặm.  Các toa xe được xây dựng rất tốt và thoải mái, được chia thành hạng nhất và hạng nhì, và đều do người Pháp chế tạo.  Đi kèm theo xe là một toa nhỏ, mui trần, với các màu che bên hông bằng vải, trên đó khách đi có thể thích ngồi trong thời tiết nóng nực.  Xe điện được chạy trên một hệ thống truyền điện (trolley system), bởi một dòng điện biến đổi từ 500 đến 600 volts.  Nhà máy phát điện bao gồm ba máy phát điện mạnh có công suất 250 mã lực, và có 22 xe điện.  Các người bán vé và lái xe đều là người An Nam, toàn thể số nhân viên vào khoảng 100 người, trong đó có 8 người Pháp.  Các xe điện có khách đông đảo là người Âu Châu cũng như dân bản xứ, và công ty được nói kiếm được lợi tức tốt.  Giá vé tối đa là 5 xu cho hạng nhất, và 3 xu cho hạng nhì, và người đi có một chuyến đi thú vị trong bốn mươi phút cho một giá vé rất rẻ.

Một trạm xe hỏa đẹp đẽ đã được xây dựng trên Đại Lộ Boulevard Gambetta, nơi mà toàn thể mạng lưới của đường rầy xe hỏa Bắc Kỳ sẽ sớm hội tụ.  Từ chiếc cầu nguy nga băng ngang sông Hồng đường rầy xe hỏa chạy qua một cầu cạn bằng đá dài 600 thước, và sau đó đi xuyên qua thị trấn.

Trong năm 1897, 384 cơ sở ngoại quốc hiện hữu tại trung tâm đô thị của Hà Nội, từ đó cho đến 1901 con số của chúng đã tăng lên 608.  Số cư sở bằng gạch của dân bản xứ là 1,225 cũng được xây dựng trong cùng thời kỳ đó.  Có vài ngôi chợ được xây dựng rất tốt, và các ngôi chợ khác được dựng lên theo đòi hỏi.  Các nhà chức trách Thành Phố xứng đáng được ghi nhận cộng trạng về hệ thống thoát nước xuất sắc mà họ đã cung cấp với phí tổn không hạn chế, bởi xứ sở thì phẳng và đầm lầy, và nhiều hồ nước phải được san lấp vốn đã hiện hữu tại thành phố và các vùng ngoại ô.  Hệ thống Nước đã được xây dựng trong các năm 1895-6, nước được chuyển vận bởi một kinh đào, dài 25 cây số (kilomét), từ các giếng nước to lớn, cung cấp được 5,000 mét khối mỗi ngày.  Nước được dẫn vào các ngôi nhà người ngoại quốc, và có 85 trụ vòi nước (borne fontains) và 85 nhánh dẫn nước dành cho sự cung cấp nước cho dân bản xứ.

Thị trấn được thắp sáng bằng điện, ở đó có 523 ngọn đèn 523 nến (incandescent) và 55 ngọn đèn chiếu sáng khu người ngoại quốc.  Các khu vực bản xứ ngoại vi được thắp sáng bằng đèn dầu hỏa.  Thị trấn được tuần cảnh kỹ càng nhưng cảnh sát thì rất khiêm tốn.  Ngân sách Thành Phố được ước lượng cho năm 1902 lên tới $844,304, được đóng góp bởi các khoản khác nhỏ hơn về các sắc thuế cho thuê nhà $29,000; môn bài $60,000; thuế thân trên các ngoại kiều gốc Á Châu $17,484; thuế cá nhân trên người An Nam $9,458.  Số thu nhập từ các ngôi chợ trong năm 1901 là $71,497; lò sát sinh $18,682; phu kéo xe $43,370.

Dân số của Hà Nội là 160,000 người, trong đó có 1,500 người Âu Châu, không kể số quân đồn trú lớn, và 4,000 người Trung Hoa.  Thành phố lành mạnh một cách đáng ghi nhận, và nhiệt độ tối đa trong mùa hè, bắt đầu từ Tháng Tư, là 350 bách phân (950 F.), và xuống mức thấp nhất trong mùa đông, bắt đầu trong Tháng Mười, là 60 bách phân (4208 F.)   Đường rày xe hỏa giờ đây giúp cho các cư dân lên tới vùng núi đồi trong ít tiếng đồng hồ, nơi mà cái nóng của mùa hè có thể được né tránh, và nơi mà các cư sở thích thú có thể được xây cất.

Hiện thời cộng đồng đang chú ý một cách sôi nổi về kỳ Hội Chợ Triển Lãm sắp được mở ra tại Hà Nội trong Tháng Mười Một 1902, sẽ lôi cuốn du khách từ mọi nơi và một sự trình bày về Hội Chợ Triển Lãm này được dành cho một chương sách khác./-

DU HÀNH LÊN MẠN NGƯỢC

Giao Thông Miền Phù Sa Tại Bắc Kỳ — Hải Phòng – Các Con Muỗi – Đáp Cầu – Tàu Xe Hỏa – Quang Cảnh – Sông Hồng – Sơn Tây – Việt Trì – Sông Lô – Phủ Doãn – Hòa Muc [?Mộc] – Một Câu Chuyện – Các Niên Sử Dòng Sông – Tuyên Quang – Các Địa Điểm Đáng Chú Ý Khác

—–

Hành trình từ Hải Phòng về Hà Nội có thể được thực hiện một phần bằng tàu hơi nước, và một phần bằng xe hỏa, hay du khách có thể lên xe hỏa tại Hải Phòng và năm tiếng đồng hồ sau đổ xuống Hà Nội.  Miền châu thổ phì nhiêu nằm giữa Bắc Kỳ, giống như miền tây nam Trung Hoa, đầy các giang lộ, trên đó tọa lạc nhiều trung tâm bản xứ quan trọng về kinh doanh và các đồn quân sự bị biến đổi trong thời bình thành các kho trung chuyển hàng hóa [entrpots, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của các kẻ thực dân siêng năng.

Yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của Bắc Kỳ là đoàn tàu hơi nước đường sông có tầm nước nông tuyệt hảo được gọi là Dịch Vụ Được Trợ cấp Về Giao Thông Vùng Phù Sa tại Bắc Kỳ (Service Subventionné Fluviales au Tonkin), và được sở hữu bởi các ông Marty và D’Abbadie. Trụ sở của công ty này đặt tại Hải Phòng, nơi mà các văn phòng của họ tạo thành một dẫy cao ốc kinh doanh oai vệ nhất, và xưởng đóng tàu của họ, nơi mà nhiều chiếc tàu hơi nước của họ được đóng, là công nghiệp lớn nhất trong ngành tại Đông Dương.  Công việc kinh doanh được đích thân chỉ huy bởi hai người đứng đầu xí nghiệp, những kẻ mà năng lực và sự bén nhạy thương mại đã tạo ra sự thành công cho công ty.  Các tàu hơi nước của công ty này cung cấp các phương tiện cho sự truyền thông cá nhân với vùng nội địa; chúng chuyên chở các binh sĩ và chở khách du lịch; chúng vận tải thư từ và hàng hóa đến các phần sâu xa nhất của thuộc địa, và nơi mà sau hết các con sông quá nông để tiếp nhận được các tàu hơi nước có bánh lái sau đuôi với tầm nước nông hai bộ Anh (feet), công việc được đảm nhận bởi các thuyền bản xứ của Công Ty này và các thuyền khác làm việc với Công Ty.  Đoàn tàu được trợ cấp bởi Chính Phủ; các chiếc tàu được trang bị hoàn hảo và cung cấp một khối lượng tiện nghi đáng ngạc nhiên khi cứu xét đến kích thước của một số tàu trong chúng.  Đề tạo sự thuận tiện cho các khách du lịch, Công Ty ấn hành một quyển Hướng Dẫn Khách Du Lịch (Guide des Voyageures) hàng năm chứa đựng các thông tin thiết yếu và gồm cả một biểu đồ bằng màu, chỉ các tuyến đường được chạy bởi các tàu hơi nước.

Khi muốn về Hà Nội, chúng tôi lên tàu từ Hải Phòng vào lức 8 giờ tối, và nhận thấy tàu chật đầy các khách đi.  Nhiều người cẩn thận đặt mua vé các buồng riêng (cabins) trước, và chúng tôi đã có sự lụa chọn hoặc nằm ngủ trên các ghế dài ở phòng khách lớn hay trên sàn tàu.  Chúng tôi ưa thích trên sàn tàu hơn, nhưng một lá thư cá nhân của ông D’Abbadie sau rốt đã dành cho chúng tôi một buồng riêng ở một phần xa cách của chiếc tàu, mặc dù viên ủy nhiệm [commissaire, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], viên chức phụ trách vừa là thuyền trưởng kiêm quản lý tài chính, đã nói với chúng tôi và các hành khách thất vọng khác mà không đỏ mặt, rằng không còn giường ngủ còn trống nào.  Cách xử sự chân thật của ông dưới các tình huống căng thẳng cần phải được  nêu ra để thăng thưởng cho ông ta.

Căn buồng trên tàu tính chúng tôi $3, tất nhiên là nhỏ và rất nóng, nhưng chúng tôi không quan tâm vì chỉ cần qua một đêm.  Sự thản nhiên chịu đựng của chúng tôi đối với bất kỳ sự bất tiện nào mà sau này chúng tôi trải qua có lẽ là nhờ ở kinh nghiệm ban đầu của chúng tôi về cuộc sống khách sạn ở Hải Phòng.  Chúng tôi khá kém may mắn để tới khi thị trấn đầy các viên chức và gia đình của họ đang thay đổi nhiệm sở, và nơi ở duy nhất chúng tôi có thể có được là chỗ nằm trên sàn của phòng ăn riêng của một khách sạn hàng đầu.  Có bảy người khác ở trong cùng hoàn cảnh khốn khổ.  Giới quản lý chắc chắn đã cố gắng tối đa để làm chúng tôi thoải mái, và các con muỗi đã tung hết năng lực của chúng nhằm cắt giảm sự thoải mái đó.  Có bao giờ bạn có kinh nghiệm với muỗi Hải Phòng hay chưa?  Chúng tôi đã từng phải chịu sự tàn phá của “con [muỗi] hổ” [?”tiger” trong ngoặc kép, nhiều phần không phải để chỉ con hổ chính danh, có lẽ là một cách nói thậm xưng chỉ một loại “muỗi” đáng sợ nào khác ở vùng này, chú của người dịch] tại Vịnh Gulf of Tartary, và họ hàng của nó tại Phi Luật Tân, nơi mà có những chỗ các binh sĩ Tây Ban Nha bị bắt buộc phải bao che khuôn mặt của họ trong khi canh gác; cùng với các cuộc tấn công của quân xâm lăng âm thanh của một loại xe hỏa của Nhật vào buổi tối, và loại sinh sản tại vùng Eo Biển [Mã Lai], nhưng các con muỗi anophèles của Hải Phòng là một quái vật khát máu không có đối thủ.  Chúng tôi không ngủ một phút nào xuyên qua các cơn hấp hối im lặng của buổi tối sau cùng đó.  Chúng tôi chùm mình bằng các chiếc chăn màu xám dầy với nỗi nguy ngộp thở trước mắt, nhưng các con ác muỗi Hải Phòng cách nào đó chui qua được hay đã cắn xuyên qua chiếc mền.  Chúng tôi bật đèn sáng và giữ quạt máy điện trên đầu quay tròn, nhưng tiếng kêu vo ve của chúng, cùng với tiếng ngáy giọng trầm phụ họa của một khách bên cạnh, gần như đã nhận chìm tiếng quạt.  Sau cùng, chúng tôi ngồi dậy và đợi cho đến khi trời sáng, mà chỉ với điều ấy mới cứu nguy được.  Rõ ràng chúng vẫn chưa nhiệt tình với lý thuyết muỗi sốt rét tại Bắc Kỳ, bởi tại Hải Phòng và Hà Nội, khắp nơi đều có các ao tù nước đọng để nuôi dưỡng giống muỗi anopheles làm chúng ta run sợ. Bắc Kỳ là một nơi chốn phải cung cấp cho các lý thuyết gia muỗi sốt rét của chúng ta một vùng đất cắm trại huy hoàng, nơi mà mọi người đều có thể bị đốt một cách tự do vì mục đích khảo cứu khoa học.

Chúng tôi có ít muỗi cùng với chúng tôi trên chiếc tàu này, cũng như một ít muỗi trên các chiếc tàu khác, và bất kỳ ủy ban vô tư nào của Hội Chợ Triển Lãm Hà Nội nên dành giải thưởng cao nhất cho các con muỗi anopheles Bắc Kỳ.  Các loại muỗi khác mà chúng tôi đã gặp chỉ vào “hạng đáng khen”.

Chúng tôi không được phép quên không nhắc đến bữa cơm tối tuyệt hảo được cung cấp tại buồng tàu, và trong suốt các cuộc du hành ngắn của chúng tôi trên các tàu hơi nước của Hãng Giao Thông Miền Phùn Sa, chúng tôi nhận thấy các bữa ăn lúc nào cũng ngon miệng.  Thật là điều kỳ điệu để hiểu được làm sao mà trên một số các tàu hơi nước loại nhỏ hơn, chỉ chuyên chở khoảng nửa ta hành khách hạng nhất, chúng lại có thể nấu ăn cho khách trong một cung cách như thế.  Khách thăm viếng không cần lo nghĩ về các bữa ăn của mình tại Bắc Kỳ; người Pháp để ý kỹ lưỡng về vấn đề đó.

Chúng tôi đến Đáp Cầu vào 5 giờ sáng hôm sau, và, sau một ly cà phê, lên bờ và dùng xe hỏa tại trạm ven sông dọc cầu tàu.  Đây là một đường nhánh ngắn từ tuyến đường chính đến Lạng Sơn.  Đáp Cầu nổi tiếng chính yếu về các viên gạch to và ngói mái nhà của Công Ty Các Ông Blazeix (Messrs. Blazeix & Co.).  Trạm hiện nay bao gồm một toa xe cũ trên một đường tàu phụ (đường tàu tránh) được lập để đáp ứng mọi đòi hỏỉ và được trông nom bởi một trưởng trạm người An Nam.

Xe hỏa, được kéo bởi một đầu máy nhỏ có mang két nước thuộc loại chỉ được dùng hiện nay cho tuyến đường Lạng Sơn, bao gồm, vào khoảng một tá toa xe.  Các hành khách có sự lựa chọn để du hành trong bốn hạng, hạng chót là một toa trần không có chỗ ngồi dành cho dân bản xứ là các kẻ không thể đài thọ cho giá vé hạng 3.  Hạng nhất thì thoải mái, và các toa được xây dựng theo họa kiểu có đường hành lang với lối ra ở mỗi đầu toa.  Các toa đều được bọc nệm rất tốt, được trang bị hoàn hảo mọi chỗ và có một phòng vệ sinh.  Chúng được chế tạo tại Pháp và theo một kiểu mẫu của Hoa Kỳ.  Các giá vé xe hỏa rất phải chăng và hành trình từ Đáp Cầu đến Hà Nội, vé hạng nhất, giá $2.50: hành trình kéo dài khoảng 1 giờ 20 phút, xe hỏa chạy với một tốc độ trung bình – khoảng 20 dặm Anh (miles) một giờ, nhưng ngừng lại tại từng trạm.  Dân bản xứ là khách hàng đông đảo của trạm xe hỏa, và họ du hành với giá rất rẻ.

