CHIẾT TỰ CHỮ HÁN: CHỮ ĐƠN

 

1. BẦN 貧

2.  BĨ – THÁI là gì?

3- CHÁNH  正

4- CHỦ 主

5- CHÚA  主

6-  CỔ  

7- CUỒNG 狂

8- ĐẠO 道

9-  Điểu 

10 -ĐÔNG 

11- Đức 

12- ĐIỀN 田

13- Giải 解

13- Giải 解

15- HÒA  

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

17 -HỌC  

18- HOẶC 或

19- KIỀN  乾

20 –KHẢO 拷

21- KHÍ 氣

22- KHỔ 苦

23 -LÊ 

24- MINH 明

25- NIỆM  念

26- NGỌC 玉

27- NGHĨA 義

28- NGỤC  

29- NGUƠN 元

30- NGUƠN NGỌC  元玉

31- NHẠC  

32- NHO 儒

33- NHÂN

34-  NHŨ  乳

35-  NHỰT 日

36- PHÁP 法

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1-BẦN 貧

 

 Thế nào là BẦN 貧

Trong chữ Bần cấu-tạo đến ba phần: trên là chữ bát   (bát là tám), kế đến là chữ đao  (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân  (phân là chia) dưới cùng là chữ bối  (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo.

Vì thế cái nghèo này là cái nghèo của những tâm hồn lớn, đạo-đức luôn nghĩ đến kẻ khác.

Người tu nên học lấy “chữ Bần” của Thượng-Đế.

Có bài thơ như vầy:

Tròi-trọi mình không mới thiệt BẦN.

                        Một nhành sen trắng náu-nương chân.

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt.

Đỡ  gót nhờ con hạc trắng ngần.

Bố-hóa người đời gây mối Đạo.

Gia-ân đồ-đệ dựng nền NHÂN.

Chừng nào đất dậy trời thay xác

                        Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần

       (Đức Chí-Tôn – Thánh ngôn Hiệp-tuyển)

Nhất là hai câu cuối của bài thi trên là lời tiên tri về

thời cuộc một cách sâu sắc. Vận mạng của nhân loại nằm trong hai câu ấy. Nay đã đến thời-kỳ “đất dậy” rồi đó làm chấn động cả toàn cầu. Hãy trông lên coi  “Trời thay xác”

chưa?  Nhân loại hãy chuẩn bị “thay xác” đi là vừa!

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo, Ổng nói “Tròi trọi mình không mới thiệt bần”. Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền-Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền-Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy”.

Thế nên, buổi này các bậc Đại-đức, chơn tu mới xưng mình là Bần-Đạo như Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Thượng-Phẩm, nhưng thường xuyên hơn hết là Đức Hộ Pháp thuyết Đạo hay dùng từ Bần-Đạo. Cũng như Bà Nữ  Đầu-Sư Hương-Hiếu hay dùng tiếng Bần Nữ vậy.

 

 

  1.  BĨ – THÁI là gì?

–  BĨ là quẻ thứ 12 trong kinh Dịch

– THÁI  là quẻ thứ 11 trong kinh Dịch.

Bĩ 否 nghĩa là bế tắc, gồm có chữ bất 不 ở trên, chữ Khẩu 口 ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác.Cũng như chữ Phỉ 匪 chữ Phi 非 nghĩa là không vậy. Ở trong trời đất vẫn có đủ cả vạn-vật. Nhưng ở trong vạn-vật thì người là một giống tối linh. Vậy nên chỉ nói người, thời đại-biểu được cả vạn-vật. Người, thật ra là phối với trời đất mà làm ra Tam Tài, nên đạo người tức là đạo trời đất, mà đạo trời đất chính là ở con người hiện hữu

Đạo trời là gì?  – Là Khí Dương.

Đạo đất là gì?   – Là Khí Âm.

Âm Dương hoà hợp nhau thì sanh thành được vạn vật, đạo người cũng nhân đó mà còn. Âm Dương cách tuyệt với nhau thời chẳng sanh thành được vật gì cả, đạo người cũng nhân đó mà mất.

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

1 hậu môn 

1bộsinh-dục                        

Một miệng                                                          

Hai lỗ mũi

Haicon mắt

 

 

 

 

– Ba nét liền tượng ba hào Dương gọi là quẻ Kiền ☰

–  Ba nét đứt tượng là ba hào Âm,  gọi là quẻ Khôn ☷

Một quẻ kép như trên có Kiền vi Thiên ở trên, Khôn vi Địa ở dưới, đọc là Thiên Địa Bĩ.

Một đứa bé ra đời thì đầu quay xuống phía dưới đất, để cho Âm Dương hoà hợp (đầu là Dương, đất là Âm) tức nhiên một hài-nhi mới ra đời thân thể yếu-ớt là từ chỗ tối-tăm đi ra là thời BĨ (cần phải được nuôi dưỡng săn sóc)

– Thứ nhất: Đầu quay xuống như thân cây mới mọc.

– Giai đoạn thứ nhì đứa bé nằm ngang, đầu và mình ngang nhau, chống tay bò như con thú bốn chân.

– Giai đoạn thứ ba đứa bé đứng thẳng, đầu hướng lên trời, chân đặt lên đất. Đó chứng tỏ là con người đã phải theo định luật tiến-hoá của Bát-hồn.

Hình dạng các khiếu trên tạo nên quẻ Thiên Địa Bĩ.

            Luật tiến-hoá của vũ-trụ là một vòng tròn không đầu mối, thế nên hết Thái đến Bĩ, qua Bĩ rồi lại Thái. Đó là chuyện hữu hình. Vô vi cũng vậy.

Con người mới ra đời, đầu quay xuống gọi là “sanh

thuận” tức là mới khởi là phải “đương đầu” với một thế giới mới, tuy mọi sự đều khó-khăn, phải phấn-đấu lắm mới được. Rồi một phen trở về cũng vậy, tức là chết. Chơn hồn cũng quay đầu về trình Mẹ ở Cung Diêu-Trì là Cung Tạo Hoá Thiên (số 9), thì cũng phải chịu thời Bĩ để thích nghi với một thế giới mới nữa. Thế nên Ông Bà ta đã rõ thông luật tiến-hoá ấy mà khi người chết đặt nằm, đầu phải quay ra ngoài là thuận lý Âm Dương của Trời đất  (Trở về là thời Âm, Cung Mẹ là Dương đối với Âm) Vì chữ ngoài đây tức là Thượng là hướng thượng, như quẻ ngoại là quẻ “Thượng” là nằm trên. Quẻ nội nằm dưới.

            Lại nữa qua hai quẻ THÁI, BĨ đi liền  nhau mà  bao

quát được vô số vấn đề Đạo-lý trong vũ-trụ.

Thời Bĩ này Âm-khí ở dưới chẳng chịu thượng giao

với Dương, dương-khí ở trên chẳng chịu giao tiếp với âm.  Âm Dương cách tuyệt nhau như thế, tất nhiên vạn vật chẳng sinh thành, còn gì là đạo làm người nữa, nên nói rằng: chẳng phải đạo làm người. Dịch nói Bĩ chi phỉ nhân. Việc trời đất lớn rộng để chỉ cái bao la, còn thân người nếu âm-khí không xung lên, dương khí không giáng xuống thành bịnh quan cách bất thông. Tâm thuật cũng vậy, nếu bên ngoài hưng phấn mà bên trong chứa nhiều nhân dục, cũng gọi là phỉ nhân vì còn nhiều thú tính, thì sao xứng đáng vào hàng Tam Tài?

Quẻ  thì Kiền ☰ trên  Khôn ☷ dưới, thoạt nhìn thì thấy vị trí của hai quẻ có vẻ là thuận, nhưng luận về khí-hóa thì khí Dương ở Kiền có tính bốc lên và khí Âm ở Khôn thì lắng xuống dưới, hai khí có chiều hướng khác nhau thì làm sao hòa nhau được, đã không hòa được thì vận Bĩ phải đến mà thôi.Quẻ Thiên-Địa BĨ là lúc bế tàng. Khi Đạo Bế là phần Dương cuối cùng muốn đứt, chuyển biến ra Âm. Hết thạnh đến suy, nhơn vật thay đổi: Thời Đạo Bế, người sinh ác tâm, bạo ngược, gian tham xảo trá, giao cảm ác khí nên tội-lỗi làm chìm đắm sa đoạ, nhơn vật điêu tàn. Phần Dương tiêu huỷ, phần Âm thạnh phát. Ấy là lúc Âm thạnh Dương suy.BĨ là thời kỳ Đạo bế.

Đạo vận có một phần Dương, một phần Âm hiệp thành Càn Khôn Thế giái, thì Âm Dương chuyển vận tuần hoàn mà sanh sanh hoá hoá mới có đêm tối ngày sáng.

Bĩ là bế tàng, là cùng tận. Bởi Quẻ Thuần Kiền  chủ cát tường là điều lành. Nhưng cái khó ở đây là quẻ Thuần Kiền đã biến thành Thiên Địa Bĩ  vì mất đi 3 hào Dương ở dưới, Âm cứ tiến dần lên (Dương biến Âm)

-THỜI ĐẠO BẾ: Thánh giáo của Phật Thích Ca giáng Cơ tại Hội Phước Tự (Cần Giuộc). Ngày 05-04-Bính Dần (Samedi 5 Juin 1926) có lời rằng:

Chư sơn nghe dạy: “Vốn từ LỤC TỔ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp luật buộc mối Ðạo Thiền.             TA vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi “Tây Phương Cực Lạc” và “Ngọc Hư Cung” mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã  cho  hiểu  trước đến  buổi  hôm  nay rồi;  tại  Tăng  đồ không kiếm chơn lý mà hiểu. Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo… Ôi! Thương thay! Công có công, mà thưởng chưa hề có thưởng; vì vậy

mà TA rất đau lòng. TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt.   Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót; phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành Đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến “Tả Ðạo Bàng Môn”. Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa”.

 

BĨ cực thì THÁI lai

nghĩa là hết xấu thì đến Tốt.

Theo lý  Dịch,  Đạo Khai 開 là  thời THÁI,  là hình

ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài..

Lúc Đạo khai là thời của quẻ THÁI  Âm khí của Khôn giáng xuống, Dương khí của Kiền thăng lên hoà hợp, ấy là lúc hanh thông, vậy phần Âm sau cùng vừa tận thì đến phần Dương phát khởi chuyển hoá. Ấy là thời-kỳ phổ khai, nhơn loại đặng từ-thiện minh chánh, những hung ác bạo tàn đều tiều tuỵ. Lúc ấy là Dương thạnh Âm suy, nhơn vật tuần hoàn đến kỳ thoát hoá, người lo tu tâm dưỡng tánh, cọng hưởng thái-bình. Do máy Âm Dương chuyển vận đến hết phần Âm cuối cùng là Thái.

Nguyên Đạo-lý trong vũ-trụ chỉ có lẽ tương-đối, mà không lẽ gì tuyệt-đối. Hễ sau lúc đã Thái  (Địa Thiên Thái) là hanh thông rồi, tất nhiên vận cùng sẽ tới vậy. Nên, sau quẻ Thái tiếp lấy quẻ Bĩ. Thái cực thì Bĩ lai, Bĩ cực Thái lai, chuyện đời đầy vơi là như thế.

Về quẻ THÁI theo khí-hậu thì khí Âm và khí Dương

giao nhau, dung hòa nhau được thì mới hanh THÁI.

Ngay thời-điểm cực kỳ đen tối như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (vào khoản năm 1926):

– Trong thì tâm lý nhơn sanh còn nhiều phức tạp theo đa thần giáo, tinh thần Tôn giáo chưa chuyên nhất nào là theo bóng, chàng, đồng, cốt, thầy phù, thầy pháp đủ loại, mặc dầu tín ngưỡng cao nhưng NHÂN TÂM bất nhất

– Ngoài thì dân tộc chịu lệ thuộc dưới quyền thống

trị của người Pháp. Dân sinh chịu đau khổ dằng dai.

Đức Chí-Tôn đến, Ngài đến để xoay thành vận THÁI, tức là đem lại sự hanh-thông, sáng-sủa, huy-hoàng cho dân-tộc Việt, đồng thời để giải nguy cho nhân-loại đang lâm vào cảnh đau thương nhất, loạn-ly nhất như hiện tại đã thấy trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp này:

“Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ tức là Đạo Cao-Đài đặng mở một kỷ-nguyên mới, Qui  Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi, lập thành một nền Tôn-giáo Đại-Đồng cho hiệp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại và của quả địa cầu 68 của chúng ta, dọn đường cho Đức Di-Lạc ra đời”.

 “Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa cõi hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ-Bút  mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế-giới”.

Xếp đặt quẻ,Thánh nhân lấy theo hình ảnh con người

Luận về Lý Dịch qua con người:

(Tài-liệu này trích trong Dịch-lý Cao-Đài I cùng Soạn-giả)

Tại sao phải lấy hình ảnh của con người?

– Vì tất cả con người trên thế giới này đều có những bộ-phận giống nhau về Âm Dương, nam nữ. Bộ sinh dục nam thì tượng Dương vẽ một gạch liền  Nữ tượng Âm, vẽ gạch đứt  Dựa theo nguyên tắc này mà Thánh nhân làm ra bộ Kinh Dịch, ký hiệu  toàn  bằng  những vạch liền,

vạch đứt thay đổi nhau mà làm nên quẻ biến đó vậy.

 

 

Từ đó mới suy ra: người nào cũng có ở trên mặt và trên  người cơ quan hữu hình như trên.

Vì người là một sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng  Đế. Thánh-nhân do theo đó mà làm nên nét chẵn, lẻ; Âm, Dương để diễn-tả sự chuyển biến trong vũ-trụ này. Do

 

vậy nét đứt  biểu thị bằng hào Âm, nét liền tượng hào Dương Nét liền, nét đứt đều do từ lý tính của người. Chính do Âm Dương này đã trở thành đầu mối của Càn Khôn Vũ Trụ mà Thánh-nhân đã luận nên tất cả những sự biến thiên trong trời đất, không đâu là không có hình ảnh Âm Dương. Dù vật lý học, nguyên tử học, sinh học, triết học, lịch học và nhất là TRIẾT LÝ CAO-ĐÀI.

Theo trên, với con số 7 là 7 khiếu (khiếu là lỗ) ở trên mặt, tức là 7 khiếu Dương; nhờ Dương-điển trên mặt nên tất cả con người dù xứ nóng hay xứ lạnh đều chịu được thời tiết mỗi nơi khác nhau, nếu khí Âm lên đến đầu hay mặt, là bịnh.

Thế nên Pháp Chánh Truyền qui định cho phái Nữ chỉ đến phẩm Đầu Sư mà thôi. Còn hai phẩm Giáo Tông và Chưởng Pháp thì không được dự vào cũng vì lẽ ấy.

Con số 7 có liên-hệ đến thất tình và thất khiếu sanh

quang  của  con  người. Do các số này đã làm nên phương

trình Đạo học, đang áp-dụng trong thế giới lòai người.

Xưa Phật chỉ độ phần Dương mà thôi, tức là độ hồn

mà không độ xác, độ tử không độ sanh, độ Nam mà không

độ Nữ, nên Phật-giáo chỉ làm tuần thất (nghĩa là 7×7=49 ngày)

Ngày nay, chính Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo, là cơ  tận-độ chúng-sanh, tức là thực hiện cả con số 9 (hình ảnh của toàn Cửu khiếu =7 khiếu dương + 2 khiếu âm) tức nhiên Kỳ Ba này độ cả hồn lẫn xác, độ tử và độ sanh,  độ Nam và Nữ, độ toàn cả nhân-loại trên Càn khôn Thế giới và vật loại; không phân biệt giống dân nào; vì tất cả đều là

con của Thượng-Đế. Đạo Cao Đài làm tuần Cửu (9×9=81)

Điều này ứng với Sám Trạng Trình, rằng:

“Cửu Cửu Càn Khôn dĩ định,

“Thanh Minh thời tiết hoa tàn”.

Bởi thế nên đúng thời này Thầy lập Cửu-Trùng-Đài là con đường vào Cửu-Trùng-Thiên, từng bước lên nấc thang tiến-hóa qua Cửu-Phẩm Thần-Tiên để đến nơi tuyệt phẩm là Niết Bàn, theo như Phật giáo quan-niệm đó.
Chỉ có con người mới được hình ảnh của quẻ THÁI mà thôi, tức nhiên đứng thẳng, đầu đội trời chân đạp đất.

Đặc tính quẻ THÁI :

Trong khi đó Khôn (6 vạch đứt) là Âm ở trên, quẻ KIỀN ☰ dương ở dưới, chỉ một sự bao dung, như tình cha mẹ thương con. Quẻ Kiền ☰ (3 nét liền) cọng chung là 9 nét. Người Á Đông nói Kiền là Cha, Khôn là Mẹ.

Khi trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hiệp thì muôn vật sinh trưởng cho nên mới nói THÁI: “Âm Dương hoà hiệp, thiên địa tương giao vị chi THÁI.”

THÁI còn có nghĩa nhỏ đi lớn lại, Âm đi Dương lại. Thế của khí Âm Dương trời đất giao nhau mà muôn vật hanh thông, trên dưới giao nhau mà chí khí giống in nhau. Trong Dương mà ngoài Âm, trong mạnh mà ngoài thuận. Đạo quân tử ngày một tăng trưởng, đạo tiểu nhân ngày một tiêu mòn.

    Soán viết: Thái, tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên Địa giao nhi vạn vật thông dã. Nội Dương ngoại Âm, nội kiện ngoại thuận. Quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu.

Vậy thì trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hợp là quẻ THÁI. Muôn vật tươi tốt. Đấng nhân quân phải làm thế nào giữ được mức quân bình: không thái quá mà cũng không bất cập, cốt thực hành, vun bồi, sửa sang giúp đỡ cho nên việc của Trời đất và phù trợ cho dân sanh.

Hãy xem giữa trời đất và con người có những điểm tương đồng, tức nhiên “Trời đất in ta một chữ đồng”. đúng như câu của các Triết gia Đông Tây đều nhìn nhận: Con người là một Tiểu Vũ trụ “Nhân thân tiểu vũ trụ”.

“Con người đứng phẩm tối linh,

“Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi”.

Trời đất, vạn vật đều có đầy đủ trong con người của chúng ta. Sự tương ứng giữa hình tượng và các số của Đại Vũ trụ (Macrocosme) tức là trời đất với Tiểu Vũ trụ (Microcosme) tức là con người.

 

 

3- CHÁNH  正

            Chánh 正 nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. Điều này Đức Chí-Tôn đã dạy rằng “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”. Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.

Trong vấn đề tu-hành dù ở phương diện nào điều cần-yếu là phải giữ cái tâm cho chánh đáng “Vì tâm trung chánh đáng thì là làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của tà-quái xung nhập” .

Lời Bà Lâm Hương-Thanh nói rằng:

             “Sự tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, khỏ mõ rung chuông là đủ; mà cũng không phải niệm đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi đó là cái  SỰ chớ chưa phải cái  LÝ, cái ngọn chớ chưa phải cái gốc; cái lý với cái gốc vốn ở trong TÂM người.

              “Giữ tòa lương-tâm cho thanh tịnh, chánh đáng, rồi sai khiến ra tứ chi, thân thể, dò  theo đạo luật mà làm. Sự tu không phải nội trong lúc tới chùa hay là đương lúc cúng kiến ăn chay. Phải cẩn-thận dầu trong khi ngày thường, ăn ở đối-đãi với nhau trong cuộc đời cũng phải cho nhớ rằng: thiện nam tín nữ, thì mình phải liệu làm sao, giữ làm sao cho lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành-vi  cho khỏi phải phụ một phần trách nhiệm, chớ nếu như đã thọ lãnh tiếng“nhập môn cầu Đạo” mà còn tranh cạnh chuyện thị-phi ác cảm  bên trường đời, lửa tam bành nổi dậy rần rần, ma lục tặc hoành-hành thất sá.

           “Kinh cũng đọc, kệ cũng đọc, mà lời phàm tiếng tục cũng không chừa.

           “Tiên cũng cầu, Phật cũng cầu mà tánh quỉ nết yêu cũng không bỏ.

           “Ngoài so-se đeo mảnh gương Thiên-nhãn, lần chuỗi hột bồ-đề mà trong lòng thì mối nghiệt dây oan vấn vương nơi trái tim lá phổi.

           “Vậy thì sự tu-hành chính là một cuộc cầu danh giả dối, biết mấy đời cho thoát đặng cảnh khổ sông mê.

           “Ôi! Ăn chay một tháng có mấy ngày, còn bao nhiêu thì hại vật sát sanh không chừng đỗi, kinh sám-hối đọc sơ qua chút ít, còn bao nhiêu thì vọng ngôn ác ngữ cả luôn năm, vậy rồi lâm vô vòng ác-đạo trầm luân lại thán oán rằng: Tôi có niệm kệ, ăn chay, sao không thấy Phật rước Tiên đưa, Thánh Thần hỉ xả ?” 

Thi văn dạy Đạo

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra?

Sao ra Tiên Phật người trần tục.

Trần tục muốn thành  phải đến TA.

 

 

4- CHỦ 主

TRÊN THIÊN BÀN  có dạng CHỮ CHỦ 主

Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Có thể gồm thâu vào một mối ở người tu theo Đạo Cao-Đài ngày nay là đoạt đức làm Vương, làm Chủ. Phật Thích-Ca cũng nói: Thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình là vậy. Thắng lấy mình là làm chủ mình trước tiên. Dầu một bậc vua quan công hầu khanh tể đi nữa mà không thắng lấy mình được thì mọi việc sẽ hư hỏng về sau, mất lương tâm mà thôi.

Lịch-sử nhân-loại đã cho ta thấy điều ấy.

Phân tích chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰ ấy tượng Tam tài, mà chính con người có dự phần trong ấy: trên trời, dưới đất, giữa là người. Phải là người có đạo đức mới không thẹn với trời cao đất dày chứ ! Ba vạch này còn là quẻ CÀN (Càn vi thiên) đó vậy. Thêm một nét sổ

thẳng qua thành ra chữ Vương 王 (vương là vua) mà chính Đại-Đạo ngày nay Chí-Tôn đã đến ban cho một nền Vương Đạo. Đặt một nét chủ lên trên thành ra chữ CHỦ là vậy.

Thế nên ngày nay Đức Chí-Tôn đến mở Đạo Ngài cho Thờ trên Thiên bàn hình chữ CHỦ . Tức nhiên điều cần yếu nhứt là mình phải tự làm chủ lấy mình. Đây cũng là câu quyết định: “Ngũ nguyện Thánh Thất an-ninh” vậy.

Dù ở một con người có Tôn-giáo hay một người ngoại Đạo mà có đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí thì cũng là một mẫu người đáng kính, đáng nễ phục.

“Thế nên Triết-lý của nền Tôn-giáo Cao-Đài mục đích là làm cho cả nhân-loại đến học đức làm Chúa, làm chủ toàn cả gia-đình:

– Được làm Chủ của một tiểu gia-đình, tức là một Tông-tộc, là một vị Hiền tại thế rồi.

– Được làm Chủ một trung gia-đình là quốc gia, là một vị Thánh-nhơn.

– Được làm Chủ một số quốc-gia hiệp lại như Hiệp Chủng-quốc tại Mỹ-châu như Washington, Lafayette chẳng hạn là một vị Tiên.
– Được làm Chủ tới đại-gia-đình tức nhiên làm chủ cả toàn tâm-lý thiên-hạ, một nền Tôn-giáo, là một vị Phật.

 

 

 

 

 Thể-pháp của Đạo Cao-Đài có khuôn-khổ tập cho nhơn loại đi đến mục-đích trong luật-pháp của một nền Chánh giáo”.

Trên Thiên bàn thờ Chí-Tôn hình chữ CHỦ  tức là gồm 12 món cúng phẩm, đặt thành 3 hàng ngang tạo thành hình quẻ Càn  Càn vi thiên (Càn là trời) tức là chỉ ngôi Thượng Đế Thái-cực Thánh-Hoàng vi chủ.

Đức Chí-Tôn đến dạy cho nhân loại thờ Ngài dưới hình thức chữ CHỦ là chỉ rõ cho thấy rằng:

“Thầy là CHÚA cả Càn khôn thế giái, tức là Chúa tể sự vô vi, nghĩa là chủ quyền của Đạo, mà hễ chủ quyền của Đạo ngự nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy” (PCT).

Vậy thì lý do gì nay thượng lên, mai đem xuống như một món hàng. Nhiều người rất tôn trọng Hộ-Pháp, nên chỉ thờ riêng Đức Hộ-Pháp mà thôi. Vậy những người thờ Thánh Tượng Ngũ Chi, biểu tượng ngôi Thượng Đế vi chủ, rồi không còn kính nễ Đức Hộ-Pháp hay sao ? Và Đạo lịnh nào cho phép dời Thiên Nhãn Thầy xuống ? Có phải vô tình ta đã thất lỗi với Thầy Trời sao ? Cũng là đại tội với Đức Hộ-Pháp hay sao?
Hiện nay trên Thiên bàn đã sửa sai Pháp:

 

 

 

Ngày nay cũng đặt 12 món cúng phẩm ấy nhưng sửa lại để bông và trái xuống cấp dưới (hoặc cấp 2 hay cấp 3) nghĩa là làm mất đi một nét ngang, bấy giờ còn lại là hình chữ THỔ  (thổ là đất) thì trở thành quẻ Khôn  Khôn vi địa (địa là đất) là thời âm. Âm thạnh tất Dương suy. Đạo bị bế là vậy. Bởi hằng ngày Ta chỉ lạy vào chữ “Thổ” mà thôi.

Nhìn lên Thiên bàn, một lỗi-lầm như trên ta thấy ra rất nhỏ, hầu như không một ai chú-ý, nhưng chiều sâu rộng thật tai hại vô cùng, Đạo bị thất pháp là do đó. Người tu không thành cũng do đó. Người bảo thủ Chơn-truyền cũng phải biết phân biệt bấy nhiêu đó mà tìm tòi nơi  Chánh giáo. Đâu là đúng? Đâu là sai? Tự mình điều chỉnh!

Thất pháp như thế nào?

Điều này Thầy có nói với Đức Hộ-Pháp khi Ngài giao quyền cho Hộ-Pháp xuống thế mở Đạo. Nhắc lại lời   Đức Hộ-Pháp rằng:

Bần-Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo, thì Đức Chí-Tôn mới hỏi rằng:

           – Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở Thể-pháp trước?

          Bần-Đạo trả lời:  – Xin mở Bí-pháp trước.

          Chí-Tôn nói:  – Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời cạnh-tranh tàn bạo, nếu mở Bí pháp trước, cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, Đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào?

       Vì thế nên mở Thể-pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặt Bí pháp còn là Đạo còn.

      – Bí-pháp là Hiệp-Thiên-Đài giữ.                                                         

– Thể-pháp là Cửu-Trùng-Đài mở-mang bành trướng”.

Vậy có hại cho nền chơn giáo của Chí-Tôn không?

– Nếu nói hại thì quả thật là một điều tai hại ghê gớm, nhưng muốn không hại thì cả nhơn sanh thông hiểu đạo lý, dầu sửa đến đâu mà nhơn sanh đã thấu hiểu rồi thì không còn lầm lạc được.“Tu hữu công mà thành thì không thành”  ấy là lời Thầy đã từng nhắc nhở!

Tất nhiên, ngày nay Đức Chí-Tôn đã đến, ban lại CHỦ QUYỀN cho dân tộc Việt-Nam, vì qua bao thời gian nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã bị mất chủ quyền, chịu nạn lệ nô, để bây giờ con cháu của các Ngài phải biết đến chữ CHỦ với tầm mức quan trọng của nó:

– Thứ nhứt là biết có Trời đang làm CHỦ, đang chế ngự toàn cả tâm linh của nhân loại với mục đích đưa nhân loại đến Đại-Đồng. Ấy là chữ  CHỦ về Đạo-pháp đó.

– Thứ hai là đất nước Việt-Nam có hình chữ CHỦ, tức nhiên là một quốc gia thiên định, là một Thái cực đồ.

– Thứ ba là đất nước Việt-Nam này phải chính do Việt-Nam làm Chủ trong sứ mạng thể thiên hành hoá, không bị một quyền vật dục nào làm cho hư hoại.

– Thứ Tư phải chính mình làm chủ lấy mình: đây là một yếu-tố quyết định và quan trong nhất. Giả sử con dân Việt-Nam cứ mê theo chủ nghĩa ngoại lai bán rẻ lương tâm,  bán rẻ cả hồn thiêng dân tộc, thì dầu Chí-Tôn có ban cho đất nước đầy mỏ vàng cũng sẽ làm mồi cho kẻ tham quyền trục lợi mà thôi. Tạo ra nhiều tham nhũng vụ tất lợi lộc mà bỏ ngân hàng riêng, bán rẻ sự hy sinh xương máu của bao đời cha ông mà thôi.

Hồn thiêng sông núi ơi ! Việt Nam ơi! Việt nam ơi!

 

 

5- CHÚA  主

            Âm tuy khác nhưng nghĩa vẫn một. Gồm bộ Chủ và chữ Vương  Ngày xưa vị Chúa xem như người đứng đầu một nước lớn gọi là Đế 帝 thống lãnh các Vương hầu. Cũng như Ngôi Trời là Cha, mà Chúa là Con một của Trời

Đọc Chúa là danh của ĐẤNG Chúa Cứu thế đã một lần đến với nhân loại, Ngài đã thọ khổ để chuộc tội cho loài người. Trên hai ngàn năm đã vắng mặt Người:

Trong “ĐỆ NHỊ HOÀ-ƯỚC đã ký-kết với Đức Chí Tôn bị nhân-loại bội-ước nữa, vì bội-ước mà bảo sao nhân-loại không bị tội-tình mắc-mỏ cho được”.

Lời Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh  KANT:

“Je reviens en ce monde avec un Nouveau  Jérusalem” (Tôi trở lại thế-gian này với một TÒA THÁNH MỚI”. Hôm nay Ngài đã trở lại với Toà-Thánh Cao-Đài rồi đó:

 “Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

 “Hữu duyên Đông Á nắm Thiên Thơ”

            Thánh ngôn đã ghi rõ một đàn cơ do người Pháp hầu đàn. Đức Chí-Tôn giáng dạy:

“Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận diệt đã hầu kề. Nhân loại tàn sát lẫn nhau, bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẻ và chiến tranh.

            Thánh Đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp người dưới. Phải có một giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh. Chỉ có xứ Việt-Nam còn duy trì được sự tôn sùng Tổ phụ  theo tục lệ cổ truyền, mặc dù xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày được tạo lập đến giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên như vậy mãi” (TNI/131).

Bởi: Ngày nay Người đã trở lại trong nguơn hội này để hoàn thành chương trình “Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi”, dưới danh hiệu: “Tam-Thiên Thế giới HỘ-PHÁP GIÁNG LÂM”

 

 

6-  CỔ  

Trong Dịch-lý: quẻ Sơn Phong Cổ là quẻ thứ 18 trong Thượng Kinh Quẻ CỔ họp bởi Cấn  là núi ở trên; Tốn ☴ là gió ở dưới; núi là sơn, gió là phong, gồm lại đọc tên là Sơn-Phong Cổ

Chữ Cổ 蠱 trong Tự-điển nghĩa là một giống trùng   ở trong bụng làm cho người ta bị trướng, gọi là bệnh cổ trướng. Trong sách thuốc có nói: Phong, Lao, Cổ, Lại tứ chứng nan-y (bệnh ung nhọt, ho lao, cổ-trướng, cùi lở-lói là bốn chứng bệnh rất khó chữa).

– Cổ 蠱 cũng là một vật độc làm hại người, ai ăn phải thì sinh ra ngây-dại, mê- man.

– Cổ 蠱 theo chiết-tự có ba chữ trùng  ở trên chữ mãnh , mãnh là cái chậu; ba chữ trùng là có nhiều sâu bọ trong chậu, có nghĩa là tan rã ghê-tởm, hỗn-độn lúc nhúc như dòi vậy.

– Cổ  có nghĩa là tan-hỏng vì làm việc; lúc-nhúc trong chậu là công việc của sâu-bọ, mà trừ bỏ nó đi lại là một việc khác, tức đã hoại loạn đến mà lo sửa sang, đã sửa sang tất nhiên có công việc, nên nói tắt rằng: “Cổ giả sự dã” (cổ là công việc). Khi vật bỏ lâu ngày chẳng dùng thời sâu mọt sinh ra gọi bằng trùng cổ; người say đắm tửu sắc mà tật bệnh sinh ra gọi bằng bệnh Cổ. Thiên hạ trị an lâu ngày mà tệ hại sinh, gọi bằng cổ hoại. Trai gái say đắm tình dục mà bị mê hoặc, thảy đều là tượng Cổ loạn, thời không thể ngồi yên, tất có việc nên đặt tên quẻ bằng Cổ.

               A- Quẻ CỔ tượng cho thời “Án nạn pháp”

Trong cửa Đạo Cao-Đài, người đứng ra lãnh đạo tinh thần buổi này chính là công của Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc. Ngài là Giáo Chủ về hữu hình. Phần vô hình thì chính Đấng Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế là Giáo chủ.

  NHỮNG HIỆN TRẠNG CỦA NĂM THÂN

Đầu xuân năm Nhâm-Thân (1932) sắp Đại Lễ Đức Chí Tôn ngày 9 tháng Giêng, nên vào buổi chiều tối ngày  mùng 8 mới đốt bên trong lòng Quả Càn Khôn một ngọn đèn manchon cho có ánh sáng. Do hai vị chăm sóc là Hồ Văn Lầu và Nguyễn Văn Biện. Lối 9 giờ đèn phựt dầu phát cháy Quả Càn Khôn. Nhờ ông Văn-Thắng-Trà (sau nầy là Lễ sanh Phái Thượng) dập tắt được ngọn lửa. Quả Càn Khôn bị cháy chỉ còn 1/3 phía Thiên Nhãn thôi.

Đến sáng ra thì Anh Cả Đức Quyền-Giáo-Tông mới qua hỏi Đức Hộ Pháp:

– Quả Càn Khôn bị cháy Hộ Pháp nghĩ sao?

– Đức Hộ Pháp nói: Quả Càn Khôn bị cháy mà Thiên Nhãn còntức là Đạo còn, nhưng đời phải tận.

Sau vụ cháy Quả Càn Khôn rồi thì Đức Chí Tôn có giáng cơ cho một bài thơ như sau:

                   

                      THI

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,
Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.
Trời còn đất lỡ tang thương biến,
Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.
Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,
Mở đường công quả chúng làm theo.
Văn chương đâu rõ thông cùng lý,
Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

        

B- Nền Đạo bắt đầu gặp cơ khảo đảo:

Trong cửa Đạo hiện thời lớp thì chia phe phân phái, còn lại thì bị cường quyền thực dân đàn áp bắt Đức Hộ Pháp vào năm Tân-Tỵ đày qua Madagascar cùng với một số Chức sắc cao cấp nữa.

Qua năm Giáp-Thân (1944) người Pháp tính đàn áp Cao Đài, có lịnh bắt Chức sắc và Chức việc, nên quý vị đó được tin trốn xuống Sài-Gòn hợp tác với Nhựt mới lập ra hãng tàu Nitinan vừa làm mướn vừa tập luyện cho đoàn Nội Ứng Nghĩa Binh thuần thục. Nhờ Nhựt làm hậu-thuẫn cho số Nghĩa-binh cầm tầm vông, đầu đội calô Thần Đạo nhảy vô thành bắt quân Pháp, đó là cuộc đảo chánh Pháp 24 tháng giêng Ất-Dậu (1945).