Quang cảnh chúng tôi đi qua làm gợi nhớ lại vùng đất sản xuất lúa gạo bằng phẳng của sông Dương Tử [Trung Hoa].  Hàng dặm các cánh đồng lúa gạo trải dài ở cả hai bên, một biển lúa xanh sinh động, chỉ bị ngắt quãng bởi các bụi cây xanh đậm hơn bao quanh các thôn ấp bản xứ, xuyên qua đó các đầu hồi và mái nhà của các trang trại An Nam nhô lên.  Một con đường bộ chạy song song với tuyến xe hỏa, trên đó đi qua mặt một chiếc xe kéo đôi khi – ngay giờ này một di tích của phương tiện lưu động thời quá khứ; hay một nhóm các dân bản xứ nhiệt tình, với cờ quạt, hương và các lễ vật, thờ phụng ở các ngôi miếu Phật Giáo hoang phế.  Một dẫy nhà có các lỗ châu mai đổ nát [phải là dilapidated, trong nguyên bản tiếng Anh in sai là delapiđate, chú của người dịch], có tính chất công kích trong thiết kế đơn giản, hình vuông, nói lên các cuộc tranh đấu của thời trước kia khi người dân Bắc Kỳ và Quân Cờ Đen kháng cự lại cuộc tiến quân của người Pháp.  Các phụ nữ và thiếu niên đang làm việc cực nhọc tại các cánh đồng lúa khoảng khoát, thường ngập nước với một chiếc gầu đan bằng gai, có một sợi dây thừng tại mỗi đầu, mà họ lần lượt thả xuống ao và kéo lên cánh đồng cao hơn, nghiêng đổ nước trong gầu, trong một chuyển động nhịp nhàng, chỉ ngừng lại để nhìn chằm chằm vào đoàn xe lửa ngang qua.  Khi chúng tôi băng ngang thành cũ của Bắc Ninh, các binh sĩ An Nam chạy ùa ra như một đám học trò huyên náo để nhìn xe hỏa đi qua.  Các cảnh tượng tại các trạm xe hỏa làm gợi nhớ đến quang cảnh tại Nhật Bản.  Có các kiểm soát viên bản xứ oai nghiêm trong đồng phục chỉnh tề thi hành phận sự, các phu khuân vác bản xứ được chỉ huy bởi viên trưởng trạm An Nam đội khăn đóng và mang áo dài.  Đám đông dân làng há hốc mồm,  nhìn trừng trừng khi gặp các hành khách đến nơi và các quầy của các kẻ bán trái cây và thức ăn lưu động.  Trạm thường gồm một tòa nhà khiêm tốn, đơn giản, rộng lớn không có các nhà ở, và, nơi mà các người Âu Châu cư ngụ, với các khu vườn trồng rau trong lành và các loại hoa đẹp đẽ, trục kéo (tời) bằng gỗ trên giếng nước hoàn tất một bức tranh làm gợi nhớ các cảnh trí của các trạm xe lửa nông thôn nơi quê nhà.  Chiếc đồng hồ trạm xe lửa ở đó, với các bảng cáo thị và hộp điện tín, trên đó có dán hàng ngày các tin tức mới nhất từ Âu Châu của hãng tin Havas – miễn phí cho tất cả những ai quan tâm để đọc đến.

Khi gần đến Hà Nội, các đồng lúa đã nhường chỗ cho các vườn trồng rau, kết quả của chúng cung cấp cho các chợ ở Hà Nội.

Hành trình từ Hà Nội đến Đồng Đăng, tại biên cương với Trung Hoa, được mô tả ở một chương khác.

Nếu khách viếng thăm mong muốn nhìn thấy sinh hoạt ngược dòng sông, một chuyến đi rất thú vị có thể được thực hiện cho tới Việt Trì, tại điểm giao nhau của ba con sông, và từ đó đến Chợ Bờ, trên sông Đà (Black River, Sông Đen) hay tới Tuyên Quang, trên sông Lô (Claire River, Sông Nước Trong).  Chúng tôi rời Hà Nội trên một chiếc tàu hơi nước chạy đường sông lúc 11 giờ sáng, trên đường đi tới Tuyên Quang và Chợ Bờ.  Tàu hơi nước thực hiện cuộc hành trình lên Việt Trì là loại lớn và rộng rãi, và được trang bị một cách đáng nể phục.  Lối đi ngược dòng sông Hồng rất thú vị, giang lộ này rất rộng và nông, các bờ sông được chấm họa với các ngôi làng Bắc Kỳ và các cánh đồng lúa.  Thả trôi xuôi dòng là nhiều bè lớn bằng tre với các túp lều bằng gai trên mặt bè trong đó đoàn người chèo bè sinh sống.

Đồn quân sự lịch sử của Sơn Tây được vươn tới vào lúc 3 giờ chiều, nhưng chỉ có ít điều được nhìn thấy từ chiếc tàu hơi nước.  Các nhóm binh sĩ và dân bản xứ tụ tập đông đảo trên bờ sông dốc đứng để chào đón chiếc tàu hơi nước.  Không có bãi đáp và các hành khách phải đi lên bờ bước qua một vài thanh gỗ khó gây được sự an tâm.  Xuôi xuống dòng sông đôi khi là các tượng thú vật thô sơ và được gắn trên các chiếc bè nhỏ, rõ ràng là các phẩm vật dâng cúng bản xứ cho các vị thần dòng sông.

Thị trấn Việt Trì, một trung tâm có một số tầm quan trọng về quân sự, được đến nơi vào lúc 6 giờ chiều.  Có một dân số miền sông bản xứ lớn sinh sống trong các túp lều bằng gai được dựng trên các chiếc bè thả neo ngoài bờ sông.  Khu định cư người ngoại quốc là một địa điểm nhỏ, đẹp mắt, bao gồm một số nhà gỗ một tầng (bungalows), hầu hết được cư ngụ bởi quân đồn trú.  Có một văn phòng của công ty tàu hơi nước, và kế cận nó là một khách sạn nhỏ, cao một tầng, tạo thuận tiện cho du khách, chính yếu là các công chức hay các chủ đồn điền đi ngang qua.  Một làng bản xứ được mọc lên chung quanh khu định cư và gần như mọi căn lều con đều mở một quầy giải khát nhỏ để lôi kéo các lính Pháp.

Việt Trì tọa lạc ở giao điểm của sông Hồng, sông Đà và sông Lô, và sẽ sớm trở thành một trung tâm đường sắt quan trọng, tuyến đường từ Hà Nội lên Lào Kay và Vân Nam đi ngang qua đây.  Một chiếc cầu bằng thép mỹ lệ đang trong tiến trình xây dựng ngang qua sông Lô.

Chúng tôi đã ở lại khách sạn nhỏ bé khiêm tốn tối hôm đó và vào lúc rạng đông lên một chiếc tàu hơi nước nhỏ bé, có bánh lái đàng đuôi để đi Tuyên Quang.  Chiếc tàu được dự trù để chứa bốn du khách hạng nhất, nhưng chúng tôi có tám người, cùng với nửa tá hạ sĩ quan [sous- officiers, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], và khoảng ba mươi lính bộ binh An Nam.  Được buộc chặt dọc theo chiếc tàu hơi nước là một thuyền bản xứ hẹp, dài, đầy chật các hành khách bản xứ và hành lý của họ.

Du hành trên sông Lô trên tàu có bánh lái sau đuôi không phải là không có điều đáng để ý và khoái chí.  Phong cảnh rất quyến rũ và khi chiếc tàu càng ngược dòng xa hơn, cảnh trí càng trở nên nguyên sơ và xinh đẹp.  Các ngọn đồi mênh mông nằm dọc hai bên bờ sông và tán lá phần lớn thuộc cây vùng nhiệt đới che phủ rậm rạp.  Đôi khi các ghềng nhỏ được băng ngang và chiếc tàu hơi nước chỉ cách các tảng đá sắc nhọn kinh khiếp có vài phân Anh (inches), thùy thủ đoàn trực sẵn với các chiếc sào để chống đỡ trong trượng hợp cần thiết.

Sông Lô thì rộng nhưng rất nông, và cứ mỗi vài phút, tiếng còi được thổi bởi một viên thuyền trưởng bản xứ và hai nhân viên đoàn lái thuyền cầm lấy các sào tre, trên đó có các số đo lường được đánh dấu, và, ở các tư thế lom khom, họ thăm dò và đọc lên chiều sâu.  Đột nhiên, có một tiếng động cọt kẹt vang lên và chiếc tàu hơi nước mắc cạn trên một nền cát.  Máy tàu được trả ngược số, thường không có hiệu quả, và thủy thủ đoàn cố gắng dùng sào đẩy.  Nếu không thành công với nỗ lực này, họ xuống một chiếc thuyền tam bản (sampan) và đẩy ra xa một khỏang cách và rồi thả neo; họ trở lại và khởi động trục kéo (máy tời) để kéo về hướng neo, hy vọng nhờ thế kéo được chiếc tàu hơi nước ra [khỏi chỗ mắc cạn].  Thường nỗ lực này chứng tỏ thành công nhưng không phải luôn luôn, và trong nhiều dịp, họ đã lội xuống nước và cố gắng để bẫy mũi tàu lên, hay đẩy nó vào chỗ nước sâu hơn bằng đôi vai của họ.  Thoạt tiên, động tác này thì thú vị và đáng để y nhưng sau sự lập lại nó dần trở nên nhàm chán, và, trong cái nóng của ban ngày không có gió, thật khó chịu.  Một ngày chúng tôi đã mắc cạn tám lần, các khoảng nghỉ ngơi dài nhất của chúng tôi là ba đến năm tiếng đồng hồ, và chiếc tàu hơi nước đã chỉ nổi lên tại vùng nước sâu hơn bằng việc di chuyển các hành khách và hành lý sang chiếc thuyền bản xứ bên hông và quấy cát rời bằng bánh lái.  Đúng ra, Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa phải trả một khoản tiền thuê đất cho một số con sông nội địa, bởi sự chiếm ngụ đáy sông của họ thì thường xuyên và kéo dài.

Hậu quả là hành trình đôi khi kéo dài bởi vài ngày, nhưng việc này rõ ràng không tạo ra sự khác biệt trong giá biểu và các bữa ăn được cung cấp mà không phải trả phí tổn phụ trội: một sự sắp xếp rất tử tế và công bằng.

Đúng là một biến cố có tầm quan trọng đối với các cư dân của các trạm nội địa khi có tiếng rít lên của còi tàu báo hiệu sự cập bến của tàu hơi nước với các hành khách và thư tín.   Toàn thể dân chúng – người Pháp và dân bản xứ — ùa ra từng toán [en bloc, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] và xếp hàng dọc bờ sông.  Đây là trường hợp đặc biệt tại Phủ Doàn.  Chúng tôi đã ngừng ở đó cả đêm, các hành khách không lên bờ ngủ trên sàn tàu.

Gần Hoa-Muc [?Hoa Moc] chúng tôi đã được chỉ cho thấy một tượng đài kỷ niệm được dựng lên cho 800 người Pháp được nói là đã bị hạ sát trong một cuộc phục kích, khi bị bao vây bởi 30,000 người Bắc Kỳ và Trung Hoa.  Chúng tôi đã được nghe nhiều truyện kể về quang cảnh trận đánh nổi tiếng trong các niên sử Bắc Kỳ, nhưng con số dự trận và bị giết phần nào khác biệt trong các tài liệu cung ứng.  Một số người luôn luôn thoát được các trận đánh đẫm máu này để thuật lại câu chuyện, và các tài liệu đã trở nên thần thánh hóa và phóng đại xuyên qua thời gian và sự biến hóa trong chi tiết.

Sự việc này làm nhớ đến câu chuyện về các kẻ buôn lâu trong quyển Le Lac de Gers của Topffer.  Mười tám người trong họ mang thuốc súng trong các túi xách, đi bộ theo hàng một (Indian file), và kẻ đi sau chót, dần tin rằng khối hàng của anh mang nhẹ đi, đã bỏ túi xuống và tìm thấy một lỗ hổng.  Anh ta nhìn thấy vệt thuốc súng làm lộ tẩy trên lối đi, và, lo sợ rằng nó tiết lộ bí mật của họ cho các viên chức Quan Thuế, anh ta kêu gọi ngừng lại, và truy tìm ngược lại bước đi của mình trong khoảng vài dặm đường cho đến khi anh ta hết cả thuốc súng.   Anh ta đã ngừng lại ở đây để lau mồ hôi trên trán, và, chụp lấy một ý tưởng sáng chói, đốt một que diêm vào thuốc súng với ý định mau chóng phá hủy vết tích.  Điều này hẳn sẽ là một mưu kế tuyệt hảo nếu không có các đồng chí của anh ta ở cuối vệt kia, đang chờ đợi anh ta quay trở lại, với mười bẩy bao thuốc súng.  Kết quả là một tiếng nổ vang dội trong đó mười bẩy kẻ đã biến mất, trừ anh ta trốn thoát – để kể lại câu chuyện.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa như một sự coi nhẹ nhiều chiến công sáng chói của vũ khí của Pháp tại Bắc Kỳ trong suốt cuộc chinh phục của họ trên vùng đất này, các tài liệu về chúng mới được công bố hồi gần đây dưới hình thức quyển sách.

Cuộc phòng thủ anh hùng tại Tuyên Quang được xếp hạng như một trong những thành tích quân sự Pháp hiện đại tốt đẹp nhất.

Chúng tôi đi ngang qua một hẻm núi sâu, nơi lối vào nổi bật lên từ trên cao là một tòa nhà gỗ một tầng ngoạn mục.  Ngôi nhà này được đặt tên theo một Trung Úy Diah nào đó, kẻ, trong những ngày chiến đấu, tại một đồn gần cận, nơi mà một bộ phận nhỏ linh Pháp bị bao vây bởi 40,000 kẻ ngu dốt la hét, như một người với các thói quen thường lệ, thường đến thăm viếng một địa điểm trên một thềm đất cao mỗi chiều tối.  Nơi đây anh ta sẽ uống chậm rãi ly rượu ngọt buổi tối của mình, và bắn súng trong khi nhâm nhi các hớp rượu vào các quân Trung Hoa bao vây.  Vì là một tay thiện xạ, các đốí thủ của anh ta đã không tán thưởng sự tận tụy thường xuyên của anh ta, và một buổi tối, họ canh chừng cho tới khi họ nhìn thấy khói súng đến từ cùng một địa điểm và khi đó họ tiến gần đến tầm bắn, với kết quả rằng khi anh ta nhô lên để nhìn những gì anh ta hạ thủ được, họ đã gửi cho anh một tràng súng.  Anh ta bị sát hại và các đồng hương của anh đã tưởng nhớ anh vĩnh viễn bằng căn nhà thực tế này.

Để ngăn chặn sự buồn chán, chúng tôi được chỉ cho thấycác tảng đá mà một tàu hơi nước trước đây đã va vào và chìm xuống cách xa bờ vài thước Anh (yards) nơi dòng nước sâu chín mươi bộ Anh (feet).  Nhiều cư dân Pháp với vợ của họ đã bị chết đắm cùng với nhiều dân bản xứ; cả với số tiền $80,000 chưa hề được thu hồi.  Một bãi cát khác đánh dấu một địa điểm nơi mà một chiếc tàu vũ trang táp vào bờ và bị chìm đắm.  Các kẻ thực dân bị hớp hồn với các câu chuyện về nỗi nguy hiểm tại các vùng đất này, và, chúng tôi không bao giờ tra hỏi họ; mặc dù chúng ta giữ lại sự phán đoán của mình.