Do cuộc đảo chánh nên Thực-dân Pháp trả tự do cho Đức Hộ-Pháp từ Madagascar trở về cố quốc. Đức Ngài xuống chiếc tàu Indépendance về đến Vũng-Tàu là 12 ngày đêm, về đến quê hương vào ngày 27-07-Bính Tuất (1946) bởi tàu lớn nên đậu ngoài khơi nhờ ca-nô ra rước Đức Ngài vào bờ rồi về Sài-Gòn nghỉ ở nhà ông Hợi hết cả tuần mới về Tòa Thánh.

Đức Ngài nhìn lại cảnh vật khác xưa, vừa lo chấn chỉnh mối chơn truyền vừa lo phục lại chủ quyền cho Đạo, tức là lập thành Hội Thánh để thay hình thể Đức Chí Tôn và chuẩn bị mở Đại-hội Nhơn Sanh năm Bính-Tuất. Ngài còn lo tu bổ Đền thờ Đức Chí-Tôn và tạo ngôi Điện thờ Đức Phật-Mẫu cùng các dinh thự với ba Cung ba Động vừa xong đâu đó được an bày.

Nào ngờ cơ khảo Đạo lại đến với Đức Ngài nữa. Nhưng  Đức Ngài đã biết trước tất cả và sẵn sàng chờ đợi, cũng như chờ đợi sự đi đày ở lần trước vậy. Trước đó, Đức Hộ Pháp đã chuẩn bị cho cuộc lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung vào ngày 15 tháng 08-Ất Mùi thật chu đáo. Buổi tối ngày 16 tại sân Đại-Đồng-xã có tổ chức Văn-Minh-Điện để các bậc Chức sắc cho thay đố, nhưng sự thực Đức Ngài chỉ mượn 4 câu ca dao để làm câu thay, ngụ ý muốn nhắn nhủ những lời tâm huyết nhất cho các Môn-đệ của Đức Chí Tôn biết thời buổi nguy vong sắp đến mà không thể tỏ thật bằng lời, nên mượn thay đố rằng:

Câu 1: “Ví dầu cầu ván đóng đinh,

“Cầu tre lắt lẻo gập-ghình khó đi”

(xuất nhứt vật) Đáp: “cái thang

Câu 2: “Bậu nghe ai dỗ ai dành,

“Chanh chua Bậu chuộng, cam sành Bậu chê”.

(xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái trách”

Câu 3: “Một mai thiếp có xa chàng,

“Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin”

(Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái ly”

Câu 4: “Tưởng rằng nghĩa mặn tình nồng,

“Nào hay tay ẵm tay bồng vai mang”.

( Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái khai”.

Không một ai đáp trúng lời thay đố trên cả!

Những lời than trách trên đây đều là hình ảnh của người Nữ phái đó là thời Âm, khi Âm thịnh tất Dương suy.

Với cuộc thi đố này ngụ ý 4 chữ “Than Trách Ly Khai”. Đó là một chơn ngôn ẩn ý của Đức Ngài nói lên cho nhân-sanh biết cái dã-tâm của Ngô Triều với ý đồ Công-giáo-hóa Cao Đài, dù trước đó đã có nhiều thủ đoạn. Ba hôm sau có cuộc thanh trừng vào ngày 20-08-Ất Mùi do Quân đội Cao-Đài đứng lên kéo về bao vây Hộ Pháp Đường và làm khó dễ Đức Hộ-Pháp.

Chính cái ngày 20-08 này được xem là “Ngày Đạo hận” để mở ra một thời Án nạn pháp mà người phải đứng ra gánh nạn cho nhơn sanh chính là Đức Ngài đã dâng sớ:.

Trích đoạn Sớ chung niên năm Ất Mùi

Về cuộc thanh trừng

              “… Năm Ất Mùi là năm Đạo trải qua nhiều trạng thái vui buồn lẫn lộn, lắm cảnh hiệp tan pha màu, khiến cho Hội Thánh phải lắm công nhọc trí xoay trở thuận chiều, hầu trấn an toàn thể con cái Đức Chí-Tôn.

Bước qua tháng tám Lễ Hội Yến Diêu Trì vừa yên, cách ba ngày sau nhằm ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl 05-10-1955) cuộc nội biến xảy ra do Trung Tướng Nguyễn Thành Phương chủ động vào Hộ-pháp-Đường là nhược điểm. Cuộc khảo đảo nhằm ngay Đệ Tử, nhưng dầu phải, dầu quấy, dầu nên, dầu hư, Đệ Tử cam hứng chịu cuộc bạo hành của Phương…làm sôi nổi cả dân cư trong vùng Thánh Địa, luôn cả các nước ngoài…”

Chính cái thời kỳ mà Tôn giáo phải chịu một cái nạn ghê gớm nên gọi đó là thời Pháp nạn.Có phải chỉ riêng

Tôn giáo Cao Đài mới chịu một cái ách nạn đó hay không?

– Thưa rằng không! Từ xưa đến giờ không một Tôn giáo nào tranh khỏi: Chúa chịu đóng đinh trên cây Thánh giá. Bọn người manh tâm giết Chúa không ai khác hơn là người của Chúa. Một Juda bán Chúa vì ham ba chục  nguơn bạc. Còn Tướng Nguyễn Thành Phương đây cũng vì ham ba chục triệu bạc ở cái thời điểm năm 1955 của nhóm gia đình trị Diệm – Nhu, mà còn thêm hứa hẹn một mớ chức quyền bổng lộc nữa. Đức Hộ Pháp cho đây là hành động của một con người “bội sư phản Đạo” thì chắc rằng không còn một từ nào khác để dùng cho con người này nữa.

Sau ngày Đức Hộ-Pháp Triều thiên, Ngài giáng Cơ bảo sửa “ngày Đạo hận” ra ngày “Giỗ chung”

 

 

7- CUỒNG 狂

            Chữ Cuồng nghĩa là điên. Theo phép Lục thư chánh tả thì chữ này gồm có bộ khuyển (犭) viết đủ nét  là con chó và chữ Vương 王 là vua. Ý nói dẹp bỏ loài khuyển cho hết rồi (chỉ loài gian nịnh mà thời nào cũng có) thì mới xuất hiện một vì vua anh minh, chánh đại, để cho nước trị, nhà an, đem lại hạnh phúc thanh bình cho dân chúng. Đây là duyên cớ một bài thơ “Vịnh người cuồng” của nhà chí sĩ Trần Cao Vân.

Sau cuộc khởi nghĩa Võ-Trứ tại Bình Định vừa chấm dứt, thì tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên lại xảy ra vụ truyền bá Trung Thiên đạo, viên Tri-huyện Đồng Xuân  ra lịnh bắt giam cụ Trần Cao Vân và gán cho cụ là một cuồng sĩ. Nhân đó Cụ liền cảm tác bài thơ này:

Vì ai nên chịu tiếng là Cuồng?

                 Nhân nghĩa rồi ra bỏ mất luôn.

     Vì LỖ ở TRẦN cam nhẻ dột, (1)

     Ngang trời dọc đất thảy luồng tuông,

     Phép Tiên Tổ mẫu khôn thu ngục,

     Bùa Thánh Tề Thiên cũng dẹp tuồng,

     Trừ hết khuyển rồi Vương rõ mặt (2)

     Đủ xiêm, áo mão ấy nên khôn.

Câu thơ số 3 nói LỖ là tên nước Lỗ vào thời nhà Châu bên Tàu ngày xưa, đó là quê hương của Đức Khổng Tử, còn TRẦN là một nước thời Châu mạt. Đức Khổng Tử có đến nước Trần truyền Đạo, không được vua nước này tin dùng, lại nhân nạn đói và loạn lạc hoành hành, Đức  Khổng Tử và cả môn đệ đều chịu khốn khổ.

Nay hoàn cảnh cụ Trần Cao Vân trái ngang như vầy nghĩa là cụ cũng muốn đem đạo lý để chấn chỉnh nhân tâm, nhưng vì người ta không tin Đạo, nên cụ phải cam chịu sự mỉa mai, khinh rẻ, chẳng khác người điên không biết hổ thẹn.

Sau khi Cụ Trần Cao Vân được thả về từ nhà lao Côn Lôn, tháng Giêng (1914). Tiếp đó Cụ Thái Phiên giới thiệu Cụ Trần gặp Vua Duy-Tân. Vua mời Cụ Trần Cao Vân làm Quốc Sư, Cụ nhận lời. Sau cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Vua Duy-Tân bị thất bại, chính phủ bảo hộ và triều đình Huế ghép tội cho Cụ “giả danh bạo nghịch” rồi đem xử chém tại cửa An- Hòa (phía Tây thành phố Huế) cùng một lần với Cụ Thái Phiên, Tôn Thất Đề vào ngày 16-04-1916.

Trước khi chuẩn bị đưa ra Hội đồng quyết án, Cụ Trần Cao-Vân tìm cách gởi thơ riêng đến các vị Đại thần Nam triều bằng mấy lời tâm huyết:

“Trung là ai, Nghĩa là ai,  đai cân võng lọng là ai ? Thà để cô thân tử biệt;

“Trời còn đó, Đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó, mong cho Thánh Thượng sanh toàn”.

Nghe tin Cụ Trần Cao Vân mất, Cụ Phan Bội Châu ngậm ngùi thương tiếc, bèn viếng Cụ hai câu đối:

– Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị Đạo sư, liếc mắt xem Âu hải phòng trào thương đoàn hậu tiến,

– Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật được mấy Tiên sanh.

Được tin Cụ Trần Cao Vân đã mất, các nhà chí sĩ cách mạng cứu quốc đang bị giam ở ngục Côn-Lôn vô cùng xúc động, tán dương Cụ Trần qua bốn câu thơ:

Hy tiên Văn hậu thử chân thuyên,

Biệt tự trung gian tạo nhất thiên,

Học thuyết năng tương tiên huyết nhiễm,

Nam phương Tân dịch tích vô truyền.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra quốc âm, đăng trong “Thi Tù tùng thoại”:

Văn sau Hy trước vốn Kinh này,

Riêng giữa Trung Thiên dựng một tay.

Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,

Trời Nam, Dịch mới tiếc không thầy.

Sau khi cụ Trần Cao Vân và Cụ Thái Phiên đã chết vì chánh sách bạo tàn của thực dân Pháp thì những  tài liệu về Trung Thiên Dịch- Trung Thiên Đạo đều bị lục soát và thủ tiêu.

Kết luận:  Cụ Trần Cao-Vân, nhà chí sĩ cách mạng cũng vừa là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông đã làm tròn nghĩa vụ của người trai nước Việt, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tranh đấu không ngừng. Từ năm 20 tuổi từ biệt gia hương. Hai mươi bảy tuổi (27) đặt chân trên trường tranh đấu. Ba mươi ba (33) tuổi vào ngục Phú-Yên. Ba mươi lăm (35) tuổi vào ngục Bình-Định và Quảng Nam. Bốn mươi ba (43) tuổi vào ngục Côn-Lôn.

Đến năm mươi mốt (51) tuổi- năm Bính Thìn-ngày 16 tháng tư, cái ngày kết liễu đời anh hùng tại làng An Hòa, (cách kinh đô Huế một vài cây số) nhà chí sĩ Trần Cao-Vân và cùng ba đồng chí: Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, lên đoạn đầu đài để đền nợ non sông.

 

 

        8- ĐẠO 道

Chữ Đạo  bắt đầu chấm hai chấm là Âm Dương nhị khí, kế dưới một nét ngang tức là Âm Dương hiệp nhứt, nên chi một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật; rồi vạn-vật cũng quay về hiệp một. Kế dưới chữ tự  (6 nét) nghĩa là tự nhiên mà có. Nên chi Đạo dạy phải tự lập, tức là lo tu-hành để đạt được huyền-bí đạo-mầu thì trí lự mới phát minh. Chữ tự 自 là tự tri, tự giác chớ chẳng ai làm cho người khác giác ngộ giùm hay minh-huệ giùm

Trên dưới ráp lại thành chữ thủ  (9 nét). Chữ thủ

nghĩa là ban sơ, lúc ban đầu, khởi thuỷ, là đầu mối của càn khôn vũ-trụ. Kế là bộ Sước (3 nét) nghĩa là chạy, nên kêu là “pháp luân thường chuyển”.Họp chung lại thành chữ ĐẠO 道

Chữ ĐẠO  Thánh-nhân đã đặt một cái luân-lý trong đó tự lâu rồi; hai nét Âm Dương hiển-hiện trên đầu đó, hình ảnh của cha mẹ ta đó, có hợp nhất  được  thì mới sanh ra một chủng-tử đầu tiên là con mắt, tức là chữ Mục 目 mục là con mắt, là trung tâm của chữ Đạo. Con mắt để thâu thập tất cả tinh-hoa, đó là công ơn trước hết là của cha mẹ sản sanh ra ta. Cha mẹ cũng phải chịu ơn của hai Đấng trên cao kia nữa, đó là Âm Dương trời đất, ngày nay Đạo Cao-Đài xác nhận là Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu.

Đức Thượng-Đế là một khối Đại linh quang, là ánh sáng bao la, biểu tượg bằng “Con Mắt Trời” thế nên Đạo Cao Đài thờ “Thánh tượng Thiên Nhãn” là vậy.

Hai Đền thờ của các Ngài còn đó! Niềm tự tin này không bao giờ lầm, nghĩa là ánh sáng đã lóe lên từ mắt trở thành chữ Tự  (tự là chính mình), từ đây con người tự giác, tự tu, tự trau-giồi cho kiếp sanh trên con đường tiến hóa. Nhưng nẻo đến đã có lối thông thì đường về cũng chính mình sáng-suốt, cho nên khi ráp cả hai phần trên dưới lại thành ra chữ Thủ  (thủ là đầu). Cái đầu này đưa ta đến và nó cũng hướng dẫn cho ta về, chúng ta xuống bằng cái đầu cho rằng thuận, thì khi về cái đầu cũng phải quay ra ngoài để triều kiến Đức Mẹ Diêu-Trì nơi cung Tạo-Hóa Thiên ở từng trời thứ chín, thì cái đầu này biểu tượng chữ thủ  (9nét) nó mới hợp lẽ. Nếu quay vào hóa

ra đi nghịch làm sao đoạt Đạo? Than ôi!

Đức-tin nơi ta đó, ngày nay Chí-Tôn tạo Đạo ra để cho nhân-loại thờ nhân-loại. Đạo Cao-Đài  thờ con Mắt là thờ thiên-lương của mình đó vậy, cho nên con đường tu giục-giã ta phải hoàn thành Tam lập, tức nhiên lập đức, lập công, lập ngôn nghĩa là chữ thủ 首 thêm một nét sước  (biểu-tượng bằng bộ sước có 3 nét) thành ra chữ ĐẠO 道 (chữ Đạo có 12 nét  do 9+3, tức là con số của Thầy)

Đây là tầng trời cao nhất, có về đến đây được thì mới nhập vào cõi Thiêng-liêng Hằng sống và hòa nhập được với càn khôn vũ-trụ, tức là về được cùng Thầy.

Sự tu thân cần phải có ĐẠO, tin-tưởng nơi Đạo. Bởi “Đạo là cơ bí-mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm-vị Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

Thầy làm chủ chữ Đạo là Cha của sự sống:

Thầy dạy rõ về quyền-uy tối thượng ấy (TNII. 62)

“Các con. Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế-giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái cực. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi, Lưỡng-nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát-quái, Bát-quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn-khôn thế-giái. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật-chất, Thảo-mộc, Côn trùng, Thú-cầm, gọi là chúng sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn-Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm. Nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa.  Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu Nguyên-sanh hay Hóa-sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

 

 

         9-  Điểu 鳥  (11 nét)

“Trải bao thỏ lặn ác tà”. Ngôn Đường-Thi có câu: “Nhạ phi đông hải chí Tây sơn nhứt nhựt trường” nghĩa là Con chim ác bay về biển Đông tới núi Tây thì giáp một ngày. Mượn điển văn ấy mà chỉ một ngày: Mặt trời sớm mai mọc tại hướng đông, chiều lặn về hướng Tây. Khuất bóng ác tức khuất bóng mặt trời thì qua một ngày.

Vừng ô” Không có điển văn. Tuy nhiên Thi văn có câu “Ô thước qui sơn” tức 1à quạ bay về núi. Đã biết rằng hễ chiều thì biết bao nhiêu loài chim bay về núi, song lấy tích quạ mà chỉ rằng chiều tối thì phải hơn, vì quạ thì “Đen lông đen cánh bộ giò cũng đen”.

Chữ Hán thì chỉ các loài chim đều gọi là Điểu 鳥  (bộ điểu -11 nét). Chim quạ cũng là loài Điểu, nhưng chỉ có con mắt có màu trắng, dễ nhận ra ban ngày, còn khi chiều xuống, đêm tối dần nên hình dáng cùng màu lông của Quạ lẫn trong màn đêm, còn lại màu đen tuyền mà thôi. Thánh nhân viết chữ Ô 烏 (10 nét). Còn chữ điểu có một gạch ở trên tượng cho con mắt nên thành 11 nét vậy.

 

 

10 -ĐÔNG 

Theo nguyên-lý của trời đất thì Đạo luôn luôn phát khởi từ phương Đông.

Phân tích Chữ  Đông 東 có hai phần: chữ nhựt  ở giữa, bộ mộc  xuyên qua chữ nhựt, có nghĩa là mặt trời khi vừa nhô lên khỏi ngọn cây là đã thấy rõ rồi. Chứng tỏ rằng mặt trời luôn mọc ở phương Đông. Mặt trời là Đạo, tức nhiên mặt trời đem lại sự sống cho muôn loài vạn vật cũng như Đạo vậy.

“Từ cổ chí kim, tạo thiên lập địa, Đạo đều phát khởi từ phương Đông, là các nước ở miền Á Đông (Asie) như các nền chơn-giáo trước kia: Nho Đạo 道, Thích cũng đều phát khởi nơi miền Á-đông rồi lần lần truyền bá qua phương Tây như:

 – Đạo Phật thì khai tại Thiên-trước là Đức Nhiên đăng Cổ-Phật và Đức Thích-ca Mâu-Ni khai Phật-giáo.

– Đại-Đạo là Đạo Tiên thì Lão-Tử khai tại Trung Hoa.

 – Sau nữa Khổng-Tử khai Đạo Thánh cũng tại Trung hoa là ở miền Á-Đông.

        – Sau lần lần Đạo trải khắp qua hướng Tây, nên Đức Chúa Jésus truyền Đạo Thánh tại hướng Tây. Kế đó Đạo mới roi truyền ra khắp năm châu.

Câu Kinh:“Ánh Thái-dương giọi trước phương Đông”. Ánh Thái-dương là Đạo đó vậy. Nay đã đến Hạ nguơn mạt kiếp, cuối cùng nên Đức Chí-Tôn mới chuyển Đạo nơi vùng Á-Đông, đấy là nơi nguồn Đạo phát ra, lại khai nơi Nam-kỳ (một trong ba kỳ của cõi Á-đông). Vì cõi Đông dương đây cũng về miền Đông của Á-châu nên ngày nay phải khởi khai nơi hướng Đông trước rồi mới truyền lần ra  hướng Tây. Như Đức Chúa Jésus khai Đạo bên Âu châu, thì cũng khởi khai nơi miền Đông của Âu châu, rồi mới loan truyền khắp cả Âu-châu, ấy là luật tự-nhiên từ cổ chí kim, hễ Đạo phát khai thì cứ bắt đầu từ phương Đông truyền ra.

            Ngày nay là giáp một vòng nên khởi lại điểm ban đầu gọi là “Thiên địa tuần-hoàn châu nhi phục thủy” do đó nền Đại-Đạo phải khai tại Á-Đông này, nên Thầy mới mở Đạo nơi Đông dương là cực Đông của Á-châu mà lại khai nơi xứ Nam-kỳ là xứ thuộc-địa, dân-tộc yếu hèn, kém cỏi, ấy là do nơi Thiên-cơ tiền định cả muôn năm, lại là thưởng cái lòng tín-ngưỡng của người Nam từ thử.

Tuy khai Đạo tại nước Nam mà cũng khởi từ Đông, do cái lý từ Bàn-cổ sơ khai: “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, nhơn sanh ư Dần” 天開於子地藉於丑人生於寅. Do vậy mà Đạo khởi khai tại Tây-Ninh lần lần truyền ra Gia định, Biên-Hòa, Thủ-Dầu-một, Chợ-lớn là mấy hạt ở hướng Đông. Qua năm thứ nhì, thứ ba Đạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây”.

Do câu “Đạo xuất ư Đông” cũng nói lên ý-nghĩa ấy.

“Cái nguyên-lý ấy có từ thuở chưa có càn khôn vũ trụ. Đạo-giáo có dạy: Hai lằn nguơn-khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái cực, chủ ngôi Thái-cực là Đức Chí-Tôn.

 Khi trời sét nổ ta nghe gì? An-Nam mình kêu là “Ùm”. Vì cớ phép Phật sửa lại là “Úm” (úm ma ni bát ri hồng). Câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền-năng vũ-trụ quản-suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên-căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông.

            Ấy vậy, nguyên-căn của Đạo-giáo do bên Á-Đông này có tiếng trống phát khởi trước, nên chùa thường sử dụng độc nhất tiếng trống; tiếng ngân ấy là sự ảnh-hưởng đạo-giáo, mới xuất hiện qua Âu-châu đều là ảnh-hưởng từ Phật-giáo, mà Phật-giáo xuất hiện nơi Á-đông. Vì vậy mà Đạo nơi phương Tây chỉ có tiếng chuông, còn các nền Tôn-giáo phụ thuộc đều không đúng theo nguyên tắc  căn bản.Do nguyên-lý “Đạo xuất ư Đông. Đế xuất hồ Chấn mà ngày nay Đạo Cao-Đài qui nguyên hiệp nhứt nên có đủ trống và chuông, ấy là thuần túy tinh-thần Á Đông để phát-huy đến cả Đại Đồng thế giới  vậy”.

            Lại nữa hướng Toà-Thánh quay theo chiều Đông Tây, mà tạo nên một Bát-Quái Cao-Đài mầu-nhiệm.       

 

11- Đức 

Nói rằng “Thiên địa hợp kỳ đức”  天 地 合 其 德

tức nhiên Trời đất hợp nhau bởi Đức.

 Xưa các bậc lão thành thường có câu ghi nhận cho dễ nhớ cách viết chữ Đức, là:

Con chim nó đậu nhánh mè.

Thập trên tứ dưới nhứt đè chữ tâm

Đức là gì?  Phân tích sẽ thấy:

Chữ Đức  có hai phần: bên trái là bộ sáchlà bước chân trái, là khởi đầu, có ba nét thể hiện lý Tam tài ở trong mỗi con người Đạo. Bên phải thì từ trên xuống là chữ thập  chữ tứ  chữ nhứt 一 chữ tâm  tức nhiên là nói về con người đứng trong trời đất: Trên là mười phương trời, giữa là Người đứng đầu trong bốn hàng  phẩm của chúng sanh là vật-chất, thảo-mộc, thú cầm mới đến Người. Chữ Nhứt là duy tâm, duy nhứt, đứng đầu trong vạn loại. Tóm lại người được cao trọng như vậy duy có chữ Tâm mà thôi. Cộng các nét của chữ Đức  德 có tất cả là 15 nét là đã thể hiện một Bát-quái Đồ Thiên của Đạo Cao-Đài ngày nay đó vậy

(Xem thêm Dịch-lý Cao-Đài cùng Soạn-giả).

Là bậc cha mẹ lo làm việc phải chính là trữ Đức cho con. Thi văn dạy Đạo:

Trữ Đức còn hơn muốn trữ vàng,

Giàu sang chẳng chuộc gánh giang-san

Thế đời càng dữ càng kiên Đức

Võ-lực hùng-oai cũng chẳng màng.

“Hiển-nhiên trước mắt mà chúng ta nếu khiếm

công phu lo Đạo, một ngày kia về Ngọc-Hư-cung chúng ta có chối tội được chăng? Mà dầu có chối đi nữa cũng không biết vì lẽ gì mà chối, rất khiếm tài đức.      

           “ĐỨC là chìa khóa mở đại nghịêp thiêng-liêng, hữu hình hay vô-vi cũng vậy. Lấy Đức làm nền tảng THƯƠNG-YÊU. Cái kho Thương-yêu có tài đức mới mong-mỏi đặng. Kho vô tận ấy hiển-nhiên trước mặt, thì kẻ nào đi trái con đường ấy chẳng hề lập nghiệp cho vững được. Chí-Tôn nhủ rằng: “Các con muốn đọat cái đại nghiệp thiêng-liêng của các con duy tu lập Đức”.       

           Yêu ái Đức thân sinh, hai tiếng đó hầu qui tụ cả đại nghiệp của mình, từ thuở, bao lần triết-lý các tôn-giáo đều dạy TU và ĐỨC  thì ngôi-vị đã sẵn, không hề kẻ làm tội ác kia tranh giành đặng. Ấy đó, Bần-Đạo xin nhắn-nhủ tòan Đạo trụ cả khối tinh-thần cứ mài-miệt Đức-tin cho vững, thỏang có thất-bại Bần-Đạo lãnh cả tội-tình cho.

           “Tin thì nghiệm xem ra thế nào, tin quả-quyết như Bần-Đạo đã tin, chúng ta đồng tiến nữa, bao nhiêu năng lực cá nhân góp tăng trăm ngàn nhiệt độ tổng số lại thì không có lực-lượng nào ngăn cản được.

           “CHÍ-TÔN hứa với chúng ta đủ điều, thì không hề thất hứa bao giờ, duy tại chúng ta còn khiếm Đức-tin nên sự đọat thành hy-vọng của chúng ta còn chậm trễ đến ngày nay, mau hay chậm cũng tại chúng ta: muốn tin hay không tin mà thôi. Vậy Bần-Đạo xin khuyên tòan Đạo cố gắng trụ Đức-tin thêm nữa. Cần phải TU LẬP ĐỨC  làm căn-bản, thì ắt hẳn đọat nguyện hiển-nhiên. Cái sự nghiệp của Trời và Người muốn làm chủ nó mà hưởng, thì chỉ có TU và  LẬP ĐỨC” (ĐHP 14-7-Đinh-Hợi 1947)

Nếu Đạo 道 (12nét) là thể hiện quyền-uy tối thượng của Đức Chí-Tôn, tàng ẩn bên trong người không ai thấy được, đó là Dương. Còn Đức 德 (15 nét) là cơ hiển lộ ra ngoài, như đức hy-sinh, đức khiêm nhượng…đó là quyền hành của Đức Phật-Mẫu là cơ Âm. Nên thường hai chữ Đạo-Đức đi liền nhau và có dấu nối (Trait d’union). Chính cái dấu nối này là chỗ Hoà của Âm Dương. Văn hoá của Việt-Nam có những nét độc đáo đó mà hình như thế hệ sau này đã lãng quên đi cho rằng không thiết thực. Từ chỗ tế vi đó mà quên đi cũng làm cho nhân tính bị biến thái đi. Thi văn dạy Đạo:

ĐỨC cao thì mới đáng nên người,

ĐỨC thắng tài kia đặng mấy mươi

Có ĐỨC có tài giềng Đạo trọng,

Không tài không ĐỨC hoá không thời.

 

           12- ĐIỀN 田

Chữ ĐIỀN 田 (5 nét) là ruộng, do vậy Chữ Điền nằm ở chính giữa của Bát-Quái Đồ Thiên (cũng có ở trong Bát-Quái Hậu thiên nữa) nó đứng vào Ngũ hành.

*Lý Đạo về chữ Điền: Dầu nơi Hiệp-Thiên-Đài hay trong Cửu-Trùng Đài: lòng người tu cũng phải giữ được “Tâm điền”. Hãy nghe Bà Thanh-Tâm Tài-Nữ luận về chữ “Tâm điền” trong Thánh-ngôn, ngày 23-4-1928:

“Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu, thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Phật Thích-Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

“Lộ vô nhơn hành, điền vô nhơn canh,
“Ðạo vô nhơn thức, ta hồ tận chúng-sanh”!

路 無 人 行 田 無 人 耕

道 無 人 識 些 乎 盡 眾 生

Ba anh có hiểu chăng?

Sao gọi lộ vô nhơn hành, anh M… N…?

– Ðường có người đi nhiều, mà không ai là người phải, đường đi dập-dìu thiên-hạ, mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả-dối, hạnh hung-bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người ? Còn điền vô nhơn canh là sao ?

– Ruộng đây, là tỷ với tâm, tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi tâm, thì tâm ví như điền, có điền mà chẳng có cày-bừa, đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất phải bỏ hoang; bỏ hoang thì sâu bọ rắn-rít xen vào ẩn trú; người mà có tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày-bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu, đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn-linh”

*Phân tích chữ Điền:

Khi bàn Lý Dịch thì phải bàn cho đến đích vì Dịch 易 là biến. Điền 田 do hai quẻ Kiền Khôn mà ra:

Quẻ Kiền ☰ có ba nét Dương có thể đặt đứng, đó là chỉ không gian  và quẻ Khôn có ba nét Âm  đặt nằm, chỉ thời gian. Hai quẻ Càn-Khôn phối hợp lại thành chữ Điền . Chữ Điền này chính là tâm của Bát Quái Đồ Thiên hay Bát Quái Cao-Đài của nền Chánh giáo, là chỉ sự biến hoá của muôn loài vạn-vật, nên chi bậc đại nhân, quân tử  phải đạt cho được đức  tánh cao  thượng  hay nói khác đi là người đạo-đức phải có được cái tâm điền ấy.

 

 

 

Xem lại trong “Dịch Lý Cao Đài” của cùng Soạn giả sẽ thấy hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷  là chủ của Bát-Quái. Chữ Điền nếu phân tích ra sẽ thấy:

– Có 4 chữ nhựt 日 nằm ngang dọc (nhựt nhựt tung hoành nhựt).Tức nhiên nhìn qua các chiều, thảy đều có hình chữ nhựt. Ý muốn bảo rằng: Phải ngày mới, mỗi ngày mỗi mới, ngày ngày mới. ”Nhựt tân, nhựt nhựt tân, hựu nhựt tân” 日新日日新 又日新

– Có 4 chữ Sơn 山 xoay quanh (Sơn sơn điên-đảo sơn). Cũng như chữ nhựt,chữ Sơn xoay quanh tạo nên chữ Điền.

– Có 2 chữ vương 王 đặt xuôi ngược (lưỡng vương tranh nhứt quốc) Hai vua mà tranh một nước.

– Có 4 chữ khẩu 口 họp lại chính giữa (tứ khẩu tại trung gian). Ghi thành thi cho dễ nhớ:

Nhựt nhựt tung hoành nhựt

Sơn sơn điên-đảo sơn

Lưỡng vương tranh nhứt quốc

Tứ khẩu tại trung-gian.

Trong sám Trạng-Trình có câu: “Phá điền Thiên-tử giáng trần” hoặc “Phá điền Thiên-tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành”.

*Đặc-biệt nhất là hai chữ Vương 王nằm theo chiều xuôi ngược trong một cái khung đó là hình ảnh “hai vua mà tranh một nước”. Trong con người có hai vua ấy tức nhiên một vua tinh-thần và một vua vật-chất đang tranh đấu nhau để giành quyền thắng lợi. Vậy thử hỏi nếu vua tinh-thần thắng tức là ta đang hướng về con đường đạo đức, thì người phải năng trau-giồi cho đến độ tận thiện tận mỹ, hòng giục tấn trên con đường Thiêng liêng hằng sống mà trở về với Đại-ngã tức là về với Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế.

Thế nên người TU là tự mình tập làm chủ lấy mình, nghĩa là đặt vị-trí chữ Vương cho đúng chỗ.

Bởi trong chữ Vương  có tàng ẩn chữ ngọc  nếu một cái chấm của nét chủ ấy xuất ra ngoài thì thành chữ chúa  nhập vào trong  thành ra chữ Vương. Có câu: “Ngọc tàng nhứt điểm, xuất vi chúa nhập vi vương”

玉 藏 一 點 出 為 主 入 為 王
Tại sao người phải tu đạt cho được cái “tâm Điền” ấy?   – Đó là lý cớ vì sao phải tu-hành. Tu-hành chính là phương-pháp sửa đổi tâm-tánh để mình làm CHỦ được chính mình; khi đã tự mình làm chủ được mình rồi thì cũng làm chủ được vũ-trụ.

 

 

 

 

Do vậy mà Đức Hộ-Pháp khi nhận trách nhiệm tức là Đức Thượng-Đế đã giao cho sứ mệnh mở Đạo Trời, mà mối Đạo này có “Bí-quyết đắc Đạo” là Thờ chữ CHỦ. Lại nữa Ngài là một vị Giáo Chủ hữu hình, tức là thay mặt Chí-Tôn và Phật Mẫu mà lo cơ chuyển Thế và Cứu thế trong buổi Đại-Đạo này.

Trên là Bát-Quái Đồ thiên hay còn gọi là Bát-Quái Cao-Đài. Hình vuông trong Bát-quái giới hạn bởi các Cung: Càn, Khôn, Tốn, Cấn chia làm  4 ô vuông. Trên góc cạnh của mỗi đường thẳng đi qua có biểu tượng một con số Bát-quái. Tương ứng  với mỗi Cung là:

1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 5 trung ương, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Các con số này họp thành một con số rất đặc biệt gọi là Ma-phương-số

Ghi nhớ các con số trong “Chữ Điền” của Bát-Quái bằng bài thơ sau đây:

Tứ hải Tam sơn hội Bát Tiên.

Cửu Long Ngũ hổ Nhứt đoàn viên.

Nhị tướng Thất trì phò lục quốc

Đây là chữ Điền trong Bát Quái Đồ Thiên chứa đựng cả một triết thuyết cao siêu của Đại-Đạo mà Giáo lý Cao-Đài các Đấng Thiêng Liêng đã phô diễn dưới nhiều hình thức, mục đích là mở cái tâm con người đến chỗ tận thiện, tận mỹ, toàn năng, toàn tri là vậy.

 

              

13- Giải 解

Trong 64 Quẻ kép thì Quẻ Giải

đứng vào số 40. Đọc là quẻ Lôi Thuỷ Giải.

Khảm ☵ hạ là nội Khảm, Chấn  thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Khảm là Thuỷ, nên tên quẻ đặt là Lôi Thuỷ Giải.

            Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là nghĩa làm sao?

– Qua rồi là thời Kiển. Kiển nghĩa là nạn, là khó, các vật không thể khó khăn đến cùng, cho nên tiếp đến quẻ Giải. Giải có nghĩa là hoãn vậy. Giải hoãn dã 解 緩 也 Giải là chậm, vì trên có Chấn ☳ dưới có Khảm ☵ tức là trong nguy hiểm mà ngoài động, cho nên phải huy động để giải lần lần từ trong ra ngoài mới được hanh thông.

Phân tích chữ Giải 解 thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao  ở trên, là con dao, chữ ngưu  dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải-phẫu. Cách phẫu thuật phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội-vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.

Theo lý mà nói: Sấm động bên ngoài, hãm hiểm bên trong, có nghĩa là động ở ngoài sự hiểm, tức là đã thoát được hiểm nguy vậy, nên mới đặt tên cho quẻ là Lôi Thủy Giải.

Theo tượng quẻ mà nói: Chấn trên tượng là sấm, là động. Khảm dưới có nghĩa là hãm, là hiểm nguy. Chấn vi lôi, Khảm vi thuỷ là hiện tượng có sấm chớp mưa rào để làm tan đi: Giải sự nóng bức của những ngày vào Hạ, nên đặt tên quẻ là Lôi Thuỷ Giải. Giải còn có nghĩa là làm cho tan đi vậy, như giải tán, giải ách, giải bệnh, giải thoát…

Từ đó suy ra thì cách giải quyết nào cũng phải đủ ba yếu tố: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà là vậy

Thiên-địa giải nhi lôi vũ tác: Thời Giải rất lớn lao, ví như trời đất.Giải của Trời đất là mưa sấm đến.

Chữ thiên địa ở đây là chỉ về khí âm dương. Khí âm dương còn u-uất, thì vạn-vật khó phát sinh. Khí âm dương gặp nhau là cơ hội giải tán cái nỗi u-uất đó.

Lôi 雷 là sấm thuộc bộ Vũ 雨 là mưa và dưới là chữ Điền 田 (ruộng). Tức nhiên khi có hiện tượng mưa thì sấm vang rền, mưa trút nước xuống tưới lên ruộng đồng.

Sấm và mưa cùng trong một lúc bùng loé ra, mưa sấm đã đồng thời tác dụng mà lúc bấy giờ cây cỏ cho đến trăm thứ hoa quả, thảy đều nứt mầm, phát triển.

Xem thế thì:

– Sấm sét là khởi điểm của sự việc.

– Mưa gió là sự kiện, là điều tất yếu.

– Kết quả là GIẢI cái nóng bức trong lòng vũ trụ, là làm cho người và vạn vật được thoải mái.

Vậy: Mưa là giải quyết sự ngột ngạt của cái nóng bức như thiêu như đốt trên mặt đất.

Nhưng ngoài ra mưa để làm gì? Có ích lợi gì?

– Nhờ mưa mà vạn vật được đâm chồi, nẩy lộc. nước mưa thấm vào lòng đất tạo thành dòng nước ngầm như để dự trữ dài lâu. Rồi sau đó dưới sức nóng mặt trời, nước mưa còn bốc hơi thành mây bảng lảng bay khắp cùng vũ trụ để dự trù cho những cơn mưa sắp tới.

Lý tính về mây mưa, tiền nhân có nói:

“Âm-tính là ngưng tụ, Dương-tính là phát tánKhi âm tụ thì Dương ắt phải tán, nhờ có cái thế quân bình mới thành. Khi Dương tán thì làm lụy đến Âm, hai khí giữ chặc nhau thành mưa rơi xuống. Khí Âm làm cho khí dương đắc chí, bấy giờ Dương-khí sẽ bay bổng lên thành mây. Thế cho nên nói rằng mây ban bố rộng ra từ Thái hư, đó là âm khí bị gió đuổi, thu liễm, tụ lại tức là chưa tán vậy. Phàm khi Âm-khí ngưng tụ, dương-khí bị bao vây ở giữa không ra được, do đó phấn khích mà nổ ra thành sấm sét (gọi là lôi đình). Khi Âm-khí ngưng tụ, Dương-khí ở ngoài không vào được cho nên sẽ quay quanh Âm-khí không ngừng thành ra gió.

Khi Âm-khí hòa mà tán, thì sẽ thành sương tuyết, mưa móc. Khi Âm Dương bất hòa mà tán thì sẽ thành khí độc tràn lan. Âm khí thường mà tán ra chậm sẽ giao hợp với Dương khí và mưa gió sẽ điều hòa, nóng lạnh được chính”.

 

 

14- HIẾU 

HIẾU 孝 họp bởi trên là Thổ土 nghĩa là đất, thuộc cung Khôn  tức nhiên chỉ sự bao dung, đầm ấm của tình mẹ lo cho con. Dưới là chữ Tử 子 là con trẻ, tức nhiên phận làm con phải nghĩ đến công dưỡng dục cù lao, bú mớm nâng niu của Mẹ mà người con hiếu phải lo báo đáp.

Chín chữ Cù lao là gì? (Cù: siêng năng, nhọc nhằnLao: khó mỏi). Ý nói cha mẹ suốt đời đã chịu thương chịu khó để nuôi dưỡng chăm-chút con cái từ khi còn là trứng nước đến khi con khôn lớn trưởng thành, nhưng chưa phải như vậy là đủ, mà “Con một lớn mẹ thêm một khổ” cho nên thời gian lo-lắng cho con cái hầu như vô cùng tận và điểm sau cuối là cho con đến khi cha mẹ nhắm mắt lìa đời, cho nên tiền nhân dùng câu “chín chữ cù lao” để nói lên cái tình cao khiết ấy. Đạo Nho nói “Cửu tự cù lao” đều cùng một nghĩa, tức nhiên cha mẹ đã dày công lo-lắng cho con cái qua chín nỗi nhọc nhằn:

1-Sinh: mang nặng đẻ đau, chín tháng cưu mang.

2-Cúc: nâng đỡ, nuôi nấng, ba năm bú mớm. Nói chung là “Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ”

3-Phủ: Vuốt ve, có nghĩa bằng tất cả thâm tình trìu mến, chứ không nuôi như nuôi con vật, gia súc gia cầm.

 4-Xúc: Cho bú có nghĩa là nuôi con bằng cả tâm huyết, chuyền cả sự sống của mình cho con.

5-Trưởng: nuôi con nhìn từng ngày, từng giờ, không một phút giây nào xa rời con trong tâm tưởng và chuẩn bị một nôi tình thương đầy hạnh phúc.

6-Dục: Dạy-dỗ, tất nhiên nuôi con bằng cả trái tim yêu ái còn phải dạy-dỗ cho nên người, những mong “Con hơn cha là nhà có phúc”.

7-Cố: trông nom, dầu con có lớn đến tuổi nào, trong tâm tưởng lúc nào mẹ cũng nghĩ đến từng bước con đi.

8-Phục: săn sóc dạy bảo. Khi con đã nên bề gia thất cha mẹ vẫn không rời trách nhiệm nhắc nhở đạo đức: “Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài yên” Với con gái thì Bà đoàn nhắc rằng:

Dụng văn hoá trau-tria Nữ-phách,

Lấy Kinh-luân thúc thách quần hồng

Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

(Nữ Trung tùng phận – Câu 1- 4)

9-Phúc: Bảo-vệ. Lòng cha mẹ luôn luôn nghĩ đến con lúc nghèo giàu, sang hèn, vinh nhục, lúc nào cũng phải là một cố vấn cho con và sẵn sàng giúp đỡ an ủi.

Trong Kinh Thi có câu:

“Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao”

Kim-Vân-Kiều cũng có câu:

“Duyên hội ngộ đức cù-lao,

“Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn ?”

Luận Đạo:

Tại sao chỉ nói đến chín chữ cù lao mà không nói đến một số khác?

Nhắc lại nguyên lý:

Số 9 là cơ huyền-diệu nhiệm mầu. Huyền-diệu hơn hết là số đó. Nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ, toàn năng, toàn tri.

Nó là 1 + 8 tức là cơ vận-hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng-tri sáng suốt. Nó cũng là 3+6. 3 và 6 là hai lý nhiệm-mầu và đều ở trong trạng-thái động.

Nó cũng có nghĩa là 3×3 hay 3 bình-phương là cấp bực tam ngôi biến-hóa, vận-hành suốt thông trời đất. Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hiệp về cơ qui nhứt. Phép toán học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

Tại sao có Hiếu? Bởi các chơn hồn sáng suốt cao siêu đã có sẵn hai điều Hiếu:

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn-linh.

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn thần.

Bởi có Hiếu trước với hai Ðấng ấy, biết trọng hai quyền năng Tạo-hóa Chơn linh và Chơn-thần thì tự nhiên phải biết nhìn Ðấng Tạo-hóa hình hài của mình đồng thể chớ. Tâm hiếu tự nhiên mà xuất hiện vì nó có sẵn, mà hễ có sẵn tâm hiếu tức nhiên phải là Chơn-linh cao trọng thấu đáo được nguyên do đâu mình đến và là con của ai ?

Ðã hiểu rằng mình có hiếu với Ðấng tạo sanh Chơn

linh và Chơn thần như thế nào rồi, thì đến Hiếu với Ðấng tạo sanh hình hài đã sẵn có rồi vậy. Nên, hiếu không thể dạy được: hoặc có hiếu, hoặc không có hiếu mà thôi.

 

15- HÒA  

Chữ Hòa   là thuận-thảo gồm có hai phần:

-Bên trái của chữ, có chữ Hoà  là cây lúa (lúa là nguồn sống để nuôi sống thể hài, là vật-chất; tức nhiên người cũng như vật “phải uống ăn nuôi sống thây phàm”

– Bên phải là chữ khẩu  là cái miệng (miệng để ăn uống, đồng thời cũng là cơ-quan phát ra tư-tưởng, lời nói, là tượng-trưng tinh-thần. Miệng là cơ-quan để lập ngôn đó vậy).

Bài Diễn-văn của Đức Hộ-Pháp có giải rõ:

“Phép của Trời có một, là thương khắp cả chúng sanh, nên định cho phẩm-vị hữu-hình và thiêng-liêng có một, nghĩa là phải tương đắc cùng nhau, đặng định quyết phép công-bình lành thăng, dữ đọa.

          “Máy tạo bởi Chữ HÒA mà có, thì thế-giới Càn khôn cũng phải HÒA mới toàn-hảo, nhơn-loại cũng phải HÒA mới trường tồn, chẳng khác nào như xác thịt phải HÒA-THUẬN cùng  linh-hồn mới mong đoạt Đạo.

          “Lấy lớn mà định nhỏ, xem nhỏ mà tìm lớn, thi hài này nhờ HÒA-KHÍ  mà thành hình, thì linh-hồn cũng phải tùng theo phép âm dương HÒA-HIỆP mới qui hồi cựu bổn; linh-hồn bởi chữ HÒA-KHÍ mới có đến, thì tức nhiên phải nương theo HÒA-KHÍ mới có về.

           “Tuy pháp bửu của các Tôn-giáo đã đoạt đặng vẫn nhiều, chớ cơ mầu-nhiệm chỉ có CHỮ  HÒA  là đủ:

           “Thân thể cho mạnh-mẽ tinh-vi, đừng để sa-đà vào lục-dục thì là thuận cùng trí-lự khôn-ngoan.

          “Khí-lực cho cường-thạnh thanh-bai, đừng để đến đỗi mê-muội bởi thất tình, thì trí-lự khôn-ngoan thuận theo linh-tâm mà nẩy-nở.

          “Linh-tâm phải định-tĩnh từ-hòa, đừng để đến đỗi mờ-ám bởi tội-tình, thì thuận với lòng Trời, hiển-linh tại thế đặng đoạt phép huyền-vi:

   –  Thân là   TINH

  –  Lực  là    KHÍ

  –  Trí   là    THẦN                           

          “Nói rõ ra thì TINH là thân thể; KHÍ  là điển lực, nghĩa là trí-lự; THẦN là linh hồn; ba cái BÁU của mình ngày nào tương-đắc, nghĩa là HÒA-HIỆP cùng nhau, thì người mới mong đắc Đạo.

           Cơ Đạo của Chí-Tôn đến lập buổi hạ nguơn Tam Kỳ Phổ-độ này duy lấy một CHỮ HÒA  làm tôn-chỉ.

           “Có HÒA mới có HIỆP, có HIỆP mới có THƯƠNG, mà sự THƯƠNG-YÊU là chìa khóa mở cửa Tam thập lục thiên, Cực-lạc thế-giới và Bạch-Ngọc-Kinh  y như lời Chí-Tôn đã dạy, chỉ nghĩa là phải Từ-bi Bác-ái mới đắc Đạo vô-vi, phải HÒA-HIỆP mới có CƠ QUI NHỨT.        

          “Chí-Tôn đã định khai Đạo đặng thị chứng cho các Tôn-giáo biết nhìn nhau trong đường hành thiện, trừ tuyệt hại tranh đấu thù hiềm, làm cho thế-giới đặng HÒA-BÌNH thoát cơ tự diệt.

          “Thể Đạo của Chí-Tôn cũng phải nương theo CHỮ HÒA mới toan thành lập, Chí-Tôn định thành Hội-Thánh, đặng thay thế hình ảnh của Người, thì cũng tùng theo phép tạo-hóa cá-nhân mà gây nên ảnh tượng:

             – Cửu-Trùng-Đài là thi hài  ấy là  TINH

            – Hiệp-Thiên-Đài là chơn-thần ấy là KHÍ

            – Quái-Đài  là linh-hồn  ấy là THẦN

           “Nếu cả BA mà không tương-hiệp, thì khó mong thành Đạo cho đặng.

           “Nếu có một quyền hành nào tại thế này mà làm cho thân thể Chí-Tôn phải chia phui manh-mún, thì là Đạo Ta là giả Đạo, tất nó phải bị tiêu-diệt trong một lúc ngắn ngủi chi đây.

          “Còn như quả là Chí-Tôn vì thương-yêu con cái của Người, chính mình đến lập Đạo đặng giải thoát cho chúng-sanh, thì những mưu chước của tà-quyền ngăn cản bước Đạo của Thầy khó mong nghịch mạng với Chí-Tôn, ắt là không mong bền vững” (PCT/ 67)

Lời Thầy vẫn luôn thân thiết rằng:

           “Thầy vui muốn cho các con thuận-hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất nên trân-trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe! Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý  muốn của Thầy”

 

 

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

          Làm một kiếp con người trong cuộc thế này có hai món nợ vừa khó đền trả cho đồng cân, mà cũng vừa mâu thuẫn nhau, rất khó liệu cho vẹn toàn.

– Một là giữ câu hiếu thảo với cha mẹ.

– Hai là trọn nghĩa vợ tình chồng

TÌNH 情 là một sự cảm mến thân thiết  nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâmlà tấm lòng với chữ Tinh 青 là cái tinh tuý, tốt lành. Hai món nợ này khó đi đôi cho đặng. Là một vấn đề khó giải quyết xưa nay. Hãy nghe:

“Thất-Nương Diêu-Trì-Cung là vì HIẾU khi hay cha mẹ mắc tội nơi Phong-đô, liền bỏ Cung Diêu-Trì xuống đó để độ rỗi nên bị Thiên-đình  bắt tội. Đã  hai kiếp sanh khổ vì Tình, vì Hiếu,  sau khi Thất-Nương được đặc ân của Ngọc-Hư-Cung xá tội liền tình-nguyện đến Âm quang để độ rỗi các chơn-linh thất thệ đặng trả nghĩa cho Thầy. Trước khi đi làm nhiệm vụ, trong một kỳ đàn, Thất Nương Diêu trì-Cung có đến từ-giã và để lời than với Đức

Hộ-Pháp và gặp-gỡ một vài Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài.

                                 Bài thi ấy như vầy:

Hai kiếp đeo đai mối nợ tình,

Cái thân vì khổ bận cho thân.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt.

Nỗi Hiếu rơi châu tưới mộ phần.

Giữ Đạo mong chờ ngồi độc tịch.

Bán mình quyết cứu độ song thân,

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh.

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần

Ngài Cao-Đức-Trọng khi tả lại cuộc đời của Đấng Nữ-Tiên có nói rằng:

           “Bần Tăng tả cảnh khổ trên đây để các bạn nhập tâm ghi nhớ. Thất-Nương là vị Phật thứ bảy trong hàng Cửu vị Nữ-Phật còn tránh không khỏi khổ. Đó là bài học của tâm-hồn trí não. Nếu tránh được khổ thì trên con đường lập công chúng ta rất may duyên sẽ  gặp đặng Đức Chí-Tôn, mà Người trông ngóng  hằng ngày.

             Cái hạnh-phúc nơi cõi tạm này không chi bền-bĩ, thấy đó liền mất đó. Cái kiếp sanh của con người  trong ba vạn sáu ngàn ngày nghĩa là một trăm năm, ngày giờ này thử xem ai sống được tới chừng đó.

             Trong thời-kỳ lọan-lạc này, năm tuổi cũng một kiếp, mấy mươi tuổi cũng một kiếp. Ba vạn sáu ngàn ngày đã mất giá-trị rất nhiều mà con đường thắng khổ lại vẫn không bờ bến. Nay được may duyên núp dưới bóng Từ-bi, chúng ta hãy tìm hạnh-phúc thật, là cái hạnh-phúc về mặt thiêng-liêng, muốn đặng vậy cả Chức-sắc Thiên-phong mỗi người tùy theo phẩm-vị mình phải lo cho tròn bổn phận khi lìa khỏi xác, mới mong qua khỏi Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới. Chúng ta nên lấy đó làm quí trọng và nên nhìn hạnh-phúc cõi trần toàn là hạnh phúc giả.  Ai đã đau khổ tâm hồn ? Ai đã chua cay tình thế ?  Ai đã từng đổ giọt lệ đặng tự an-ủi lấy cõi lòng tan-nát  đều dư hiểu lời của Bần-Tăng nói, nên Bát-Nương có nói:

           “Muốn tìm hạnh-phúc thật phải lướt khỏi khổ, tìm đến Chí-Tôn mới mong trọn vẹn”

 

 

17 -HỌC  

Phân  tích chữ HỌC   thấy có hai phần: phần trên là hình ảnh người Thầy hai tay cầm roi đứng dưới mái nhà đang dạy trẻ, phía dưới là chữ tử 子 Điều này chứng tỏ sự giáo huấn ngày xưa rất nghiêm khắc.

Nay nói về việc học Đạo:

Đức  Phật  Quan-Thế-Âm Bồ-Tát giáng dạy rằng:

            “Thiếp xin hỏi Chư Hiền-hữu: – Các bậc Tu-hành muốn đặng thành Đạo phải làm thế nào ?

        Bạch:

            -Trước phải lo trau-giồi đức tánh và biết sửa mình.

Đầu tiên muốn sửa mình thì phải học hỏi, phải không?  Học hỏi đặng dụng vào đâu ?

           Cho mình hiểu Đạo trước rồi dìu-dắt chúng-sanh sau; thì ắt phải kiên chí, nhẫn-nhịn mới mong đoạt kiến thức; có kiến-thức thì mới bác-lãm, mới có tư-tưởng cao sâu; hễ có tư-tưởng cao sâu mới mong đặng văn-chương quán thế. Hễ có văn-chương quán thế mới mong cảm hóa lòng người đặng, phải không ?

              – Phải !

              – Thì phải lo lập nền móng trước chớ sao! Phải có trí-thức tài-tình mới mong đoạt Đạo. Phải tài tình mới đủ lực-lượng diệt vô minh.  Trong Đạo Thầy ngày nay, Thầy đã chọn những kẻ ấy để dìu-dắt chúng sanh qua khỏi mê tân, đáo bĩ-ngạn.

             – Thiếp hỏi những kẻ ấy là ai há ?       

             – Chính là Chư Hiền-hữu đó.

             Vì các cớ nên Thiếp mới đến ngày hôm nay mừng cho chư Hiền-hữu đó, nên có mấy lời thức tỉnh.

             Xin Chư Hiền-hữu miễn chấp nghe”!

                            (Ngày 8-6-Giáp-Tuất 1934)

Bà Đoàn có dạy cho mỗi người một phương thức học rồi:

Học cho thấu máy linh cơ Tạo,

            Học cho toàn trí xảo văn minh,

            Đem tài hay nhập nước mình,
            Làm cho dân hưởng Thái bình giàu sang.

18- HOẶC 或

Chữ này có hai phần: chữ hoặc 或 là thay đổi. Nếu ghép chữ hoặc này với bộ vi 囗 thành ra chữ Quốc 國 có nghĩa là đất nước này thay đổi thể chế luôn. Còn nếu đất nước có vua thật sự thì bên trong bộ vi có chữ vương.

Hào Tứ của Quẻ Càn cói câu “Hoặc dược tại uyên” 或 躍 在 淵 tức nhiên có thể nhảy trong vực. Dược là nhảy, nhưng ở thế của Cửu Tứ Quẻ Kiền là thời kỳ tiến lên được, nhưng không nên vội tiến mà phải đợi đúng lúc, đúng thời tiến sẽ có lợi hơn.

Hào này đã rời khỏi hạ quái rồi, mà lên gần đến Cửu Ngũ tức là gần ngôi Vua, dù thế nào cũng tiến mà thôi. Tóm lại người trí làm việc gì cũng biết tuỳ thời. Chữ Biết rất cần trong Đạo-học

Nếu thêm bộ tâm vào phía dưới thành ra chữ “Hoặc  là một nghi-từ có nghĩa là nghi ngờ.

Thánh ngôn dạy về “BiẾT” như vầy để khỏi nghi hoặc nữa: phải Biết cho đến nơi đến chốn mới gọi là Biết:

“Cơ lập Đạo là nhiệm-mầu vô giá: Biết Đạo, Biết ta, Biết người, Biết thế, Biết thời, Biết vinh hư, Biết tồn vong ưu liệt rồi mới có Biết hổ mặt thẹn lòng, Biết sự thế là trò chơi, Biết tuồng đời là bể khổ, Biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, Biết nhục vinh mà day trở  trên con đường tấn thoáiCó đâu đường đời còn giành xé, hại lẫn nhau, mong chi đặng tầm Tiên noi Phật.”  (TN II/ 68)
Có cả thảy 12 chữ Biết. Biết cho thấu lý là gần Phật, gần Trời đó vậy!

 

19- KIỀN  乾

QUẺ KIỀN  SỐ 1 TƯỢNG NGÔI CHÍ-TÔN:

1-Ý-nghĩa: Quẻ Bát thuần Kiền còn gọi Bát Thuần Càn. Trước khi nói đến quẻ Bát-thuần, xin định nghĩa và phân-tích chữ KIỀN. Kiền là kiện, tức là tráng kiện, mạnh mẽ, tính của Dương, là ngôi Chí-Tôn.

Chiết-tự chữ Kiền 乾 thấy có hai phần: phần bên trái có hai chữ thập (thập là mười) chữ thập ở trên tượng-trưng “thập phương chư Phật” chữ thập dưới là “Thập điện Diêm cung” giữa là chữ nhựt  (nhựt là mặt trời. Người đứng đầu là Anh Cả nhơn sanh là Thượng Trung-Nhựt) chỉ không gian vũ trụ mà vạn-loại đang sống. Phần bên phải là chữ KHÍ  (khí là sự sống, viết đủ nét là  cũng gọi là khí sanh-quang. Nguồn sống của Trời đất

Như vậy Kiền có nghĩa là Trời, tức nhiên gồm các cõi vô hình cũng như hữu hình, nơi nào có khí sanh-quang của Thượng-Đế tức là có sự sống, mà sự sống tức là Đạo.

Nơi nào khiếm ánh linh quang của Thượng-đế ắt phải chịu u-ám, tối tăm,  gọi là cõi Phong-Đô, Địa ngục.

Xưa Vua Phục-Hi là một nhà thông-minh huệ trí, ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét: Một nét liền tượng Dương  một nét đứt tượng Âm  (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Cả thế-giới hữu hình lẫn vô hình, chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như cha và mẹ trong gia-đình; vạn-vật là đực cái, trống mái.

Người dân-tộc Campuchia hay Chàm họ cũng biết đến hai ngôi này, họ cũng lấy vật Tổ để thờ gọi là Cái “Linga” tức là hình ảnh “chày đặt lên cối” cũng là hình ảnh Âm Dương, nhưng suy-nghĩ của họ còn nằm trong thời ấu-trĩ, tức là còn bán khai, chưa tiến-hoá.

Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi (Lưỡng nghi tức là hai ngôi Âm Dương), cũng gọi là Kiền Khôn.

Hai ngôi tác-dụng lên nhau thì có biến-hoá. Sự biến-hoá ấy giống như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa-học gọi là theo luật song tiến-số. Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái; Bát-Quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền-Khôn thế giái.

2-Thành lập nên quẻ Kiền 

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn: thêm âm, thêm dương lên ngôi Dương thành ra hai nét dương  gọi là Thái-Dương số 1, lấy Dương làm gốc, cho một âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là  gọi Thiếu-âm số 2.

Bấy giờ đến ngôi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy âm làm gốc,thêm dương lên sẽ có một dương một âm 

gọi là Thiếu-Dương số 3, tiếp-tục thêm âm sẽ có hai âm   gọi là Thái Âm số 4. Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là Thái dương số 1, Thiếu-âm số 2, Thiếu dương số 3, Thái-âm số 4. Gọi là tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi.

Vạn-vật biến-hoá không ngừng, thế nên Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên. Tức nhiên lần này Tứ tượng biến Bát-Quái,gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới, Ví như:

Thái-dương qua hai lần thêm dương, thêm âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN

Kiền vi Thiên (Kiền là trời) là quẻ số 1.

Lần sau thêm lên nét âm thành quẻ ĐOÀI    tức là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm, ao…

Thiếu-Âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY   Số 3, Ly vi hoả (ly là lửa), tiếp theo là quẻ Chấn vi Lôi số 4, CHẤN   là sấm.

Thiếu-Dương cũng qua hai lần biến sẽ có quẻ số 5 là TỐN  Tốn vi phong (Tốn là gió). Quẻ số 6 là  Khảm vi thuỷ, KHẢM  (Thuỷ là nước).

Thái-Âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN  số 7 và KHÔN   số 8

Bát-quái đã thành hình, theo thứ-tự là: Kiền 1, Đoài 2,  Ly 3,  Chấn 4,  Tốn 5,  Khảm 6,  Cấn 7,  Khôn 8.

3- Bát thuần  八 純 là gì?

Bát là tám, thuần là tinh ròng, là không có pha trộn. Bát thuần ở đây là chỉ tám quẻ ròng một thứ kết hợp với nhau. Trong giai-đoạn này là chỉ bàn qua các quẻ kép mà thôi, tức nhiên do hai quẻ đơn cùng tên đặt chồng lên nhau. Như: Kiền đặt lên kiền thành ra Thuần-Kiền

Tương tự là Thuần-Đoài        Thuần-Ly

Thuần-Chấn Thuần-Tốn  Thuần-Khảm      Thuần-Cấn      Thuần-Khôn

Như vậy chỉ có 8 quẻ được gọi là Thuần nên chính

nó có đủ đức tính của quẻ mà nó mang tên và danh gọi không đổi. Ngoài ra đối với các quẻ khác là sự hợp quẻ, cho nên tên gọi của nó là do nghĩa của hai quẻ kia mà thành. Thí-dụ:

Kiền vi Thiên đặt lên Đoài vi Trạch sẽ có một tên mới là Thiên Trạch Lý

4-Nhận xét: Trong 8 quẻ đơn thì chỉ có Kiền là đứng đầu hết là số 1. Gọi là Kiền tam thiên tức nhiên là quẻ Kiền vi thiên, có 3 nét liền.

Nếu là quẻ kép thì nhân lên 8 lần thành ra 64 quẻ

(8 x 8)  Bát-thuần Kiền vẫn đứng đầu là số 1.

Tính chất con số 1:

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, có tính cách chuyên nhất và cầm quyền vi chủ, chỉ cơ động, thái quá. Do lý Thái-cực sanh ra nên nó nhiệm-mầu hiện biến. Nó thuộc về ngôi Phật, chủ quyền cai trị và giáo-hoá vạn-linh.

Số 1 thuộc bản thể Hư-linh sản xuất nên có quyền thống trị Càn-khôn. Quyền vi chủ có 1 mới hoàn-toàn.

Số 1 tượng ngôi Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế Giáo-Chủ nền Đại-Đạo về phần vô-vi.

 

 

20 –KHẢO 拷

Khảo 考 có nghĩa là thí nghiệm. Nhưng nếu có thêm bộ thủlà cái tay nữa tác động vào là đánh tra, làm cho đau đớn, khổ sở. Là một sự thử thách lớn với người tu

thường gọi là khảo thí, như câu:

Khảo thí lọc lừa tường hắc bạch,

Chung tâm hiệp sức thoát cơn nguy.

            (Đức Nguyệt Tâm Chơn nhơn)

Sự khảo Đạo 拷 道 đó được Thất-Nương Diêu Trì Cung giải-thích khi được cầu hỏi; Bà nói:

“Em tỏ sơ mỗi khi trong mình mấy anh có điều chi khác hoặc đau lạ kỳ hơn kẻ khác,  xin mấy anh không nên phiền muộn, ấy là các Đấng chuyển đấy đa !

           “Sửa tâm luyện tánh, tắm sạch phách hồn cho tinh chuyên, trong mấy điều sửa đó, phải chịu hành xác chút đỉnh: ấy là phận sự của kẻ chỉ giáo; còn phải chịu cho vị Giám-khảo hỏi nữa  nghe !

 “Trong ban khảo hạch lại chia ra làm hai ban khác nhau:

 -Một ban khảo thí tinh-thần,  một ban khảo thí  vật-chất.

           Phải biết phân biệt, hai ban này có lộn Quỉ-Vương nữa đa, vì Đức Chí-Tôn cho lộn chúng nó (xin Cô giải nghĩa giùm khảo về tinh-thần và khảo về vật-chất) ?

           – Khảo về tinh-thần là làm cho trí não mờ-mệt, biếng nhác, hay quên, quạo-quọ,  bị kẻ khác sỉ-nhục tên tuổi mình.

           – Khảo về xác thịt thì đau té, có khi phải chịu chúng dọi đầu, gia-đình lộn xộn xào-xáo chẳng yên. Đó là Em kể sơ qua, phải dễ đâu !

           “Hữu duyên đắc ngộ, vô duyên muôn kiếp bất tương phùng”.

           Biết Đạo-mầu, dầu nhà triệu phú muốn nài đổi cũng chẳng  thèm; thanh thì bần, trược thì phú. Có phân cây mới tốt, mà phân vẫn là chất trược.

           “Phép này dễ học hơn hết !

           “Hễ mỗi lần  xác phách muốn làm điều chi thì mấy

anh  tự hỏi coi điều này Ông Trời làm đặng chăng?”

Bà Đoàn có thơ:

Cây trăm thước bắc qua bến khổ,

                        “Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ”.

Nhưng đấy là về cá nhân, ngày nay là ngày cuối của thời Hạ nguơn thì đến ngày lọc lừa của Thượng đế. Thánh giáo của Chúa nói rằng “Ngày phán xét cuối cùng” cũng gọi là Đại khảo. Thế nào là Đại khảo?

            (Đại là lớn, khảo là duợt, là thử thách). Đại khảo là một cuộc thử thách nặng nề. Người Đạo mà thiếu đức tin, thiếu tinh thần đạo đức, không nắm vững giáo lý, giáo pháp của Đạo Thầy thì rất dễ bị lung lạc, sa ngã, rồi khủng khiếp hơn nữa là phá Đạo, hại Đạo, phản Đạo…làm mất danh thể Đạo. Nhưng Đại Khảo cũng là một sự thanh lọc Thánh Thể của Chí-Tôn: Thánh ra Thánh, phàm ra phàm không cho lẫn lộn. Mục đích để lập lại đời Minh đức, Tân Dân hầu nền Đại-Đạo mới phổ truyền ra khắp toàn cầu Thế giới như lời Thầy đã dạy:

“Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc.

“Chủ quyền Chơn Đạo một mình TA”

Sau đây là Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi của Đức Lý Đại Tiên giáng dạy:

“Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy Nam Nữ phải để tâm cho lắm. Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn lành cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảonày: Chư Đạo Hữu phải giữ trai giới cho được 10 ngày đổ lên y như Tân Luật, thì mới mong sống sót. Trận đại họa này không riêng cho Thánh-Điạ tại Việt-Nam Quốc mà chung cho cả đia cầu, Thảm! Thảm! Thảm!

Hạ Nguơn là Nguơn mạt kiếp, Nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ Hạ Nguơn: Hạ là dưới thấp, sau cùng là chữ Hạ gồm ý nghĩa: Tệ, Suy, Tàn, Hoại, là diệt chủng đó. Hạ Nguơn là Nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo Hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo tới giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới …Họa …Thảm!  Cả Thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, cả vinh hoa phù phiếm trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng. Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh-danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm. 

Thầy hằng thương con dại mới mở Đạo Kỳ Ba mà vớt chúng sanh. Hại thay ! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ, ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa, Họa! Thảm. Thảm …Ôi ! Lão vì lòng Từ-bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo mà chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nên Đạo Thầy mới ra nông nỗi. Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai. Khổ ! Khổ ! Khổ ! Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào hay đâu họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại  khảo…  Khảo……Khảo…(Thăng)

 

 

21- KHÍ 氣

Sự hanh Thái là tượng cho Khí Âm Dương giao hòa nhau trong trời đất làm cho vạn vật cùng hít thở.

Vậy Khí là gì?

Chữ khí 氣 thuộc bộ mễ 米  âm khí气, tức nhiên đây là cách nấu gạo hay nếp gọi là mễ, đun lên cao độ cho nó bốc hơi thành khí. Trong cái kỹ-thuật nấu ấy người ta hứng lấy chất hơi ngưng đọng lại, cái KHÍ ấy gọi là Rượu dùng vào việc cúng kính, cũng là một trong ba bửu: Bông (Tinh), Rượu (Khí), Trà (Thần) dâng về Thiêng liêng là Tiên Tửu.

– KHÍ  氣  là nguyên-uỷ của vạn-vật hữu hình.

Khí này đã bao trùm vũ trụ ngay từ lúc còn trong  trạng thái đầu tiên chưa động tĩnh: lớn nhất không gì ra ngoài nó gọi là đại nhất. Nhỏ nhất thì không nơi nào, vật nào mà vào được bên trong của nó, gọi là tiểu nhất.

Để mô tả cái Khí bao trùm vũ-trụ là cái khí đầu tiên tức là nguyên-khí, từ đó sinh ra vạn-vật và con người đó là chí đại. Đến như chí tiểu thì trong mỗi vật dù là chỗ nhỏ đến đâu nó cũng chỉ là một dạng khí hoá, khí này gọi là Vô cực. Nó là cái làm cho “vật là vật” “người là người”. Từ đó người xưa đánh giá cấp bậc khí-hoá ở mỗi vật hay ở mỗi người.

Khí ở trên trời đến lúc sẽ thanh tịnh, quang minh, dầu rằng cái “Minh đức” vẫn luôn luôn ẩn tàng, nhưng lúc nào cũng “kiện vận bất tức” Nghĩa là đi mãi mà không ngừng nghỉ. Kinh nói: “Thời thừa lục Long. Du hành bất tức”  là do đó.

Ôi! Thiên khí gíáng xuống, địa khí thăng lên, tạo

thành quẻ Địa-Thiên Thái, sự vận-hành và dụng sự của nó không bao giờ ngơi nghỉ cho nên không cần đợi đến lúc hạ xuống mới có. Ở đây người xưa muốn nói rằng Thiên-khí phân bố ở khắp nơi, hoá sanh vạn-vật; nhưng cái thể, cái vị của nó vẫn tôn quí cao thượng. Thiên-khí rất quang minh, ban ngày nhờ nhật, ban đêm nhờ nguyệt đem lại nguồn sống cho muôn loài.

Phật-Mẫu ban sơ đến Hiệp-Thiên-Đài

làm MẸ của chữ Khí tức là khí sanh vạn-vật.