Lối vào Tuyên Quang trong thực tế thật khích động, bởi có nhiều ghềnh thác và các tàu hơi nước nhỏ hơn không ngần ngại để tự xoay vòng tròn theo bán kính của chính nó, làm thót mình kinh sợ vì sự sát cận với các tảng đá.  Nhưng các tàu này được lái một cách an toàn, nhờ ở kỹ năng tuyệt vời của vị thuyền trưởng bản xứ, và chúng tôi thả neo dọc trạm hẻo lánh này, dưới bóng che của một rặng núi hùng vĩ.  Từ đây du khách có thể thăm viếng A-yang [?] tại biên giới Trung Hoa, bằng lối đi theo một dịch vụ bằng thuyền bản xứ, được làm chủ bởi ông Audran.  Hành trình hẳn phải là khích động khi đi qua 45 ghềnh thác và cần đến hai mươi hai ngày để ngược dòng, nhưng chỉ cần hai ngày để xuôi dòng.

Trên bờ đối diện phía trên Tuyên Quang, trên đỉnh một ngọn đồi cao có thể được mô tả là một đồn của Pháp.  Bản thân khu định cư là một tòa thành cổ (các tường thành và cổng ra vào được bảo vệ bởi các súng máy) và một vuờn hoa công cộng nhỏ, với bục hòa nhạc.  Có nhiều nhà ở của người ngoại quốc, một nữ tu viện, các cửa hiệu và nhà ở bản xứ, và một ngôi chợ nhỏ.  Một toán biệt phái của Đoàn Lính Lê Dương Ngoại Quốc Đánh Thuê nổi tiếng, với pháo binh và các binh sĩ bản xứ, đã đồn trú nơi đây.  Việc trồng trọt thành công và được thực hiện trên khắp quận hạt này.

Khi trở về Việt Trì, cùng chiếc tàu hơi nước rời đi Chợ Bờ, trên sông Đà, nơi mà phong cảnh còn đẹp đẽ hơn nữa.  Các chuyến đi khác có thể được thực hiện – một đến Lào Kay bằng thuyền bản xứ, thuộc Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa, dòng nước quá nông trong hầu hết cả năm để cho phép một tàu hơi nước có thể ngược dòng.  Trong vòng vài năm, các đường xe hỏa khác nhau sẽ nối liền các địa điểm nội địa đáng chú ý và quan trọng này với thủ đô, khi mà các hành trình, nếu có kém thú vị đi, sẽ lại được thực hiện một cách nhanh chóng hơn nhiều.

 

Chuyến đi hấp dẫn nhất và thoải mái nhất là cuộc thăm viếng Vịnh Hạ Long tại Hòn Gay, một trong những địa điểm quyến rũ nhất tại vùng Viễn Đông.  Huế và Đà Nẵng (Tourane), trên bờ biển Trung Kỳ, cũng có thể được thăm viếng bởi các tàu hơi nước của cùng công Ty.  Chúng tôi hụt mất chiếc tàu hơi nước nối chuyến, tại Việt Trì và đã di chuyển xuôi sông Hồng về Hà Nội, trên một chiếc thuyền tam bản nhỏ, rời Việt Trì lúc 2 giờ sáng và về tới Hà Nội vào 4:30 chiều cùng ngày.  Bởi chuyến đi thì dài, cần phải mang lại cho người chèo thuyền của chúng tôi một chất kích thích đôi lúc, và anh ta sẵn sàng nhất để uống bia, mặc dù anh ta không hoàn toàn vô tư.  Không được tắm gội hay thay quần áo trong một tuần, chúng tôi hài lòng để tiến vào một lần nữa các cánh cửa hiếu khách của Khách Sạn Métropole./-

—–

NguồnAlfred CunninghamThe French In Tonkin And South China, Second Edition – Revised, Hongkong: Printed At The Office of The “Hongkong Daily Press” & London: Sampson Low, Marston & Cọ, St. Dunstan’s House, Fetter Lane, các Chương: Hải Phòng, từ trang 46-62, và Hà Nội, từ trang 63-89, Dh Hành Lên Mạn Ngược, các trang 164-188.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thiết Phủ Đồ, một đơn vị thiết kỵ của Kim quốc

Thiết Phủ Đồ, một đơn vị thiết kỵ của Kim quốc

Họ là một đơn vị huyền thoại, những kị binh được trang bị khôi giáp nặng nề nhất trong lịch sử Trung Hoa. Được biết dưới cái tên “Thiết Phù Đồ” (铁浮屠), đây là một công cụ đắc lực của Kim quốc, tham gia hàng chục trận chiến quan trọng, góp phần tạo dựng nên những võ công vang dội của người Nữ Chân khắp vùng phía Bắc Trung Quốc trong thế kỉ 12.

Nguồn gốc

Kết quả hình ảnh cho Aguda jin

Hoàn Nhan A Cốt Đả

Nhà Kim là một vương quốc của người Nữ Chân, được hình thành trên địa bàn tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang hiện nay (Đông Bắc Trung Quốc). A Cốt Đả (Aguda) thủ lĩnh của bộ tộc Hoàn Nhan là người có công kiến quốc. Theo truyền thuyết, tên của vương quốc “Kim” (vàng) bắt nguồn từ tên dòng sông nơi bộ tộc của A Cốt Đả sinh sống (sông Anchuhu trong tiếng Nữ Chân có nghĩa là vàng). Cũng có thể tên này được đặt để đối kháng lại với vương quốc thù địch với họ, nhà Liêu, như A Cốt Đả khi lên ngôi đã nói: “Liêu lấy sắt tinh luyện làm hiệu, nhằm thể hiện sự vững mạnh. Sắt tinh luyện tuy cứng song cuối cùng cũng bị “biến hoại”, chỉ có ‘kim’ là “bất biến bất hoại”. Liêu là một quốc gia của người Khiết Đan, kẻ thù đầu tiên của nước Kim, có vị trí tại vùng phía Bắc, Đông Bắc Trung Hoa và Mông Cổ hiện đại.

Jurchen warrior standing, carrying a bow

Một chiến binh Nữ Chân (chữ trên góc phải: Nữ Chân Quốc)

Vào mùa xuân năm 1114, A Cốt Đả đã thống nhất được các bộ lạc Nữ Chân, lúc này đang bị người Khiết Đan (nhà Liêu) nô dịch. Ông đã phát động một cuộc chiến chống Liêu. Năm 1115, ông lên ngôi Hoàng đế, thành lập nhà Kim, bắt đầu xuất binh chinh phạt Liêu.

Năm 1121, người Nữ Chân đồng ý tham gia liên minh trên biển (Hải thượng chi minh) với nhà Tống để cùng nhau diệt Liêu. Trong khi quân Tống thua trận, quân Kim giành được hết chiến thắng này đến chiến thắng khác và buộc tàn quân Liêu phải chạy sang phía Tây. Trong những trận chiến với Liêu, chiến thắng của quân Kim đến từ việc triển khai một cách khéo léo những đội thiết kị thiện chiến của họ.

Tập tin:金滅遼與北宋形勢圖.png

Kim diệt Liêu cùng Bắc Tống hình thế đồ (quá trình diệt Liêu và đánh Bắc Tống của nhà Kim) (Ngũ kinh của nhà Liêu: 東京遼陽府: Đông Kinh Liêu Dương phủ, 上京臨潢府: Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, 中京大定府: Trung Kinh Đại Định phủ, 西京大同府: Tây Kinh Đại Đồng phủ, 南京析津府: Nam Kinh Tích Tân phủ) 

Năm 1125, sau cái chết của A Cốt Đả, nhà Kim đã phá vỡ liên minh với nhà Tống và bắt đầu Nam tiến. Khi giao chiến với quân Tống, họ đã gặp khó khăn khi đụng phải những khối bộ binh vững chắc với hỏa khí. Tứ hoàng tử Ngột Truật đã tập hợp những kị sĩ giỏi và giàu kinh nghiệm nhất thành một đội quân, gọi là “Thiết Phủ Đồ”.

Sự hưng khởi của nước Kim là một kì tích. Dưới sự lãnh đạo của A Cốt Đả và những võ công của Hoàng tử Ngột Truật, xuất phát từ những vùng đồng cỏ khô cằn quanh sông Anchuhu, họ chỉ mất 10 năm để chinh phạt toàn bộ nước Liêu và mất hơn 5 năm để tràn ngập miền Bắc Trung Quốc, tấn công kinh thành và bắt hai vua Tống làm tù binh. Từ những người lang thang, trong vòng chưa đến 20 năm, họ đã tạo dựng được một vương quốc rộng lớn hơn cả đế quốc Frankish của Charlemagne hay nước Pháp đệ nhất dưới thời Napoleon.

Tập tin:南宋疆域图(繁).png

Nước Kim năm 1142 (金: Kim, 宋: Tống,  西夏: Tây Hạ, 西遼: Tây Liêu, 大理: Đại Lý)

Lực lượng tiên phong

Ngột Truật muốn sử dụng đội kị binh này như một đơn vị tiên phong, luôn đi đầu trong các trận chiến, tạo ra những cơn shock cho quân địch bằng những cuộc càn quét (charge) khủng khiếp hay xuống ngựa chiến đấu như những người bộ binh nặng.

Phong cách chiến đấu của đơn vị này có thể đã chịu ảnh hưởng từ những kị binh “Thiết Dao Tử” (鐵 鷂子) của đế quốc Tây Hạ. Về “Thiết Dao Tử”, trong Tống sử có miêu tả về đơn vị này như sau: “những kị sĩ có thể di chuyển hàng trăm đến hàng nghìn dặm một ngày trên mình ngựa, họ là những kị sĩ xuất sắc, tấn công mạnh mẽ như sấm sét, di chuyển linh hoạt như mây bay. Khi gặp quân địch, họ tấn công phủ đầu bằng những đợt charge mạnh mẽ và bất ngờ”.  Những kị binh này là một đội quân tinh nhuệ của hoàng gia Tây Hạ, họ tham gia rất nhiều chiến dịch. Chỉ được bọc giáp ở mức độ trung bình, ưu thế của họ đến từ độ dẻo dai và nhanh nhẹn. Những cây thương cũng có thể gắn chặt lên mình ngựa để phòng trường hợp người kị sĩ hi sinh, con ngựa vẫn có thể tự hoàn thành nhiệm vụ.

Thiết Phủ Đồ

Khác với “Thiết Dao Tử”, “Thiết Phủ Đồ” là những kị sĩ được trang bị những bộ giáp nặng nhất ở vùng Viễn Đông. Chúng ta sẽ khảo sát nhân lực, trang thiết bị và phong cách của đơn vị này một cách chi tiết ở bên dưới.

Nhân lực

Khoảng ba triệu người, một nửa trong số đó là người Nữ Chân đã tiến xuống miền Bắc Trung Quốc trong hơn hai thập kỉ. Số người Nữ Chân này đã thiết lập được sự cai trị lên 30 triệu người Hán bản địa. Sau khi chiếm được miền Bắc Trung Quốc, nhà Kim bị Hán hóa, họ nhanh chóng tiếp thu rất nhiều nét văn hóa Trung Quốc như trang phục, bộ máy quan liêu, Nho giáo. Nhiều người Nữ Chân kết hôn với phụ nữ người Hán, hoặc nô dịch họ làm thê thiếp, nô tỳ. Các quý tộc Nữ Chân rất hứng thú với việc nghiên cứu kinh điển Trung Hoa và làm thơ kiểu Hán. Nhưng họ vẫn giữ vị trí độc tôn của những quý tộc Nữ Chân trong chính quyền.

Theo “金虏图经” (Kim lỗ đồ kinh – ghi chép của một tù binh Kim) “金兀术自将牙兵三千策应,皆重铠全装,虏号铁浮屠,又号叉千户,这叉千户便是指侍卫亲军” (Kim Ngột Truật đích thân đem ba ngàn nha binh đến tiếp ứng, tất cả nha binh toàn thân bọc giáp, giặc gọi là Thiết Phủ Đồ, cũng gọi là Xoa Thiên Hộ, cái tên Xoa Thiên Hộ này là để chỉ thân quân thị vệ)

Nhìn chung chính quyền và quân đội hoàn toàn do người Nữ Chân nắm giữ. Theo những ghi chép của Uông Nhược Hải (汪若海), một người làm việc trong triều Tống đã quan sát được những cuộc chiến giữa Kim và Tống thì Thiết Phủ Đồ là một đơn vị dành riêng cho con trai của các gia đình quý tộc Nữ Chân danh giá. Lòng trung thành của họ được đảm bảo một cách vững chắc. Các vị trí trong quân đội của người Nữ Chân được thế tập từ đời này sang đời khác và họ còn được ban phát đất đai. Những gia đình Nữ Chân được tổ chức theo chế độ Mãnh An Mưu Khắc, 100 hộ hợp lại thành 1 Mưu Khắc, 10 Mưu Khắc thành 1 Mãnh An.

Kị binh là lực lượng chuyên nghiệp duy nhất trong quân đội nước Kim. Họ được trả lương, trang thiết bị được nhà nước chu cấp. Trong khi đó, kị binh của người Hán đa phần là những đơn vị được trưng tập.

Trang bị

Các Thiết Phủ Đồ được bọc giáp toàn thân, chỉ để lộ hai mắt và bàn tay, gần giống với các kĩ binh Ba Tư thế kỉ 4-7. Một số sử gia dùng thuật ngữ “cataphracts” hay “clibanarii” (với Hi-La) để chỉ những kị binh được bọc giáp kín người như vậy. Những con ngựa  cũng được bọc giáp. Họ sử dụng giáp lamellar và giáp bông dày. Một kị sĩ sẽ được cấp cho hai con ngựa để đảm bảo được độ cơ động và khả năng tác chiến trong mọi tình huống.

Vũ khí của họ cũng rất đa dạng. Ngoài một cây thương, họ thường có một chiếc chùy nhỏ, cung tên và đao. Để thực hiện được những nhiệm vụ khác tùy yêu cầu của tình hình thực tế, họ được trang bị cả thang dây, xẻng và rìu.

Họ thường được triển khai với số lượng lớn, 3000-6000 người mỗi lần ra quân. Những kị sĩ ở châu Âu thời trung đại còn xa mới đạt đến con số này, những đợt tấn công của họ trở nên chết chóc hơn bao giờ hết.

Quy mô quân đội của các quốc gia phương Đông vượt xa châu Âu rất nhiều. Lưu ý rằng đây chỉ là đơn vị tiên phong của một đoàn quân khổng lồ được hỗ trợ bởi 15.000 kị binh khác các loại và 40-80.000 bộ binh được trang bị tốt. Quân số của nước Kim đã có thể đạt đến con số nửa triệu người, vẫn còn rất khiêm tốn nếu so với nhà Hán hay nhà Đường.

Chức năng

“Thiết Phủ Đồ” được sử dụng như một mũi dùi tiên phong lao thẳng vào đội hình quân địch. Triệu Ngạn Vệ, một người Tống đã ghi chép lại về chiến thuật của họ: “Những kị sĩ xếp thành hình tam giác hướng về phía trước, họ lao về phía kẻ thù nhanh hết mức có thể rồi sau đó tỏa ra, chạy quanh bao vây quân địch, chờ cơ hội để tấn công thêm lần nữa, nếu tình hình yêu cầu, họ có thể xuống ngựa chiến đấu như những người lính bộ binh”

Kết quả hình ảnh cho cavalry formation

Trong một số ghi chép khác, quân Kim cũng sử dụng Quải Tử Mã (拐子马), ba kị sĩ sẽ được liên kết với nhau bằng một sợi dây da, tàn sát bất kì tên bộ binh xấu số nào bị kẹt ở giữa.

comic1

Có nhiều tranh cãi xung quanh từ này, có ý kiến cho rằng “Quải tử mã” là một đơn vị riêng, tách biệt với “Thiết Phủ Đồ”. Có ý kiến lại cho rằng “Quải tử mã” thật ra là lực lượng 10.000 kỵ binh chạy ở hai cánh trợ chiến cho những đợt tấn công của  “Thiết Phủ Đồ”.