Ngài lấy nguơn-pháp trong chữ KHÍ biến thành Càn Khôn vũ-trụ, chữ Khí tương-quan trong Hiệp-Thiên Đài, nên Phật-Mẫu trước đến Hiệp-Thiên-Đài thuộc Pháp tức là Toà ngự của Người, rồi sau mới lập Cửu-Trùng-Đài. Người đến gọi mình là Bạn của chúng sanh, tự xưng Thiếp, đem Bí-mật  từ thử chưa ai nghe đối với Chí Tôn thể nào, nói rõ không kiêng phép Ngọc-Hư, vì để tạo gia nghiệp cho con cái của Người, thì Người có quyền nói, không ai cản được nỗi. Buổi nọ, Đức Phật-Mẫu nói: Ngày nào Bà Thân của Đức Thượng-Phẩm qui vị là ngày ấy thành Đạo: trước ngày Vía ấy Đức Phật-Mẫu giảng Đạo có dùng tiếng “MẸ” con xưng hô cùng ta tức là ngày thành Đạo nhằm Lễ Trung-Thu. Trước kia Đức Lý Giáo Tông không nói rõ nhưng chúng ta cũng hiểu là: Cao-Đài đã thành QUỐC ĐẠO”! 

Trong giây phút đây Cao-Đài đã được đưa vào Đạo-sử, toàn nhân sanh đều thấy Phật-Mẫu đến in ấn thiêng-liêng định thành nền Quốc Đạo của chúng ta vậy”

             (Đức Hộ-Pháp thuyết 14-8 Đinh-Hợi)

 

 

22- KHỔ 苦

Khổ là sự đau đớn làm cho người sống trong thế gian này nhiều khi đến nỗi không chịu đựng được. Chính nghĩa ra khổ là đắng. Như khổ qua là mướp đắng.

Về lý Ngũ hành thì vị “Khổ” hay là vị đắng này là do lửa đốt cháy một vật thành than thì sinh vị đắng. Người tu cũng vậy, muốn được thành công mỹ-mãn thì phải chịu được một sức khảo thí của đời gọi là khổ. Chính cái ánh sáng minh triết có được từ một sức chịu khổ mà nên.

Có câu “Thuốc đắng đả tật” là vậy..

Phân tích chữ KHỔ 苦 thấy có hai phần: phần chính yếu là âm CỔ 古 là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu 口) vẫn còn nhắc đến mười (thập 十) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo    là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ mà thôi.

Đức Hộ-Pháp nói: Đức Chí-Tôn “Ngài đến bồng nhơn-loại trong tay ru rằng: khối đau khổ tâm hồn của các con là tại các con đào-tạo chớ không phải của Thầy, khổ là do quả kiếp mỗi đứa giục khổ cho nhau; muốn diệt khổ không gì khác hơn đập đổ các đẳng cấp tâm hồn, thống nhứt nhơn-loại, nhìn nhau là anh em đồng máu thịt, cùng một căn bổn cội nguồn hầu chia vui sớt nhọc, biết tôn-ti nhau, kẻ trên không hiếp người dưới, không áp chế nhau; kẻ trí không hiếp ngu, hèn sang không phân biệt, mực thước tâm hồn, nhơn-loại phải đồng phẩm giá, đồng quyền năngNgày giờ nào nhơn-loại biết tôn trọng nhau, dầu sang hèn nhìn nhau là anh em cốt nhục, ngày ấy phương giải khổ không khó. Con nghe lời Thầy mà làm y như Thầy thì khổ ấy tự diệt. Nếu các con còn đau thảm thì đấm ngực nói: Khổ này do các con tạo, không phải do Thầy định tội đa nghe! Thầy đến chỉnh đốn tâm lý loài người: tránh tranh đấu tiêu-diệt lẫn nhau thì không còn hỗn loạn với nhau, thì tức nhiên diệt khổ chớ có chi đâu lạ

         “Cơ-quan giải khổ tâm hồn của Ngài là đó !”

Tuy nhiên, phương giải khổ về phần xác thịt cũng tối cần trong kiếp sống này đây:

         “Chí-Tôn đến đặng hiệp con cái lại một nhà của Ngài, trong Thánh-ngôn Ngài còn quả-quyết đó. Ngài đến tạo ra Tân-Thế-giới làm cho nhơn-loại Đại-ĐồngNếu sự tìm-tàng sắp xếp không đặng kết liễu thì Chí-Tôn sẽ thất hứa với con cái của Ngài mà chớ! Nhưng quả quyết rằng Ngài không bao giờ thất hứa, vì đã được  99 điều rồi Ngài đã thật hành vẹn hứa, không lẽ còn một điều nữa Ngài làm không đặng”  (TN I /81).

Đức Phật Thích-Ca đã tìm ra “Tứ Diệu Đề Khổ” nhưng chưa ai đánh đổ nó được. Thế nên con người sống đây là sống khổ. Một nhà thơ đã hóm hỉnh rằng:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?

Cảnh phù du xem thấy cũng nực cười.

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

Tiêu-khiển một vài chung lếu láo….

Nhưng “Tiêu-khiển một vài chung” để giải khổ  không phải là thượng sách, trái lại biến chúng sanh thành hạ cấp thì hơn. Duy có Đại-Đạo ngày nay đánh đổ cái “TỨ KHỔ” này được:

Đức Hộ Pháp nói: “Giờ phút này người tu là đem thân làm nô lệ cho nhơn loại, rồi có vui sướng gì với kiếp sanh mà cần sống, giá trị cái sống của ta khác hẳn hơn thiên hạ tưởng tượng, mà tưởng tượng cái chết của ta là buổi nghỉ ngơi, buổi hết cực, cái chết ấy chẳng phải do mình, mà do nơi Đức Chí Tôn định là tới buổi Đức Chí Tôn nói các con đã làm xong phận sự Thầy cho con về. Giờ phút này chúng ta đương ở Đền Thánh của Ngài đây, đương phụng sự cho Ngài đây, thì cái sống chết của chúng ta không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa. Và trong Tứ Khổ không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa: Ấy vậy “Tứ Diệu Đề” tức nhiên bài học, bài thi, của đề mục khổ, duy có Đạo Cao Đài giải quyếtnó, đánh mất nó, làm cho nó không còn giá trị chi nữa, tức nhiên chính mình và toàn cả con cái của Đức Chí Tôn hay tương lai Tôi nữa cũng vậy. Chúng ta trọn hiến thân làm Thánh Thể cho Ngài mà ta sống cho mình chớ không phải sống cho Ngài là không đúng; sống không phải sống cho mình mà chính là sống cho Ngài vì chính mình đem trọn cái sống ấy dưng nạp cho Ngài, mà tưởng tượng ta khổ thì tức nhiên Đức Chí Tôn khổ còn gì. Ổng không có khổ, mà lại sống vinh diệu quá, ta lại gặp thời kỳ này may duyên gặp được một cảnh sống lạ thường, sống về Thánh chất, sống về Thiêng Liêng, sống về Càn Khôn Vũ Trụ, sống về Trời Đất, sống dường ấy mà gọi là khổ sao đặng.! ?

Ấy vậy Chơn Pháp thuộc về Thể Pháp của Thiên Đạo Cao Đài ngày nay có lẽ phù hạp với tinh thần nhơn loại hơn các nền Tôn Giáo khác..”

 

 

23 -LÊ 

1- Đoán tính tự (họ tên người):

    Người mang quẻ Chấn có họ hoặc tên có chữ bộ mộc 木

– Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung 梨文忠 họ LÊ viết thành chữ Hán có dạng:   tức nhiên cấu tạo bởi các phần sau: phía trên là Hòa 禾 (cây lúa) họp với Đao 刂 và dưới là  bộ MỘC 木 Quả nhiên họ Lê của Ngài có  bộ mộc

2- Đoán số mục:

   Người mang quẻ Chấn có ảnh-hưởng các con số: 4, 8, 3.

– Quẻ Chấn số 3 là dương-số, lại là hướng cung Mão nên Chấn cũng là Càn; ba thành một, một mà ba. Vai trò này hết sức quan-trọng đứng vào Tam ngôi nhất thể. Số 3 cũng là Trời, “thay mặt Thầy mà dạy-dỗ nhơn-sanh” thế nên Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

Ngài hành-đạo vừa tròn 8 năm, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng tất cả đều có quyền thiêng liêng đã đặt định trước. Tức nhiên:

– Ngày khai Đạo 15-10- Bính Dần   (dl: 19-11-1926)

– Đức Ngài qui:   13-10-Giáp Tuất  (dl: 19-11-1934)

Đức Hộ-Pháp làm bài Điếu văn khóc Ngài có đoạn: “Từ năm Bính-Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê-Văn-Trung, Ðạo-tịch Thượng Trung Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là Phổ độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh giáo. Một mối Ðạo rất cao thâm mầu nhiệm mà chính mình Ðức Thượng-Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ nhen như Việt-Nam ta đây, thiết tưởng sự khó-khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 (1) năm trường, chẳng quản nhọc-nhằn, một tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

(1) 8 năm tròn, nhưng qua 9 cái móc thời gian.

 

24- MINH 明 (8 nét)

            Minh là sáng. Phân tích chữ Minh 明 thấy có hai phần: bên trái là chữ nhựt 日 cho ánh sáng ban ngày, bên phải là chữ nguyệt 月 cho ánh sáng ban đêm. Cả hai ánh sáng này gom lại là một nguồn sáng lớn

Cúng Tứ thời là luyện Thiên Nhãn:

 

 

 

 

Phải trải qua các giai đoạn để được chứng ngộ:

*-Khi ngồi Cúng đôi mắt hướng về Thiên-Nhãn-Thầy. Mắt trái gọi là nhựt  Mắt phải gọi là nguyệt  Mắt nhìn tâm động, nhận thức mọi vật nơi tâm, gọi là minh tâm 明心 tức là hai ánh sáng qui về một điểm do sự hồi quang, luyện dần sẽ được điểm sáng hơn. Minh  là sáng đây gọi là “Nhứt nguyên lưỡng cực” bởi vì trong chữ minh là một khối (nhứt nguyên) có hai phần âm dương (lưỡng cực). Ấy là chỉ con người đang sống trong thế giới Nhị nguyên, nghĩa là hễ có sướng thì có khổ, có vui tất có buồn. Chính vì lẽ đó mà con người phải tu để vượt lên trên sự sướng khổ, buồn vui ấy. Tuy nhiên Đức Hộ-Pháp cũng nói “Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc vui buồn thấm vào chân tánh”. Là có phần an nhiên tự tại.

*-Khi ánh sáng phản chiếu lại ấy là giai đoạn kết đơn  (đơn là điểm sáng màu hồng cũng gọi là Huệ nhãn, Tâm nhãn, Thần nhãn, Thánh nhãn) tùy theo trình độ tu tập. Chữ ĐƠN  là do chữ nhựt và nguyệt đặt chồng lên nhau  đó là con mắt thứ ba chính là Nhãn  đó vậy. Đây là điểm Đơn nhứt Thái-cực. Nghĩa là bấy giờ qui vào một điểm mà thôi.

Thế nên khi gọi là NHÃN thì chỉ có một. Do vậy mà Đạo Cao-Đài chỉ thờ một “Con Mắt trái” mà thôi. Mắt trái là Dương. Dương là chỉ ánh sáng tuyệt đối là Lương tri của con người.

Điểm Thái Cực này ở giữa hai chơn mày, do vậy mà người Ấn-Độ hay đính một hột sáng hoặc điểm một chấm đỏ, giả làm con mắt thứ ba.

Cúng kiến thường là đạt được sự minh tâm kiến tánh hay là hồi quang phản chiếu là đạt được sự sáng vậy.

Như thế hai con mắt đã biểu tượng bằng hai chữ nhựt 日nguyệt 月 .Khi ngồi Cúng có ba trường hợp xảy ra:

1- Thứ nhứt: nhựt nguyệt đặt liền nhau thành ra chữ Minh  minh là sáng. Nhìn vào cũng thấy rõ nhựt là mặt trời, nguyệt là mặt trăng, tức là mỗi loại cho một thứ ánh sáng khác nhau, bây giờ ghép hai chữ liền với nhau thành chữ Minh  là sáng vô cùng. Đây là luyện Tinh hoá Khí.

2-Thứ nhì: Nếu chữ Nhựt 日 đặt chồng lên chữ nguyệt月

thành ra chữ Dịch  là sự biến hoá. Đây là cốt tuỷ Kinh Dịch. Dịch 易 là biến đổi. Giai đoạn này luyện Khí Hóa Thần tức là phần trung gian tạo nên sự biến đổi cho hai giai đoạn 1 và 3. Có câu“Lễ bái thường hành Tâm Đạo khởi”  là vậy.

3- Thứ ba là Nhựt nguyệt đặt chồng vào nhau sẽ thành chữ Đơn 丹. Chữ Đơn  tức là Đơn nhứt Thái-cực là Tu đắc Đạo. Là luyện Thần huờn hư.

Nếu cứ mãi nhìn ra thì hoá ra vọng niệm. Nhưng đối với người tu thì chỉ hướng vào bên trong tâm hồn mà thực hiện câu Kinh Nhựt tụng:

    “Làm người rõ thấu lý sâu,

    “Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh”

Thử hỏi cái lý sâu đó nó nằm nơi nào mà mong sửa lòng trong sạch? Tức nhiên ta phải biết quí trọng những gì mà Thượng-Đế ban cho, nghĩa là phải phát triển điểm chơn linh hay là điểm linh quang cho sáng suốt. Có thế, tức là không dám khinh thường cái Tâm, bởi khinh thường cái Tâm là tất nhiên khinh thường Trời. Nhưng Trời thì chẳng ai dám khinh hết. Bởi quyền năng của Trời là ban sự sống cho muôn loài, mà muôn loài luôn hướng về Trời để nhận sự sống ấy, là KHÍ; mà khí tức là Đạo. Tức nhiên dù người hay vạn vật lúc nào cũng tìm Đạo là vậy.

Việc cúng kiến hằng ngày với mục đích là làm cho sáng đức tin, tức là sáng tỏ đức sáng của chính mình. Khi sáng tỏ được đức sáng thì tâm linh hoát nhiên khai ngộ.

         Tại sao cũng là con mắt mà khi gọi

Mục 目 khi gọi Nhãn 眼 ?

*Mục目là con mắt nhìn ra, cốt để thấy vật bên

ngoài, khoa-học gọi đó là cơ quan thị giác. Mắt phải có hai mới thấy rõ sự vật. Gọi là lưỡng mục

*Nhãn 眼 là mắt nhìn vào trong. Thường nói là con mắt thứ ba. Trước hết chữ Nhãn kết hợp bởi Mục 目 và Cấn 艮 là núi. Hình ảnh của Mắt khi nhìn ra bị núi chắn lại nên phải nhìn vào bên trong, tức là sự sáng bằng tâm linh còn gọi là con mắt thấu thị. Muốn có được con mắt thứ ba phải luyện, tức là hình thức cúng Tứ Thời, đó là luyện Tinh- Khí- Thần; mà trước nhứt là luyện Thiên-Nhãn (như các nhà thôi miên vậy). Nhờ cúng Tứ Thời thường nhựt nên được phát huệ đó là cách thức luyện đơn của các Tiên gia qua hình ảnh trên đây của người Đạo Cao-Đài:

Ý nghĩa việc luyện: chữ Minh 明 ở đây nghĩa là nhựt nguyệt hiệp lại mới có sự sáng, gọi là “nhựt nguyệt hiệp đồng minh”. Nhựt nguyệt chính là tâm và thận ở nơi ta, tâm là Ly ☲ người tu tiên gọi là “hống”, thận là Khảm ☵ gọi là “diên”.Khảm -Ly cũng là “huyền tẩn tổng trì môn”,nếu hai thể được dung hòa ký hợp thì trí huệ tự khai.

Con người khi Khảm (thận) và Ly (tâm) giao hòa thì sống, phân tán thì chết “Khảm Ly giao tắc sanh, phân tắc tử”. Còn “huyền tẩn” ở đây là âm dương, nhựt nguyệt có hợp mới được sáng “đắc kỳ minh”. Muốn minh phải dùng phép tụ quang khai Thiên nhãn. Đấy là phương pháp Cúng kiếng hằng ngày qua Tứ thời nhựt tụng, mà ngày nay Đạo Cao Đài đã áp dụng đó là một pháp tu Tiên:

“Phép Tiên Đạo tu chơn dưởng tánh”

Khi hai con mắt duy nhất chú vào một điểm Thần quang (Thiên Nhãn Thầy) thì chơn khí không còn phóng tán. Khi Thần được yên thì vọng thức khó sanh. Phép tụ quang là bước đầu của cơ sở để hồi quang phản chiếu vào trung huỳnh đặt nhãn tạng vào đấy thì hai khí: tâm thận triều viên, Khảm Ly giao hội, thủy hỏa ký tế, long hổ qui triều. Khi mà nhật nguyệt hiệp thành Minh thì khí Trung hòa huân kết thành Đơn (đan). Đơn ở đây là thể hỗn nhất hồn dung không còn thấy được hình dáng của nhật nguyệt, đó là minh đức, minh linh, đạt đắc diệu lý vậy..

Chữ Minh   ở đây là một bí quyết tối thượng, là chìa khóa mầu nhiệm mở cửa bí mật cho nguyên căn, sớm đặng nhập Thánh siêu phàm, tạo Tiên tác Phật. Muốn được trường sanh, muốn thoát khỏi luân hồi sanh tử, đoạn dứt vòng xiềng xích nhân duyên, cần phải tìm lại nguồn đầu, nguyên căn sinh ra trời đất vạn vật, nhận lại bản lai diện mục của chính mình, nghĩa là tìm ra manh mối và phăn dần về nguồn cội nguyên sơ để bảo toàn tánh mạng. Nguyên sơ là lúc chưa có trời đất, vũ trụ này chỉ là một khí hư không, ngưng kết thành một khối hồn nhiên, cực huyền, cực diệu. Khí ấy trong vô cực hiện ra Thái cực. Kinh rằng “Đại La Thiên  đế. Thái Cực Thánh Hoàng”

   Trong nền Đại-Đạo, Sự cúng kính đặt hàng đầu  tức nhiên hướng tinh-thần theo Thể-pháp của Thiên Đạo.

 

 

25- NIỆM  念

Niệm là nhớ, tưởng đến. Niệm  họp bởi chữ nhơn 人 và kế đến là nhị 二 sau cùng là bộ tâm 心 tức nhiên là bạn đồng sanh với nhau lòng ta luôn nghĩ đến gọi là niệm, nghĩa là thường nhắc nhớ hay tưởng nghĩ đến.

Về vấn đề tâm linh, tâm ta luôn gởi đến một Đấng

cao cả đó là cha mẹ thiêng-liêng là Trời đất,  bởi hai đấng này có đủ sức hộ trì ta, ban phước và tha tội cho ta, nên khi gặp điều khó-khăn ta nhớ ngay đến Đấng ấy, đó là sự cầu-nguyện hoặc là “niệm danh Thầy”.Câu niệm là:

“Nam-Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát”

Thánh-ngôn Thầy dạy (TNII/107)

              Thầy………………  ….  .1

Thành tâm niệm Phật……………2

Tịnh, Tịnh, Tịnh, Tịnh, tịnh,……3

Tịnh là vô nhất vật………………4

Thành tâm hành Đạo……………5

Một bài Cơ chính Thầy giáng dạy chỉ có năm câu thật đơn-giản. Ấy là một bài cơ ngắn nhứt trong các bài.

A-Giải-nghĩa:

           Câu 1 là Thầy tức là Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế hay là Đại-Từ-Phụ (ngôi Thái cực).

Câu 2: Người tu thường phải niệm Phật một cách chân thành, để không bị phân tâm, cho khỏi vọng niệm. Tức là tạo một sự cảm-ứng với Đấng Huyền-linh. “Thành tâm niệm Phật” ngày nay là niệm danh Thầy: một là để được giải thoát. Hai là những tội lỗi tiền khiên đều được bôi xóa.

           Câu 3– Năm chữ “Tịnh” cho thấy phương tu cần phải “bế ngũ-quan” tức là quên đi những việc phồn-tạp, mà năm giác-quan trong người lúc thanh-tịnh nó hay phóng túng, phải có cách giữ nó lại. Muốn tu sửa thì nên nhớ, người đạo-đức phải biết:

– Mắt (là cơ-quan thị-giác) người tu không nên thấy những gì không cần phải thấy (chánh kiến)

– Lưỡi (là cơ-quan vị-giác) không ham món ngon vật lạ, nói điều lành để tránh khẩu-nghiệp (chánh ngữ)

– Tai (cơ-quan thính-giác) không nghe những gì người đạo-đức không cần phải nghe (chánh định).

 Mũi (cơ-quan khứu-giác) không đòi hỏi những mùi hương lạ (chánh tinh-tấn).

 Tay (cơ-quan xúc-giác) làm việc chân chính, nhất là nên tránh các nghiệp sát (chánh nghiệp).

Trong Bát-chánh-Đạo người tu-hành nên gát bỏ những gì có thể làm cho mất thì-giờ, đồng thời tập thói quen tốt, mục-đích hướng tới điều: chân- thiện- mỹ.

 Câu 4: giữ sự thanh-tịnh đến mức độ cao, giống như mặt nước phẳng không sóng gợn, thì cõi lòng không xao xuyến, bấy giờ trí-huệ mới sáng suốt và thông-công được các cõi vô hình, đó là sự cảm-ứng với huyền linh. Dầu một Tôn-giáo nào hay một bậc chân tu nào, vẫn lấy tâm thanh-tịnh làm đầu mối cho việc tu-hành.

           Câu 5: khi đã thấu-hiểu được chơn-truyền đạo pháp phải đem ra để truyền-bá cho mọi người cùng thực-hành hầu đốt giai-đoạn thời-gian, thâu ngắn con đường đến Tây phương hơn. Có làm được như vậy là đã thực-hiện được ngũ-nguyện rồi:

 

B- Nghiệm về lý: con đường tu của Đạo Cao-Đài.

Xét câu Ngũ nguyện

           -“Nam-mô Nhứt nguyện Đại-Đạo hoằng-khai tức nhiên người Tín-hữu Cao-Đài phải làm sao cho mối Đạo ngày càng phát-triển, bành trướng mạnh-mẽ thêm. Có câu “Nhơn năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân”. Sự hoằng dương chánh-pháp là làm cho mọi người biết tu hành là để cùng hướng thiện và hướng thượng. Làm cho nhơn-sanh bớt khổ cùng sống vui trong  đời giả tạm này.

“Nhì nguyện Phổ-độ chúng sanh”: Lời tâm nguyện của người tu là muốn cho chúng sanh bớt điều nghiệt chướng, cầu mong cho nhân-loại giảm bớt đau thương vì chiến-tranh tàn-khốc. Sự đau thương chất cao như núi, nước mắt chúng-sanh nếu góp lại nhiều hơn bốn biển. Lời Phật Thích-Ca than như vậy. Ngày nay nhân-loại quá đau thương, xin cùng nhau nối tình thương lớn. Nguyện thế giới sớm hiểu Đạo Trời để được sự cứu rỗi.

          “Tam nguyện xá tội Đệ-tử lời cầu: xin Thiêng liêng xoá bỏ tội-tình kiếp trước hoặc do vô minh mà đã gây ra, hiện tại không gieo thêm nữa để khỏi gặt hái đau thương; đồng thời chính mình cũng bỏ lỗi của người khác, tức là quên đi những thù hận, ích-kỷ, nhỏ-nhen, cuộc đời ngắn ngủi này có nghĩa gì đâu!

“Tứ nguyện thiên-hạ Thái-bình”. Nếu thiên-hạ được thái-bình là toàn cầu được thái bình, nhà nhà đều hạnh-phúc, thay súng đồng, gươm máy bằng phi đạn tình thương để không còn thấy cảnh nhà tan, cửa nát, chết-chóc hằng ngày nữa. Máu và nước mắt chúng sanh thôi chảy.

Ngũ nguyện Thánh-thất an-ninh Thánh-thất đây chính là cõi lòng của mỗi người được bình-an, vui-vẻ Thể hiện trong cảnh sum-họp gia đình, loáng ra xã hội, thế giới đều được hạnh phúc trong cuộc đời tạm này.            Có giữ được cõi lòng thanh tịnh như thế ấy tức là giữ được Ngũ-giới cấm vậy. Thế nên sự tu hành bất cứ hình-thức nào hay tùng theo một Tôn giáo nào, bậc nào cũng phải có sự xét mình nghiêm túc như vậy. Chắc chắn không còn mật pháp nào hay hơn, vì đó là căn-bản của người tu. Quan-trọng nhứt là câu nguyện thứ năm, vì nó đã đi vào cõi lòng của người rồi. Một khi khí tịnh, thần an thì không còn nghĩ đến sự xung-đột nào cả, người người đều nắm chữ “nhàn” trong tay thì lo  chi thế giới không  hòa bình,

nhân sanh không an-lạc?

Sự tu-hành có giá-trị ở sự Xét mình vậy.

            Thầy dạy: “Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phân-sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương-tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương-tâm chưa đặng yên-tịnh, thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu-ý đến sự sửa mình ấy, thì lấy làm may-mắn cho nền Đạo; rồi các con sẽ đặng thong-dong mà treo gương cho kẻ khác. Các con thương mến nhau, dìu-dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó”.   (TNI/97)

Con người có 5 giác-quan: đó là ngũ quan hữu tướng. Phải có tư-tưởng tốt, hay là ý-tưởng mới có thể dùng nó mà Xét mình được; chính đây là lục quan vô hình, còn gọi là giác-quan thứ sáu.

Đức Hộ-Pháp cũng dạy rồi: “Hôm nay là ngày mở cửa thiêng-liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên-nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình, hai món Bí pháp ấy là:

          1/- Long-tu-phiến của Đức Cao Thượng-Phẩm

          2/- Kim Tiên của Bần-Đạo, hiệp với ba vòng vô vi tức nhiên diệu quang Tam giáo hay là hình trạng của càn khôn vũ-trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ-quang-khiếu của chúng ta đó vậy. Con người có ngũ-quan hữu tướng và lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim-Tiên ấy mới có đủ quyền-hành mở lục-quan của mình đặng”

         Mà Kim-Tiên là gì? Là tượng hình ảnh của điển lực điều-khiển càn-khôn vũ-trụ, mà chính đó là điển-lực, tức nhiên là sanh-lực của vạn-vật đó vậy. Với nó mới có thể mở đệ bát khiếu- Trong thân con người có thất khiếu và còn có một khiếu vô hình  là Huệ-quang-khiếu – Vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được”.

Nói rõ ra cây Kim Tiên tức là cây roi Tiên có chín khúc (cửu khúc Kim Tiên). Số 9 đây là nói đến Bát-Quái Tiên-Thiên. Có 4 lần con số 9. Mà 4×9=36 tượng trưng 36 cõi Thiên-tào.

Thêm cây quạt của Đức Cao Thượng-Phẩm tức là Long-Tu-phiến, nghĩa là cây quạt được kết bằng 36 lông cò trắng. Con số 36 này là kết quả của thành số vừa nêu trên, cũng là ý-nghĩa của hai quẻ Càn Khôn vậy.

Đây là hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷ Nhìn vào số nét trong mỗi quẻ ta thấy quẻ Càn có 3 vạch, quẻ Khôn có 6 vạch. Như thế thì số 36 là nói đến hai quẻ Càn Khôn nằm trong Bát-Quái Tiên-thiên, chính Bát-Quái này là cánh cửa để đi vào Đạo-pháp.

Tóm lại muốn “rõ thấu lý sâu” phải thấu hiểu Bát Quái một cách tinh-tường.

C- Phân-tích chữ “Tịnh” qua 4 chiều không-gian:

Tịnh  là đối với động, là sự yên-lặng hoàn toàn, không nhiễm, không luyến bất cứ vật gì của đời, đại-khái như danh- lợi- tình; những thứ mà làm cho người đời say đắm: Vì ăn nên phải bị đọa, vì dâm nên phải bị đày, người đời cũng vì những thứ vật dục ấy khiến cho cõi lòng dấy động, nếu không biết giữ mình thì nó buông lung như ngựa không cương. Thử phân-tích qua bốn chiều không gian để thấy sự mầu-nhiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Khởi đầu là TINH  về mặt văn-pháp, Tinh có nghĩa là sự sống, khi sự sống có thì nó cùng đến, nói khác đi nó có mặt ngay khi sự sống bắt đầu; đó là TINH KHÍ.

Gốc chữ Tinh vốn là trạch mễ 擇 米 tức là lựa gạo

(chữ Tinh thuộc bộ mễ 米 mễ là gạo).Tinh còn có nghĩa là

lựa gạo để lấy những phần thuần khiết, cho nên mới có bộ mễ, nói rõ hơn Tinh là phần gạo ngon nhất, sạch nhất, sau khi đã chọn lựa kỹ. Ngoài ra còn đọc là thanh  tức là màu xanh, đó là màu bất biến. Sách Nội-kinh nói Tinh là phần khí-chất được sạch nhất, ròng nhất, trong thủy-cốc nó đóng vai trò quan-trọng trong quá trình tạo thành chân-khí, nguyên-khí và huyết-khí. Riêng con người, chữ Tinh mang một nội-dung cao hơn nữa, đó là Tinh của thiên địa. Bởi Tinh là cái“thiên chi nhứt, địa chi lục” 天之一地 之六

Thiên lấy nhứt sinh ra thủy, địa lấy lục thành thủy “Thiên nhứt sanh thủy, địa lục thành chi 天一生水地六 成之. Đây là quá-trình sinh thành của Ngũ-hành sớm nhất, vì vậy vạn-vật lúc mới sanh đều đến từ thủy. Ví như hạt của một trái cây lúc chưa chín đều có tính thủy (nước).

Một cái thai, một cái trứng, lúc chưa thành đều là thủy. Phàm con người có sự sống, cho đến côn-trùng, thảo-mộc, không loài nào không như thế.

Kinh Dịch nói: Nam nữ cấu tinh thì vạn vật mới hóa-sinh. Y-học cũng xác định: thường sinh ra trước thân (hữu hình) gọi là Tinh “Thường tiên thân sinh thị vị Tinh” 嘗先身生是胃精 Tinh còn mang một ý-nghĩa rất quan trọng trong  việc giao-hợp giữa âm dương, giữa huyết khí,

giữa trai gái, mà kinh Dịch đã đề cập đến.

Phàm con đường sinh thành của vạn-vật không có con đường nào không do sự giao nhau của âm dương để rồi Thần được minh vậy. Cho nên cuộc sống của con người ắt phải do sự hợp khí của âm dương. Tinh của cha mẹ đã cấu hợp nhau tức là dịch đã nói “Lưỡng tinh tương bác”兩 精相剝. Sau đó thì hình thể và thần khí mới thành. Nơi hợp khí của thiên địa gọi là nhân.

Hai tinh khí 精氣 của thiên địa, của trai gái, của Tiên-thiên, Hậu-thiên luôn giao nhau, đánh nhau đúng theo nhịp biến-hóa của khí Thái cực thì cuộc sống của con người sẽ có Thần . Vậy Thần là kết-quả hiển-nhiên của quá-trình khí hóa liên tục, tuần-huờn giữa lưỡng tinh trong thân-thể con người. Vậy Tinh và Thần là kết-quả kỳ-diệu của sự vận-hành khí-hóa trong thân thể người. Sự vận hành này phải theo những chiều vãng lai, nghịch thuận tạo thành vòng âm dương. Tinh là âm, Thần là dương vậy.           Đó là hiện thân của người mang đầy bản tính của trời đất.

           “Con người đứng phẩm tối linh,

           “ Nửa người, nửa Phật nơi mình anh-nhi”

Nhìn qua hình vẽ trên, thấy sự biến đổi của chữ Tinh, nó ở vào Thái-cực, là tâm, là nguồn khởi đoan của con người và vạn-vật. Sự cấu-tạo tế-bào tinh-trùng của người cũng như vạn-vật có phần giống nhau: nghĩa là tế bào họp bởi 1 nguyên-tử Dương và 9 nguyên-tử Âm. Thế nên cái sống hữu-vi này các nhu-cầu cần-yếu giữa người và vật đều giống nhau, từ cái đói ăn khát uống, cho đến sự truyền giống nữa. Nhưng người khác hơn vật và được gọi là người là nhờ có đạo-đức điều-khiển cho mọi hành-động. Có được vậy mới xứng đáng là “tối linh” vậy.

Thế nên ngày Vọng Thiên cầu Đạo, Đức Chí-Tôn dạy ba vị mỗi người cầm 9 cây nhang khấn vái, xin Đạo là tượng cái TINH của con người đó vậy.

          *Tính 性 là người đạo-đức phải biết tập sửa Tính  tốt, nó phải hướng thượng và hướng thiện, bởi dấu sắc là biểu hiệu sự đi lên: Tinh sắc Tính.

Sự kết cấu chữ Nho gọi là “Tính tự tâm sanh” 性自心生 (đây là lối chiết tự: tức nhiên chữ Tính  do bộ tâm họp với chữ sinh  Cũng là ý-nghĩa rằng bổn nguyên: Tính của người do tâm mà sinh ra.

*Chữ Tình  thì nằm ngang; ai cũng có tình cảm, tuy nhiên người có đến thất tình, người tu phải biết chuyển-hóa cho thất tình trở thành thất khiếu sanh quang (chữ tình 情cũng do lối chiết tự, tức nhiên do bộ tâm 忄họp với chữ tinh 青, còn đọc là thanh, nghĩa là phải có một thứ tình cao-thượng).

Chữ Tình cốt ở chữ Tính mà ra. Nhưng Tính thời tịch-nhiên bất động thuộc về phần thể. Tính là nguyên-lý sở-dĩ sinh ra người, cái bản nguyên về tinh-thần của người, bản chất của người hoặc vật. Tình thời cảm nhi toại thông thuộc về phần dụng, nên Tính thời khó thấy mà Tình thì có thể thấy được. Tình thiên địa cốt ở nơi vạn-vật sinh ra, mà tình vạn-vật cốt ở nơi ứng với thiên địa. Tỷ như gặp Xuân Hạ thì vật gì cũng sinh trưởng, gặp Thu Đông thì vật gì cũng ẩn tàng: Đó chính là tình cảm-ứng của thiên địa vạn-vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình của Thánh-nhân, nên không cần nói Thánh nhân chi tình 聖人之情 Vì Thánh nhân với thiên-hạ cũng như thiên địa với vạn-vật. Duy người có thấm nhuần triết-học thì mới nhận ra được. Tình có đến 7 mối ràng buộc lấy người từ khi mới lọt lòng mẹ nên gọi là thất tình.

Nhưng thật ra Tình cũng xuất hiện cùng lúc với “Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi” nữa kìa. Vì khi một chơn-hồn đến thế này dù được tự-do lựa chọn trong cái nhân duyên hay cưỡng bức vì oan-nghiệt đi nữa, cũng được cấu-hợp bởi thất tình do chơn-thần sản-xuất.

Phật-Mẫu tạo Chơn-thần này cũng như cho mặc vào 7 lớp áo để đến thế-gian. Sự cấu-tạo con người quan trọng là bởi Chơn-thần.

Chơn thần là đệ nhị xác thân tạo hình bằng nguơn khí của bảy từng thiên. Bỏ Tạo-Hóa-Thiên là từng thứ chín, linh hồn đến từng thứ 8 trụ thần quyết định đến thế gian nầy làm việc gì, kể từ từng thứ 7 mới tạo xác thân. Ta chia 7 từng làm 7 phách, Ðạo Giáo nói là 7 cái thi hài hữu tướng, 6 cái thuộc về khí chất, cái thứ 7 là xác thú nầy đây. Bảy từng có liên quan lạ lùng với thất tình 七 情

 

 

 

 

– Từng thứ 7, 6, 5 là ba tình:  Ái, Hỉ, Lạc  愛 喜 樂

– Từng thứ tư là Dục  欲

– Từng thứ ba là  Ai  哀

– Từng thứ nhì là Ố  惡

– Từng thứ nhứt là Nộ 怒

Tới từng chót, thì xác thịt là hiện tượng của Nộ giác. Ấy vậy, Bần-Ðạo chỉ rõ rằng ba tánh đức Trung- Hiếu- Nghĩa do ở tình ÁI phát hiện đó là cái tình độc nhứt có liên quan mật thiết với Chơn linh. Ta thấy con nít sơ sanh, thi hài chưa biết vi chủ, nó chỉ sống với Chơn-linh mà thôi. Khởi đoan nó chỉ biết Thương mến những kẻ gần gũi như cha mẹ; còn Chơn thần để gìn-giữ nó, cho nó biết tìm cái sống, bảo-tồn sanh mạng. Thật ra theo Ðạo pháp con nít từ 12 tuổi mới bị chịu ảnh hưởng của xác thịt, còn dưới 12 tuổi xác thịt chưa có quyền. “Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng ?”.

Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại”.

Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

           Bảy từng thiên có liên-quan với thất tình.       

*Bắt đầu từng thứ 7 thì kết vào tình HỈ (mừng)           *Qua từng 6 thì kết vào tình ÁI (yêu thương).

*Từng thứ 5 kết vào tình LẠC (vui).

Đó là ba thứ tình-cảm tốt  HỈ- ÁI- LẠC được duy trì cho thêm cao-thượng hợp đức của người tu.

*Qua từng 4 kết thêm tình DỤC (muốn).

Chính tình này nguy-hiểm nhứt, nó xây chuyển và quyết định sự đọa thăng của cuộc đời, bởi nó có thể dục lên hoặc dục xuống. Nếu hướng thượng thì gấm ghé ngôi Tiên

phẩm Phật, hướng hạ thì con đường đọa đày, thoái-chuyển

*Còn lại ba tình AI, Ố, NỘ thì lần-lượt xuất hiện ở

từng thứ 3, 2 và 1.

Chính từng nộ-giác là xác hài này đây, cho nên người đời rất dễ giận-hờn. Còn ba tình-cảm cao-thượng lại lẫn khuất vào trong, vậy người tu là phải biết bỏ giả tầm chơn, khổ công luyện tập sửa đổi tánh tình hằng ngày là vậy. Ở nơi người, đạo nhân-luân là trọng, nếu không biết tự-trọng thì nhân-quả buộc ràng khó tránh khỏi. Chính 7 dây oan-nghiệt buộc ràng mà nhiều chơn-linh bị đọa chưa bao giờ thoát qua được cửa luân-hồi sanh tử. Chữ Tình lắm trái-ngang và nhiều rắc-rối, một chơn-hồn muốn được nhẹ-nhàng siêu-thoát thì phải biết Tĩnh tâm, tịnh thần mới mong nhập vào đại ngã.

          *Tĩnh 靖 cũng là Tịnh 靖 vậy. Tịnh là sự yên-lặng hoàn-toàn. Qua bốn chiều không-gian thì chữ Tịnh  ở dưới cùng như nước lắng đọng trong lòng giếng. Nhưng nếu được “giếng Nhân-nghĩa” thì hạnh-phúc cho cuộc đời, bằng trái lại gặp giếng cạn hoặc đục cũng không ơn ích gì!

Bà Đòan-thị-Điểm có dạy phương tu trong Nữ Trung tùng phận (Câu 1249-1252) rằng:

Bế ngũ-quan không kiên tục tánh.

Diệt lục trần xa lánh phàm tâm.

 Mệnh Thiên giữ vững tay cầm,

Đọat phương tự diệt giải phần hữu sinh”

Chữ “Phi” tượng Thất tình

 

 

Chữ 非 có nghĩa là không (0). Nếu chia làm hai phần bằng nhau, thì mỗi bên có 3 điểm: xem như âm dương, cao hạ, tức nhiên 3 tình: Hỉ- Ái- Lạc là ba thứ tình hướng thượng (dương) được đề cao, ba tình Ai- Ố- Nộ là ba tình hướng hạ (âm) cần phải sửa đổi. Duy tình Dục này đứng ở giữa, nghĩa là nếu biết đạo-đức thì nó dục lên, thiếu đạo-đức nó dục làm điều quấy. Vậy người tu là biết xét mình để “sửa lòng trong sạch”.Nếu dưới chữ phi có chữ tâm thành ra chữ Bi  là buồn, gọi là phi tâm. Tất nhiên người được gọi là phi tâm là một Đấng cao cả như Phật Quan-Âm gọi là Đấng Đại-từ, đại-bi, tức nhiên Bà là vị Phật có lòng quảng-đại, Bà buồn trước nỗi buồn của chúng sanh, Bà cứu khổ cứu nạn trước khi chúng sanh kêu cứu, còn chúng sanh Bi là chỉ biết riêng đau khổ thôi.

Ngày nay Bà là một Đấng được Đức Chí Tôn chọn làm Nhị Trấn trong Tam trấn Oai nghiêm để nêu cao đức: BI- TRÍ-DŨNG hầu đem lại thái-bình cho nhân-loại.

               D- Nghiệm về SỐ:

Các câu trên có các số chữ ứng vào các con số thật là huyền-diệu. Thử giải lý một vài con số tượng-trưng: Cả thảy có 5 câu ứng với Ngũ-hành.

Câu 1: có 1 chữ Thầy” ứng với ngôi Thái-cực

*4 câu sau ứng vào Tứ-tượng.

Câu 2 có 4 chữ, câu 3 có 5 chữ, ấy cũng là phương tu của Đạo Cao-Đài, Tân-luật đã qui định về đạo nhơn luân:

Nữ thì Tứ đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) với Tam tùng là tùng phu, tùng phụ, tùng tử.

Nam phải giữ Tam cang Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) là nguồn cội Đạo.

 Câu 4 có 5 chữ, câu 5 có 4 chữ ấy là về  Đạo-pháp là:

-Hễ nhập môn rồi phải trau-giồi tánh hạnh, cần giữ

Ngũ giới cấm và Tứ đại điều-qui.

Tóm lại: Nếu so-sánh với các lời dạy trên thì:

Câu 1  có 1 chữ, ứng ngôi Thái-cực.

Câu 2 (4chữ) là gái gìn     Tứ đức (tứ Âm)

Câu 3 (5chữ) là Nam giữ  Ngũ thường                                        (thuộc Ngũ hành âm)

Câu 4 (5chữ) là tu-hành thì giữ Ngũ giới-cấm.

(Ngũ hành dương)

Câu 5 (4chữ) phải biết tôn-trọng Tứ đại điều-qui

(Tứ dương)

Những con số ứng hiệp trên tạo thành một Bát quái Đồ Thiên, đồng thời còn ngụ cả một nguồn Giáo-lý cao siêu của nền Đại-Đạo.

Tại sao có lời dạy nghiêm-mật ấy?

Bởi “Đạo Thầy là nền Đại-Đạo do chính Thầy đến lập là Đấng Chí-Tôn Ngọc-Hòang Thượng-Đế, tá danh  Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát. Ngài đến giáo Đạo tại Nam-phương, xưng mình là Thầy, kêu cả tòan Môn-đệ là con cái của Ngài”.

Thầy dạy: “Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe!. Các con phải giữ phận làm vừa ý Thầy muốn. Ngày sau sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy

              E- Lý Dịch trong lời dạy:

Trước nhất thấy rằng đây là một bài Cơ của Đức Chí-Tôn giáng dạy ngắn nhứt, giản-dị nhứt và cũng sâu sắc nhứt. Câu “giản-dị nhi đắc thiên lý” đúng vào trường hợp này vậy.

Nếu đếm số chữ thì chỉ có 5 câu ứng với Ngũ hành.

Câu đầu chỉ có một chữ “Thầy”, số 1 đó là ngôi

Thái-cực Thánh Hoàng, vi-chủ là Thầy, là Thượng-Đế. Vì:

Thầy là Chúa cả càn-khôn thế-giới, tức là chúa tể

sự vô-vi, nghĩa là chủ-quyền của Đạo, mà hễ chủ-quyền

của Đạo nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy.”

Câu 2 và 3 hiệp lại bằng (4+5)=9. Cũng như câu 4 và 5 hiệp lại (5+4)=9. Tức hai con số 9 (99) gọi là “cửu cửu”.

Sấm ký Đức Trạng-Trình

Cửu Cửu Càn-Khôn dĩ định.

Thanh-minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo Dương đầu Mã vỹ,

Hồ binh bát vạn nhập Tràng-an.

Có nghĩa rằng: Trời đất định rằng chín lần 9 là 81, vào Tiết Thánh-minh sức Dịch đã gần như phai tàn. Đến dầu năm Dê (dương đầu) và cuối năm ngựa (mã vĩ) 1954 có tám vạn binh của cụ Hồ tiến vào kinh đô chấm dứt ách nạn Việt Nam phải chịu 81 năm nô lệ của thực dân Pháp

Tất nhiên con số 9 có một giá-trị nhiệm mầu trong lý Dịch, phi thời-gian. Nay là buổi cuối Hạ-nguơn Tam chuyển sắp bước vào Thượng-nguơn Tứ chuyển, Đức Chí Tôn mở Đạo đồng thời “bày tất cả bửu-pháp” để chuẩn bị cho mùa hoa Đạo nở. Đó là định-luật: Hoa bên ngoài tàn rụng đi để cho Hoa Đạo nở kết thành khối yêu thương lớn.

Lại nữa, về lý Dịch thì khi các quẻ kép đặt theo chiều xuyên tâm đối có tổng-số là 99.

Ví dụ Bát-Thuần Kiền là 11 hiệp với Bát-Thuần Khôn 88 sẽ có tổng số là 99. Tương-tự như vậy có đến 32 cặp âm dương đều có tổng-số là 99 như thế (sẽ bàn sau). Về đất nước thì Đảo Phú-Quốc có 99 hòn tất cả, Tây ninh – Sài-gòn cách 99 km, có phải là sự ngẫu nhiên chăng?

           4 câu sau  gọi là Tứ-tượng, nhưng hiệp lại chỉ còn hai vế ứng với Lưỡng-nghi,  từ đó mới trở về Thái-cực là 1 chữ (Thầy).

 

 

26- NGỌC 玉

NGỌC玉 là dạng chữ VƯƠNG 王 nhưng có thêm một chấm ở phần dưới, nếu nét chấm ấy đem đặt lên trên đầu của chữ, sẽ thành ra chữ CHỦ 主 (chúa), họăc cho nó biến đi tức là hòa nhập vào bên trong thì thành ra chữ VƯƠNG.

Thế nên khi nói Ngọc  là chỉ chung vàng bạc, ngọc ngà, đá quí, là của cải quí báu ở trong đời.

Thầy hỏi: – Của cải ấy gồm những gì?

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường. Hồng là một chất màu; Còn Lục là chất do loài vật cấu thành ra. Các  con xem của ấy là quí giá thật sự sao?

Xét từ nơi sản xuất ấy, đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cữu. Của quí ấy không ai cướp đặng cả.

Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu  nhờ nơi sự gian trá.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách.

(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm phẩm tước của cải và danh vọng của Trời?).

– Thấy trả lời: “TU”.

– Tu là chi ?

Thánh ngôn dạy rằng:“Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng-liêng”.

Tu để đến được với Trời, là Đức “Ngọc Hoàng giáng thế Giáo Đạo Nam phương” Ngài đã đến  nói:

                                

 

THI

Ngọc  ẩn Thạch kỳ ngọc tự cao

Hoàng  Thiên bất phụ chí anh hào

Giáng  ban phúc hạnh nhơn đồng lạc

Thế  tạo lương phương thế cộng giao

Giáo  hóa nhơn sanh cầu triết lý.

Đạo  truyền thiên hạ ái đồng bào.

Nam  nhơn tỉnh cảm sanh cao khí

Phương  tiện tu tâm kế diệt lao.

Ngài xưng vừa là Thầy mà cũng vừa là Cha của nhân loại:

Đêm 17-12-1925: một Đàn Cơ do ba ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, cầu:

“Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Muốn TA truyền Đạo, kể từ bây giờ phải gọi TA bằng THẦY  và TA gọi lại là các con, nên mới có câu “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Ngày 9 tháng giêng năm Giáp Thân (dl: 2-2-1944):

Thầy nói: “Kỳ nầy là chót, Thầy lập nơi đây một Trường thi công quả và cho các Đấng khảo đủ phương diện. Thầy đau đớn thấy các con còn đặt mình chung cùng danh lợi. Đây cũng đến kỳ Tận Thế, đổi cựu thay tân, tuyển bực đại hiền cứu thế. Các con cũng còn nhớ những lời Thầy dạy lúc mới lập Đạo, Thầy tưởng cũng nên lập lại một lần chót cho các con nhớ: “Thầy là các con, các con là Thầy. Chư Phật, Thánh, Tiên cũng là các con, các con là Phật, Thánh, Tiên  tại thế”.  Vậy các con hiểu Đạo thì các con tập tánh sao cho ra vẻ, cho đúng in như các Đấng vậy. Thầy đã cho các con biết trước: “Thầy cho các con đắc Đạo tại thế”. Nay muốn tầm lên cao thì phải lập công cho cao, chí cho bền, đi cho vững, leo núi chớ than mệt, thuyền ra khơi đừng lo biển rộng, dầu sóng gió thế nào cũng vẫn tươi cười đặng lướt qua  khỏi bể. Nghe cùng tuân lời các Đấng dạy răn.Thầy khuyên các con đừng sanh nạnh cùng nhau, co đầu cứng cổ, e phải bị tội  lỗi  đa nghe!.” Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

Thầy đến độ kẻ vô Đạo:

Đàn Cơ ngày 23-11-Bính Dần (Thứ hai 27-12-1926)

“Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới, mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày Tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ vương sắp đến. Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo Thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, Thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày Tận Thế đã đến. Thầy đã tạo Thánh giáo trọn đủ Pháp luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô đạo chớ không phải sửa đạo.  Con hiểu à !”  (ĐS. II. 123 -125)

 

 

27- NGHĨA 義

            Phân tích chữ Nghĩa   thấy có hai phần:

Phần trên là chữ Dương 羊 là con dê, phần dưới là chữ ngã 我 là ta (c’est-à-moi). Dê là một trong ba con vật người xưa thường đem ra tế Thần linh, tế cả Trời đất nữa, như Đàn Nam-giao còn dấu tích, hình ảnh nơi Cung Đình Huế còn đó. Ba con vật đem tế sống như vậy gọi là Tam sanh: Trâu, Dê, Heo. Mỗi một vật này nó phải chịu hy sinh mạng sống thay cho giống loại của nó mà cúng tế, đó là

một việc làm có ân nghĩa vậy: tức là tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Thế nên khi hai chữ này đặt lên nhau thành ra chữ NGHĨA 義 là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự.  Đức Hộ-Pháp nói:

Tại sao ta có Nghĩa? Tại sao Nghĩa lại hiện tướng trên tánh đức của một chơn-linh cao trọng?

Nơi cõi Hư-linh mỗi người có một gia-tộc, một đại nghiệp, Anh em đông biết bao nhiêu. Bần-Ðạo xin nhắc lại câu nầy cho toàn cả hiểu điều yếu trọng: Chẳng phải vì sự tình cờ mà chúng ta được chung đứng trong lòng của Ðức Chí-Tôn ngày nay đây. Biết đâu trong 24 chuyến thuyền Bát-Nhã chở các Nguyên-nhân hạ trần đặng làm bạn và độ rỗi các Hóa nhân và Quỉ-nhân, lại không có chúng ta ngồi chung trong đó. Ðã từng chia đau sớt khổ cùng nhau chẳng những trong thế giới nầy mà trong các thế giới khác nữa. Ðã từng chung sống cùng nhau, cái thâm tình vĩ đại đã nhiều. Nếu cả thảy không nhớ lời nầy của Bần-Ðạo, đến khi linh hồn xuất ngoại rồi sẽ ân hận biết bao nhiêu, mà chừng ấy đừng trách Bần-Ðạo không chỉ trước. Không thương yêu nhau cho trọn nghĩa là lỗi tại mấy người đa ! Chớ không phải tại Bần-Ðạo không nói !

Ban sơ, nơi cõi Hư linh, thọ nhứt điểm linh đến thế nầy tạo ngôi vị, làm bạn với biết bao nhiêu chơn-linh khác, dầu nguyên do của mình là Thảo mộc hay Thú cầm cũng phải có nhiều bạn, chừng nào đạt đến địa vị mới biết bạn nhiều. Người Nghĩa ta có nhiều ở mặt thế nầy, lo tìm người Nghĩa đặng tương liên cấu hiệp tâm tình trong cảnh

khổ não, truân chuyên chịu hình thử thách nầy.

 

28- NGỤC  

        Ngục 獄 là nhà giam: gồm có bộ khuyển犭là con chó, thêm phía sau là chữ khuyển 犬, ở giữa là ngôn 言  lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Người giữ ngục hầu như cũng mất tính người! Nhà tù là để trừng giới kẻ trái pháp-luật. Ngày nay quả thật nhà tù là địa ngục ở trần gian, hình như không thiếu một hành động dã man nào mà không có ! Nhà tù là nơi giam cầm kiên cố và người tù bị đối xử tệ bạc. Theo Hán Việt thông thoại, nhà tù do ông Cao-Dao đời cổ dựng ra. Vì có những chuyện vượt ngục, thoát tù, cho nên nhà tù làm kín đáo, không khe hở để không thể thoát, cho nên gọi là nhà ngục 獄.

Câu “nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại”一日在囚 千秋在外 không ai còn lạ gì ! Tức nhiên ví một ngày ở tù mà bằng ngàn năm ở ngoài vây. Chữ TÙ 囚 cũng tượng hình cho thấy người (chữ nhân 人) bị nhốt trong bốn bức tường kín thì có gì là vui sướng, thảnh thơi ?.

Cái cảnh ngồi ngục được Đức Thanh Sơn Đạo Trưởng viết trong  “Thập Thủ liên hoàn”, trích một bài:

Ðai cân đã có vẻ chi chưa ?
Hay phận tù lao kiếp sống thừa.?
Đạp đất gập ghình chôn trẻ dại,
Ngừa thời điên đảo trí già xưa.
Ngồi hang thương kẻ mang da chó,
Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.
Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa.
Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

            Nhưng ngẫm lại thì quả địa cầu 68 này chính là cái “ngục” lớn mà các chơn linh đến thế này học hỏi, ai nấy đều phải chịu giam trong cái nhục thể này, cũng gọi đây là “khám tù  nhân thế”. Vậy khi khổ thì ai cũng oán than, mà cái chết thì ai cũng sợ, tìm mọi cách để sống. Nhiều khi chính họ cũng không biết cần sống để làm gì ? Mà cũng không biết sự chết sẽ đi về đâu ? Chơi vơi và chơi vơi.

Thuyền Đạo đã chực bờ mà  sao chưa bước xuống?

Khác xa với Đời Văn-Vương lấy Thánh-đức trị dân, nơi giam cầm rất sơ-sài, như muốn cầm tù kẻ phạm pháp thì vẽ một vòng tròn bắt kẻ có tội đứng trong đó để suy nghiệm việc sai trái của mình mà tự sửa cải.

Thầy dạy, vào thời xa xưa “Nước Hạng, người Trọng-Sơn, sạch mình cho đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả; trong sạch đến đỗi của trời đất cũng không nhơ bợn, con hiểu à!  Con hiểu ý bài thi  này chăng?

“Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng-Sơn,

“Chung-qui hữu phước hạnh tao-phùng.

“Hậu lai mạt tín đa phi-thị.

“Hữu ngoại thành tâm tái vận cung”.’

Sao? Nói cho Thầy nghe.

Chư Nhu đặng tọa vị hầu Thầy.

(M…N..cắt nghĩa trái Thánh-ý).

– Không đâu con! Con có hiểu hai câu này chăng?

               “Hớn Lưu-Khoan trách dân Bồ-Tiên thị nhục,

               “Hạng Trọng-Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.”

Nghĩa là đời Hớn, người Lưu-Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi. Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia-quyến con cho chánh-đáng, phải lấy lòng trong sạch đối-đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh ngôn và cắt nghĩa Thánh-ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!” (TN II/10)

 

 

29- NGUƠN 元

Nguơn hay là Nguyên là gì?

Về mặt chữ: Nguyên  họp bởi chữ ngột 兀 là cao chót vót, thêm vào nét nhứt  ở trên để chỉ cái lý duy nhất, cao cả như nước nguồn đổ ra trăm sông, ngàn mạch, như một chủng-tử lưu truyền theo mỗi loại. Nguyên là bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên.

Theo dạng chữ thì chữ ngột 兀 giống như một cái Đài cao mà từ xưa các bậc tiền bối thường lập nơi thanh vắng và tinh-khiết để cầu Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nét nhứt ở trên chỉ sự chí diệu, chí linh, tối đại, tối cao, duy tinh, duy nhất. Nói rộng ra Nguyên bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên do đức háo-sanh của Đấng Tạo-đoan để mỗi loại được cái sống lưu truyền với cái giác, cái linh huyền nhiệm mà lưu tồn. Nguyên tượng cho mùa xuân, ở người là đức Nhân.

Có thể nói nguyên  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 儿

Tương tự thì chữ Nhân  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân

Chữ Thiên   cũng gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 人

Ý nghĩa chữ Nguơn

Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo

Nho giáo của  Trần Trọng Kim  thì một  nguơn là 12 Hội,

một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm.

         Đức Hộ-Pháp nói: “Mỗi chặn đường tiến-hóa được gọi là nguơn: Có Thượng-nguơn, Trung-nguơn rồi Hạ nguơn. Hạ nguơn rồi trở lại Thượng-nguơn nữa, vậy là một vòng tròn không lối thoát ? Nhìn qua là một cuộc luân-hồi tưởng chừng theo một vòng tròn, nhưng đúng ra là theo đường trôn ốc; như vậy mới gọi là tiến-hóa hay là dục tấn. Nhơn-loại hiện nay đang sống vào thời Hạ-nguơn Tam chuyển và đang tiến lần vào Thượng-nguơn Tứ chuyển: Mỗi chuyển của điạ-cầu là một bước tăng tiến. Mỗi chuyển có 36.000 năm, chia làm ba nguơn; mỗi nguơn có 12.000 năm. Chiếu theo pháp Phật mỗi chuyển như vậy  tính  từ:

– Thượng-nguơn, còn gọi là khai nguơn thì thuộc quyền của Phật,

– Trung-nguơn, thuộc quyền Tiên,

– Hạ-nguơn,  thuộc quyền Thánh.

 Nhận-định bí-pháp thiêng-liêng của Chí-Tôn, nhỏ có người dạy, lớn học hành lập thân danh, thành nhơn rồi tự trị lấy mình.

– Phật thì dạy. – Tiên đào luyện  – Thánh thì trị.

Hạ-nguơn thuộc Thánh, nhơn-sanh tranh-đấu cho sự sống còn, ấy nguơn tranh-đấu mà triết-lý cốt là trị, được sản xuất cơ-quan bảo-tồn cho loài người. Nay, Hạ-nguơn Tam chuyển hầu mãn, khởi Thượng nguơn Tứ chuyển, địa-cầu chúng ta lạc-hậu quá nhiều. Đã ba ngàn năm xa xuôi, đã thua Thủy-đức, Kim-đức và  Mộc-Đức Tinh quân, trong số bảy địa cầu. Người ta đã bảy chuyển, mình mới tới đệ Tứ chuyển, vì vậy nên Chí-Tôn mượn các Đẳng chơn-linh ở các địa cầu kia, đến làm bạn với chúng ta. Chẳng những hóa-nhân mà đến nguyên nhân, Chí-Tôn cũng mượn họ đến tại địa-cầu này làm bạn giáo-hóa chúng ta,  không biết số bao nhiêu;  theo Phật pháp thì được 24 chuyến thuyền chở họ đến độ chừng 100 ức: Phật-Tổ độ 6 ức, Lão-Tử độ 2 ức, còn lại 92 ức, đến Hạ nguơn này cũng chưa thoát khổ, vì thế Chí-Tôn mới đến khai Đạo Cao-Đài.

“Cả cuộc biến-thiên đó không đi ngoài cuộc biến dịch thiên hình vạn-trạng, tương khắc tương sanh, từ mâu thuẫn xung đột đến tiến-bộ ôn-hòa, qua mỗi nguơn hội có khác.

Tam nguơn của Trời đất: 

        – Thượng-nguơn: là nguơn Tạo-hóa ấy là nguơn Thánh đức, tức là nguơn vô tội (cycle de création c’est-à-dire cycle de l’innocence).

Thượng nguơn là thời kỳ sanh hóa, con người còn sống theo thiên-lý hồn-nhiên chơn chất nên gọi là đời Thánh đức.

       – Trung-nguơn là nguơn Tấn-hóa, ấy là nguơn tranh đấu, tức là nguơn tự diệt (Cycle de  progrès ou cycle de lutte et de destruction)

        Trung nguơn là thời kỳ mâu-thuẫn tiến-bộ, nhưng rất tiếc là tiến-bộ về vật-chất thấp hèn nặng hơn về tiến-bộ tinh thần cao-thượng, tạo khổ cho nhau nhiều hơn là xây dựng hạnh-phúc chung cho nhau, tranh-đấu nhau rồi thúc đẩy nhau đến chiến-tranh tàn-khốc mà Đạo giáo gọi là nguơn tranh đấu.

– Hạ-nguơn là nguơn bảo-tồn, ấy là nguơn tái tạo, tức là nguơn qui cổ (cycle de conservation ou cycle de reproduction et de rénovation).

          Hạ nguơn là thời-kỳ biến dịch tuần-huờn vạn-vật qui nguyên-cổ. Nếu sanh thì thiên sanh, vạn sanh; nếu diệt thì tận diệt không sao tránh khỏi (hiểu như vậy chúng ta nên chọn con đường nào trong hai lẽ sanh và diệt tức là lẽ sống hay chết. Tưởng cả thảy đều chọn đường sanh tức là con đường sống, chớ không ai chọn con đường chết”

           Đức Hộ-Pháp cũng cho biết tiếp:

Mỗi nguơn niên, theo ta hiểu biết cái đại nghiệp của càn khôn vũ-trụ với triết lý nhà Phật, thì cả tinh-thần lẫn vật-chất của vạn linh đều thay đổi mới. Theo cái triết lý ấy thì ngày nay là ngày các chơn hồn đặng quyền Chí Tôn ân-xá nếu không nói rằng hưởng được một sự tấn hóa đặc ân hơn nữa ! Bần-Đạo không cần nói, buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí-Tôn Ngài đến để hai chữ Ân xá thì chúng ta đóan hiểu được”.

 

 

30- NGUƠN NGỌC  元玉

Chữ:Nguơn-Ngọc 元玉 được cắt nghĩa và giải rằng:

“Đời nhà Nguơn có báu Ngọc vô giá. 

Điển-tích:  Vua Nguơn khải ca nhiều trận, chư Hầu

khiếp vía, Bắc-vương kiên oai, cống sứ cho Trung-Quốc một hột Ngọc-điệp, trong đời ít có. Khi đem phơi ngọc ấy ngoài nắng, tất nhiên chiếu nhiều màu, thiên ám địa hôn; người khát nước, ngậm vào miệng, dường như ngậm búng nước lã, mà hết khát. Còn nhiều điều quí nữa, song kể không hết. Bởi cớ đó, nên có câu: “Ngươn-Chiêu-Đế hữu bửu ngọc”, nay trích trong câu văn ấy, mà lấy hiệu Nguơn-Ngọc“.

Ông Cao Quỳnh Diêu (Bảo-Văn Pháp quân) có hiệu là Mỹ-Ngọc. Các con của ông đợi khi các ông đi vắng mới bắt chước xây bàn cầu vong linh người em đã qui từ lâu về nói chuyện và xin danh hiệu, được người em giải thích như trên. Vị này nói tiếp: “Đặng cái hiệu và lời giải ấy, khi ông thân tôi về, tôi thuật lại cho ổng nghe; Ổng cắt nghĩa rành lại, tôi mới hiểu rõ rằng, cả dòng họ Cao Quỳnh, danh hiệu đều do nơi bộ Ngọc; chừng ấy, tôi mới có chút đức tin là vì nơi đó.

 

 31- NHẠC  

Nhạc là Âm nhạccòn đọc là Lạc có nghĩa là vui. Tức nhiên trong lòng tự nhiên có sự thanh thản, vui vẻ thì tiếng đờn mới thoát ra du dương, nhẹ nhàng, thanh thoát. Người nghe cũng vậy nhờ tiếng nhạc đủ sức thu hút, tâm hồn mới trầm lắng mà phấn khởi tinh thần.

Đức Hộ-Pháp nói: Nhạc nó sản-xuất trong tinh thần, mà tinh-thần là gì ? – Tinh-thần mới thật là Đạo !

           Tại sao Nhạc là Lễ ?

          – Lễ, ngoài đời mấy Em đã ngó thấy một bằng cớ hiển-nhiên, là khi mấy Em đờn, hòa cùng nhau. Tuy vân, ngón đờn của mấy Em mỗi đứa một khác nhau, hay dở mỗi đứa một đặc biệt không giống nhau, nhưng mà cái nhịp trường canh mấy Em phải theo nó mà thôi, nếu không tùng nó thì mấy em chẳng hề khi nào hoà Nhạc cùng kẻ khác được.

          – Trong khuôn-khổ hòa với nhau ấy là Lễ. Vì cớ cho nên Qua giảng tiếp cho mấy Em hiểu: Lễ và Nhạc do âm thinh đó vậy.

        – Chỉ có dân-tộc Việt-Nam về văn-hóa Nho-Tông của chúng ta mới có đặng một cái Nhạc là đều do nơi âm thanh và điều Qua đương nói với mấy Em, cái kinh-dinh của các sắc dân nơi mặt địa-cầu này, cả các quốc-dân xã hội đều nhận điều đó. Nước Trung-Hoa hay các sắc dân chịu ảnh-hưởng cái văn-minh tối cổ của Nho-Tông chúng ta mới có Nhạc, âm-thanh ấy là Lễ. Bằng cớ hiển-nhiên, chính Qua đọc một tờ Nghị-luận tại Liên-Hiệp-Quốc, họ luận rằng: Nếu cả thảy các sắc dân-tộc nơi mặt địa-cầu này mà đặng giữ-gìn cho còn Lễ cũng như nước Tàu đã được Lễ tối cổ của họ, cả những điều nghịch hẳn cùng nhau, khởi hấn cùng nhau giữa Hội-Nghị của Liên-Hiệp Quốc chẳng hề khi nào xảy ra, nếu có xảy ra là tại họ vô lễ cùng nhau  mà chớ! Do nơi vô-lễ ấy, mà nhân-loại chịu thống-khổ hai phen Đại-chiến hoàn-cầu, mấy Em nghĩ: Họ vô-lễ cùng nhau cho đến mức họ đập bàn ghế ra khỏi Hội Nghị của quốc-tế, là tại họ thiếu Lễ, mà LỄ LÀ NHẠC.”

         Sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe để Hoà, vì:

– Nhạc làm cho phong-hóa, luân-lý tốt đẹp, dịu dàng, mà không phải một mình nước Pháp, mà các liệt quốc Âu-Châu đều cũng nói.

           – Giờ phút này Qua Thánh-lịnh cho mấy Em đi các nơi cốt-yếu đặng mấy Em đem cái ngôn-ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương-Lương đã làm cho tan vỡ một đạo-binh hùng-tráng của Hạng-Võ, đánh tan-nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ-nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn, duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi.

           – Giờ phút này Qua giao cho mấy Em một sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe ống tiêu Thiêng-liêng đặng tinh-thần nòi giống mấy em đứng dậy định tương-lai vinh quang cho mình. Với cái giọng ngọt dịu của mâý em, làm cho thiên-hạ thức-tỉnh, diệt tiêu bớt hung-hăng bạo ngược. Trái lại đem đến một con đường hòa-huỡn, cao quí, tốt đẹp, êm-dịu; đem lại cái đạo-đức tinh-thần  chiến thắng để cứu-vãng sanh mạng lòai người. Bởi giờ phút này họ đang đi đến con đường diệt-vong mà chớ!” 

Vi diệu Nhạc là Âm thinh sắc tướng:

           –Từ thử Đạo Cao Đài dùng Lễ-Nhạc và ai cũng cho âm thinh sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Đạo Nho là Lễ Nhạc, mà chính Đạo Tam-Kỳ là Nho-Tông Chuyển Thế  thì phải truy tầm nguyên lý của nó mà xác nhận cho đúng nghĩa là thế nào.

             –Đòi phen chúng ta không hiểu được cho uyên thâm khi dâng lễ cho Chí Tôn lúc “Nhạc Tấu Quân Thiên”, hết lớp trống qua lớp đờn bảy bài thì lâu quá có khi phải chồn chân rồi nản chí, chính Bần Đạo cũng vậy, vì nghĩ rằng Chí Tôn tư-vị quôc dân Việt-Nam nên tiền định chi chi cũng làm gương mẫu cho toàn Đại-Đồng Thế Giới mà có Lễ Nhạc này luôn luôn khi dâng lễ, thì ý nghĩa ấy ắt cao trọng lắm là phải.

           – Bởi cớ cho nên khi mới khai Đạo, Bần Đạo đến tại Thánh Thất Thủ Đức của ông Thơ tạo lập, Bần Đạo không tin nên hỏi Đức Lý Giáo Tông.

Nguyên-lý:

           -Kể từ phôi-thai càn-khôn vạn-vật này, Chí Tôn là khối sanh quang, biến thành hai khối sanh khí, hai khối ấy tụ lại thành một khối lớn tương hiệp nhau mới nổ sanh tiếng “Âm”. Người ta gọi là “ầm” hay nghe tiếng “Ni”. Đạo Phật sửa lại thành “úm”(úm ma ni bát ri hồng). Nhờ tiếng nổ ấy bát hồn mới vận-chuyển biến sanh vạn vật và loài người. Tiếng ấy bay ra nghe đến đâu thì khí sanh quang đến đó, tức là có sự sống đến, bằng chẳng nghe được thì nơi ấy tiêu diệt nghĩa là chết mất mà thôi.

Vì sao phải đờn bảy bài ?

Đức Chí-Tôn dạy:

– Thầy thích nghe những bản âý

– Vì nó có ý-nghĩa của sự Tạo thiên lập địa, là buổi mới có  Trời đất.  

– Đảo ngũ cung có ý-nghĩa là qui trở lại, tức là qui cổ: đó là Vạn thù qui nhất bổn.

 

Nếu lấy những bài đó hiến lễ thì Thầy tư-vị

dân-tộc Việt-Nam sao ?

       Đức Chí-Tôn phán dạy rằng:

       -Trên thế-gian này chưa có nền Âm-nhạc cổ nào để rước Thầy mà đủ ý-nghĩa như âm-nhạc cổ của Việt-Nam

 – Nên Thầy chọn nó làm tiêu-biểu cho toàn cầu,

 – Cho nhân loại noi theo” (18-5-Bính-Dần 1.926)

 Nhạc  là cái gì đặt bên trên âm-thanh. Thanh  là một tiếng kêu nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có văn-vẻ, tiết-điệu thì gọi là Âm . Khi âm đó đưa tới Đức gọi là Nhạc.