Hai cánh “B” sẽ là những lực lượng kị binh trợ chiến cho lực lượng chính “C” tấn công vào đối phương “A”

“Thiết Phủ đồ” còn có thể xuống ngựa chiến đấu như một đơn vị bộ binh nặng. Trong trận chiến tại Tiên Nhân Quan, họ đã xuống ngựa và tiến lên theo đội hình của bộ binh. Điều này được thể hiện trong bộ trang bị của họ, trong đó có nhiều vũ khí được trang bị cho bộ binh như trường đao dùng để phá giáp.

Để chống lại những đội kị binh thiện chiến quân Kim, quân Tống cũng đã phát triển những chiến thuật của riêng mình với những khối bộ binh vững chắc được trang bị nỏ, hỏa khí và các loại kích (Halberd).

Nội dung được chuyển ngữ từ bài viết trên: http://dragonsarmory.blogspot.com/2017/02/medieval-chinese-cataphracts-1-iron.html (riêng về phần hình ảnh người chuyển ngữ biên tập lại để minh họa cho bài viết)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (1)

https://litalila1411.wordpress.com/2017/05/18/late-imperial-chinese-army-1/

GIỚI THIỆU

Đây là tập cuối cùng trong bộ năm tập phác thảo lịch sử quân sự Trung Quốc. Do công chúng ở các quốc gia phương Tây không được tiếp nhận mảng lịch sử này nên họ cho rằng do những tác động của một nền văn hóa phi quân sự nên nghệ thuật chiến tranh ở Trung Quốc không thay đổi trong thời gian dài. Những thể hiện yếu kém của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh Nha Phiến là điều hoàn toàn bình thường và không thể cải thiện được. Hi vọng rằng loạt bài này sẽ xua tan đi những huyền thoại đó, thúc đẩy một số nhận thức khác về lịch sử, thú vị hơn và cũng đẫm máu như ở châu Âu.

Tập này được giới hạn trong khoảng thời gian từ khi những người châu Âu đầu tiên xuất hiện cho đến khi bắt đầu chuỗi “các hiệp ước bất bình đẳng” từ năm 1840. Trong thời trung đại, Trung Quốc đã dẫn đầu trong công nghệ quân sự, là những người đầu tiên phát triển Pháo và tàu biển mà sau này người phương Tây đã sử dụng chính chúng để chống lại họ. Sau thế kỉ 15, những tiến bộ này không được duy trì và Trung Quốc rời vào trạng thái trì trệ. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn còn đang được tranh luận nhưng chúng ta có thể xác định một số yếu tố chính: những học giả không quan tâm đến vấn đề quân sự; những chính sách cấm đoán của nhà nước do lo ngại các thế lực chống đối; và có lẽ trên hết là do thiếu những đối thủ cạnh tranh có sức mạnh tương đương cùng với những ảo tưởng về vị trí hàng đầu của Trung Quốc. Bất kể vì lý do gì, từ thế kỉ 16 châu Âu đã bắt đầu vượt Trung Quốc về mặt vũ khí và sau đó là bỏ xa họ vào giữa thế kỉ 19.

Quy mô khổng lồ của đế quốc, sự tự mãn về văn hóa và tính phức tạp của chính trị đã ngăn cản sự phát triển của khoa học kĩ thuật quân sự rồi dẫn đến một hậu quả thảm khốc như nhiều xã hội khác. Trung Quốc bị chinh phục bởi một số ít người nước ngoài như trường hợp của Aztec và Incas nhưng trên thực tế, vào cuối thể kỉ 18, thời kỳ phát triển của hệ thống thuộc địa, Trung Quốc vẫn ở trên vị thể của người chiến trắng. Nhà Thanh của người Mãn Châu đã lật đổ nhà Minh vào năm 1640, trở thành một đế quốc lớn nhất là đông dân nhất thế giới với các lãnh thổ được mở rộng ra rất nhiều sau đó.

Dưới sự cai trị của nhà Thanh, lãnh thổ Trung Quốc đã được mở rộng hết mức có thể, gần với các ranh giới hiện tại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Mông Cổ và phía Bắc Mãn Châu. Họ đã chinh phục được những người du mục Trung Á, mối đe dọa chính đối với nền văn minh Trung Hoa suốt hai thiên niên kỉ. Giai đoạn này cũng chứng kiến việc hoàn thiện Vạn lý trường thành ở phía bắc, can thiệp vào cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên, sự tranh giành quyền lực giữa nhà Minh và nhà Thanh, những chuyến thám hiểm đến Siberia, Kazakhstan và Nepal.

Sự tiếp xúc không thể tránh khỏi với phương Tây trong thời kì này đã mang đến những quan điểm mới về hệ thống quân sự của họ. Ngoài con mắt của người Trung Quốc, chúng ta còn có thể khai thác góc nhìn của người bên ngoài về hệ thống quân sự Trung Quốc thời kì này. Từ những ghi chép của de Rade vào những năm 1570 và của Huc những năm 1840 không thể nào không bị ảnh hưởng bởi những điểm tương đồng, người Trung Quốc hiện lên một cách hèn nhát, rời rạc, bị buộc phải chiến đấu như một đám đông vô tổ chức chỉ biết la hét một cách vô ích, thích bày vẽ hơn là quan tâm đến hiệu quả.

Tái hiện một cách chân thực những thành tựu quân sự của nhà Minh và nhà Thanh là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên chúng tôi đã được trợ giúp bởi những nguồn cung cấp thông tin phong phú từ Trung Quốc. Chính sử, sử địa phương cũng như các hồi ký, báo cáo có chứa một lượng dữ liệu rất lớn về quân sự mặc dù chỉ có rất ít được dịch. Ngoài quyển bách khoa toàn thư về quân đội đương đại nổi tiếng nhất là Võ Bị Chí (武備志) được Mao Nguyên Nghi (茅元仪)viết vào năm 1621 không thể thiếu là một số lượng lớn những tác phẩm nghệ thuật, vũ khí, áo giáp còn lại được tìm thấy trong các viện bảo tàng ở Anh.

NIÊN BIỂU

1517 Mông Cổ bại trận tại Ying-chou. Đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Trung Quốc.

1525 Phá hủy hạm đội để cô lập Trung Quốc khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài.

c.1540 Bắt đầu xây dựng hệ thống Vạn lý trường thành hiện đại.

c.1540-c.1565 Thời kì hoàng kim của hải tặc Oa Khấu tại Đông Nam Trung Hoa.

1550 Yên Đáp Hãn (Altan Khan) tấn công Bắc Kinh.

1567 Dỡ bỏ lệnh cấm hải thương.

c.1583 Sự trỗi dậy của Nỗ Nhi Cáp Xích (Nurhachi), những bước khởi đầu của nhà nước Mãn Chu.

1593-98 Chiến tranh với Nhật Bản tại Triều Tiên.

1618-19 Chiến dịch chống Mãn Châu của nhà Minh thất bại.

1626 Nhà Minh đánh bại Mãn Châu tại Ninh Viễn, Nô Nhi Cáp Xích tử trận.

1636 Nhà Thanh thành lập.

1644 Vị vua cuối cùng của nhà Minh tự sát. Nhà Thuận của Lý Tự Thành tồn tại trong thời gian ngắn. Mãn Châu chiếm Bắc Kinh.

1661-1722 Thời đại của hoàng đế Khang Hi.

1664 Mãn Châu chiếm Phúc Kiến. Nhà Thanh kiểm soát hoàn toàn nội địa Trung Quốc.

1673-81 Loạn Tam Phiên.

1683 Thế lực thân Minh ở Đài loan sụp đổ.

1689 Hòa ước Nerchinsk điều chỉnh đường biên Trung – Nga.

1696 Đánh bại Cát Nhĩ Đan (Galdan Khan). Đông Mông Cổ sáp nhập vào nhà Thanh.

1720 Tây Tạng trở thành chư hầu của nhà Thanh.

1736-96 Thời đại của hoàng đế Càn Long.

1757 Quyết định hạn chế ngoại thương.

1757-59 Đánh bại Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ (Jungar Mongols) và đồng minh Hồi giáo của họ.

1792 Đánh bại Nepal.

1793 Đại sứ quán Anh dưới quyền của Macartney ở Bắc Kinh.

1817-27 Người Hồi giáo thánh chiến tại lòng chảo Tarim,

1839 Thất bại trong chiến tranh Nha phiến lần 1 với người Anh.

1842 Hòa ước Nam Kinh mở cửa nhiều cảng biểu của Trung Quốc. Người Anh chiếm Hồng Kông.

CUỐI THỜI MINH (1517-1598)

Mặc dù nhà Minh đã trục xuất người Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc vào năm 1368 nhưng vào thế kỉ 16, mối đe dọa chính lại tiếp tục đến từ các con cháu người Mông Cổ ở biên giới phía Bắc. Những bộ tộc Mông Cổ liên tục liên minh với nhau dưới dự lãnh đạo của những thủ lĩnh tự nhận mình là hậu nhân của Thành Cát Tư Hãn. Hoàng đế Chính Đức (1506-1521) đã bị các sử gia trung đại phê phán nặng nề vì ông không quan tâm đến võ bị và không xứng đáng là một nhà lãnh đạo. Ông đã đạt được một số thành công trong cuộc chiến chống lại Mông Cổ nhưng dưới sự cai trị của người kế nhiệm ông, Gia Tĩnh (1522-67), những thành quả thu được đã nhanh chóng bị mất đi. Vị vua mới đã chủ trì những cuộc tranh chấp bất tận trong triều đình, ngăn cản việc phát triển chính sách quân sự một cách nhất quán nhưng ông lại chống Mông Cổ một cách cuồng tín, ngăn chặn tất cả nỗ lực hòa bình, trừng phạt bất kì viên quan nào có ý định đàm phán.

Ming_cavalrymen (1) 2

(Kị binh quân Minh)

Một trong những điển hình trong phong cách của ông là một sắc lệnh cho nhân vật “i”, ‘đề cập đến “lũ mọi rợ” miền Bắc nên luôn luôn được viết càng nhỏ càng tốt’. Tất nhiên những biện pháp này không ngăn cản được người Mông Cổ. Văo năm 1540, thủ lĩnh của Vệ Lạp Đặc (Tây Mông Cổ) Yêm Đáp Hãn đã hợp nhất với những người Mông Cổ phía Đông và đặt nền móng cho một nhà nước: xây dựng các thành phố, thúc đấy nông nghiệp phát triển, thu hút những người Trung Quốc đến phục vụ ông. Ông đề nghị buôn bán với nhà Minh nhưng bị từ chối. Thậm chí nhà Minh còn lên kế hoạch tấn công ông, kế hoạch mạo hiểm này cuối cùng đã bị hủy bỏ vì những khó khăn về tài chính của chính phủ. Năm 1548, Yêm Đáp hãn đã tấn công nhà Minh, chiếm đóng và phá bỏ những bức tường tại Hsuan-fu. Hai năm sau, ông lại dẫn quân vượt qua Vạn lý trường thành và bao vây Bắc Kinh. Mặc dù người Mông Cổ đã rút lui nhưng sự kiện nhục nhã này đã làm nổi lên sự bất lực của quân Minh, bên cạnh đó đã tạo động lực thúc đẩy việc hoàn thiện Vạn lý trường thành. Phải đến tận năm 1571, sau khi Gia Tĩnh qua đời, người Mông Cổ mới được buôn bán với nhà Minh trong hòa bình. Biên giới được bình ổn trong 20 năm sau đó.

Sự thiếu quyết đoán trong cách cai trị của Gia Tĩnh cũng được thể hiện ở các mặt trận khác. Năm 1513, Hami, một tiền đồn trên con đường tơ lụa dưới sự kiểm soát của nhà Minh đã bị chiếm đóng bởi Hồi vương của Turfan, một trong số những nhà cai trị độc lập, người đã thành công trong việc cai trị Timurid và Hãn quốc Sát Hợp Đài tại lòng chảo Tarim. Người Trung Quốc đã trả đũa lại bằng việc thuê một số đạo quân Mông Cổ đến chiếm lại Hami nhưng đáng tiếc đã thất bại. Năm 1528, thành phố bị xóa sổ, khả năng nắm bắt thông tin yếu kém của nhà Minh đã tạo cơ hội cho một cuộc đột kích từ Turfan vào phía Tây Bắc Trung Quốc và những người Hồi giáo đã nổi dậy trong đế quốc. Năm 1537, một kế hoạch tấn công vào Việt Nam với lý do Việt Nam ngừng triều cống đã được lập ra nhưng sau ba năm ngần ngại, vị hoàng đế đã từ bỏ ý định. Tiếp đó, người Việt Nam và Miến Điện đã tấn công lên vùng phía Nam của Vân Nam và Quảng Tây.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

(Quân Minh với hỏa khí)

Một vấn đề nghiêm trọng khác xuất hiện trong năm 1540, những tên cướp biển tại bờ biển phía Nam đã tổ chức thành một lực lượng quân sự đáng gờm. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự thiển cận của chính phủ Trung Quốc vào năm 1525 khi đã cố cách ly người dân khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài bằng một loạt các sắc lệnh hạn chế thương mại và đi biển. Các thương nhân địa phương đã chiếm giữ các hòn đảo ngoài khơi làm cơ sở cho các hoạt động thương mại trái phép với người Nhật và người Bồ Đào Nha. Bên cạnh buôn bán, họ đã nhanh chóng phát triển các hoạt động cướp phá, xây dựng lực lượng quân đội mạnh và thậm chí đã tấn công các thành phố ven biển. Những tên cướp biển ban đầu được hỗ trợ bởi các gia đình thương nhân tại Kyushu, Honshu và được củng cố thêm bởi những đội cướp biển người Nhật, những người đã cướp bóc suốt hai thế kỉ tại khu vực Đông Nam Á. Mặc dù nhà Minh gọi những toán cướp biển này dưới cái tên “Oa Khấu”, có nghĩa là cướp biển Nhật Bản, nhưng hai phần ba nhân lực của những toán cướp là người Trung Quốc.

Năm 1547, Chu Wan đã được cử đến để ổn định tình hình nhưng các thương nhân với những mối quan hệ trong chính quyền đã tìm cách để sa thải ông.

Những hạn chế nghiêm ngặt hơn về những hoạt động trên biển đã đẩy ngư dân vào bước đường cùng và buộc họ phải bạo động. Điều này khiến cho Oa Khấu mạnh hơn bao giờ hết. Vào năm 1554, họ đánh bại quân Minh trên đất liền, đe dọa những thành phố lớn ven biển như Nam Kinh, Hàng Châu.

Hai viên tướng đã được chọn để kiểm soát tình hình là Hồ Tôn Hiến và Thích Kế Quang. Các hoạt động quân sự, những nỗ lực bắt giữ các thủ lĩnh cướp biển được tăng cường. Sau đó, vào năm 1567, lệnh hải cấm được dỡ bỏ. Tình hình dần ổn định trở lại.