           Con vật mới biết thanh mà chưa biết âm (tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết âm mà chưa biết nhạc. Chỉ có bậc quân-tử mới biết được Nhạc tức là  cái đức của âm-thanh. Cái Đức đó là Hoà. “Nhạc dữ thiên địa đồng hoà” 樂 與 天 地 同 和

 

 

32- NHO 儒

NHO là nguồn đạo-lý phát xuất từ Đức Thánh Khổng-Phu-Tử là người sáng lập nên Đạo nhân-luân làm giềng mối trật-tự, kỷ cương, từ trong gia-đình loáng ra ngoài xã-hội không đâu là không cần ích đến.

NHO 儒 là gì? Nhìn dạng chữ ta thấy rõ hai phần đủ nói lên cái lý Âm dương không xa lìa nhau. Bên trái là bộ nhân 人 nhân là người, bên phải là chữ nho hay là nhu nhu là sự cần yếu,  nhưng trong chữ nhu này có thể còn thấy hai yếu-tố kết-hợp nữa: Trên là chữ vũ 雨 là mưa, dưới chữ nhi 而 là mày; như vậy chữ nhu là ý nói rằng của này mày có quyền sử-dụng, như nước mưa mà trời đã ban thí cho nhân-loại vậy.

Tóm lại, kẻ được gọi là Nho-sĩ hay thông-nho là kẻ ấy rất cần-ích cho mọi người. Bởi trong  chữ Nho nó cấu tạo tất cả là ba  yếu-tố, như vậy chứng tỏ đây là con số 3 tròn đầy: thể hiện con người đứng trong Tam-tài: thiên, địa, nhân; chỉ có người đức-hạnh hoàn-toàn mới xứng đáng là bậc “Thông Nho”, cho nên kẻ ấy phải hiểu biết:    Trên thông thiên-văn. Dưới đạt địa-lý. Giữa quán nhân-sự.

Nay Đạo Cao-Đài được lập tại nước Việt-Nam, Đức Thượng-Đế đến lấy “Nho-Tông chuyển thế” mà cốt tủy của đạo Nho là lấy Nhơn-Nghĩa làm đầu; vì thế người Cao-Đài Phải:

– Hằng ngày thực-hành theo chủ-nghĩa Đạo Nho tức là  tròn Nhơn-đạo “Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi”

– Còn việc tu-luyện thì theo Tiên-Đạo: luyện Tinh, Khí, Thần. “Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh”.

– Con đường trở về đạt ngôi Phật-Đạo.

Tại sao có chuyện như vậy? Bởi nay Tam-Kỳ Phổ Độ, tôn-chỉ là Qui nguyên Tam-giáo phục nhất Ngũ chi.

Qua lời dạy của Đức Hộ-Pháp,Giáo-Chủ Đạo Cao Đài trong quyển “phương tu Đại-Đạo” rằng:

          “Phép Tu chẳng phải luyện nội tinh-thần theo đạo hạnh mà thôi, mà cái thân thể mình đây cũng phải tùy tùng phù hợp Đạo-tâm, thể Đạo chơn-chánh bởi gương mình, hễ chúng sanh ngó Đạo nói mình, xem mình cho là Đạo mới phải”

          Thế nên: “Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho

người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử”.      

Rồi từ bước đi lên trên nấc thang tiến hóa, cho đến cái Đạo ở Đại-học là làm sáng cái đức sáng, làm mới con người và dừng ở chỗ chí thiện. Có câu “Đại-học chi Đạo Tại minh minh-đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư chí thiện”.

“Khuôn luật của  Đạo Cao-Đài là lo về phần Thế đạo tức là Nho-Tông chuyển thế. Mà Nho-Tông chuyển thế tức nhiên Đạo của Tổ phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu-lý của Nho-Tông mới có thể làm mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng, chúng ta đã ngó thấy Nho Tông của chúng ta là một nền Tôn-giáo xã-hội, đặc điểm của nó là Đức Chí-Tôn đến lập trường Nho-tông trị  thế.

           Thế nên, tinh-ba của Nho-Tông là gì ?

           Phải chăng cái chiến-thuật của nó là “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” tức nhiên cái tôn chỉ cao thượng của Đức Mạnh-Tử là câu trên: “Đại học chi Đạo, tại Minh Minh đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư Chí thiện”.

           Nhưng thế nào là tu thân ?

           Từ trước, vấn đề tu thân đã bàn qua nhiều rồi, nay dẫn từ thượng cổ tới giờ, đức Thánh-nhân lấy hai chữ “tu thân” làm căn bản. Hai chữ tu thân đã có từ lâu, nếu chúng ta xem lịch-sử của Nho-Tông thấy nó đã xuất hiện từ đời Huỳnh-Đế, có trên không biết mấy ngàn thế-kỷ  trước Thiên-Chúa giáng sanh.

            Vậy rất là tối cổ, phương pháp tu thân dù thời đại nào cũng có, chí hướng của các Tôn-giáo là phải tu thân lấy mình, dầu cá nhân, dầu xã hội hay toàn thể nhơn loại cũng vậy, tâm đức con người bao giờ cũng có sự mâu thuẫn. Hễ họ nghe thấy điều nào hay, điều nào thiện đặng họ nhìn một cách chơn thật, nhưng họ không làm. Còn biết chê cái dở, cái ác mà họ lại làm; hai cái đó nghịch cảnh với cái Tâm, không có một vị Thánh nào ở thế gian tìm nguyên lý nó cho  đặng.

           Bởi vậy tâm lý con người hay xu ác mà xa thiện, vì cớ cho nên các vị Giáo-Chủ lập nên Tôn-giáo dạy phải làm thế nào gọi là tu thân. Dầu cá nhân hay toàn thể nhơn loại cũng phải lấy hai chữ “Tu thân” làm gốc và chính nó

khởi đương cho sự lập đức là “tại minh  minh đức” vậy.

           Nếu cả thảy đều biết nỗi khổ của nhơn loại mà làm phương Tu thân, lập đức thì cái giá trị của thiên hạ thực hiện một cách dễ-dàng và chính những tâm hồn ưu-ái vì Đạo, vì Thầy và vì nhân-loại phải đem cái đức thiêng liêng ấy rải khắp cả thiên hạ thì mới cứu khổ được”.

 

 

33- NHÂN

Nhân là Người, giống khôn nhất trong loài động vật.

Tiếng đối lại với mình; như tha nhân  người khác, chúng nhân  mọi người, vô nhân ngã chi kiến  là không có phân biệt mình với người …thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bực tu được nhân

không . Thánh nhân khi chế tác thành chữ đều có dụng ý rất tinh vi: nghĩa là bắt chước theo tượng hình của trời đất mà chế ra VĂN, ứng dụng theo hình thanh mà chế ra TỰ.

Chữ Nhân 人 là người, ứng dụng theo thuyết Thiên địa Âm dương và sách Lễ ký nói: con người là đức lớn của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự hội tụ linh khí (quỉ thần) của non sông đất nước và tinh túy của năm chất: Kim, Mộc,Thủy, Hỏa, Thổ.“nhân giả thiên địa chi đức, âm dương chi giao,quỉ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã”.

Chữ nhân 人: cách cấu tạo theo thuyết âm dương:

– Một phết bên trái  (丿) biểu thị cho Dương

– Một nhấn bên phải (  ) biểu thị cho Âm.

Chữ nhân do cả hai thành phần vừa nêu trên họp lại, tức là do âm dương phối hợp mà sinh ra. Như lời Kinh Hôn phối:

Cơ sanh hóa Càn khôn đào tạo,

Do Âm dương hiệp đạo biến thiên.

Con người nắm vững chủ quyền,

Thay Trời tạo thế giữ giềng nhân luân.

Như vậy con người được tạo hóa sanh ra tất cả đều bình đẳng, đầy đủ cả thể xác và linh hồn, nhưng ý-thức tâm linh mỗi người không giống nhau. Có người sinh ra là hiểu biết ngay, có người cần phải học hỏi mới hiểu biết được. Vì thế Thánh nhân là người “Thể Thiên hành hóa”: trên thể lòng Trời, dưới phù chánh đạo, nên mới lập ra qui tắc, phương pháp, lễ nghi để làm mực thước cho con người chu toàn nhân đạo, đó là đạo làm người: trung-hiếu, nghĩa-nhân, hòa-ái, kỉnh vì. Khi con người chu toàn nhân đạo có thể góp phần vào việc giúp đỡ hoàn chỉnh cái đạo của trời đất, nâng đỡ cho dân sinh: lập đức, lập công, lập ngôn để lại cho đời, thì người đó đã đạt đến bậc Đại nhân.

Có nhiều chữ NHÂN, tuy đồng âm nhưng dị nghĩa:

1- Chữ 人 là người, có hai nét là do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Âm, nét phải là chân Dương. Nếu chữ nhân 人(người) hợp với chữ nhị 二 (là hai) thành ra chữ thiên 天. Trong chữ Nhị thì nét nhứt trên chỉ trời, nét nhứt dưới chỉ đất, giữa là chữ nhân đặt vào, như vậy chỉ có người mới được dự vào chuyện của trời đất để hoàn thành Tam tài: Thiên- Nhân- Địa. Người là sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp có lời dạy rằng: “Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu này. Chúng ta ngó thấy hiện hữu phải vận hành, phải xao động, bởi nó là động vật, nó phải hoạt động, nếu không hoạt động là chết”.

2- Nhân  仁   Nhân là gì? -Là lòng nhân, hào hiệp, phóng khoáng. Theo phép Lục thư thì chữ nhân 仁 do hai chữ: Nhân là người 人và nhị 二 là hai, ghép lại mà thành, là nói lòng nhân của người, biết thương người mến vật,  thể hiện đức háo sanh của Thượng Đế. Nếu đem chữ Nhị 二 và nhân ghép lại thành ra chữ nguyên  là đứng đầu tất cả. Phép lục thư có nói:

“Nguyên dĩ Nhị dĩ nhân. Nhân dĩ nhân dĩ nhị”

元 以 二 以 人.  仁  以 人 以 二

– Chữ nguyên 元 lấy chữ nhị và chữ nhân ghép lại.

– Chữ nhân 仁 thì lấy chữ nhân 人 và chữ nhị mà nên.

– Ở trời gọi là nguyên, nên quẻ Càn có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh; mà chữ nguyên đứng đầu.

– Ở người thì chữ Nhân đứng đầu trong năm thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Người linh hơn vạn vật là ở đức Nhân “nhân sở dĩ linh ư vạn vật giả nhân dã”人 所以 靈 於萬 物 者仁也

            3-Nhân 因 là đầu mối của sự việc, là hột giống.

Cấu tạo chữ Nhân gồm chữ Đại大 ở trong và bao quanh ngoài là bộ Vi 囗. Đấy cho thấy điểm khởi đầu nó quan trọng dường nào. Chữ đại 大 là lớn về vật thể. Ví như hột xoài, có lớp vỏ bao, phần trong là chủng tử, là giống, chính nó khi gieo xuống đất để được một cây con mới ra đời. Suy ra chữ “Nhân quả” nhà Phật cho biết rằng Phật rất sợ quả nên không gầy nhân. Còn chúng sanh cứ nhắm mắt gây nhân, rồi khi gặt hái kết quả xấu thì mới kêu la.

Kết luận: Phật sợ nhân, chúng sanh sợ quả, là thế.

4-Nhân 姻 là chỉ về hôn nhân, nhân duyên. Có bộ Nữ 女 (gái) đứng trước chữ nhân thứ ba 因. Điều này cho thấy rằng trong việc hôn nhân thì vai trò chính là Nữ-phái. Thế mà hầu như ít ai chú ý dạy riêng về phần học vấn, đạo đức, nhân cách cho nữ phái. Nay là thời Hạ nguơn thì đạo đức đã suy đồi trầm trọng, ảnh hưởng ngoại lai rất nhiều, nhưng chỉ ảnh hưởng cái bóng dáng bên ngoài, xấu xa nhơ nhuốt, mà điều tốt nếu có cũng bị khuất trong cái lố lăng, tệ hại. Nếu rác bên ngoài đang thời kỳ kêu cứu, thì rác trong tư tưởng giờ cũng tương đương. Những nhà đạo đức sẽ kêu cứu cùng ai? Trách nhiệm về ai?

Đức Hộ-Pháp đã than dài: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng? Ước ao cả thảy biết điều trọng hệ bí-mật đó mà Thương-yêu lẫn nhau, Thương lún Thương càn đi, rồi ngày kia coi có lầm chăng? Bần-Ðạo quả quyết, Ấn Hộ Pháp, Bần-Ðạo nắm trong tay, nói chẳng hề sai chạy. Bần Ðạo mong ước cả thảy con cái của Chí-Tôn, đừng tưởng mang thi hài nầy mà Nam Nữ phân biệt đa nghe.!  Biết đâu trong đám Nữ nầy, có kẻ đã làm Cha, làm Anh của người nào đó. Giả cuộc đừng coi trọng hệ, cả thảy nên hiểu và từ đây noi theo lẽ thiệt, đừng mơ sự giả, đó là điều mơ vọng ước ao của Bần Ðạo hơn hết”.

 

 

34-  NHŨ  乳

            Nhũ là vú, tức là phần nằm trên ngực của người đàn bà dùng cho con bú. Chữ nhũ  乳 gồm các phần sau: Có hai phần: phía trên bên là bộ trảo 爫 là móng vuốt và dưới là chữ khổng 孔 (cái lỗ), nghĩa là trong vú có nhiều lỗ, chính là nơi phát xuất những tia sữa cho trẻ con bú; nhưng lỗ này không tính vào Cửu khiếu trong châu thân con người, vì đó là mạch sữa, ứng duyên mà phát sinh, rồi cũng ứng duyên mà tàng ẩn. Tinh huyết của mẹ biến thành giọt sữa. Khi con còn măng sữa, nhờ sữa mẹ mà nuôi lớn nên người. Con gái hễ đến tuổi 16 thì đôi nhũ bắt đầu phát sinh, nhưng đến tuổi 49 (7×7) thì đôi nhũ bắt đầu suy giảm, mạch sữa cũng bắt đầu đóng kín và kinh nguyệt cũng bắt đầu ngưng hẳn.. Vú người con gái là do khí Tiên Thiên và Hậu Thiên (Hà đồ -Tiên Thiên và Lạc thư –Hậu thiên) phát sinh ra.Sữa là nguồn sống từ mẹ truyền cho con

Thánh giáo của Bát Nương cho hay Ðại Từ Phụ trở pháp về quyền cầm mạng của nhơn sanh và Lục Nương cho biết về sự chuyển pháp làm cho các Ðấng vui mừng

Diêu Trì Từ Mẫu đẹp dạ không cùng, nhưng vì cái mừng ấy mà làm cho Người đổ lụy ngâm bài than nầy:

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,
Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.
Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,
Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ còn.
Lợt điểm Thánh tâm trần tục khảo,
Vẻ tươi bợn thế nét dò đon.
Thà xưa ví bẳng nay gìn vậy,
Lòng mẹ ngại ngùng con hỡi con!

Nhị ca ôi! Bài thi làm cho cả Cung Diêu Trì đều đổ lụy. Mấy anh nên lấy nó làm phép hằng tâm, thì bước vinh diệu thiêng liêng không lạc nẻo.

 

 

35-  NHỰT 日

Xét kỹ Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung Thánh danh Thượng Trung Nhựt, Ngài là Người nắm chữ Kiền 乾 trong tay rồi. Chữ Kiền phân tích ra thì phần bên trái có trên một chữ thập, dưới có một chữ thập, giữa là chữ nhựt. Như vậy có phải Ngài đã mang chữ Nhựt  nơi mình có đủ uy-tín để làm Anh Cả của nhân-loại và toàn cầu không? Ngài là Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt. Để rồi Ngài mới “thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên thế giái, Lục Thập thất Địa cầu và Thập Điện Diêm Cung đặng cầu siêu cho cả nhân loại” được chứ! Nhưng mặt trời chỉ có một; có nghĩa là trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người không hai lòng. Nhưng đây là những mơ vọng vì “Chữ Nhựt” mà ông Thái-Ca-Thanh đã bỏ Đạo và tách khỏi Tòa-Thánh để về quê lập lên phái Minh-Chơn-lý, rồi chính ông Thượng Chánh Phối-sư Thượng Tương Thanh viết thơ khuyên ông Ca nên trở lại Tòa-Thánh cùng chung lo việc Đạo, nhưng trớ trêu thay, ông Ca không trở lại mà ông Nguyễn Ngọc Tương lại tiếp tục ra đi để mở ra phái “Ban Chỉnh-Đạo” Bến Tre  cho đến ngay nay.

Lời thơ ông Tương khuyên ông Ca như vầy:

“… Anh sẽ thấy rõ các sự Anh đã làm trong một năm rưỡi nay, đối với đạo-đức ra sao, thế nào, xa đạo-đức bao nhiêu dặm, chừng ấy Anh hết lầm nghe Cơ Bút Hậu giang nữa. Biết được sự thiệt rồi, mau mau tự nhiên Anh sẽ bãi hết các cuộc Anh đương gầy, giải chức Thái Đầu sư mới của Anh. Vì Anh sẽ thấy rõ chữ NHỰT trong Đạo hiệu Thái-Ca-Thanh của Anh. Đó là một cái lắt-léo của Cơ để cho Anh biết mà phân biệt chơn giả đó. Trong lòng Anh thiệt hết giận rồi, tự nhiên Anh cũng sẽ thấy rõ ràng là không có Thần hay Tiên Thánh nào xúi Anh thêm nghịch, dạy Anh chia lìa, đốc Anh truyền rao nhục mạ Tây-Ninh rồi lại gia phong cho Anh và các vị theo giúp Anh, hối đốc lập dựng Thánh Thất Cầu Vỹ mà làm Toà Thánh để nhóm Hội-Thánh Tây Ninh, mượn nhà Anh mà làm Hiệp-Thiên-Đài, Anh sẽ thấy rõ ràng là cơ cám dỗ nương cái hơi phiền-phức của Anh và chư vị kia mà phát hiện những sự ấy đặng giúp cho mấy Anh Em được thoả

tình tư tưởng”…

Có lẽ vì ông Thái-Ca-Thanh thích được chữ Nhựt của Đức Lê văn Trung là THƯỢNG TRUNG NHỰT, nên ông tách ra lập Chi phái ở Cầu Vỹ (Mỹ tho) và lấy danh là Thái Ca Nhựt ngay, mà khiến ông Tương phải hết lời khuyên nhủ. Nhưng Thầy đã nói rồi, Trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người chẳng hai lòng, qua bài Thi:

Mặt NHỰT hồi mô thấy xẻ hai?

Có thương mới biết Đấng Cao-Đài,

 

36- PHÁP 法

Chữ Pháp 法 nghĩa là phép, là phương pháp; cũng có nghĩa là một sự mầu nhiệm (huyền pháp, tâm pháp…) Phân tích sẽ thấy có hai phần: bên trái bộ thủy là nước, tức nhiên những chữ nào bất cứ mà có bộ thủy này đều có liên quan đến nước.Bên phải chữ khử  nghĩa là dùng nước để khử trược. Như nước pháp mà trong Tôn giáo dùng vào việc Tắm Thánh, Giải oan gọi là Ma-Ha-thủy nên có câu “Ma Ha thủy năng hủy oan khiên giải trừ nghiệt chướng chi đọa”. Một âm là khứ chỉ việc đã qua như quá khứ, khứ hồi. Bộ thuỷ có 3 nét ứng với Tam tài, chữ khử có 5 nét là lý Ngũ-hành; cộng 3 và 5 là 8 là một Bát quái vô hình, tức là một yếu-tố để chứng tỏ đây là Hư vô Bát-Quái.

Pháp là chủ của vạn-linh:

Kinh Phật-Mẫu có câu:

                “Thiên-cung xuất vạn-linh tùng Pháp

                “Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh”

Bởi do nơi Pháp, vạn-linh mới chủ tướng biến hình, do nơi Pháp mới sản-xuất vạn-linh, cả huyền-vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp, chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của vạn linh, vì cớ cho nên Đạo giáo minh-tả rõ rệt Tam châu Bát bộ thuộc về quyền Hộ Pháp”.

Quyền-hành của Hộ-Pháp:

1-Sao gọi là Tam châu? “Trong Tứ Đại Bộ châu ở phần thiêng-liêng thì Hộ-Pháp nắm ba châu: Đông thắng thần châu, Tây Ngưu hạ châu, Nam-thiệm bộ châu, đều thuộc về quyền hạn của Hộ-Pháp; còn Bắc Cù Lư châu để cho các phần chơn hồn quỉ vị họ định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Họ có một quyền-năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỉ-vị ăn-năn tu học đặng đoạt vị. Ba bộ châu kia do quyền-hạn của Hộ-Pháp giáo-hóa, duy có Bắc Cù Lư châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho họ tự-do làm gì thì làm: khôn nhờ dại chịu.

2- Bát bộ là gì ? – Là nơi Bát phẩm chơn-hồn chớ có chi đâu ! Tám hồn là: vật-chất-hồn, thảo-mộc-hồn, thú cầm hồn, nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh-hồn, Tiên Hồn, Phật-hồn. Tám bộ ấy thuộc quyền HỘ PHÁP THIÊN-VỊ  nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ-quan tận độ chúng sanh không còn ai khác hơn Hộ-Pháp. Chính Hộ-Pháp trách nhiệm ấy.

Đạo phục của ĐỨC HỘ-PHÁP:

Bộ Tiểu phục thì toàn bằng hàng vàng (màu Đạo), đầu đội Hỗn-Nguơn-Mạo màu vàng, bề cao một tấc ngay trước trán chính giữa có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo là Bình Bát vu, cây phất chủ, Bộ Xuân thu, ngay trên ba Cổ pháp ấy có chữ Pháp 法 (PCT)

 

Hộ-Pháp là người của cung Hỗn-Nguơn-Thiên (số11),

thế nên trên bàn thờ của Hộ-Pháp có cả thảy 11 cúng phẩm, đúng ra đó là quẻ Bát-Thuần-Càn, chứng tỏ Ngài là người đã thay Trời tạo thế trong buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này, từ đó những vấn-đề có liên-quan cũng phải đúng vào con số biểu-tượng là 11, mới đúng thời, đúng lúc đó vậy. Chiếc Mão của Ngài đội có tên là “Hỗn-Nguơn-Mạo”.            Bề cao một tấc trước trán (số 1).

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến-vi hữu-tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, người mang số này có tánh chuyên nhất và cầm quyền vi chủ. Số 1 là số động, nó vốn là lý Thái-cực suy ra nên nó huyền-diệu, nhiệm-mầu, hiện biến.Ngôi số 1 thuộc về ngôi Phật chủ quyền cai trị và giáo-hóa vạn-linh.

           Tại sao phải đặt trước trán?

– Bởi Đạo là lấy chính trung, nên chi đặt ở trán là điểm giữa của mặt. Lại nữa chính giữa “có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo” là Xuân thu,Phất chủ và Bình Bát vu.

Nay đứng đầu của Tam-giáo thì có ngôi “Chưởng Pháp của ba phái là Thích, Đạo, Nho. Nghĩa là mỗi phái là một vị, mà ba Đạo vẫn khác nhau; nội dung, ngoại dung đều khác hẳn, luật-lệ vốn không đồng chỉ nhờ luật-lệ làm cơ qui nhứt”.

 

 

 

            “Mỗi Chưởng-Pháp phải có ấn riêng:

             – Thái Chưởng-Pháp thì Bình-Bát-vu,

             – Thượng Chưởng-pháp thì cây Phất-chủ,

             – Ngọc Chưởng-Pháp thì bộ Xuân thu.

Hiệp một gọi là Cổ pháp. Ba cái Cổ-pháp ấy vốn của Hộ Pháp hằng kỉnh trọng. Nơi  Mão Tiểu-phục của Người phải có ba Cổ-Pháp ấy” (PCT)

(xem thêm về Cổ-Pháp).

Đức Hộ-Pháp là Người của Cung Hỗn-Nguơn Thiên, nên kinh Đại Tường có câu:

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo-chủ,

                 Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

                 Tái sanh sửa đổi chơn truyền,

                 Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

“Hộ-Pháp là thể các Đấng trọn lành, Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu-dắt các chơn hồn lên tột phẩm-vị của mình, tức là nâng-đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa-vị, cũng như chư Thần, Thánh, Tiên, Phật điều-đình Càn Khôn thế giới cho an-tịnh”.

           “Chơn đi hia, trên chót mũi hia có chữ “PHÁP”.

Chữ Pháp 法 thấy có hai phần ấy là Âm Dương tương hiệp. Với nền Tôn-giáo, chỉ duy các Chức-sắc Đại Thiên phong mới được phép mang hia hoặc giày vào chầu lễ Chí-Tôn, nhưng các giày hay hia này chỉ dành riêng sử dụng trong lúc chầu lễ Chí Tôn mà thôi. Trước mũi hia có  chữ “Pháp 法” chỉ nghĩa rằng Ngài Chưởng-quản “Chi Pháp” là một trong ba chi “Pháp- Đạo- Thế”.

 

 

Tiếp theo >

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

CHIẾT TỰ CHỮ HÁN: CHỮ ĐƠN

 

1. BẦN 貧

2.  BĨ – THÁI là gì?

3- CHÁNH  正

4- CHỦ 主

5- CHÚA  主

6-  CỔ  

7- CUỒNG 狂

8- ĐẠO 道

9-  Điểu 

10 -ĐÔNG 

11- Đức 

12- ĐIỀN 田

13- Giải 解

13- Giải 解

15- HÒA  

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

17 -HỌC  

18- HOẶC 或

19- KIỀN  乾

20 –KHẢO 拷

21- KHÍ 氣

22- KHỔ 苦

23 -LÊ 

24- MINH 明

25- NIỆM  念

26- NGỌC 玉

27- NGHĨA 義

28- NGỤC  

29- NGUƠN 元

30- NGUƠN NGỌC  元玉

31- NHẠC  

32- NHO 儒

33- NHÂN

34-  NHŨ  乳

35-  NHỰT 日

36- PHÁP 法

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1-BẦN 貧

 

 Thế nào là BẦN 貧

Trong chữ Bần cấu-tạo đến ba phần: trên là chữ bát   (bát là tám), kế đến là chữ đao  (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân  (phân là chia) dưới cùng là chữ bối  (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo.

Vì thế cái nghèo này là cái nghèo của những tâm hồn lớn, đạo-đức luôn nghĩ đến kẻ khác.

Người tu nên học lấy “chữ Bần” của Thượng-Đế.

Có bài thơ như vầy:

Tròi-trọi mình không mới thiệt BẦN.

                        Một nhành sen trắng náu-nương chân.

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt.

Đỡ  gót nhờ con hạc trắng ngần.

Bố-hóa người đời gây mối Đạo.

Gia-ân đồ-đệ dựng nền NHÂN.

Chừng nào đất dậy trời thay xác

                        Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần

       (Đức Chí-Tôn – Thánh ngôn Hiệp-tuyển)

Nhất là hai câu cuối của bài thi trên là lời tiên tri về

thời cuộc một cách sâu sắc. Vận mạng của nhân loại nằm trong hai câu ấy. Nay đã đến thời-kỳ “đất dậy” rồi đó làm chấn động cả toàn cầu. Hãy trông lên coi  “Trời thay xác”

chưa?  Nhân loại hãy chuẩn bị “thay xác” đi là vừa!

Đức Hộ-Pháp nói: Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo, Ổng nói “Tròi trọi mình không mới thiệt bần”. Ông đến cho ta một danh thể là lập Hội Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền-Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền-Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy”.

Thế nên, buổi này các bậc Đại-đức, chơn tu mới xưng mình là Bần-Đạo như Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Thượng-Phẩm, nhưng thường xuyên hơn hết là Đức Hộ Pháp thuyết Đạo hay dùng từ Bần-Đạo. Cũng như Bà Nữ  Đầu-Sư Hương-Hiếu hay dùng tiếng Bần Nữ vậy.

 

 

  1.  BĨ – THÁI là gì?

–  BĨ là quẻ thứ 12 trong kinh Dịch

– THÁI  là quẻ thứ 11 trong kinh Dịch.

Bĩ 否 nghĩa là bế tắc, gồm có chữ bất 不 ở trên, chữ Khẩu 口 ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác.Cũng như chữ Phỉ 匪 chữ Phi 非 nghĩa là không vậy. Ở trong trời đất vẫn có đủ cả vạn-vật. Nhưng ở trong vạn-vật thì người là một giống tối linh. Vậy nên chỉ nói người, thời đại-biểu được cả vạn-vật. Người, thật ra là phối với trời đất mà làm ra Tam Tài, nên đạo người tức là đạo trời đất, mà đạo trời đất chính là ở con người hiện hữu

Đạo trời là gì?  – Là Khí Dương.

Đạo đất là gì?   – Là Khí Âm.

Âm Dương hoà hợp nhau thì sanh thành được vạn vật, đạo người cũng nhân đó mà còn. Âm Dương cách tuyệt với nhau thời chẳng sanh thành được vật gì cả, đạo người cũng nhân đó mà mất.

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

Đặc tính của quẻ BĨ:

Càn Khôn là hai cánh cửa để đi vào Đạo Dịch. Vậy khi cha mẹ phối hợp tức là Âm Dương giao nhau thì hình thể thứ ba ra đời, là sự thành hình của người con. Đứa bé

sanh thuận, nghĩa là đầu quay xuống thì thấy trước nhất là:

 

1 hậu môn 

1bộsinh-dục                        

Một miệng                                                          

Hai lỗ mũi

Haicon mắt

 

 

 

 

– Ba nét liền tượng ba hào Dương gọi là quẻ Kiền ☰

–  Ba nét đứt tượng là ba hào Âm,  gọi là quẻ Khôn ☷

Một quẻ kép như trên có Kiền vi Thiên ở trên, Khôn vi Địa ở dưới, đọc là Thiên Địa Bĩ.

Một đứa bé ra đời thì đầu quay xuống phía dưới đất, để cho Âm Dương hoà hợp (đầu là Dương, đất là Âm) tức nhiên một hài-nhi mới ra đời thân thể yếu-ớt là từ chỗ tối-tăm đi ra là thời BĨ (cần phải được nuôi dưỡng săn sóc)

– Thứ nhất: Đầu quay xuống như thân cây mới mọc.

– Giai đoạn thứ nhì đứa bé nằm ngang, đầu và mình ngang nhau, chống tay bò như con thú bốn chân.

– Giai đoạn thứ ba đứa bé đứng thẳng, đầu hướng lên trời, chân đặt lên đất. Đó chứng tỏ là con người đã phải theo định luật tiến-hoá của Bát-hồn.

Hình dạng các khiếu trên tạo nên quẻ Thiên Địa Bĩ.

            Luật tiến-hoá của vũ-trụ là một vòng tròn không đầu mối, thế nên hết Thái đến Bĩ, qua Bĩ rồi lại Thái. Đó là chuyện hữu hình. Vô vi cũng vậy.

Con người mới ra đời, đầu quay xuống gọi là “sanh

thuận” tức là mới khởi là phải “đương đầu” với một thế giới mới, tuy mọi sự đều khó-khăn, phải phấn-đấu lắm mới được. Rồi một phen trở về cũng vậy, tức là chết. Chơn hồn cũng quay đầu về trình Mẹ ở Cung Diêu-Trì là Cung Tạo Hoá Thiên (số 9), thì cũng phải chịu thời Bĩ để thích nghi với một thế giới mới nữa. Thế nên Ông Bà ta đã rõ thông luật tiến-hoá ấy mà khi người chết đặt nằm, đầu phải quay ra ngoài là thuận lý Âm Dương của Trời đất  (Trở về là thời Âm, Cung Mẹ là Dương đối với Âm) Vì chữ ngoài đây tức là Thượng là hướng thượng, như quẻ ngoại là quẻ “Thượng” là nằm trên. Quẻ nội nằm dưới.

            Lại nữa qua hai quẻ THÁI, BĨ đi liền  nhau mà  bao

quát được vô số vấn đề Đạo-lý trong vũ-trụ.

Thời Bĩ này Âm-khí ở dưới chẳng chịu thượng giao

với Dương, dương-khí ở trên chẳng chịu giao tiếp với âm.  Âm Dương cách tuyệt nhau như thế, tất nhiên vạn vật chẳng sinh thành, còn gì là đạo làm người nữa, nên nói rằng: chẳng phải đạo làm người. Dịch nói Bĩ chi phỉ nhân. Việc trời đất lớn rộng để chỉ cái bao la, còn thân người nếu âm-khí không xung lên, dương khí không giáng xuống thành bịnh quan cách bất thông. Tâm thuật cũng vậy, nếu bên ngoài hưng phấn mà bên trong chứa nhiều nhân dục, cũng gọi là phỉ nhân vì còn nhiều thú tính, thì sao xứng đáng vào hàng Tam Tài?

Quẻ  thì Kiền ☰ trên  Khôn ☷ dưới, thoạt nhìn thì thấy vị trí của hai quẻ có vẻ là thuận, nhưng luận về khí-hóa thì khí Dương ở Kiền có tính bốc lên và khí Âm ở Khôn thì lắng xuống dưới, hai khí có chiều hướng khác nhau thì làm sao hòa nhau được, đã không hòa được thì vận Bĩ phải đến mà thôi.Quẻ Thiên-Địa BĨ là lúc bế tàng. Khi Đạo Bế là phần Dương cuối cùng muốn đứt, chuyển biến ra Âm. Hết thạnh đến suy, nhơn vật thay đổi: Thời Đạo Bế, người sinh ác tâm, bạo ngược, gian tham xảo trá, giao cảm ác khí nên tội-lỗi làm chìm đắm sa đoạ, nhơn vật điêu tàn. Phần Dương tiêu huỷ, phần Âm thạnh phát. Ấy là lúc Âm thạnh Dương suy.BĨ là thời kỳ Đạo bế.

Đạo vận có một phần Dương, một phần Âm hiệp thành Càn Khôn Thế giái, thì Âm Dương chuyển vận tuần hoàn mà sanh sanh hoá hoá mới có đêm tối ngày sáng.

Bĩ là bế tàng, là cùng tận. Bởi Quẻ Thuần Kiền  chủ cát tường là điều lành. Nhưng cái khó ở đây là quẻ Thuần Kiền đã biến thành Thiên Địa Bĩ  vì mất đi 3 hào Dương ở dưới, Âm cứ tiến dần lên (Dương biến Âm)

-THỜI ĐẠO BẾ: Thánh giáo của Phật Thích Ca giáng Cơ tại Hội Phước Tự (Cần Giuộc). Ngày 05-04-Bính Dần (Samedi 5 Juin 1926) có lời rằng:

Chư sơn nghe dạy: “Vốn từ LỤC TỔ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp luật buộc mối Ðạo Thiền.             TA vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi “Tây Phương Cực Lạc” và “Ngọc Hư Cung” mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã  cho  hiểu  trước đến  buổi  hôm  nay rồi;  tại  Tăng  đồ không kiếm chơn lý mà hiểu. Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo… Ôi! Thương thay! Công có công, mà thưởng chưa hề có thưởng; vì vậy

mà TA rất đau lòng. TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt.   Chư Tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót; phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư Sơn đắc Đạo cùng chăng là do nơi mình hành Đạo. Phép hành đạo Phật Giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến “Tả Ðạo Bàng Môn”. Kỳ truyền đã thất, chư Sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. TA đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây TA cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa”.

 

BĨ cực thì THÁI lai

nghĩa là hết xấu thì đến Tốt.

Theo lý  Dịch,  Đạo Khai 開 là  thời THÁI,  là hình

ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài..

Lúc Đạo khai là thời của quẻ THÁI  Âm khí của Khôn giáng xuống, Dương khí của Kiền thăng lên hoà hợp, ấy là lúc hanh thông, vậy phần Âm sau cùng vừa tận thì đến phần Dương phát khởi chuyển hoá. Ấy là thời-kỳ phổ khai, nhơn loại đặng từ-thiện minh chánh, những hung ác bạo tàn đều tiều tuỵ. Lúc ấy là Dương thạnh Âm suy, nhơn vật tuần hoàn đến kỳ thoát hoá, người lo tu tâm dưỡng tánh, cọng hưởng thái-bình. Do máy Âm Dương chuyển vận đến hết phần Âm cuối cùng là Thái.

Nguyên Đạo-lý trong vũ-trụ chỉ có lẽ tương-đối, mà không lẽ gì tuyệt-đối. Hễ sau lúc đã Thái  (Địa Thiên Thái) là hanh thông rồi, tất nhiên vận cùng sẽ tới vậy. Nên, sau quẻ Thái tiếp lấy quẻ Bĩ. Thái cực thì Bĩ lai, Bĩ cực Thái lai, chuyện đời đầy vơi là như thế.

Về quẻ THÁI theo khí-hậu thì khí Âm và khí Dương

giao nhau, dung hòa nhau được thì mới hanh THÁI.

Ngay thời-điểm cực kỳ đen tối như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (vào khoản năm 1926):

– Trong thì tâm lý nhơn sanh còn nhiều phức tạp theo đa thần giáo, tinh thần Tôn giáo chưa chuyên nhất nào là theo bóng, chàng, đồng, cốt, thầy phù, thầy pháp đủ loại, mặc dầu tín ngưỡng cao nhưng NHÂN TÂM bất nhất

– Ngoài thì dân tộc chịu lệ thuộc dưới quyền thống

trị của người Pháp. Dân sinh chịu đau khổ dằng dai.

Đức Chí-Tôn đến, Ngài đến để xoay thành vận THÁI, tức là đem lại sự hanh-thông, sáng-sủa, huy-hoàng cho dân-tộc Việt, đồng thời để giải nguy cho nhân-loại đang lâm vào cảnh đau thương nhất, loạn-ly nhất như hiện tại đã thấy trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp này:

“Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ Độ tức là Đạo Cao-Đài đặng mở một kỷ-nguyên mới, Qui  Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi, lập thành một nền Tôn-giáo Đại-Đồng cho hiệp với trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại và của quả địa cầu 68 của chúng ta, dọn đường cho Đức Di-Lạc ra đời”.

 “Vì muốn độ 92 ức nguyên-nhân qui hồi cựu vị cho khỏi sa-đọa cõi hồng-trần. Ngày nay Đức Chí-Tôn mở Đạo không giáng trần bằng xác thân mà chỉ giáng bằng Huyền-diệu Cơ-Bút  mới qui đặng cả Đại-Đồng Thế-giới”.

Xếp đặt quẻ,Thánh nhân lấy theo hình ảnh con người

Luận về Lý Dịch qua con người:

(Tài-liệu này trích trong Dịch-lý Cao-Đài I cùng Soạn-giả)

Tại sao phải lấy hình ảnh của con người?

– Vì tất cả con người trên thế giới này đều có những bộ-phận giống nhau về Âm Dương, nam nữ. Bộ sinh dục nam thì tượng Dương vẽ một gạch liền  Nữ tượng Âm, vẽ gạch đứt  Dựa theo nguyên tắc này mà Thánh nhân làm ra bộ Kinh Dịch, ký hiệu  toàn  bằng  những vạch liền,

vạch đứt thay đổi nhau mà làm nên quẻ biến đó vậy.

 

 

Từ đó mới suy ra: người nào cũng có ở trên mặt và trên  người cơ quan hữu hình như trên.

Vì người là một sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng  Đế. Thánh-nhân do theo đó mà làm nên nét chẵn, lẻ; Âm, Dương để diễn-tả sự chuyển biến trong vũ-trụ này. Do

 

vậy nét đứt  biểu thị bằng hào Âm, nét liền tượng hào Dương Nét liền, nét đứt đều do từ lý tính của người. Chính do Âm Dương này đã trở thành đầu mối của Càn Khôn Vũ Trụ mà Thánh-nhân đã luận nên tất cả những sự biến thiên trong trời đất, không đâu là không có hình ảnh Âm Dương. Dù vật lý học, nguyên tử học, sinh học, triết học, lịch học và nhất là TRIẾT LÝ CAO-ĐÀI.

Theo trên, với con số 7 là 7 khiếu (khiếu là lỗ) ở trên mặt, tức là 7 khiếu Dương; nhờ Dương-điển trên mặt nên tất cả con người dù xứ nóng hay xứ lạnh đều chịu được thời tiết mỗi nơi khác nhau, nếu khí Âm lên đến đầu hay mặt, là bịnh.

Thế nên Pháp Chánh Truyền qui định cho phái Nữ chỉ đến phẩm Đầu Sư mà thôi. Còn hai phẩm Giáo Tông và Chưởng Pháp thì không được dự vào cũng vì lẽ ấy.

Con số 7 có liên-hệ đến thất tình và thất khiếu sanh

quang  của  con  người. Do các số này đã làm nên phương

trình Đạo học, đang áp-dụng trong thế giới lòai người.

Xưa Phật chỉ độ phần Dương mà thôi, tức là độ hồn

mà không độ xác, độ tử không độ sanh, độ Nam mà không

độ Nữ, nên Phật-giáo chỉ làm tuần thất (nghĩa là 7×7=49 ngày)

Ngày nay, chính Đức Chí-Tôn mở Đại-Đạo, là cơ  tận-độ chúng-sanh, tức là thực hiện cả con số 9 (hình ảnh của toàn Cửu khiếu =7 khiếu dương + 2 khiếu âm) tức nhiên Kỳ Ba này độ cả hồn lẫn xác, độ tử và độ sanh,  độ Nam và Nữ, độ toàn cả nhân-loại trên Càn khôn Thế giới và vật loại; không phân biệt giống dân nào; vì tất cả đều là

con của Thượng-Đế. Đạo Cao Đài làm tuần Cửu (9×9=81)

Điều này ứng với Sám Trạng Trình, rằng:

“Cửu Cửu Càn Khôn dĩ định,

“Thanh Minh thời tiết hoa tàn”.

Bởi thế nên đúng thời này Thầy lập Cửu-Trùng-Đài là con đường vào Cửu-Trùng-Thiên, từng bước lên nấc thang tiến-hóa qua Cửu-Phẩm Thần-Tiên để đến nơi tuyệt phẩm là Niết Bàn, theo như Phật giáo quan-niệm đó.
Chỉ có con người mới được hình ảnh của quẻ THÁI mà thôi, tức nhiên đứng thẳng, đầu đội trời chân đạp đất.

Đặc tính quẻ THÁI :

Trong khi đó Khôn (6 vạch đứt) là Âm ở trên, quẻ KIỀN ☰ dương ở dưới, chỉ một sự bao dung, như tình cha mẹ thương con. Quẻ Kiền ☰ (3 nét liền) cọng chung là 9 nét. Người Á Đông nói Kiền là Cha, Khôn là Mẹ.

Khi trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hiệp thì muôn vật sinh trưởng cho nên mới nói THÁI: “Âm Dương hoà hiệp, thiên địa tương giao vị chi THÁI.”

THÁI còn có nghĩa nhỏ đi lớn lại, Âm đi Dương lại. Thế của khí Âm Dương trời đất giao nhau mà muôn vật hanh thông, trên dưới giao nhau mà chí khí giống in nhau. Trong Dương mà ngoài Âm, trong mạnh mà ngoài thuận. Đạo quân tử ngày một tăng trưởng, đạo tiểu nhân ngày một tiêu mòn.

    Soán viết: Thái, tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên Địa giao nhi vạn vật thông dã. Nội Dương ngoại Âm, nội kiện ngoại thuận. Quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu.

Vậy thì trời đất giao nhau, Âm Dương hoà hợp là quẻ THÁI. Muôn vật tươi tốt. Đấng nhân quân phải làm thế nào giữ được mức quân bình: không thái quá mà cũng không bất cập, cốt thực hành, vun bồi, sửa sang giúp đỡ cho nên việc của Trời đất và phù trợ cho dân sanh.

Hãy xem giữa trời đất và con người có những điểm tương đồng, tức nhiên “Trời đất in ta một chữ đồng”. đúng như câu của các Triết gia Đông Tây đều nhìn nhận: Con người là một Tiểu Vũ trụ “Nhân thân tiểu vũ trụ”.

“Con người đứng phẩm tối linh,

“Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi”.

Trời đất, vạn vật đều có đầy đủ trong con người của chúng ta. Sự tương ứng giữa hình tượng và các số của Đại Vũ trụ (Macrocosme) tức là trời đất với Tiểu Vũ trụ (Microcosme) tức là con người.

 

 

3- CHÁNH  正

            Chánh 正 nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. Điều này Đức Chí-Tôn đã dạy rằng “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”. Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.

Trong vấn đề tu-hành dù ở phương diện nào điều cần-yếu là phải giữ cái tâm cho chánh đáng “Vì tâm trung chánh đáng thì là làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của tà-quái xung nhập” .

Lời Bà Lâm Hương-Thanh nói rằng:

             “Sự tu-hành chẳng phải dâng hoa đảnh lễ, khỏ mõ rung chuông là đủ; mà cũng không phải niệm đọc kinh, ăn chay ăn lạt là rồi. Bởi đó là cái  SỰ chớ chưa phải cái  LÝ, cái ngọn chớ chưa phải cái gốc; cái lý với cái gốc vốn ở trong TÂM người.

              “Giữ tòa lương-tâm cho thanh tịnh, chánh đáng, rồi sai khiến ra tứ chi, thân thể, dò  theo đạo luật mà làm. Sự tu không phải nội trong lúc tới chùa hay là đương lúc cúng kiến ăn chay. Phải cẩn-thận dầu trong khi ngày thường, ăn ở đối-đãi với nhau trong cuộc đời cũng phải cho nhớ rằng: thiện nam tín nữ, thì mình phải liệu làm sao, giữ làm sao cho lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành-vi  cho khỏi phải phụ một phần trách nhiệm, chớ nếu như đã thọ lãnh tiếng“nhập môn cầu Đạo” mà còn tranh cạnh chuyện thị-phi ác cảm  bên trường đời, lửa tam bành nổi dậy rần rần, ma lục tặc hoành-hành thất sá.

           “Kinh cũng đọc, kệ cũng đọc, mà lời phàm tiếng tục cũng không chừa.

           “Tiên cũng cầu, Phật cũng cầu mà tánh quỉ nết yêu cũng không bỏ.

           “Ngoài so-se đeo mảnh gương Thiên-nhãn, lần chuỗi hột bồ-đề mà trong lòng thì mối nghiệt dây oan vấn vương nơi trái tim lá phổi.

           “Vậy thì sự tu-hành chính là một cuộc cầu danh giả dối, biết mấy đời cho thoát đặng cảnh khổ sông mê.

           “Ôi! Ăn chay một tháng có mấy ngày, còn bao nhiêu thì hại vật sát sanh không chừng đỗi, kinh sám-hối đọc sơ qua chút ít, còn bao nhiêu thì vọng ngôn ác ngữ cả luôn năm, vậy rồi lâm vô vòng ác-đạo trầm luân lại thán oán rằng: Tôi có niệm kệ, ăn chay, sao không thấy Phật rước Tiên đưa, Thánh Thần hỉ xả ?” 

Thi văn dạy Đạo

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra?

Sao ra Tiên Phật người trần tục.

Trần tục muốn thành  phải đến TA.

 

 

4- CHỦ 主

TRÊN THIÊN BÀN  có dạng CHỮ CHỦ 主

Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Có thể gồm thâu vào một mối ở người tu theo Đạo Cao-Đài ngày nay là đoạt đức làm Vương, làm Chủ. Phật Thích-Ca cũng nói: Thắng một vạn quân không bằng tự thắng lấy mình là vậy. Thắng lấy mình là làm chủ mình trước tiên. Dầu một bậc vua quan công hầu khanh tể đi nữa mà không thắng lấy mình được thì mọi việc sẽ hư hỏng về sau, mất lương tâm mà thôi.

Lịch-sử nhân-loại đã cho ta thấy điều ấy.

Phân tích chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰ ấy tượng Tam tài, mà chính con người có dự phần trong ấy: trên trời, dưới đất, giữa là người. Phải là người có đạo đức mới không thẹn với trời cao đất dày chứ ! Ba vạch này còn là quẻ CÀN (Càn vi thiên) đó vậy. Thêm một nét sổ

thẳng qua thành ra chữ Vương 王 (vương là vua) mà chính Đại-Đạo ngày nay Chí-Tôn đã đến ban cho một nền Vương Đạo. Đặt một nét chủ lên trên thành ra chữ CHỦ là vậy.

Thế nên ngày nay Đức Chí-Tôn đến mở Đạo Ngài cho Thờ trên Thiên bàn hình chữ CHỦ . Tức nhiên điều cần yếu nhứt là mình phải tự làm chủ lấy mình. Đây cũng là câu quyết định: “Ngũ nguyện Thánh Thất an-ninh” vậy.

Dù ở một con người có Tôn-giáo hay một người ngoại Đạo mà có đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí thì cũng là một mẫu người đáng kính, đáng nễ phục.

“Thế nên Triết-lý của nền Tôn-giáo Cao-Đài mục đích là làm cho cả nhân-loại đến học đức làm Chúa, làm chủ toàn cả gia-đình:

– Được làm Chủ của một tiểu gia-đình, tức là một Tông-tộc, là một vị Hiền tại thế rồi.

– Được làm Chủ một trung gia-đình là quốc gia, là một vị Thánh-nhơn.

– Được làm Chủ một số quốc-gia hiệp lại như Hiệp Chủng-quốc tại Mỹ-châu như Washington, Lafayette chẳng hạn là một vị Tiên.
– Được làm Chủ tới đại-gia-đình tức nhiên làm chủ cả toàn tâm-lý thiên-hạ, một nền Tôn-giáo, là một vị Phật.

 

 

 

 

 Thể-pháp của Đạo Cao-Đài có khuôn-khổ tập cho nhơn loại đi đến mục-đích trong luật-pháp của một nền Chánh giáo”.

Trên Thiên bàn thờ Chí-Tôn hình chữ CHỦ  tức là gồm 12 món cúng phẩm, đặt thành 3 hàng ngang tạo thành hình quẻ Càn  Càn vi thiên (Càn là trời) tức là chỉ ngôi Thượng Đế Thái-cực Thánh-Hoàng vi chủ.

Đức Chí-Tôn đến dạy cho nhân loại thờ Ngài dưới hình thức chữ CHỦ là chỉ rõ cho thấy rằng:

“Thầy là CHÚA cả Càn khôn thế giái, tức là Chúa tể sự vô vi, nghĩa là chủ quyền của Đạo, mà hễ chủ quyền của Đạo ngự nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy” (PCT).

Vậy thì lý do gì nay thượng lên, mai đem xuống như một món hàng. Nhiều người rất tôn trọng Hộ-Pháp, nên chỉ thờ riêng Đức Hộ-Pháp mà thôi. Vậy những người thờ Thánh Tượng Ngũ Chi, biểu tượng ngôi Thượng Đế vi chủ, rồi không còn kính nễ Đức Hộ-Pháp hay sao ? Và Đạo lịnh nào cho phép dời Thiên Nhãn Thầy xuống ? Có phải vô tình ta đã thất lỗi với Thầy Trời sao ? Cũng là đại tội với Đức Hộ-Pháp hay sao?
Hiện nay trên Thiên bàn đã sửa sai Pháp:

 

 

 

Ngày nay cũng đặt 12 món cúng phẩm ấy nhưng sửa lại để bông và trái xuống cấp dưới (hoặc cấp 2 hay cấp 3) nghĩa là làm mất đi một nét ngang, bấy giờ còn lại là hình chữ THỔ  (thổ là đất) thì trở thành quẻ Khôn  Khôn vi địa (địa là đất) là thời âm. Âm thạnh tất Dương suy. Đạo bị bế là vậy. Bởi hằng ngày Ta chỉ lạy vào chữ “Thổ” mà thôi.

Nhìn lên Thiên bàn, một lỗi-lầm như trên ta thấy ra rất nhỏ, hầu như không một ai chú-ý, nhưng chiều sâu rộng thật tai hại vô cùng, Đạo bị thất pháp là do đó. Người tu không thành cũng do đó. Người bảo thủ Chơn-truyền cũng phải biết phân biệt bấy nhiêu đó mà tìm tòi nơi  Chánh giáo. Đâu là đúng? Đâu là sai? Tự mình điều chỉnh!

Thất pháp như thế nào?

Điều này Thầy có nói với Đức Hộ-Pháp khi Ngài giao quyền cho Hộ-Pháp xuống thế mở Đạo. Nhắc lại lời   Đức Hộ-Pháp rằng:

Bần-Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế mở Đạo, thì Đức Chí-Tôn mới hỏi rằng:

           – Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở Thể-pháp trước?

          Bần-Đạo trả lời:  – Xin mở Bí-pháp trước.

          Chí-Tôn nói:  – Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa! Đang lúc đời cạnh-tranh tàn bạo, nếu mở Bí pháp trước, cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, Đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào?

       Vì thế nên mở Thể-pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại, xin miễn mặt Bí pháp còn là Đạo còn.

      – Bí-pháp là Hiệp-Thiên-Đài giữ.                                                         

– Thể-pháp là Cửu-Trùng-Đài mở-mang bành trướng”.

Vậy có hại cho nền chơn giáo của Chí-Tôn không?

– Nếu nói hại thì quả thật là một điều tai hại ghê gớm, nhưng muốn không hại thì cả nhơn sanh thông hiểu đạo lý, dầu sửa đến đâu mà nhơn sanh đã thấu hiểu rồi thì không còn lầm lạc được.“Tu hữu công mà thành thì không thành”  ấy là lời Thầy đã từng nhắc nhở!

Tất nhiên, ngày nay Đức Chí-Tôn đã đến, ban lại CHỦ QUYỀN cho dân tộc Việt-Nam, vì qua bao thời gian nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã bị mất chủ quyền, chịu nạn lệ nô, để bây giờ con cháu của các Ngài phải biết đến chữ CHỦ với tầm mức quan trọng của nó:

– Thứ nhứt là biết có Trời đang làm CHỦ, đang chế ngự toàn cả tâm linh của nhân loại với mục đích đưa nhân loại đến Đại-Đồng. Ấy là chữ  CHỦ về Đạo-pháp đó.

– Thứ hai là đất nước Việt-Nam có hình chữ CHỦ, tức nhiên là một quốc gia thiên định, là một Thái cực đồ.

– Thứ ba là đất nước Việt-Nam này phải chính do Việt-Nam làm Chủ trong sứ mạng thể thiên hành hoá, không bị một quyền vật dục nào làm cho hư hoại.

– Thứ Tư phải chính mình làm chủ lấy mình: đây là một yếu-tố quyết định và quan trong nhất. Giả sử con dân Việt-Nam cứ mê theo chủ nghĩa ngoại lai bán rẻ lương tâm,  bán rẻ cả hồn thiêng dân tộc, thì dầu Chí-Tôn có ban cho đất nước đầy mỏ vàng cũng sẽ làm mồi cho kẻ tham quyền trục lợi mà thôi. Tạo ra nhiều tham nhũng vụ tất lợi lộc mà bỏ ngân hàng riêng, bán rẻ sự hy sinh xương máu của bao đời cha ông mà thôi.

Hồn thiêng sông núi ơi ! Việt Nam ơi! Việt nam ơi!

 

 

5- CHÚA  主

            Âm tuy khác nhưng nghĩa vẫn một. Gồm bộ Chủ và chữ Vương  Ngày xưa vị Chúa xem như người đứng đầu một nước lớn gọi là Đế 帝 thống lãnh các Vương hầu. Cũng như Ngôi Trời là Cha, mà Chúa là Con một của Trời

Đọc Chúa là danh của ĐẤNG Chúa Cứu thế đã một lần đến với nhân loại, Ngài đã thọ khổ để chuộc tội cho loài người. Trên hai ngàn năm đã vắng mặt Người:

Trong “ĐỆ NHỊ HOÀ-ƯỚC đã ký-kết với Đức Chí Tôn bị nhân-loại bội-ước nữa, vì bội-ước mà bảo sao nhân-loại không bị tội-tình mắc-mỏ cho được”.

Lời Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh  KANT:

“Je reviens en ce monde avec un Nouveau  Jérusalem” (Tôi trở lại thế-gian này với một TÒA THÁNH MỚI”. Hôm nay Ngài đã trở lại với Toà-Thánh Cao-Đài rồi đó:

 “Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

 “Hữu duyên Đông Á nắm Thiên Thơ”

            Thánh ngôn đã ghi rõ một đàn cơ do người Pháp hầu đàn. Đức Chí-Tôn giáng dạy:

“Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận diệt đã hầu kề. Nhân loại tàn sát lẫn nhau, bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẻ và chiến tranh.

            Thánh Đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp người dưới. Phải có một giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh. Chỉ có xứ Việt-Nam còn duy trì được sự tôn sùng Tổ phụ  theo tục lệ cổ truyền, mặc dù xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày được tạo lập đến giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên như vậy mãi” (TNI/131).

Bởi: Ngày nay Người đã trở lại trong nguơn hội này để hoàn thành chương trình “Qui Nguyên Tam Giáo Phục Nhứt Ngũ Chi”, dưới danh hiệu: “Tam-Thiên Thế giới HỘ-PHÁP GIÁNG LÂM”

 

 

6-  CỔ  

Trong Dịch-lý: quẻ Sơn Phong Cổ là quẻ thứ 18 trong Thượng Kinh Quẻ CỔ họp bởi Cấn  là núi ở trên; Tốn ☴ là gió ở dưới; núi là sơn, gió là phong, gồm lại đọc tên là Sơn-Phong Cổ

Chữ Cổ 蠱 trong Tự-điển nghĩa là một giống trùng   ở trong bụng làm cho người ta bị trướng, gọi là bệnh cổ trướng. Trong sách thuốc có nói: Phong, Lao, Cổ, Lại tứ chứng nan-y (bệnh ung nhọt, ho lao, cổ-trướng, cùi lở-lói là bốn chứng bệnh rất khó chữa).

– Cổ 蠱 cũng là một vật độc làm hại người, ai ăn phải thì sinh ra ngây-dại, mê- man.

– Cổ 蠱 theo chiết-tự có ba chữ trùng  ở trên chữ mãnh , mãnh là cái chậu; ba chữ trùng là có nhiều sâu bọ trong chậu, có nghĩa là tan rã ghê-tởm, hỗn-độn lúc nhúc như dòi vậy.

– Cổ  có nghĩa là tan-hỏng vì làm việc; lúc-nhúc trong chậu là công việc của sâu-bọ, mà trừ bỏ nó đi lại là một việc khác, tức đã hoại loạn đến mà lo sửa sang, đã sửa sang tất nhiên có công việc, nên nói tắt rằng: “Cổ giả sự dã” (cổ là công việc). Khi vật bỏ lâu ngày chẳng dùng thời sâu mọt sinh ra gọi bằng trùng cổ; người say đắm tửu sắc mà tật bệnh sinh ra gọi bằng bệnh Cổ. Thiên hạ trị an lâu ngày mà tệ hại sinh, gọi bằng cổ hoại. Trai gái say đắm tình dục mà bị mê hoặc, thảy đều là tượng Cổ loạn, thời không thể ngồi yên, tất có việc nên đặt tên quẻ bằng Cổ.

               A- Quẻ CỔ tượng cho thời “Án nạn pháp”

Trong cửa Đạo Cao-Đài, người đứng ra lãnh đạo tinh thần buổi này chính là công của Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc. Ngài là Giáo Chủ về hữu hình. Phần vô hình thì chính Đấng Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế là Giáo chủ.

  NHỮNG HIỆN TRẠNG CỦA NĂM THÂN

Đầu xuân năm Nhâm-Thân (1932) sắp Đại Lễ Đức Chí Tôn ngày 9 tháng Giêng, nên vào buổi chiều tối ngày  mùng 8 mới đốt bên trong lòng Quả Càn Khôn một ngọn đèn manchon cho có ánh sáng. Do hai vị chăm sóc là Hồ Văn Lầu và Nguyễn Văn Biện. Lối 9 giờ đèn phựt dầu phát cháy Quả Càn Khôn. Nhờ ông Văn-Thắng-Trà (sau nầy là Lễ sanh Phái Thượng) dập tắt được ngọn lửa. Quả Càn Khôn bị cháy chỉ còn 1/3 phía Thiên Nhãn thôi.

Đến sáng ra thì Anh Cả Đức Quyền-Giáo-Tông mới qua hỏi Đức Hộ Pháp:

– Quả Càn Khôn bị cháy Hộ Pháp nghĩ sao?

– Đức Hộ Pháp nói: Quả Càn Khôn bị cháy mà Thiên Nhãn còntức là Đạo còn, nhưng đời phải tận.

Sau vụ cháy Quả Càn Khôn rồi thì Đức Chí Tôn có giáng cơ cho một bài thơ như sau:

                   

                      THI

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,
Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.
Trời còn đất lỡ tang thương biến,
Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.
Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,
Mở đường công quả chúng làm theo.
Văn chương đâu rõ thông cùng lý,
Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

        

B- Nền Đạo bắt đầu gặp cơ khảo đảo:

Trong cửa Đạo hiện thời lớp thì chia phe phân phái, còn lại thì bị cường quyền thực dân đàn áp bắt Đức Hộ Pháp vào năm Tân-Tỵ đày qua Madagascar cùng với một số Chức sắc cao cấp nữa.

Qua năm Giáp-Thân (1944) người Pháp tính đàn áp Cao Đài, có lịnh bắt Chức sắc và Chức việc, nên quý vị đó được tin trốn xuống Sài-Gòn hợp tác với Nhựt mới lập ra hãng tàu Nitinan vừa làm mướn vừa tập luyện cho đoàn Nội Ứng Nghĩa Binh thuần thục. Nhờ Nhựt làm hậu-thuẫn cho số Nghĩa-binh cầm tầm vông, đầu đội calô Thần Đạo nhảy vô thành bắt quân Pháp, đó là cuộc đảo chánh Pháp 24 tháng giêng Ất-Dậu (1945).

Do cuộc đảo chánh nên Thực-dân Pháp trả tự do cho Đức Hộ-Pháp từ Madagascar trở về cố quốc. Đức Ngài xuống chiếc tàu Indépendance về đến Vũng-Tàu là 12 ngày đêm, về đến quê hương vào ngày 27-07-Bính Tuất (1946) bởi tàu lớn nên đậu ngoài khơi nhờ ca-nô ra rước Đức Ngài vào bờ rồi về Sài-Gòn nghỉ ở nhà ông Hợi hết cả tuần mới về Tòa Thánh.

Đức Ngài nhìn lại cảnh vật khác xưa, vừa lo chấn chỉnh mối chơn truyền vừa lo phục lại chủ quyền cho Đạo, tức là lập thành Hội Thánh để thay hình thể Đức Chí Tôn và chuẩn bị mở Đại-hội Nhơn Sanh năm Bính-Tuất. Ngài còn lo tu bổ Đền thờ Đức Chí-Tôn và tạo ngôi Điện thờ Đức Phật-Mẫu cùng các dinh thự với ba Cung ba Động vừa xong đâu đó được an bày.

Nào ngờ cơ khảo Đạo lại đến với Đức Ngài nữa. Nhưng  Đức Ngài đã biết trước tất cả và sẵn sàng chờ đợi, cũng như chờ đợi sự đi đày ở lần trước vậy. Trước đó, Đức Hộ Pháp đã chuẩn bị cho cuộc lễ Hội-Yến Diêu-Trì-Cung vào ngày 15 tháng 08-Ất Mùi thật chu đáo. Buổi tối ngày 16 tại sân Đại-Đồng-xã có tổ chức Văn-Minh-Điện để các bậc Chức sắc cho thay đố, nhưng sự thực Đức Ngài chỉ mượn 4 câu ca dao để làm câu thay, ngụ ý muốn nhắn nhủ những lời tâm huyết nhất cho các Môn-đệ của Đức Chí Tôn biết thời buổi nguy vong sắp đến mà không thể tỏ thật bằng lời, nên mượn thay đố rằng:

Câu 1: “Ví dầu cầu ván đóng đinh,

“Cầu tre lắt lẻo gập-ghình khó đi”

(xuất nhứt vật) Đáp: “cái thang

Câu 2: “Bậu nghe ai dỗ ai dành,

“Chanh chua Bậu chuộng, cam sành Bậu chê”.

(xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái trách”

Câu 3: “Một mai thiếp có xa chàng,

“Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin”

(Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái ly”

Câu 4: “Tưởng rằng nghĩa mặn tình nồng,

“Nào hay tay ẵm tay bồng vai mang”.

( Xuất nhứt vật)  Đáp: “Cái khai”.

Không một ai đáp trúng lời thay đố trên cả!

Những lời than trách trên đây đều là hình ảnh của người Nữ phái đó là thời Âm, khi Âm thịnh tất Dương suy.

Với cuộc thi đố này ngụ ý 4 chữ “Than Trách Ly Khai”. Đó là một chơn ngôn ẩn ý của Đức Ngài nói lên cho nhân-sanh biết cái dã-tâm của Ngô Triều với ý đồ Công-giáo-hóa Cao Đài, dù trước đó đã có nhiều thủ đoạn. Ba hôm sau có cuộc thanh trừng vào ngày 20-08-Ất Mùi do Quân đội Cao-Đài đứng lên kéo về bao vây Hộ Pháp Đường và làm khó dễ Đức Hộ-Pháp.

Chính cái ngày 20-08 này được xem là “Ngày Đạo hận” để mở ra một thời Án nạn pháp mà người phải đứng ra gánh nạn cho nhơn sanh chính là Đức Ngài đã dâng sớ:.

Trích đoạn Sớ chung niên năm Ất Mùi

Về cuộc thanh trừng

              “… Năm Ất Mùi là năm Đạo trải qua nhiều trạng thái vui buồn lẫn lộn, lắm cảnh hiệp tan pha màu, khiến cho Hội Thánh phải lắm công nhọc trí xoay trở thuận chiều, hầu trấn an toàn thể con cái Đức Chí-Tôn.

Bước qua tháng tám Lễ Hội Yến Diêu Trì vừa yên, cách ba ngày sau nhằm ngày 20 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl 05-10-1955) cuộc nội biến xảy ra do Trung Tướng Nguyễn Thành Phương chủ động vào Hộ-pháp-Đường là nhược điểm. Cuộc khảo đảo nhằm ngay Đệ Tử, nhưng dầu phải, dầu quấy, dầu nên, dầu hư, Đệ Tử cam hứng chịu cuộc bạo hành của Phương…làm sôi nổi cả dân cư trong vùng Thánh Địa, luôn cả các nước ngoài…”

Chính cái thời kỳ mà Tôn giáo phải chịu một cái nạn ghê gớm nên gọi đó là thời Pháp nạn.Có phải chỉ riêng

Tôn giáo Cao Đài mới chịu một cái ách nạn đó hay không?

– Thưa rằng không! Từ xưa đến giờ không một Tôn giáo nào tranh khỏi: Chúa chịu đóng đinh trên cây Thánh giá. Bọn người manh tâm giết Chúa không ai khác hơn là người của Chúa. Một Juda bán Chúa vì ham ba chục  nguơn bạc. Còn Tướng Nguyễn Thành Phương đây cũng vì ham ba chục triệu bạc ở cái thời điểm năm 1955 của nhóm gia đình trị Diệm – Nhu, mà còn thêm hứa hẹn một mớ chức quyền bổng lộc nữa. Đức Hộ Pháp cho đây là hành động của một con người “bội sư phản Đạo” thì chắc rằng không còn một từ nào khác để dùng cho con người này nữa.

Sau ngày Đức Hộ-Pháp Triều thiên, Ngài giáng Cơ bảo sửa “ngày Đạo hận” ra ngày “Giỗ chung”

 

 

7- CUỒNG 狂

            Chữ Cuồng nghĩa là điên. Theo phép Lục thư chánh tả thì chữ này gồm có bộ khuyển (犭) viết đủ nét  là con chó và chữ Vương 王 là vua. Ý nói dẹp bỏ loài khuyển cho hết rồi (chỉ loài gian nịnh mà thời nào cũng có) thì mới xuất hiện một vì vua anh minh, chánh đại, để cho nước trị, nhà an, đem lại hạnh phúc thanh bình cho dân chúng. Đây là duyên cớ một bài thơ “Vịnh người cuồng” của nhà chí sĩ Trần Cao Vân.

Sau cuộc khởi nghĩa Võ-Trứ tại Bình Định vừa chấm dứt, thì tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên lại xảy ra vụ truyền bá Trung Thiên đạo, viên Tri-huyện Đồng Xuân  ra lịnh bắt giam cụ Trần Cao Vân và gán cho cụ là một cuồng sĩ. Nhân đó Cụ liền cảm tác bài thơ này:

Vì ai nên chịu tiếng là Cuồng?

                 Nhân nghĩa rồi ra bỏ mất luôn.

     Vì LỖ ở TRẦN cam nhẻ dột, (1)

     Ngang trời dọc đất thảy luồng tuông,

     Phép Tiên Tổ mẫu khôn thu ngục,

     Bùa Thánh Tề Thiên cũng dẹp tuồng,

     Trừ hết khuyển rồi Vương rõ mặt (2)

     Đủ xiêm, áo mão ấy nên khôn.

Câu thơ số 3 nói LỖ là tên nước Lỗ vào thời nhà Châu bên Tàu ngày xưa, đó là quê hương của Đức Khổng Tử, còn TRẦN là một nước thời Châu mạt. Đức Khổng Tử có đến nước Trần truyền Đạo, không được vua nước này tin dùng, lại nhân nạn đói và loạn lạc hoành hành, Đức  Khổng Tử và cả môn đệ đều chịu khốn khổ.

Nay hoàn cảnh cụ Trần Cao Vân trái ngang như vầy nghĩa là cụ cũng muốn đem đạo lý để chấn chỉnh nhân tâm, nhưng vì người ta không tin Đạo, nên cụ phải cam chịu sự mỉa mai, khinh rẻ, chẳng khác người điên không biết hổ thẹn.

Sau khi Cụ Trần Cao Vân được thả về từ nhà lao Côn Lôn, tháng Giêng (1914). Tiếp đó Cụ Thái Phiên giới thiệu Cụ Trần gặp Vua Duy-Tân. Vua mời Cụ Trần Cao Vân làm Quốc Sư, Cụ nhận lời. Sau cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Vua Duy-Tân bị thất bại, chính phủ bảo hộ và triều đình Huế ghép tội cho Cụ “giả danh bạo nghịch” rồi đem xử chém tại cửa An- Hòa (phía Tây thành phố Huế) cùng một lần với Cụ Thái Phiên, Tôn Thất Đề vào ngày 16-04-1916.

Trước khi chuẩn bị đưa ra Hội đồng quyết án, Cụ Trần Cao-Vân tìm cách gởi thơ riêng đến các vị Đại thần Nam triều bằng mấy lời tâm huyết:

“Trung là ai, Nghĩa là ai,  đai cân võng lọng là ai ? Thà để cô thân tử biệt;

“Trời còn đó, Đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó, mong cho Thánh Thượng sanh toàn”.

Nghe tin Cụ Trần Cao Vân mất, Cụ Phan Bội Châu ngậm ngùi thương tiếc, bèn viếng Cụ hai câu đối:

– Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị Đạo sư, liếc mắt xem Âu hải phòng trào thương đoàn hậu tiến,

– Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật được mấy Tiên sanh.