Hoàng đế Vạn Lịch lên ngôi vào năm 1573, ông là một người không có khả năng và bị giam cầm bởi hệ thống chính trị lúc bấy giờ, cố giữ cho hoàng đế như bị cầm tù trong cung điện, cách biệt với thế giới bên ngoài. Triều đại của ông đã ghi nhận “ba chiến dịch vĩ đại” và chúng thường được sử dụng như một bằng chứng cho thấy quân đội nhà Minh vẫn còn mạnh mẽ. Tuy nhiên, hai trong số những chiến dịch này không đáng kể. Dương Ứng Long, một viên quan ở Tứ Xuyên, sau khi nhận được sự ủng hộ của các bộ tộc Miêu bản địa đã phát động nổi loạn ở Phan Châu. Tranh thủ nhà Minh còn bận bịu ở những nơi khác, Dương giữ được độc lập trong vài năm. Đến năm 1600, một đội quân, chủ yếu là các bộ tộc địa phương, do Lý Hóa Long lãnh đạo đã đánh bại Dương trong một chiến dịch kéo dài 100 ngày. Chiến dịch tại Ordos (Ngạc Nhĩ Đa Tư) năm 1592 thậm chí còn được bản địa hóa hơn nữa. Quân đồn trú tại Ninh Hạ đã nổi dậy và liên minh với một thủ lĩnh Mông Cổ. Cuộc nổi dậy này bị đánh bại vào tháng 10 năm đó khi quân triều đình dùng nước ở một hồ gần đó làm suy yếu tường thành.

Chiến dịch can thiệp vào chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592-1598) là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong ba chiến dịch quân sự thời Vạn Lịch. Năm 1592, người Nhật dưới sự dẫn dắt của Hideyoshi Toyotomi đã xâm lược bán đảo Triều Tiên như một bước đầu để chinh phục Trung Quốc. Ban đầu, chiến dịch của người Nhật khá thuận lợi, chiếm được Seoul và Bình Nhưỡng trong thời gian ngắn, sau đó họ tạm dừng lại để tập hợp lại lực lượng. Tháng 1 năm 1593, một đội quân Minh dưới quyền của Lý Như Tùng đã vượt sông Áp Lục tiến vào Triều Tiên, đánh bại quân Nhật bên ngoài Bình Nhưỡng. Đang gặp khó khăn về vấn đề hậu cần, tình hình của quân Nhật càng trầm trọng thêm vì hoạt động của hải quân Triều Tiên và các mật vụ Trung Quốc, những mật vụ này đã đốt một kho lương lớn của quân Nhật rồi rút về gần Busan. Một thỏa thuận ngừng chiến được thiết lập cho đến tháng 10 năm 1596 khi một đoàn đại sứ của Trung Quốc đến Nhật để đàm phán hòa bình.

Kết quả cuộc đàm phán minh họa cho một trong những khiếm khuyết trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trung Quốc không chấp nhận việc những người man di được đối xử một cách bình đẳng. Hideyoshi dự liệu việc Triều Tiên được phân chia và có một cuộc hôn nhân chính trị với công chúa nhà Minh nhưng người Trung Quốc lại chọn cách: sẽ công nhận ông là vua của Nhật Bản (ông đã cai trị Nhật bản trên thực tế trước đó) nếu ông chấp nhận là một chư hầu và không bao giờ xâm lược lục địa nữa. Hideyoshi coi điều này như một sự xúc phạm và đã tổ chức một cuộc tấn công vào Seoul trong năm tiếp theo. Cuộc tấn công này đã bị chặn bởi một lực lượng Trung Quốc 5 vạn người. Đô đốc Triều Tiên Lý Thuấn Thần (Yi Sun-sin) được một đội tàu nhà Minh dưới sự chỉ huy của chuyên gia pháo binh Trầm Lâm giúp đỡ đã kiểm soát được mặt biển, cắt đứt hậu cần và những đoàn quân tiếp viện từ Nhật Bản, làm cho người Nhật một lần nữa thất bại. Năm 1598, tuy những cuộc tấn công của quân Minh tại Ulsan, Sunchon, Sochon đã bị thất bại nặng nề nhưng họ đã thành công trong việc giam chân người Nhật ở những khu vực quan trọng. Tin về cái chết của Hideyoshi đến vào cuối năm, khi mọi người đã kiệt sức, đã tạo điều kiện cho cả hai phe đồng ý đình chiến. Người Nhật rút khỏi Triều Tiên, nhà Minh đạt dược một thắng lợi chiến lược.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (2)

QUÂN ĐỘI CUỐI MINH

18700803_1905028396440662_8494008904079883031_o

Những quan lại tham nhũng và bất tài đã làm suy yếu hệ thống quân sự “vệ sở” của nhà Minh. Vào thế kỉ 16, quân đội đã trở thành một gánh nặng, thiếu đào tạo và kỉ luật, sức mạnh của họ ngày một giảm sút. Các sĩ quan tiếp tục ghi tên những người đã chết hoặc đã bỏ đi vào trong danh sách để lấy thêm tiền lương. Ch’en Chien khi viết về thời Gia Tĩnh đã miêu tả vệ sở như là: “nguồn gốc của nhiều rắc rối. Họ nổi loạn và sẵn sàng tạo phản bất cứ khi nào các nhà chức trách chậm trả tiền cho họ… bất kì khi nào có chiến tranh, do lo sợ quân đội bị tổn thất, lính đánh thuê và dân binh được sử dụng để chống lại những bọn cướp. Nói cách khác, dân thường được sử dụng để bảo vệ những người lính“.

Vào giữa thế kỉ 16, lực lượng chính của quân Minh là những người lính đánh thuê được tuyển dụng từ dân chúng – một hệ thống tương tự như của nhà Tống. Tuy nhiên, thời đại của những chiến binh đã trôi qua, những người lính có địa vị xã hội rất thấp. Họ được tuyển mộ chủ yếu từ những kẻ lang thang, trộm cướp. Họ bị đối xử tồi tệ, lương thấp, thất thường và thậm chí còn bị cướp bởi những viên chỉ huy. Do được tuyển mộ từ những vùng khác nhau, những đạo quân mang tính địa phương rất lớn. Những người đến từ Hsiang-fu, Hồ Nam dễ kiểm soát nhưng lại hèn nhát. Trái lại, Mao Hồ Lô binh (毛葫蘆兵), những cựu thợ mỏ dũng cảm nhưng lại vô kỷ luật. Những người lính Tứ Xuyên vốn là những kẻ cướp, dễ bị thu hút bởi những đồ đạc bị kẻ thù bỏ lại. Nhìn chung, những người nông dân làm lính tốt hơn những thị dân. Về sau, những đội quân này được trao quyền tự quản khá cao.

Kết quả hình ảnh cho ming cavalry

Kị binh nhà Minh

Những người lính từ Liêu Đông đã chống lại cuộc nổi dậy ở Thiểm Tây vào năm 1630 khá hiệu quả. Họ không hiểu được tiếng địa phương nên không thể bị mua chuộc hay bị làm rối loạn (quân đội được tuyển dụng ở Thiểm Tây trở nên vô dụng vì họ là những người đồng hương với quân nổi dậy, có xu hướng liên kết với đối phương thay vì chiến đấu). Những đội quân quan ngoại cũng được tuyển mộ.

Tùy mục đích sử dụng, họ sẽ dũng những người lính đánh thuê Mông Cổ với quy mô khác nhau. Từ việc thuê toàn bộ bộ lạc để chinh phục Trung Á cho đến những toán nhỏ hơn được tuyển mộ từ những tù binh chiến tranh. Những toán nhỏ này được đưa đến những vùng xa xôi của đế chế và được phân biệt bởi những chiếc mũ đỏ của họ.

Pubei, nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy Ordos năm 1592 là một người Mông Cổ xuất thân từ một gia đình từng phục vụ quân Minh trong nhiều thế hệ. Giống như những người Mông Cổ, một số bộ lạc chư hầu người Nữ Chân đã cung cấp những binh lính, chủ yếu là kị binh cho quân Minh. Các nhóm nhỏ của Nhật cũng được thuê vào cuối thể kỉ 16. Một đạo quân Triều Tiên với tư cách đồng minh đã chiến đấu bên cạnh quân Minh trong chiến dịch chống lại Mãn Châu năm 1618-19.

Theo truyền thống, thủ cấp của kẻ thù được mang ra treo thưởng để tạo động lực cho binh lính chiến đấu, nhưng vào thể kỷ 17, việc này đã bị lạm dụng. Các tù nhân chiến tranh và thường dân vô tội thường bị binh lính tàn sát để lấy thủ cấp làm bằng chứng cho những chiến tích hư cấu và thậm chí có một phương pháp hấp đầu để làm cho thủ cấp của người Hán trông như thủ cấp người Mãn Châu. Điều này đã làm cho số lượng kẻ thù bị tiêu diệt tăng vọt, khiến chính phủ không biết một chút gì về tình hình thực tế. Năm 1640, hoàng đế Sùng Trinh đã cố gắng hủy bỏ hệ thống này nhưng đã quá muộn.

Trận Ninh Viễn lần thứ nhất năm 1626 (Viên Sùng Hoán đã lãnh đạo quân Minh đánh bại người Nữ Chân dưới sự chỉ huy của Nỗ Nhi Cáp Xích)

Giống như “vệ sở”, nhiều đơn vị lính đánh thuê cũng nhanh chóng trở thành gánh nặng. Năm 1620, Shen kuo-yuan đã đưa ra một báo cáo về quân đội tại Bắc Kinh cũng tồi tệ như những gì Ch’en Chien viết: “Không thể dùng chúng để bảo vể kinh đô nếu chiến tranh nổ ra. Người ta nói các nhà chức trách không dám cải tổ chúng vì sợ chúng sẽ làm loạn. Họ cũng không dám đào tạo vì điều này cũng sẽ dẫn đến thảm họa tương tự“.

Các nhà quan sát châu Âu cũng không kém gay gắt khi nói về chất lượng quân đội của nhà Minh. Matteo Ricci vào cuối thể kỉ 16 cho rằng sức mạnh của quân Minh nằm ở số lượng chứ không phải kỹ năng của họ. Nhiều phong trào cải cách đã được bắt đầu, đáng chú ý như cuộc cải cách của Trương Cư Chính trong thời Vạn Lịch nhưng cuộc cải cách này ít tiến bộ và đã bị lực lượng quan liêu chống lại gay gắt. Tham nhũng thậm chí đã được thể chế hóa. Ví dụ như ở một số địa phương, các viên chức sau khi đóng một khoản tiền sẽ được miễn trừ nghĩa vụ hoặc được phép “mượn” ngựa của quân đội để sử dụng cho mục đích cá nhân. Trong những năm 1560, chỉ có 3 vạn lính ở Hsuan-fu chống lại cuộc xâm lược của Mông Cổ, trong khi con số trên giấy là 12 vạn.

Sự đa dạng của các đơn vị khiến cho việc kiểm soát của trung ương rất khó khăn, cộng thêm sự chênh lệch giữa những con số trên giấy và thực tế. Các lực lượng vũ trang thời đầu nhà Minh được cho là có khoảng 3 triệu người. Tình trạng quản lý gian dối và yếu kém đã trở thành căn bệnh mãn tính khiến cho không thể nào xác định được sức mạnh thật sự của quân đội. Martin de Rada đã đưa ra một danh sách các đồn lũy vào cuối thế kỉ 16 với tổng cổng 4.178.500 bộ binh và 780.000 con ngựa. Không còn nghi ngờ gì nữa, những ghi chép trên giấy đã vượt quá xa thực tế. Nhưng với mức độ dân số của nhà Minh, từ 65 triệu trong năm 1400 đến 150 triệu vào năm 1600 đã có thể đảm bảo quy mô của một đội quân lớn.

Về mặt chiến lược, được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng với rất nhiều con đường và cây cầu được xây trong thời kì bùng nổ của nền kinh tế vào thế kỉ 11-13, tính cơ động của họ khá cao. Trong chiến dịch Ninh Hạ vào năm 1592, 400 khẩu pháo đã vượt qua 300 dặm địa hình khó khăn trong một tháng. Chiến dịch năm 1619 chống lại Mãn Châu với bốn mũi tiến quân riêng biệt có tổng quân số khoảng 20 vạn người cho thấy các cuộc hành binh đầy tham vọng vẫn có thể được thực hiện.

Trận Tát Nhĩ Hử (chiến dịch năm 1618-19 của liên minh: nhà Minh, Triều Tiên và Diệp hách nhằm chống lại người Nữ Chân)

Chiến dịch Tát Nhĩ Hử (1618-19)

Đầu thế kỉ 17, dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhi Cáp Xích, các bộ tộc Nữ Chân được thống nhất và ngày càng trở nên hùng mạnh. Diệp Hách là một trong những bộ tộc thân Minh còn sót lại và họ không thần phục Nỗ Nhi Cáp Xích. Đây là một trong những lí do chính khiến người Nữ Chân đụng độ với nhà Minh. Năm 1618, ông ban bố “Thất đại hận”, chính thức khai chiến với quân Minh.

Rất nhanh chóng, các thành ở Đông Bắc nhà Minh gục ngã trước vó ngựa của Nữ Chân. Sơn Hải Quan bị uy hiếp. Để đáp trả, Minh Thần Tông phong Dương Cảo làm Liêu Đông kinh lược sứ, chỉ huy cuộc hành binh, phối hợp với Triều Tiên và tộc Diệp Hách để chống lại Nữ Chân.

Liên quân bao gồm 14 vạn quân, chia làm bốn đường đánh thẳng vào kinh đô của người Nữ Chân:

  • Tây lộ quân do Tổng binh Sơn Hải quan Đỗ Tùng chỉ huy, khoảng 3 vạn quân Minh
  • Bắc lộ quân do Tổng binh Khai Nguyên Mã Lâm chỉ huy, khoảng 2,5 vạn quân Minh và 1 vạn quân bộ tộc Diệp Hách do Kim Đài Cát chỉ huy.
  • Đông lộ quân do Tổng binh Liêu Dương Lưu Đĩnh chỉ huy, khoảng 2,7 vạn quân Minh và 1,3 vạn quân Triều Tiên do Khương Hoằng Lập chỉ huy.
  • Nam lộ quân do Tổng binh Liêu Đông Lý Như Bách chỉ huy, khoảng 2 vạn quân Minh.

Dương Cảo cùng với 1,5 vạn quân đóng ở Thẩm Dương để chỉ huy toàn cục.

Lực lượng của Nỗ Nhi Cáp Xích khoảng 6 vạn người. Nhận ra những nhược điểm của quân Minh như lực lượng bị phân tán, những bất đồng trong nội bộ, khả năng thông tin liên lạc, phối hợp và kĩ năng kém, ông quyết định sẽ tập trung lực lượng giao chiến với từng đạo quân Minh một. Với ưu thế cơ động của kị binh cùng với khả năng chiến đấu vượt trội, ông đã đánh bại hoàn toàn 14 vạn liên quân chỉ trong vòng 6 ngày.

Danh tiếng của Nỗ Nhi Cáp Xích vang dội khắp miền Bắc Trung Quốc. Toàn bộ các bộ tộc Nữ Châu giờ đã quy phục ông. Đây là một trận đánh điển hình của việc vận dụng nguyên tắc tập trung binh lực và khả năng cơ động.

Trên chiến trường, thay vì cố gắng chỉ huy những đoàn quân khổng lồ được đào tạo sơ sài, các tướng thường sử dụng các đơn vị được tuyển chọn đặc biệt với quy mô không lớn hơn một tiểu đoàn làm mũi nhọn tấn công. Ví dụ như Lưu Đĩnh, vào năm 1619 ông đã dùng một lực lượng gồm 736 vệ binh trang bị trường kiếm chiến đấu ở trận tiền. Những tinh binh như vậy rất thiện chiến và hung dữ, thề chết với các chỉ huy của họ chứ nhất quyết không chạy trốn. Những đợt tấn công dữ dội của họ đã gây ấn tượng mạnh với đồng minh Triều Tiên. Tuy nhiên, với hầu hết các sĩ quan có kĩ năng chiến đấu kém, việc đánh trận trở nên tồi tệ hơn, những cách đánh đầy chiến thuật và linh hoạt được sử dụng bởi quân Minh vào thời kì đầu đã bị thay thế bằng cách tấn công toàn lực vào mặt trước với việc sử dụng ưu thế về lực lượng.

Các nhà quan sát phương Tây đã bình luận về hiệu quả đào tạo và luyện tập. Người Trung Quốc nhấn mạnh vào kĩ năng sử dụng vũ khí cá nhân hơn là phối hợp tập thể. Theo Rada, các cung thủ Trung Quốc rất khéo léo nhưng bộ binh của họ nói chung: “…các cuộc diễn tập không được thực hiện theo mệnh lệnh… các đám đông đứng tụ lại gần nhau một cách hỗn loạn”.

Có những ngoại lệ với việc suy giảm chung của quân đội. Đặc biệt nhất là Thích Kế Quang, người chỉ huy quân đội tại Chiết Giang năm 1555 với nhiệm vụ chống lại giặc Oa Khấu. Khi đã thiết lập được một tinh thần tốt hơn cho quân đội, ông đã áp dụng một hệ thống kỷ luật nghiêm ngặt. Thậm chí ông đã giết những sĩ quan tự ý rút lui trên chiến trường. Những người lính cũng được khuyến khích thông qua các bài diễn văn, các hình tượng tôn giáo. Họ được đào tạo các chiến thuật ở đơn vị nhỏ và các kĩ năng chiến đấu cá nhân một cách chuyên sâu. Ở cấp cao hơn, ông lên kế hoạch một cách cẩn thận với sự trợ giúp của các sa bàn.

Early Mandarin Duck Squad

Uyên ương trận

Sự đổi mới lớn nhất của Thích Kế Quang là việc thành lập những đội “Uyên ương” 12 người, trong đó mỗi người lính có một vai trò xác định. Bốn trong số họ được trang bị giáo dài để chiến đấu với những tên cướp biển được trang bị kiếm Nhật, những giáo binh được bảo vệ trong trận chiến tầm gần bởi hai kiếm sĩ, một ở bên phải với khiên lớn và một bên trái với lá chắn nhỏ hơn với một vài cái lao; hai người mang trúc xoa, với những cành cây trên trúc xoa sẽ gây vướng víu, giúp giữ khoảng cách với kẻ thù; canh chừng phía sau là hai người được trang bị đinh ba; những người còn lại là một sĩ quan và một người phục vụ. Sự sắp xếp này có vẻ không hiệu quả, chỉ có một phần ba trong số những người này có thể tấn công nhưng trong thực tế mà Thích Kế Quang phải đối mặt, ông có rất nhiều nông dân nhưng không có khả năng chế tạo vũ khí tinh vi, đây là một sự sắp xếp hợp lý.

Một đặc điểm nổi bật của Oa Khấu là khả năng dùng kiếm của họ, kỹ năng này được học hỏi cả ở Nhật và Trung Quốc. Họ chiến đấu, nâng và hạ gươm rất nhanh theo mệnh lệnh từ quạt của các viên chỉ huy.

Ban đầu, những tên cướp biển có kỉ luật tốt hơn và thường xuyên đánh bại quân triều đình, nhưng họ thích phòng thủ hơn là chủ động tấn công quan quân. Thích Kế Quang lưu ý rằng: “những tên cướp biển luôn luôn ngồi trên những cao điểm rình mò chúng tôi. Chúng chờ cho đến khi trời tối, lúc mà binh lính trở nên mệt mỏi. Rồi họ xuất hiện cùng những chiếc mũ bằng dây màu và sừng động vật với những tạo hình ma quái để dọa chúng tôi”.

Thích Kế Quang dần dần trấn áp được cướp biển. Năm 1568, ông được chuyển lên phía Bắc, đến Cẩm Châu, để chiến đấu với Mông Cổ. Tại đây ông cũng sáng tạo ra những chiến thuật mới phù hợp với tình hình địa phương để bộ binh có thể đối mặt với kị binh Mông Cổ trên địa hình bằng phẳng. Chiến thuật này dựa trên một nhóm 20 người được triển khai xung quanh những chiếc xe kéo hai bánh, mỗi xe trang bị hai pháo hạng nhẹ do mười người điều khiển, mười người còn lại mang những vũ khí khác nhau, bốn trong số đó sử dụng súng hỏa mai. Thích Kế Quang phản đối việc phụ thuộc quá nhiều vào súng tay, những kinh nghiệm ở phương Nam đã cho ông thấy những rủi ro với loại vũ khí này như là nhiều lúc không bắn được hay thậm chí bị nổ.

Đội hình phòng thủ trước kị binh sử dụng xe của quân Minh (nguồn: http://greatmingmilitary.blogspot.com)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (3)

PHÁO BINH QUÂN MINH

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

Súng cầm tay là một vấn đề gây tranh cãi thường xuyên vào cuối thời nhà Minh, nhưng nhìn chung, mọi người đều đồng ý tăng số lượng súng trong khả năng có thể. Năm 1530, đã có một đề nghị muốn giảm bớt số lượng quân đồn trú bằng cách tăng cường trang bị những khẩu pháo nhỏ, mỗi khẩu do ba người vận hành, điều này sẽ giúp giải phóng chín phần mười nhân lực để tăng cường cho các hoạt động nông nghiệp. Vài ngàn vũ khí đã được sản xuất trong những năm sau đó nhưng sản lượng không đủ. Trong thời gian này các đơn vị sử dụng hỏa khí truyền thống của Trung Quốc đã bắt đầu được thay thế bằng các loại vũ khí phương Tây. Những khẩu hỏa mai tân tiến được đưa vào vùng Tây Bắc Trung Quốc từ đế quốc Ottoman thông qua Turfan trong chiến dịch Hami (1513-24) và vào các vùng đất khác trong những năm 1540 bởi hải tặc Nhật Bản, những người mới sao chép chúng từ người Bồ Đào Nha. Những vũ khí này được người Trung Quốc gọi là “điểu thương”, có lẽ do lúc điểm hỏa giống như con chim đang mổ xuống. pháo Phật Lăng Cơ (Frankish cannon) có lẽ đã được người Trung Quốc thu được lần đầu tiên vào năm 1523 trên hai con tàu Bồ Đào Nha bị bắt, sau đó họ đã sản xuất loại pháo này vào năm 1529. Ban đầu,”pháo Phật Lăng Cơ” được dùng để gọi những khẩu súng nạp hậu làm bằng sắt gắn trên những tàu chiến Bồ Đào Nha, nhưng thuật ngữ này sau này còn được dùng để gọi cả những khẩu súng lớn nạp tiền làm bằng sắt hoặc đồng và những phiên bản sao chép nhẹ và di động hơn làm bằng gỗ. Dường như ở từng khu vực khác nhau, chất lượng của những loại hỏa khí cũng khác nhau. Rada đã mô tả pháo Trung Quốc rất nhỏ và yếu đuối. Juan de Mendoca vào năm 1585 lại mô tả khẩu pháo “thật to lớn và vĩ đại, tốt hơn cả những khẩu pháo của chúng ta”. Phương pháp sử dụng pháo cũng rất phức tạp: một ghi chép lịch sử địa phương tại Tô Châu dưới thời Sùng Trinh đã mô tả lại những người lính đã dùng kính viễn vọng trong một trận chiến chống lại Lý Tự Thành, trước khi khoa học kĩ thuật được áp dụng rộng rãi ở châu Âu.

Kết quả hình ảnh cho súng trung liên

Đội hình quân Minh với súng hỏa mai

Vào cuối thể kỉ 16, pháo binh hạng nặng ở châu Âu đã vượt trội hơn so với pháo binh Trung Quốc. Những khẩu pháo ở Trung Quốc gần như đã biến mất, chỉ còn được dùng để bảo vệ cho các bức tường thành, nơi mà tính di động và tốc độ bắn của chúng ít quan trọng hơn khi ở trên những chiến trường trống trải. Trong thời kì trị vì của vua Thiên Khải (1621-27) họ thậm chí còn thờ cúng những khẩu đại pháo như những vị thần. Nhà Minh thường tìm kiếm sự trợ giúp của những người châu Âu, những người được coi là chuyên gia trong việc sử dụng pháo, trong cuộc chiến chống lại Mãn Châu. Năm 1621, ba khẩu pháo Bồ Đào Nha do những nô lệ châu Phi điều khiển đã đánh bại quân Mãn Châu mà không cần hỗ trợ từ bên ngoài.

Hong Yi Po

Định Liêu Đại tướng quân, pháo được đúc bằng sắt và đông, bảo tàng tỉnh Liêu Ninh

Chiến thắng này chủ yếu là nhờ khả năng sử dụng pháo của họ, được kế thừa từ những nhà truyền giáo được phép cư trú ở Bắc Kinh. Matteo Ricci là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên được cư trú tại Bắc Kinh vào năm 1602, ông sớm bị buộc phải sản xuất súng cho nhà Minh, tiếp đó là Adam Schall vào năm 1642.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Một số người bảo thủ và bài ngoại đã phản đối việc sử dụng vũ khí nước ngoài. Cuối năm 1642, Lưu Tôn Chu đã khuyên hoàng đế không sử dụng các vũ khí phương Tây với lý do các triều đại Đường và Tống vẫn cai trị được mà không cần có chúng. Trên thực tế, những người lính ở nhiều khu vực không quen thuộc với súng và những người thợ Trung Quốc thiếu kinh nghiệm chế tạo súng. Năm 1630, Từ Quang Khải cho rằng việc sản xuất thuốc súng và sử dụng hỏa khí nên giao hẳn cho người châu Âu, ông cũng phớt lờ ý kiến của hoàng đế muốn tăng hiệu quả các khẩu pháo ngoại nhập bằng việc tăng lượng thuốc phóng. Những tai nạn thuốc súng thường xuyên xảy ra với người Trung Quốc. Hàng trăm người đã chết trong một vụ nổ vào năm 1605, những người lính phát hiện ra thuốc súng của họ đã đóng cục lại sau một thời gian dài lưu trữ, họ dùng búa để làm tan thuốc súng và vụ nổ đã xảy ra.

Trận Liêu Dương (1621), có thể thấy quân Minh sử dụng khá nhiều hỏa khí để chống lại kị binh Nữ Châu khi thủ thành.

Ngay cả vào cuối thời nhà Minh, đa số binh lính vẫn được trang bị những vũ khí truyền thống. Kị binh chủ yếu dùng cung, với kĩ thuật kị xạ được học từ Mông Cổ. Kị binh suy yếu ngay từ đầu thời Minh vì thiếu ngựa, một vấn đề thường gặp phải ở các triều đại không tiếp cận được với những đồng cỏ phía Bắc. Bộ binh sử dụng cung, nỏ, trường kiếm và vũ khí cán dài và những loại vũ khí khác được mô tả trong Võ Bị Chí. Giáp trụ chủ yếu là lamellar và brigandine được làm từ da hoặc các tấm sắt , được trang bị chủ yếu cho kị binh và các sĩ quan. Phần lớn bộ binh không được trang bị giáp.

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

Vạn lý trường thành là thành tựu quân sự nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Được xây dựng lần đầu dưới thời Tần (215 TCN) sau đó được nhà Hán xây mới thêm rất nhiều. Bức tường được mở rộng về phía Tây đến tận Cam Túc. Những năm sau đó, việc xây dựng bị gián đoạn lại một thời gian. Vạn lý trường thành ngày nay là sản phẩm được xây dựng dưới thời nhà Minh.

Bản đồ Đông Bắc Á (1620-1630)

Ý thức được sự nguy hiểm của các bộ tộc phương Bắc, nhà Minh đã cho xây dựng các công trình phòng thủ dọc biên giới ngay từ những năm 1370. Việc xây dựng bức tường một cách có hệ thống được bắt đầu tại Ordos dưới thời Binh bộ thượng thư Yu Tzu-chun vào năm 1480. Năm 1540, mối đe dọa ngày một tăng đến từ nước Mông Cổ mới của Altan Khan đã thúc đẩy việc thay thế những bức tường đất đã bị xói mòn bằng những bức tường mới được xây từ gạch và đá. Lực lượng xây dựng những bức tường này là những đội quân đóng tại địa phương. Đây là một trong các phản ứng để đối phó lại với những cuộc tấn công của quân Mông Cổ. Nhiều đoạn tường thành đã được xây đi xây lại rất nhiều lần do bị người Mông Cổ tàn phá trong những đợt tiến quân.

Sơn Hải quan ngày nay

Bức tường cũng thể hiện những thăng trầm trong nền chính trị nhà Minh. Sự đấu đá giữa những người theo đuổi một chính sách tấn công hung hăng và những người chỉ muốn phòng thủ.

Một số đoạn tường thành ở phía Tây không được xây bằng đá và hiện tại chỉ còn lại một chút tàn tích. Một số đoạn khác, như ở Đại Đồng và Bắc Kinh được xây dựng vững chắc hơn rất nhiều. Tại Bát Đạt Lĩnh, phía Bắc kinh đô, bức tường có chiều cao trung bình khoảng 24 feet (khoảng 7,3m) rộng 20 feet (6m) ở chân và 16 feet (4,9m) trên bề mặt, đủ để năm kị mã đi song song. Bề mặt của nó được bọc đá, bên trên có hàng rào với lỗ châu mai. Cứ 150 yard (137m) lại có một tháp lửa truyền tin, cứ 300 yard (274,3m) có một tháp canh được trang bị vũ khí hạng nặng như pháo hoặc nỏ hạng nặng.

Kết quả hình ảnh cho manchu conquest of china

Sơn Hải quan (1644), có thể thấy hệ thống phòng thủ ở khu vực này của quân Minh với một loạt các đồn, pháo đài và tường thành được xây dựng dựa trên những chướng ngại tự nhiên

Ba pháo đài quan trọng trên bức tường là Gia Dục quan, “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” thuộc núi Gia Dục, nằm ở điểm cực tây của Vạn lý trường thành. Tuy được xây dựng vào năm 1372 nhưng phải đến năm 1570 mới được liên kết với phần còn lại của bức tường. Thứ hai là Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh, được xây dựng vào năm 1580. Cuối cùng là Sơn Hải quan ở điểm cực Đông, trên vịnh Bột Hải. Sơn Hải quan được xây dựng để đối phó với sự lớn mạnh của người Nữ Chân trong những năm cuối thế kỉ 16, nhưng cuối cùng thì Ngô Tam Quế, người trấn giữ Sơn Hải quan lại mở cửa cho người Nữ Chân tiến vào Trung Nguyên vào năm 1644. Từ đó, người Nữ Châu sở hữu cả hai phía bức tường.

role_2_1_c56f825.png

Sàng nỏ

Vào cuối thế kỉ 16, bức tường được chia thành chín đoạn, có thể được hiểu như chín khu quân sự được chỉ huy bởi các vị tướng. Ở các khu vực ít quan trọng, chỉ có những đội tuần tra canh giữ. Ngược lại, ở những vùng trọng điểm, bức tường là trung tâm của một hệ thống phòng thủ phức tạp. Các pháo đài được xây dựng ở cả hai phía bức tường để chống đỡ các cuộc tấn công hoặc là những điểm tựa cho những cuộc phản công.

Ngay trước bức tường là một dải cát để theo dõi những hành động của quân địch. Các cuộc tấn công có thể được cảnh báo một cách rõ ràng bằng pháo hiệu là lửa. Ví dụ, một đợt tấn công của khoảng 100 quân địch sẽ được báo hiệu bằng một phát pháo hiệu và một đống lửa, năm phát súng và năm đống lửa để báo hiện cho một cuộc tấn công của 1 vạn người. Khói màu và những người truyền tin được dùng để truyền tải những thông tin cụ thể, đầy đủ hơn.

Đằng sau bức tường là những điểm đóng quân được xây dựng kiên cố với tường bao xung quanh bảo vệ. Những cây nỏ lớn và pháo được trang bị trên những tháp canh. Giá trị của hỏa khí trong việc chống lại những đội kị binh du mực đã được công nhận từ rất sớm. Từ năm 1412, pháo đã được triển khai ở các pháo đài phía Bắc. Số lượng hỏa khí được cung cấp khá lớn. ở Thiểm Tây trong giai đoạn 1536-38, hơn 9300 khẩu súng đã được trang bị.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (4)

ĐỤNG ĐỘ VỚI CHÂU ÂU

Trong khi nhà Minh đang bận rộn với các vấn đề ở khu vực biên giới phía Bắc thì mối đe dọa mới đã xuất hiện ở phía Nam. Năm 1498, người Bồ Đào Nha tìm ra con đường vòng qua mũi Hảo Vọng đến phương Đông. Năm 1511, họ chiếm được Malacca, một thành bang thuộc quần đảo Malay, lúc này đang thần phục nhà Minh. Năm 1517, đội tàu đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Trung Quốc để thực hiện những hoạt động thương mại trong hòa bình. Ba năm sau, một nhóm khác dưới quyển Siman Andrade đã phá hoại mối quan hệ hữu nghị đang trong quá trình xây dựng ban đầu bằng cách tấn công các con tàu Trung Quốc gần Quảng Châu và xây dựng một pháo đài trái phép ở ngoài khơi. Một trận chiến nhỏ đã nổ ra. Sau dó, người Bồ Đào Nha đã được phép kinh doanh tại Thượng Xuyên đảo và Ninh Ba đến khi họ tự phá hoại mối quan hệ này một lần nữa bằng các hoạt động cướp biển. Trong những năm 1540, họ thường hợp tác với Oa Khấu (cướp biển Nhật Bản) trong việc buôn lậu hàng hóa vào vùng Đông Nam. Năm 1557, họ lập một căn cứ trên bán đảo Macao. Căn cứ này được nhà Minh công nhận một cách không chính thức. Địa điểm này đã nhanh chóng trở thành thương cảng chính của Trung Quốc và châu Âu.

Hoạt động của Oa Khấu thế kỉ 16

Tây Ban Nha là quốc gia thứ hai thiết lập quan hệ với Trung Quốc. Họ mua căn cứ tại Philippines vào những năm 1560. Sau năm 1567, khi Hải cấm bị dỡ bỏ, các hoạt động thương mại ngày một phát triển. Như chúng ta đã thấy, người châu Âu thế kỉ 16 coi thường sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Mới giành được thắng lợi ở châu Mỹ, người Tây Ban Nha cũng có những tham vọng tương tự ở châu Á. Một số kế hoạch chinh phục Trung Quốc đã được đưa ra. Đáng chú ý nhất là kế hoạch của Andres de Mirandola được phác thảo trong một bức thư gửi vua Philip II vào năm 1569. Vì những xáo trộn xảy ra khi tên cướp biển Lâm Phụng bất ngờ tấn công Manila (lúc này đang của Tây Ban Nha), kế hoạch không bao giờ trở thành hiện thực. Khi tấn công Manila, Lâm Phụng đã sử dụng những con tàu trông giống tàu của người Bồ Đào Nha gây nên một số nhầm lẫn. Người Tây Ban Nha đã hợp tác với tư lệnh hải quân tỉnh Phúc Kiến để bắn Lâm. Nếu kế hoạch thành công, người Tây Ban Nha sẽ nhận được một căn cứ tại Hạ Môn. Nhưng đáng tiếc kế hoạch vây bắt đã thất bại.

 

Năm 1622, môt hạm đội Hà Lan đã chiếm quần đảo Pescadores (Bành Hồ) ngoài khơi bờ biển phía Nam và sử dụng nơi đây như một bàn đạp để tiếp cận Trung Quốc. Nhà Minh lại tiếp tục ngăn cấm thương mại. Họ muốn tước đoạt những nguồn lợi mà người Hà Lan vất vả có được. Tuy nhiên, điều này chỉ có tác dụng thúc đẩy thêm nhiều cư dân địa phương chuyển sang làm cướp biển và đi buôn lậu. Hải tặc Trung Quốc phái triển mạnh ở khu vực duyên hải phía Nam dưới sự lãnh đạo của Trịnh Chi Long. Năm 1624, bằng một cuộc hành quân, người Minh đã đẩy người Hà Lan ra Đài Loan.

Nhìn chung, người châu Âu đã tạo cho người Trung Quốc những ấn tượng xấu. Những hành vi chứa đựng màu sắc bạo lực và tạo nên tình trạng bất ổn đã củng cố cho những chính sách biệt lập của nhà Minh và sau này được tiếp nối bởi Mãn Châu.

NHÀ MINH SỤP ĐỔ

Kết quả hình ảnh cho shenyang

Cờ hiệu và hệ thống màu sắc trang phục của Bát kì, lần lượt từ trái qua phải: Chính Lam kỳ, Chính Hồng kỳ, Chính Bạch kỳ, Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Tương Bạch kỳ, Tương Hồng kỳ, Tương Lam kỳ. 

Vào thế kỉ 16, người Nữ Chân, hậu duệ của Kim quốc đã từng chiếm đóng miền Bắc Trung Quốc vào thế kỉ 12, vẫn đang sinh sống ở Mãn Châu. Lúc này họ là những chư hầu của nhà Minh, được nhà Minh phong là “thủ lĩnh Kiến Châu”. Cuối thế kỉ 16, họ cũng đã chiến đấu bên cạnh quân Minh trong chiến tranh Triều Tiền với Nhật Bản. Tuy nhiên, vào năm 1583, một trong những thủ lĩnh của người Nữ Chân là Nỗ Nhi Cáp Xích đã bắt đầu quá trình thống nhất các bộ lạc riêng lẻ thành một nhà nước tập quyền. Năm 1601, ông thành lập hệ thống “Bát kì”, giống như hệ thống “Mãnh an Mưu khắc” (meng-mou-k’o) của Nữ Chân thời trước. Hệ thống Bát kì tổ chức toàn bộ dân chúng thành các đơn vị chiến đấu và các đơn vị phu dịch. Năm 1616, Nỗ Nhi Cáp Xích đã thể hiện sức mạnh và tính chính danh của mình bằng việc tự xưng là Thiên Mệnh đế – hoàng đế của Hậu Kim (học theo mẫu hình Trung Quốc).

Click the image to open in full size.

Người Nữ Chân

Năm 1618, gần như tất cả các bộ tộc Mãn Châu đã công nhận sự cai trị của Nỗ Nhi Cáp Xích những vẫn còn hai ngoại lệ là bộ tộc Yehe và Haishi. Hai bộ tộc này vẫn nằm dưới sự bảo trợ của nhà Minh, điều này sẽ đặt Nỗ Nhi Cáp Xích vào một cuộc xung đột với Trung Quốc. Mãn Châu đã bắt đầu chiến tranh bằng việc tấn công chiếm đóng Phủ Thuận và tiêu diệt một đội quân Minh đến tiếp viện.

Hình ảnh có liên quan

Kị sĩ Mãn châu này được trang bị cung tên, súng và giáo (giáo có một đoạn dây ở cán để có thể đeo sau lưng khi không dùng đến)

Để đáp trả, nhà Minh đã huy động 200.000 quân dưới sự chỉ huy của Dương Cảo, bao gồm cả bộ tộc Yehe (Diệp Hách) và các đồng minh Triều Tiên. Vào tháng 4 năm 1619, đội quân này vượt qua biên giới, chia thành bốn đường tiến đánh thủ đô Mãn Châu: Hách Đồ A Lạp (Hetu-ala, Liêu Ninh).

Với ưu thế cơ động của kị binh Mãn Châu và Mông Cổ, Nỗ Nhi Cáp Xích đã đánh bại 3 đạo quân Minh tại Sarhu, Siyanggiayan và Niu-mao-chai bằng cách tập trung chiến đấu với từng đạo quân một. Đạo quân thứ thư vội vã rút lui. Liêu Đông nhanh chóng rơi vào tay Mãn Châu. Viên Kinh lược Liêu Đông Phùng Đình Bản đã có thể cứu vãn tình hình bằng kế hoạch cố thủ ở Trường thành của ông nhưng một thuộc hạ đã tự ý tấn công Nỗ Nhi Cáp Xích dẫn đến sự thất bại của toàn quân vào năm 1621. Phùng Đình Bản bị xử tử vì thua trận.

Quá trình chinh phục Trung Hoa của Mãn Châu không hề dễ dàng. Năm 1626, quân Minh với sự vượt trội về vũ khí đã đánh bại họ tại thành Ninh Viễn. Nỗ Nhi Cáp Xích bị thương và rất có thể đây là nguyên nhân cho cái chết của ông không lâu sau đó (lời người dịch: sau trận Ninh Viễn lần hai, Nỗ Nhi Cáp Xích còn tổ chức các cuộc hành quân sang phía Tây để đánh Mông Cổ nên thông tin ông chết do bị thương trong trận Ninh Viễn có thể không chính xác). Họ cũng gặp khó khăn trong việc cai trị các cư dân Trung Quốc tại những vùng lãnh thổ mới chiếm được. Những nỗ lực hòa hợp dân tộc đều bị cản lại bởi những vị tướng quý tộc Nữ Chân bảo thủ thích cướp bóc và chiến tranh hơn là cai trị lâu dài. Hai cuộc thảm sát tự phát của những viên tướng tại Vĩnh Bình và Thiên An vào năm 1629 sau khi hai nơi này rơi vào tay quân Mãn Châu là một trong những ví dụ tiêu biểu.
Khi chiếm được Vĩnh Bình, người Mãn Châu đã thu giữ được một số khẩu súng được đúc theo kiểu phương Tây và cả những người thợ chế tạo. Đến năm 1631 họ đã đúc được những khẩu pháo của riêng mình. Ưu thế về vũ khí của quân Minh dần dần bị phá vỡ.

Kết quả hình ảnh cho manchu cavalry

Ngoài ra, người Mãn Châu còn có thêm một lợi thế là những bất ổn đang gia tăng từng ngày trong nội bộ nhà Minh. Những cuộc nổi loạn của dân chúng ngày càng gia tăng do việc đánh thuế không công bằng, tham nhũng và nghèo đói do nạn nhân mãn và thiên tai. Nhà Minh đã trở thành một “triều đại bị trời nguyền rủa” theo quan niệm của người Trung Hoa. Vào giữa những năm 1620, triều đình đã mất kiểm soát một số khu vực.

Năm 1627, tỉnh Thiểm Tây là tâm điểm của một cuộc nổi dậy dữ dội. Những cư dân ở đó có kĩ năng chiến đấu, thậm chí một số người là những tay kị mã giỏi. Bị cái đói thúc đẩy, họ hợp lại thành những đội quân lớn. Đến giữa những năm 1630, những đội bạo dân này tiến xuống các vùng đồng bằng tại sông Hoàng Hà và Dương Tử.

Các nhóm nổi dậy đã liên kết lại thành những đạo quân. Một trong số đó là Trương Hiến Trung với biệt danh “hoàng hổ”. Ông là một tên bạo chúa với những cuộc thảm sát kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung Hoa. Vào năm 1642, để tránh áp lực từ quân Minh, ông di chuyển từ hạ lưu sông Dương Tử lên Thành Đô, Tứ Xuyên và bắt đầu thời kì khủng bố của mình. Ông cướp đất đai, tài sản và bắt giữ những người thuộc tầng lớp trên. Ngoài ra, Trương cũng tàn sát toàn bộ các quan chức và học giả mà ông tìm được. Những kẻ dưới quyền bất tuân cũng phải chịu đựng kết cục tương tự. Con số nạn nhân được những người cùng thời phóng đại lên đến 600 triệu, cao hơn rất nhiều lần dân số trên toàn lãnh thổ Trung Hoa thời kì đó. Ông gần như đã xóa sổ được hoàn toàn tầng lớp thượng lưu ở Tứ Xuyên. Quyền lực của ông được duy trì đến năm 1647 thì bị Mãn Châu tiêu diệt.

Mạnh mẽ và nguy hiểm hơn là Lý Tự Thành, ông tự giới thiệu mình là một người bảo vệ nhân dân. Rất nhiều người đã ủng hộ và quay sang làm việc cho ông sau khi triều Minh sụp đổ. Năm 1643, ông lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Đại Thuận. Tháng 5 năm 1644, ông tiến vào Bắc Kinh. Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh là Sùng Trinh tự sát.

Tuy nhiên, việc thành lập chính quyền mới đã bị cản trở bởi Ngô Tam Quế, viên tướng đang trấn giữ tại Sơn Hải quan ở phía Đông Bắc, nay đã liên minh với Mãn Châu. Liên minh giữa Ngô Tam Quế và Mãn Châu đã đánh bại Lý Tự Thành bên ngoài Sơn Hải quan. Người Mãn Châu dưới sự dẫn dắt của Đa Nhĩ Cổn đã nắm lấy cơ hội và đã không mất nhiều thời gian cũng như công sức để chiếm được Bắc Kinh. Một triều đình mới được thành lập, nhà Thanh. Lý Tự Thành rút lui về phía Tây, tăng cường phòng thủ Đồng Quan để ngăn chặn những đợt tấn công truy kích. Đầu năm 1645, hoàng tử Đa Đạc đã dẫn đầu một cuộc hành quân về phía Tây và đã tiêu diệt Lý Tự Thành và tàn quân.

Đa Đạc

Với việc tập trung cao độ mọi nguồn lực ở kinh đô, đánh mất Bắc Kinh là một tổn thất nặng nề với nhà Minh. Không có một nơi nào khác trên đế quốc có nguồn lực đủ mạnh để xây dựng lại thế lực. Tuy nhiên, nhà Minh không sụp đổ ngay lập tức. Một người trong hoàng tộc đã được chọn để kế vị. Kinh đô mới được đặt tại Nam Kinh. Triều đình Nam Minh ra đời. Sự yếu đuối của chính quyền mới đã nhanh chóng trở nên rõ ràng. Triều đình bị chia rẽ vì những tranh chấp giữa các hoàng tử. Quân đội đã bị Mãn Châu đánh cho tan tác. Số tàn binh còn lại, tuy số lượng vẫn còn hàng trăm ngàn nhưng đã không còn sức chiến đấu. Không có tiền hay lương thực để nuôi quân đội, những đội tàn binh này nhanh chóng trở thành những toán cướp. Thay vì là những người bạn, những người bảo vệ, họ nhanh chóng trở thành kẻ thù của nhân dân.

Nhà Thanh tiêu diệt Nam Minh
Đa phần những người có thế lực ở Trung Hoa lúc đó đã coi Mãn Châu là thế lực duy nhất có sức mạnh để phục hồi trật tự. Có nhiều sự chống đối đã diễn ra, đặc biệt xung quanh sắc lệnh buộc người Trung Quốc phải để kiểu tóc và ăn mặc theo kiểu Mãn Châu. Những thủ lĩnh còn lại của nhà Minh đã khổng muốn hoặc không thể huy động những sự chống đối này. Năm 1645, Chin Sheng (Tiến Thịnh ?) đã cố gắng tổ chức lực lượng dân quân ở Giang Nam, ông quân sự hóa toàn bộ dân làng, kể cả những người phụ nữ cũng được dạy cách chiến đấu.

Nhưng việc này đã không được những người đồng sự của ông chấp nhận, nhất là khi quân sự hóa người dân. Một trong những nhân vật phản đối nổi bật là Dương Đình Thục (Yang T’ing-shu ?), người được mời tham gia vào một nhóm du kích thân Minh tại Tô Châu. Ông công nhận lòng trung thành với nhà Minh của họ, nhưng lại hỏi: “Lực lượng sẽ lấy từ đâu?”, “Từ người dân”, “Nếu đúng như vậy” Dương nói “Thì các ông là kẻ cướp, nó có quan hệ gì với lòng trung thành?”.

Cuộc phản công của quân Minh vào năm 1645 thất bại. Đa Dạc dẫn quân xuống đồng bằng sông Dương Tử, các viên chỉ huy địa phương đầu hàng một cách nhanh chóng. Đầu tháng 6, Mãn Châu vượt sông Dương Tử tại Trấn Giang, Nam Kinh nhanh chóng sụp đổ. Những người trung thành với nhà Minh rút xuống vùng bờ biển phía Đông Nam. Các đợt tấn công của quân Mãn Châu trong giai đoạn 1646-50 đã bào mòn lực lượng còn sót lại này. Trong cơn tuyệt vọng, nhà Minh kêu gọi sự giúp đỡ từ Nhật Bản và Bồ Đào Nha. Nhật Bản im lặng, người Bồ Đào Nha trợ giúp bằng cách gửi 300 tay súng từ Macao. Những tay súng này đã tham gia chiến đấu một cách kiên cường trong trận đánh phòng thủ Quế Lâm dưới sự chỉ huy của một viên tướng Trung Quốc theo Thiên Chúa giáo, Cù Thức Tỷ. Năm 1659, Vĩnh Lịch đế, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Minh đã phải trốn sang Miến Điện. Hai năm sau, Ngô Tam Quế, lúc này đang chiến đấu cho nhà Thanh đã truy sát và buộc người Miến Điện phải giao nộp Vĩnh Lịch. Triều đình Nam Minh sụp đổ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (5)

QUÂN ĐỘI NHÀ THUẬN

Khi thành lập vương triều Thuận vào năm 1643, Lý Tự Thành có khoảng 6 vạn binh sĩ. Số binh sĩ này được tổ chức thành năm đạo quân, sau đó được chia thành các đơn vị nhỏ hơn, mỗi đơn vị này bao gồm 50 kị binh, 150 bộ binh và 30-40 phu dịch. Đạo quân lớn nhất có 100 đơn vị như vậy, 130 đơn vị còn lại được chia đều cho bốn đạo quân. Có lẽ lấy cảm hứng từ việc cùng họ với các hoàng đế nhà Đường, Lý Tự Thành đã cố gắng thể hiện tính chính danh của mình bằng việc dùng một loạt các chức hiệu thời Đường để phong cho thuộc hạ.

Trong công cuộc kiến quốc của mình, quân đội của Lý đã bị quân Minh đánh tan sau thất bại tại Tzu-t’ung vào năm 1638. Sau đó, ông đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Ma Shouying (Mã Châu Dĩnh), một lãnh tụ của phong trào Hồi giáo ở Tây Bắc Trung Hoa. Mã đã cho ông ta binh lính để xây dựng lại quân đội. Những tín đồ Hồi giáo chiếm vị trí quan trọng trong lực lượng Thuận quân, thậm chí có tin đồn cho rằng, Lý Tự Thành đã theo Hồi giáo. Các lực lượng Hồi giáo hợp tác với Lý Tự Thành đã tồn tại lâu hơn ông ta. Họ đã chiến đấu chống lại Mãn Châu cho đến tận khi bị Mạnh Kiểu Phương tiêu diệt vào năm 1650.

Ban đầu, trang bị của Nghĩa quân Thiểm Tây rất kém, nhưng họ đã phát triển một cách nhanh chóng và đến năm 1640, có một số lượng lớn hỏa khí đã được trang bị. Không chỉ đơn giản là cướp được của quân triều đình, họ còn tự đúc được hỏa khí cho riêng mình. Một viên quan Minh đã than thở: “Những gì chúng ta có (vũ khí) không thể sánh với chúng”. Chiến thắng của Lý Tự Thành trước Tả Lương Ngọc vào năm 1642 là nhờ những ưu thế về pháo binh. Kị binh của Thuận quân cũng rất mạnh mẽ. Một số nguồn cho rằng rất nhiều bộ binh Thuận quân đã sử dụng ngựa khi di chuyển. K’ou-shih pien-nien (?) đã mô tả cảnh tượng Thuận quân vượt sông trên lưng các con ngựa. Khi tiến vào Bắc Kinh năm 1644, Thuận quân có đồng phục là áo khoác xanh và mũ trắng.

Sấm vương Lý Tự Thành

Nghĩa quân ban đầu có kỉ luật khá tốt, sau khi Bắc Kinh thất thủ, tính kỉ luật suy giảm nghiêm trọng. Lý Tự Thành không muốn sử dụng lại các viên quan nhà Minh vì những ác cảm về nạn tham nhũng. Ông tổ chức trưng thu và đã lấy được được rất nhiều tài sản có được nhờ tham nhũng của các viên chức nay. Cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn tồn tại dai dẳng. Không đủ tiền để nuôi quân, những người lính trở thành kẻ cướp. Cho rằng chiến tranh đã kết thúc, rất nhiều binh sĩ đã chiến đấu một cách miễn cưỡng khi Mãn Châu tấn công xuống phía Nam. Thuận quân sụp đổ hoàn toàn trong trận chiến với Mãn Châu tại Sơn Hải quan. Quân Mãn Châu được cư dân Bắc Kinh chào đón như nhưng người giải phóng.

THANH TRIỀU (1644-1842)

Trung Hoa vào tháng 11  năm 1644, Màu vàng là lãnh thổ Nam Minh, màu đỏ là nước Đại Tây của Trương Hiến Trung, màu nâu là Đại Thuận của Lý Tự Thành, màu xanh là Mãn Thanh

Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục Trung Hoa, Mãn Châu phải mất một thời gian để ổn định tình hình. Trịnh Thành Công, con trai của hải tặc nổi tiếng – Trịnh Chi Long, vẫn đang duy trì thế lực của mình ở vùng duyên hải Đông Nam. Ông cố gắng tập hợp lực lượng và xây dựng phong trào thân Minh ở đây. Năm 1655, với 250.000 người và 2.300 tàu thuyền, ông phát động một cuộc Bắc tiến với tham vọng khôi phục nhà Minh. Mãn Thanh đã phái một hạm đội ra ngăn chặn. Tuy nhiên do thiếu kinh nghiệm hàng hải, hạm đội này đã bị một cơn bão đánh tan. Năm 1659, Trịnh Thành Công bao vây Nam Kinh, một trận chiến lớn trên đất liền đã nổ ra, Mãn Châu đã đẩy được Trịnh Thành Công ra khỏi đại lục.

Bản đồ khu vực kiểm soát của Trịnh Thành Công, màu đỏ là những khu vực ông từng chiếm giữ, màu hồng là khu vực kiểm soát.

Ông rút đến Đài Loan, lúc này đang bị người Hà Lan chiếm đóng với những công trình phòng thủ kiên cố như pháo đài Zeelandia. Sau chín tháng vây hãm, Trịnh Thành Công đã giành lại được Đài Loan từ tay Hà Lan. Đáng tiếc, ông mất ngay sau đó. Những người kế nhiệm ông giữ được Đài Loan thêm 20 năm nữa thì bị quân Thanh tiêu diệt. Đài Loan là một hòn đảo nghèo, tình hình càng trở nên khó khăn hơn cho nghĩa quân khi quân Thanh cố gắng cô lập hòn đảo. Chính quyền của Trịnh Thành Công không đủ khả năng tài chính để duy trì một lực lượng quân đội cũng như tàu thuyền đủ mạnh để quay trở lại đại lục. Năm 1664, nhà Thanh đã kiểm soát được hoàn toàn bờ biển Đông Nam. Tiếp đó vào năm 1683, họ chiếm được Đài Loan.

Tập tin:Zeelandia model.JPG

Mô hình phục chế thành Zeelandia

 

Năm 1673, “Loạn Tam phiên” (Tam phiên chi loạn) đã bùng nổ ở phía Nam Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng này nổ ra do những sai lầm của vị hoàng đế trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm: Khang Hi. Để nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh người Hán, các vị hoàng đế tiền nhiệm đã trao cho họ khá nhiều quyền lực. Thế lực của các phiên vương này đã khiến cho Khang Hi e ngại đến mức ông quyết định phải áp chế họ. Vị phiên vương quyền lực nhất là Ngô Tam Quế. Ông được giữ lại quyền chỉ huy quân đội sau chiến dịch xâm chiếm Miến Điện và đã biến vùng đất phía Tây Nam thành vương quốc của riêng mình. Thế lực của Ngô Tam Quế ngày càng lớn mạnh nhờ lợi nhuận từ các mỏ khoáng sản và các tuyến đường thương mại. Ông xưng đế, lập ra nhà Chu và tuyên bố sẽ chiếm đóng toàn cõi Trung Hoa. Nhưng các vị tướng người Hán khác vẫn trung thành với nhà Thanh. Năm 1676, với việc hai đồng minh chính là Vương Phụ Thần và Cảnh Tinh Trung phản bội, thế lực của Ngô Tam Quế suy yếu nhanh chóng. Ông mất vào năm 1678, cháu của ông là Ngô Thế Phan lên kế vị. Quân Thanh đánh đến Côn Minh, thủ phủ của chính quyền họ Ngô. Năm 1681, Ngô Thế Phan tự tử, cuộc nổi dậy bị dập tắt.

Nội loạn ở Trung Hoa cuối thế kỉ 17 (Wu San-kuei: Ngô Tam Quế, Keng Ching-chung: Cảnh Tinh Trung, Wang Fu-ch’en: Vương Phụ Thần, Shang Chih-hsin: Thượng Chi Tín, Ch’ing: Thanh)

Mặc cho những tai tiếng trước đây khi mở cửa cho Mãn Thanh vào Trung nguyên cũng như việc lập ra một triều đình mới (triều Chu), Ngô Tam Quế vẫn tự nhận mình là một người trung thành với nhà Minh. Những người lính của ông để tóc kiểu Hán. Họ sử dụng mũ trắng, cờ trắng với ý nghĩa để tang vua Minh. Quân đội của Ngô Tam Quế còn có một lực lượng tượng binh bao gồm 45 con voi. Không rõ đơn vị này được hình thành từ bao giờ, có lẽ những con voi này được cung cấp nhờ mối liên hệ với Miến Điện.

Sau thất bại của loạn Tam phiên, đa phần lãnh thổ Trung Quốc được sống trong thái bình dưới sự cai trị của một loạt các vị hoàng đế tài năng như Khang Hi (1661-1722), Ung Chính (1723-36) và Càn Long (1736-96). Những pháp lệnh được áp dụng một cách cứng rắn, tham nhũng được kiểm soát và áp lực thuế lên người dân tương đối nhẹ. Trong phần lớn thế kỉ 18, Trung Quốc đã có một thời kì thịnh vượng chưa từng thấy. Bắt đầu từ thời Khang Hi, đế chế đã có thể thực hiện được một loạt các chiến dịch quân sự mở rộng lãnh thổ và đã trở thành đế quốc rộng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Một trong những mối đe dọa từ bên ngoài đầu tiên xuất hiện đến từ Nga. Người Nga từ Siberia di chuyển sang phía Đông và phía Nam. Vào năm 1652, họ xâm nhập thung lũng Amur (Hắc Long Giang) ở Mãn Châu, tàn sát một loạt các bộ lạc bản địa đang là chư hầu của nhà Thanh. Nhà Thanh đã đuổi họ đi nhưng hai năm sau họ quay lại. Người Nga cố gắng dùng thuyền đi dọc sông Sungari, một nhánh của Amur, để tiến vào Mãn Châu. Vào mùa xuân năm 1658, họ bị một đội tàu pháo của nhà Thanh chặn lại và phải chịu thất bại nặng nề. Trong năm 1685, một trận chiến lại nổ ra tại pháo đài Albazin của Nga ở Amur. Những căng thẳng được giải quyết trong một cuộc đàm phán vào năm 1689 giữa đại sứ Nga và viên đại học sĩ nhà Thanh: Sách Ngạch Đồ, người đang được hậu thuẫn bởi một đội quân hùng hậu gồm 15.000 người và 50 khẩu pháo. Người Nga, lúc này chỉ có 2000 quân trong khu vực, đã phải đồng ý hòa bình. Thỏa thuận này, hay còn được biết dưới cái tên “Hiệp ước Nerchinsk”, là hiệp định đầu tiên giữa Trung Quốc và một cường quốc châu Âu. Người Trung Quốc rõ ràng đã đạt được một thắng lợi to lớn về ngoại giao khi quyền cai trị miền Bắc Mãn Châu của họ được công nhận và duy trì cho đến tận những năm 1850.

Quân Thanh tấn công pháo đài Albazin (có thể thấy những bị binh quân Thanh bên góc dưới bên trái)

Đông Mông Cổ (hay còn được gọi là Khalka) đã liên minh với Mãn Châu từ trước khi người Mãn Châu chinh phục Trung Hoa. Tuy nhiên, xa hơn về phía Tây, một nhóm các bộ tộc độc lập được gọi là Oirats đã chiếm vùng lưu vực Tarim và Tây Tạng, thành lập một quốc gia thù địch luôn muốn gây chiến với nhà Thanh. Năm 1686, đại hãn Cát Nhĩ Đan (Galdan khan) đã phát lệnh tấn công Khalka, chính thức với nhà Thanh. Năm 1696, vua Khang Hi tổ chức một cuộc hành binh vào Mông Cổ. Cát Nhĩ Đan cố gắng lẩn tránh nhưng đã bị bao v­ây rồi đánh bại tại Jao Modo (gần Ulan Bator ngày nay). Ông đã trốn thoát được nhưng đã bị bắt lại trong năm tiếp theo.

Một hình ảnh mô tả kị binh Mãn Chân, có thể thấy những kị sĩ đi đầu đang bắn súng

Chiến thắng này đã cho phép nhà Thanh kiểm soát hầu hết Mông Cổ hiện đại. Tuy nhiên, ở phía Tây, Jungars, một trong những gia tộc Oirat, đã dần dần xây dựng lại sức mạnh. Năm 1755, chiến tranh lại nổ ra một lần nữa. Hai năm sau, một đội quân nhà Thanh dưới sự chỉ huy của Triệu Huệ đã tiến vào thung lũng lli. Người Jungars bị tiêu diệt hoàn toàn và những đồng minh Hồi giáo tại Tarim của họ cũng chịu chung số phận vào năm 1759. Biên giới nhà Thanh đã được mở rộng đến tận hồ Balkhash và dãy Pamir, nơi mà nhà Đường, đã không thể xâm nhập.

Posted in Uncategorized | Leave a comment