Được tin Cụ Trần Cao Vân đã mất, các nhà chí sĩ cách mạng cứu quốc đang bị giam ở ngục Côn-Lôn vô cùng xúc động, tán dương Cụ Trần qua bốn câu thơ:

Hy tiên Văn hậu thử chân thuyên,

Biệt tự trung gian tạo nhất thiên,

Học thuyết năng tương tiên huyết nhiễm,

Nam phương Tân dịch tích vô truyền.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra quốc âm, đăng trong “Thi Tù tùng thoại”:

Văn sau Hy trước vốn Kinh này,

Riêng giữa Trung Thiên dựng một tay.

Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,

Trời Nam, Dịch mới tiếc không thầy.

Sau khi cụ Trần Cao Vân và Cụ Thái Phiên đã chết vì chánh sách bạo tàn của thực dân Pháp thì những  tài liệu về Trung Thiên Dịch- Trung Thiên Đạo đều bị lục soát và thủ tiêu.

Kết luận:  Cụ Trần Cao-Vân, nhà chí sĩ cách mạng cũng vừa là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông đã làm tròn nghĩa vụ của người trai nước Việt, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tranh đấu không ngừng. Từ năm 20 tuổi từ biệt gia hương. Hai mươi bảy tuổi (27) đặt chân trên trường tranh đấu. Ba mươi ba (33) tuổi vào ngục Phú-Yên. Ba mươi lăm (35) tuổi vào ngục Bình-Định và Quảng Nam. Bốn mươi ba (43) tuổi vào ngục Côn-Lôn.

Đến năm mươi mốt (51) tuổi- năm Bính Thìn-ngày 16 tháng tư, cái ngày kết liễu đời anh hùng tại làng An Hòa, (cách kinh đô Huế một vài cây số) nhà chí sĩ Trần Cao-Vân và cùng ba đồng chí: Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, lên đoạn đầu đài để đền nợ non sông.

 

 

        8- ĐẠO 道

Chữ Đạo  bắt đầu chấm hai chấm là Âm Dương nhị khí, kế dưới một nét ngang tức là Âm Dương hiệp nhứt, nên chi một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật; rồi vạn-vật cũng quay về hiệp một. Kế dưới chữ tự  (6 nét) nghĩa là tự nhiên mà có. Nên chi Đạo dạy phải tự lập, tức là lo tu-hành để đạt được huyền-bí đạo-mầu thì trí lự mới phát minh. Chữ tự 自 là tự tri, tự giác chớ chẳng ai làm cho người khác giác ngộ giùm hay minh-huệ giùm

Trên dưới ráp lại thành chữ thủ  (9 nét). Chữ thủ

nghĩa là ban sơ, lúc ban đầu, khởi thuỷ, là đầu mối của càn khôn vũ-trụ. Kế là bộ Sước (3 nét) nghĩa là chạy, nên kêu là “pháp luân thường chuyển”.Họp chung lại thành chữ ĐẠO 道

Chữ ĐẠO  Thánh-nhân đã đặt một cái luân-lý trong đó tự lâu rồi; hai nét Âm Dương hiển-hiện trên đầu đó, hình ảnh của cha mẹ ta đó, có hợp nhất  được  thì mới sanh ra một chủng-tử đầu tiên là con mắt, tức là chữ Mục 目 mục là con mắt, là trung tâm của chữ Đạo. Con mắt để thâu thập tất cả tinh-hoa, đó là công ơn trước hết là của cha mẹ sản sanh ra ta. Cha mẹ cũng phải chịu ơn của hai Đấng trên cao kia nữa, đó là Âm Dương trời đất, ngày nay Đạo Cao-Đài xác nhận là Đức Chí-Tôn và Đức Phật Mẫu.

Đức Thượng-Đế là một khối Đại linh quang, là ánh sáng bao la, biểu tượg bằng “Con Mắt Trời” thế nên Đạo Cao Đài thờ “Thánh tượng Thiên Nhãn” là vậy.

Hai Đền thờ của các Ngài còn đó! Niềm tự tin này không bao giờ lầm, nghĩa là ánh sáng đã lóe lên từ mắt trở thành chữ Tự  (tự là chính mình), từ đây con người tự giác, tự tu, tự trau-giồi cho kiếp sanh trên con đường tiến hóa. Nhưng nẻo đến đã có lối thông thì đường về cũng chính mình sáng-suốt, cho nên khi ráp cả hai phần trên dưới lại thành ra chữ Thủ  (thủ là đầu). Cái đầu này đưa ta đến và nó cũng hướng dẫn cho ta về, chúng ta xuống bằng cái đầu cho rằng thuận, thì khi về cái đầu cũng phải quay ra ngoài để triều kiến Đức Mẹ Diêu-Trì nơi cung Tạo-Hóa Thiên ở từng trời thứ chín, thì cái đầu này biểu tượng chữ thủ  (9nét) nó mới hợp lẽ. Nếu quay vào hóa

ra đi nghịch làm sao đoạt Đạo? Than ôi!

Đức-tin nơi ta đó, ngày nay Chí-Tôn tạo Đạo ra để cho nhân-loại thờ nhân-loại. Đạo Cao-Đài  thờ con Mắt là thờ thiên-lương của mình đó vậy, cho nên con đường tu giục-giã ta phải hoàn thành Tam lập, tức nhiên lập đức, lập công, lập ngôn nghĩa là chữ thủ 首 thêm một nét sước  (biểu-tượng bằng bộ sước có 3 nét) thành ra chữ ĐẠO 道 (chữ Đạo có 12 nét  do 9+3, tức là con số của Thầy)

Đây là tầng trời cao nhất, có về đến đây được thì mới nhập vào cõi Thiêng-liêng Hằng sống và hòa nhập được với càn khôn vũ-trụ, tức là về được cùng Thầy.

Sự tu thân cần phải có ĐẠO, tin-tưởng nơi Đạo. Bởi “Đạo là cơ bí-mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm-vị Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

Thầy làm chủ chữ Đạo là Cha của sự sống:

Thầy dạy rõ về quyền-uy tối thượng ấy (TNII. 62)

“Các con. Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế-giới thì Khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái cực. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi, Lưỡng-nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát-quái, Bát-quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn-khôn thế-giái. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật-chất, Thảo-mộc, Côn trùng, Thú-cầm, gọi là chúng sanh. Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn-Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế-giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm. Nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa.  Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu Nguyên-sanh hay Hóa-sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

 

 

         9-  Điểu 鳥  (11 nét)

“Trải bao thỏ lặn ác tà”. Ngôn Đường-Thi có câu: “Nhạ phi đông hải chí Tây sơn nhứt nhựt trường” nghĩa là Con chim ác bay về biển Đông tới núi Tây thì giáp một ngày. Mượn điển văn ấy mà chỉ một ngày: Mặt trời sớm mai mọc tại hướng đông, chiều lặn về hướng Tây. Khuất bóng ác tức khuất bóng mặt trời thì qua một ngày.

Vừng ô” Không có điển văn. Tuy nhiên Thi văn có câu “Ô thước qui sơn” tức 1à quạ bay về núi. Đã biết rằng hễ chiều thì biết bao nhiêu loài chim bay về núi, song lấy tích quạ mà chỉ rằng chiều tối thì phải hơn, vì quạ thì “Đen lông đen cánh bộ giò cũng đen”.

Chữ Hán thì chỉ các loài chim đều gọi là Điểu 鳥  (bộ điểu -11 nét). Chim quạ cũng là loài Điểu, nhưng chỉ có con mắt có màu trắng, dễ nhận ra ban ngày, còn khi chiều xuống, đêm tối dần nên hình dáng cùng màu lông của Quạ lẫn trong màn đêm, còn lại màu đen tuyền mà thôi. Thánh nhân viết chữ Ô 烏 (10 nét). Còn chữ điểu có một gạch ở trên tượng cho con mắt nên thành 11 nét vậy.

 

 

10 -ĐÔNG 

Theo nguyên-lý của trời đất thì Đạo luôn luôn phát khởi từ phương Đông.

Phân tích Chữ  Đông 東 có hai phần: chữ nhựt  ở giữa, bộ mộc  xuyên qua chữ nhựt, có nghĩa là mặt trời khi vừa nhô lên khỏi ngọn cây là đã thấy rõ rồi. Chứng tỏ rằng mặt trời luôn mọc ở phương Đông. Mặt trời là Đạo, tức nhiên mặt trời đem lại sự sống cho muôn loài vạn vật cũng như Đạo vậy.

“Từ cổ chí kim, tạo thiên lập địa, Đạo đều phát khởi từ phương Đông, là các nước ở miền Á Đông (Asie) như các nền chơn-giáo trước kia: Nho Đạo 道, Thích cũng đều phát khởi nơi miền Á-đông rồi lần lần truyền bá qua phương Tây như:

 – Đạo Phật thì khai tại Thiên-trước là Đức Nhiên đăng Cổ-Phật và Đức Thích-ca Mâu-Ni khai Phật-giáo.

– Đại-Đạo là Đạo Tiên thì Lão-Tử khai tại Trung Hoa.

 – Sau nữa Khổng-Tử khai Đạo Thánh cũng tại Trung hoa là ở miền Á-Đông.

        – Sau lần lần Đạo trải khắp qua hướng Tây, nên Đức Chúa Jésus truyền Đạo Thánh tại hướng Tây. Kế đó Đạo mới roi truyền ra khắp năm châu.

Câu Kinh:“Ánh Thái-dương giọi trước phương Đông”. Ánh Thái-dương là Đạo đó vậy. Nay đã đến Hạ nguơn mạt kiếp, cuối cùng nên Đức Chí-Tôn mới chuyển Đạo nơi vùng Á-Đông, đấy là nơi nguồn Đạo phát ra, lại khai nơi Nam-kỳ (một trong ba kỳ của cõi Á-đông). Vì cõi Đông dương đây cũng về miền Đông của Á-châu nên ngày nay phải khởi khai nơi hướng Đông trước rồi mới truyền lần ra  hướng Tây. Như Đức Chúa Jésus khai Đạo bên Âu châu, thì cũng khởi khai nơi miền Đông của Âu châu, rồi mới loan truyền khắp cả Âu-châu, ấy là luật tự-nhiên từ cổ chí kim, hễ Đạo phát khai thì cứ bắt đầu từ phương Đông truyền ra.

            Ngày nay là giáp một vòng nên khởi lại điểm ban đầu gọi là “Thiên địa tuần-hoàn châu nhi phục thủy” do đó nền Đại-Đạo phải khai tại Á-Đông này, nên Thầy mới mở Đạo nơi Đông dương là cực Đông của Á-châu mà lại khai nơi xứ Nam-kỳ là xứ thuộc-địa, dân-tộc yếu hèn, kém cỏi, ấy là do nơi Thiên-cơ tiền định cả muôn năm, lại là thưởng cái lòng tín-ngưỡng của người Nam từ thử.

Tuy khai Đạo tại nước Nam mà cũng khởi từ Đông, do cái lý từ Bàn-cổ sơ khai: “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, nhơn sanh ư Dần” 天開於子地藉於丑人生於寅. Do vậy mà Đạo khởi khai tại Tây-Ninh lần lần truyền ra Gia định, Biên-Hòa, Thủ-Dầu-một, Chợ-lớn là mấy hạt ở hướng Đông. Qua năm thứ nhì, thứ ba Đạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây”.

Do câu “Đạo xuất ư Đông” cũng nói lên ý-nghĩa ấy.

“Cái nguyên-lý ấy có từ thuở chưa có càn khôn vũ trụ. Đạo-giáo có dạy: Hai lằn nguơn-khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái cực, chủ ngôi Thái-cực là Đức Chí-Tôn.

 Khi trời sét nổ ta nghe gì? An-Nam mình kêu là “Ùm”. Vì cớ phép Phật sửa lại là “Úm” (úm ma ni bát ri hồng). Câu ấy đọc có nghĩa là nắm cả quyền-năng vũ-trụ quản-suất trong tay. Tiếng nổ ta nghe nó ra sao? Khi nổ rồi còn nghe tiếng bay xa, nguyên-căn của tiếng nổ là tiếng trống, còn giọng ngân là tiếng chuông.

            Ấy vậy, nguyên-căn của Đạo-giáo do bên Á-Đông này có tiếng trống phát khởi trước, nên chùa thường sử dụng độc nhất tiếng trống; tiếng ngân ấy là sự ảnh-hưởng đạo-giáo, mới xuất hiện qua Âu-châu đều là ảnh-hưởng từ Phật-giáo, mà Phật-giáo xuất hiện nơi Á-đông. Vì vậy mà Đạo nơi phương Tây chỉ có tiếng chuông, còn các nền Tôn-giáo phụ thuộc đều không đúng theo nguyên tắc  căn bản.Do nguyên-lý “Đạo xuất ư Đông. Đế xuất hồ Chấn mà ngày nay Đạo Cao-Đài qui nguyên hiệp nhứt nên có đủ trống và chuông, ấy là thuần túy tinh-thần Á Đông để phát-huy đến cả Đại Đồng thế giới  vậy”.

            Lại nữa hướng Toà-Thánh quay theo chiều Đông Tây, mà tạo nên một Bát-Quái Cao-Đài mầu-nhiệm.       

 

11- Đức 

Nói rằng “Thiên địa hợp kỳ đức”  天 地 合 其 德

tức nhiên Trời đất hợp nhau bởi Đức.

 Xưa các bậc lão thành thường có câu ghi nhận cho dễ nhớ cách viết chữ Đức, là:

Con chim nó đậu nhánh mè.

Thập trên tứ dưới nhứt đè chữ tâm

Đức là gì?  Phân tích sẽ thấy:

Chữ Đức  có hai phần: bên trái là bộ sáchlà bước chân trái, là khởi đầu, có ba nét thể hiện lý Tam tài ở trong mỗi con người Đạo. Bên phải thì từ trên xuống là chữ thập  chữ tứ  chữ nhứt 一 chữ tâm  tức nhiên là nói về con người đứng trong trời đất: Trên là mười phương trời, giữa là Người đứng đầu trong bốn hàng  phẩm của chúng sanh là vật-chất, thảo-mộc, thú cầm mới đến Người. Chữ Nhứt là duy tâm, duy nhứt, đứng đầu trong vạn loại. Tóm lại người được cao trọng như vậy duy có chữ Tâm mà thôi. Cộng các nét của chữ Đức  德 có tất cả là 15 nét là đã thể hiện một Bát-quái Đồ Thiên của Đạo Cao-Đài ngày nay đó vậy

(Xem thêm Dịch-lý Cao-Đài cùng Soạn-giả).

Là bậc cha mẹ lo làm việc phải chính là trữ Đức cho con. Thi văn dạy Đạo:

Trữ Đức còn hơn muốn trữ vàng,

Giàu sang chẳng chuộc gánh giang-san

Thế đời càng dữ càng kiên Đức

Võ-lực hùng-oai cũng chẳng màng.

“Hiển-nhiên trước mắt mà chúng ta nếu khiếm

công phu lo Đạo, một ngày kia về Ngọc-Hư-cung chúng ta có chối tội được chăng? Mà dầu có chối đi nữa cũng không biết vì lẽ gì mà chối, rất khiếm tài đức.      

           “ĐỨC là chìa khóa mở đại nghịêp thiêng-liêng, hữu hình hay vô-vi cũng vậy. Lấy Đức làm nền tảng THƯƠNG-YÊU. Cái kho Thương-yêu có tài đức mới mong-mỏi đặng. Kho vô tận ấy hiển-nhiên trước mặt, thì kẻ nào đi trái con đường ấy chẳng hề lập nghiệp cho vững được. Chí-Tôn nhủ rằng: “Các con muốn đọat cái đại nghiệp thiêng-liêng của các con duy tu lập Đức”.       

           Yêu ái Đức thân sinh, hai tiếng đó hầu qui tụ cả đại nghiệp của mình, từ thuở, bao lần triết-lý các tôn-giáo đều dạy TU và ĐỨC  thì ngôi-vị đã sẵn, không hề kẻ làm tội ác kia tranh giành đặng. Ấy đó, Bần-Đạo xin nhắn-nhủ tòan Đạo trụ cả khối tinh-thần cứ mài-miệt Đức-tin cho vững, thỏang có thất-bại Bần-Đạo lãnh cả tội-tình cho.

           “Tin thì nghiệm xem ra thế nào, tin quả-quyết như Bần-Đạo đã tin, chúng ta đồng tiến nữa, bao nhiêu năng lực cá nhân góp tăng trăm ngàn nhiệt độ tổng số lại thì không có lực-lượng nào ngăn cản được.

           “CHÍ-TÔN hứa với chúng ta đủ điều, thì không hề thất hứa bao giờ, duy tại chúng ta còn khiếm Đức-tin nên sự đọat thành hy-vọng của chúng ta còn chậm trễ đến ngày nay, mau hay chậm cũng tại chúng ta: muốn tin hay không tin mà thôi. Vậy Bần-Đạo xin khuyên tòan Đạo cố gắng trụ Đức-tin thêm nữa. Cần phải TU LẬP ĐỨC  làm căn-bản, thì ắt hẳn đọat nguyện hiển-nhiên. Cái sự nghiệp của Trời và Người muốn làm chủ nó mà hưởng, thì chỉ có TU và  LẬP ĐỨC” (ĐHP 14-7-Đinh-Hợi 1947)

Nếu Đạo 道 (12nét) là thể hiện quyền-uy tối thượng của Đức Chí-Tôn, tàng ẩn bên trong người không ai thấy được, đó là Dương. Còn Đức 德 (15 nét) là cơ hiển lộ ra ngoài, như đức hy-sinh, đức khiêm nhượng…đó là quyền hành của Đức Phật-Mẫu là cơ Âm. Nên thường hai chữ Đạo-Đức đi liền nhau và có dấu nối (Trait d’union). Chính cái dấu nối này là chỗ Hoà của Âm Dương. Văn hoá của Việt-Nam có những nét độc đáo đó mà hình như thế hệ sau này đã lãng quên đi cho rằng không thiết thực. Từ chỗ tế vi đó mà quên đi cũng làm cho nhân tính bị biến thái đi. Thi văn dạy Đạo:

ĐỨC cao thì mới đáng nên người,

ĐỨC thắng tài kia đặng mấy mươi

Có ĐỨC có tài giềng Đạo trọng,

Không tài không ĐỨC hoá không thời.

 

           12- ĐIỀN 田

Chữ ĐIỀN 田 (5 nét) là ruộng, do vậy Chữ Điền nằm ở chính giữa của Bát-Quái Đồ Thiên (cũng có ở trong Bát-Quái Hậu thiên nữa) nó đứng vào Ngũ hành.

*Lý Đạo về chữ Điền: Dầu nơi Hiệp-Thiên-Đài hay trong Cửu-Trùng Đài: lòng người tu cũng phải giữ được “Tâm điền”. Hãy nghe Bà Thanh-Tâm Tài-Nữ luận về chữ “Tâm điền” trong Thánh-ngôn, ngày 23-4-1928:

“Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu, thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Phật Thích-Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

“Lộ vô nhơn hành, điền vô nhơn canh,
“Ðạo vô nhơn thức, ta hồ tận chúng-sanh”!

路 無 人 行 田 無 人 耕

道 無 人 識 些 乎 盡 眾 生

Ba anh có hiểu chăng?

Sao gọi lộ vô nhơn hành, anh M… N…?

– Ðường có người đi nhiều, mà không ai là người phải, đường đi dập-dìu thiên-hạ, mà toàn là ma hồn quỉ xác, tâm giả-dối, hạnh hung-bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người ? Còn điền vô nhơn canh là sao ?

– Ruộng đây, là tỷ với tâm, tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi tâm, thì tâm ví như điền, có điền mà chẳng có cày-bừa, đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất phải bỏ hoang; bỏ hoang thì sâu bọ rắn-rít xen vào ẩn trú; người mà có tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày-bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu, đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn-linh”

*Phân tích chữ Điền:

Khi bàn Lý Dịch thì phải bàn cho đến đích vì Dịch 易 là biến. Điền 田 do hai quẻ Kiền Khôn mà ra:

Quẻ Kiền ☰ có ba nét Dương có thể đặt đứng, đó là chỉ không gian  và quẻ Khôn có ba nét Âm  đặt nằm, chỉ thời gian. Hai quẻ Càn-Khôn phối hợp lại thành chữ Điền . Chữ Điền này chính là tâm của Bát Quái Đồ Thiên hay Bát Quái Cao-Đài của nền Chánh giáo, là chỉ sự biến hoá của muôn loài vạn-vật, nên chi bậc đại nhân, quân tử  phải đạt cho được đức  tánh cao  thượng  hay nói khác đi là người đạo-đức phải có được cái tâm điền ấy.

 

 

 

Xem lại trong “Dịch Lý Cao Đài” của cùng Soạn giả sẽ thấy hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷  là chủ của Bát-Quái. Chữ Điền nếu phân tích ra sẽ thấy:

– Có 4 chữ nhựt 日 nằm ngang dọc (nhựt nhựt tung hoành nhựt).Tức nhiên nhìn qua các chiều, thảy đều có hình chữ nhựt. Ý muốn bảo rằng: Phải ngày mới, mỗi ngày mỗi mới, ngày ngày mới. ”Nhựt tân, nhựt nhựt tân, hựu nhựt tân” 日新日日新 又日新

– Có 4 chữ Sơn 山 xoay quanh (Sơn sơn điên-đảo sơn). Cũng như chữ nhựt,chữ Sơn xoay quanh tạo nên chữ Điền.

– Có 2 chữ vương 王 đặt xuôi ngược (lưỡng vương tranh nhứt quốc) Hai vua mà tranh một nước.

– Có 4 chữ khẩu 口 họp lại chính giữa (tứ khẩu tại trung gian). Ghi thành thi cho dễ nhớ:

Nhựt nhựt tung hoành nhựt

Sơn sơn điên-đảo sơn

Lưỡng vương tranh nhứt quốc

Tứ khẩu tại trung-gian.

Trong sám Trạng-Trình có câu: “Phá điền Thiên-tử giáng trần” hoặc “Phá điền Thiên-tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành”.

*Đặc-biệt nhất là hai chữ Vương 王nằm theo chiều xuôi ngược trong một cái khung đó là hình ảnh “hai vua mà tranh một nước”. Trong con người có hai vua ấy tức nhiên một vua tinh-thần và một vua vật-chất đang tranh đấu nhau để giành quyền thắng lợi. Vậy thử hỏi nếu vua tinh-thần thắng tức là ta đang hướng về con đường đạo đức, thì người phải năng trau-giồi cho đến độ tận thiện tận mỹ, hòng giục tấn trên con đường Thiêng liêng hằng sống mà trở về với Đại-ngã tức là về với Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế.

Thế nên người TU là tự mình tập làm chủ lấy mình, nghĩa là đặt vị-trí chữ Vương cho đúng chỗ.

Bởi trong chữ Vương  có tàng ẩn chữ ngọc  nếu một cái chấm của nét chủ ấy xuất ra ngoài thì thành chữ chúa  nhập vào trong  thành ra chữ Vương. Có câu: “Ngọc tàng nhứt điểm, xuất vi chúa nhập vi vương”

玉 藏 一 點 出 為 主 入 為 王
Tại sao người phải tu đạt cho được cái “tâm Điền” ấy?   – Đó là lý cớ vì sao phải tu-hành. Tu-hành chính là phương-pháp sửa đổi tâm-tánh để mình làm CHỦ được chính mình; khi đã tự mình làm chủ được mình rồi thì cũng làm chủ được vũ-trụ.

 

 

 

 

Do vậy mà Đức Hộ-Pháp khi nhận trách nhiệm tức là Đức Thượng-Đế đã giao cho sứ mệnh mở Đạo Trời, mà mối Đạo này có “Bí-quyết đắc Đạo” là Thờ chữ CHỦ. Lại nữa Ngài là một vị Giáo Chủ hữu hình, tức là thay mặt Chí-Tôn và Phật Mẫu mà lo cơ chuyển Thế và Cứu thế trong buổi Đại-Đạo này.

Trên là Bát-Quái Đồ thiên hay còn gọi là Bát-Quái Cao-Đài. Hình vuông trong Bát-quái giới hạn bởi các Cung: Càn, Khôn, Tốn, Cấn chia làm  4 ô vuông. Trên góc cạnh của mỗi đường thẳng đi qua có biểu tượng một con số Bát-quái. Tương ứng  với mỗi Cung là:

1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 5 trung ương, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Các con số này họp thành một con số rất đặc biệt gọi là Ma-phương-số

Ghi nhớ các con số trong “Chữ Điền” của Bát-Quái bằng bài thơ sau đây:

Tứ hải Tam sơn hội Bát Tiên.

Cửu Long Ngũ hổ Nhứt đoàn viên.

Nhị tướng Thất trì phò lục quốc

Đây là chữ Điền trong Bát Quái Đồ Thiên chứa đựng cả một triết thuyết cao siêu của Đại-Đạo mà Giáo lý Cao-Đài các Đấng Thiêng Liêng đã phô diễn dưới nhiều hình thức, mục đích là mở cái tâm con người đến chỗ tận thiện, tận mỹ, toàn năng, toàn tri là vậy.

 

              

13- Giải 解

Trong 64 Quẻ kép thì Quẻ Giải

đứng vào số 40. Đọc là quẻ Lôi Thuỷ Giải.

Khảm ☵ hạ là nội Khảm, Chấn  thượng là ngoại Chấn. Chấn là Lôi, Khảm là Thuỷ, nên tên quẻ đặt là Lôi Thuỷ Giải.

            Ý sắp đặt thứ tự quẻ: Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là nghĩa làm sao?

– Qua rồi là thời Kiển. Kiển nghĩa là nạn, là khó, các vật không thể khó khăn đến cùng, cho nên tiếp đến quẻ Giải. Giải có nghĩa là hoãn vậy. Giải hoãn dã 解 緩 也 Giải là chậm, vì trên có Chấn ☳ dưới có Khảm ☵ tức là trong nguy hiểm mà ngoài động, cho nên phải huy động để giải lần lần từ trong ra ngoài mới được hanh thông.

Phân tích chữ Giải 解 thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao  ở trên, là con dao, chữ ngưu  dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải-phẫu. Cách phẫu thuật phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội-vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.

Theo lý mà nói: Sấm động bên ngoài, hãm hiểm bên trong, có nghĩa là động ở ngoài sự hiểm, tức là đã thoát được hiểm nguy vậy, nên mới đặt tên cho quẻ là Lôi Thủy Giải.

Theo tượng quẻ mà nói: Chấn trên tượng là sấm, là động. Khảm dưới có nghĩa là hãm, là hiểm nguy. Chấn vi lôi, Khảm vi thuỷ là hiện tượng có sấm chớp mưa rào để làm tan đi: Giải sự nóng bức của những ngày vào Hạ, nên đặt tên quẻ là Lôi Thuỷ Giải. Giải còn có nghĩa là làm cho tan đi vậy, như giải tán, giải ách, giải bệnh, giải thoát…

Từ đó suy ra thì cách giải quyết nào cũng phải đủ ba yếu tố: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà là vậy

Thiên-địa giải nhi lôi vũ tác: Thời Giải rất lớn lao, ví như trời đất.Giải của Trời đất là mưa sấm đến.

Chữ thiên địa ở đây là chỉ về khí âm dương. Khí âm dương còn u-uất, thì vạn-vật khó phát sinh. Khí âm dương gặp nhau là cơ hội giải tán cái nỗi u-uất đó.

Lôi 雷 là sấm thuộc bộ Vũ 雨 là mưa và dưới là chữ Điền 田 (ruộng). Tức nhiên khi có hiện tượng mưa thì sấm vang rền, mưa trút nước xuống tưới lên ruộng đồng.

Sấm và mưa cùng trong một lúc bùng loé ra, mưa sấm đã đồng thời tác dụng mà lúc bấy giờ cây cỏ cho đến trăm thứ hoa quả, thảy đều nứt mầm, phát triển.

Xem thế thì:

– Sấm sét là khởi điểm của sự việc.

– Mưa gió là sự kiện, là điều tất yếu.

– Kết quả là GIẢI cái nóng bức trong lòng vũ trụ, là làm cho người và vạn vật được thoải mái.

Vậy: Mưa là giải quyết sự ngột ngạt của cái nóng bức như thiêu như đốt trên mặt đất.

Nhưng ngoài ra mưa để làm gì? Có ích lợi gì?

– Nhờ mưa mà vạn vật được đâm chồi, nẩy lộc. nước mưa thấm vào lòng đất tạo thành dòng nước ngầm như để dự trữ dài lâu. Rồi sau đó dưới sức nóng mặt trời, nước mưa còn bốc hơi thành mây bảng lảng bay khắp cùng vũ trụ để dự trù cho những cơn mưa sắp tới.

Lý tính về mây mưa, tiền nhân có nói:

“Âm-tính là ngưng tụ, Dương-tính là phát tánKhi âm tụ thì Dương ắt phải tán, nhờ có cái thế quân bình mới thành. Khi Dương tán thì làm lụy đến Âm, hai khí giữ chặc nhau thành mưa rơi xuống. Khí Âm làm cho khí dương đắc chí, bấy giờ Dương-khí sẽ bay bổng lên thành mây. Thế cho nên nói rằng mây ban bố rộng ra từ Thái hư, đó là âm khí bị gió đuổi, thu liễm, tụ lại tức là chưa tán vậy. Phàm khi Âm-khí ngưng tụ, dương-khí bị bao vây ở giữa không ra được, do đó phấn khích mà nổ ra thành sấm sét (gọi là lôi đình). Khi Âm-khí ngưng tụ, Dương-khí ở ngoài không vào được cho nên sẽ quay quanh Âm-khí không ngừng thành ra gió.

Khi Âm-khí hòa mà tán, thì sẽ thành sương tuyết, mưa móc. Khi Âm Dương bất hòa mà tán thì sẽ thành khí độc tràn lan. Âm khí thường mà tán ra chậm sẽ giao hợp với Dương khí và mưa gió sẽ điều hòa, nóng lạnh được chính”.

 

 

14- HIẾU 

HIẾU 孝 họp bởi trên là Thổ土 nghĩa là đất, thuộc cung Khôn  tức nhiên chỉ sự bao dung, đầm ấm của tình mẹ lo cho con. Dưới là chữ Tử 子 là con trẻ, tức nhiên phận làm con phải nghĩ đến công dưỡng dục cù lao, bú mớm nâng niu của Mẹ mà người con hiếu phải lo báo đáp.

Chín chữ Cù lao là gì? (Cù: siêng năng, nhọc nhằnLao: khó mỏi). Ý nói cha mẹ suốt đời đã chịu thương chịu khó để nuôi dưỡng chăm-chút con cái từ khi còn là trứng nước đến khi con khôn lớn trưởng thành, nhưng chưa phải như vậy là đủ, mà “Con một lớn mẹ thêm một khổ” cho nên thời gian lo-lắng cho con cái hầu như vô cùng tận và điểm sau cuối là cho con đến khi cha mẹ nhắm mắt lìa đời, cho nên tiền nhân dùng câu “chín chữ cù lao” để nói lên cái tình cao khiết ấy. Đạo Nho nói “Cửu tự cù lao” đều cùng một nghĩa, tức nhiên cha mẹ đã dày công lo-lắng cho con cái qua chín nỗi nhọc nhằn:

1-Sinh: mang nặng đẻ đau, chín tháng cưu mang.

2-Cúc: nâng đỡ, nuôi nấng, ba năm bú mớm. Nói chung là “Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ”

3-Phủ: Vuốt ve, có nghĩa bằng tất cả thâm tình trìu mến, chứ không nuôi như nuôi con vật, gia súc gia cầm.

 4-Xúc: Cho bú có nghĩa là nuôi con bằng cả tâm huyết, chuyền cả sự sống của mình cho con.

5-Trưởng: nuôi con nhìn từng ngày, từng giờ, không một phút giây nào xa rời con trong tâm tưởng và chuẩn bị một nôi tình thương đầy hạnh phúc.

6-Dục: Dạy-dỗ, tất nhiên nuôi con bằng cả trái tim yêu ái còn phải dạy-dỗ cho nên người, những mong “Con hơn cha là nhà có phúc”.

7-Cố: trông nom, dầu con có lớn đến tuổi nào, trong tâm tưởng lúc nào mẹ cũng nghĩ đến từng bước con đi.

8-Phục: săn sóc dạy bảo. Khi con đã nên bề gia thất cha mẹ vẫn không rời trách nhiệm nhắc nhở đạo đức: “Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài yên” Với con gái thì Bà đoàn nhắc rằng:

Dụng văn hoá trau-tria Nữ-phách,

Lấy Kinh-luân thúc thách quần hồng

Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.

(Nữ Trung tùng phận – Câu 1- 4)

9-Phúc: Bảo-vệ. Lòng cha mẹ luôn luôn nghĩ đến con lúc nghèo giàu, sang hèn, vinh nhục, lúc nào cũng phải là một cố vấn cho con và sẵn sàng giúp đỡ an ủi.

Trong Kinh Thi có câu:

“Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao”

Kim-Vân-Kiều cũng có câu:

“Duyên hội ngộ đức cù-lao,

“Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn ?”

Luận Đạo:

Tại sao chỉ nói đến chín chữ cù lao mà không nói đến một số khác?

Nhắc lại nguyên lý:

Số 9 là cơ huyền-diệu nhiệm mầu. Huyền-diệu hơn hết là số đó. Nó là cơ chuyển biến đến mực độ tận thiện tận mỹ, toàn năng, toàn tri.

Nó là 1 + 8 tức là cơ vận-hành trong trạng-thái tĩnh được lý Thái-cực thúc đẩy thêm cho nên năng-tri sáng suốt. Nó cũng là 3+6. 3 và 6 là hai lý nhiệm-mầu và đều ở trong trạng-thái động.

Nó cũng có nghĩa là 3×3 hay 3 bình-phương là cấp bực tam ngôi biến-hóa, vận-hành suốt thông trời đất. Đến số 9 là đến chỗ tột cùng vận-động để hiệp về cơ qui nhứt. Phép toán học thử đến 9 rồi trở về 0 là vậy. Cùng cực cái động tức trở về trạng-thái tịnh nguyên-thủy.

Tại sao có Hiếu? Bởi các chơn hồn sáng suốt cao siêu đã có sẵn hai điều Hiếu:

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn-linh.

– Hiếu với Ðấng Tạo-đoan của chơn thần.

Bởi có Hiếu trước với hai Ðấng ấy, biết trọng hai quyền năng Tạo-hóa Chơn linh và Chơn-thần thì tự nhiên phải biết nhìn Ðấng Tạo-hóa hình hài của mình đồng thể chớ. Tâm hiếu tự nhiên mà xuất hiện vì nó có sẵn, mà hễ có sẵn tâm hiếu tức nhiên phải là Chơn-linh cao trọng thấu đáo được nguyên do đâu mình đến và là con của ai ?

Ðã hiểu rằng mình có hiếu với Ðấng tạo sanh Chơn

linh và Chơn thần như thế nào rồi, thì đến Hiếu với Ðấng tạo sanh hình hài đã sẵn có rồi vậy. Nên, hiếu không thể dạy được: hoặc có hiếu, hoặc không có hiếu mà thôi.

 

15- HÒA  

Chữ Hòa   là thuận-thảo gồm có hai phần:

-Bên trái của chữ, có chữ Hoà  là cây lúa (lúa là nguồn sống để nuôi sống thể hài, là vật-chất; tức nhiên người cũng như vật “phải uống ăn nuôi sống thây phàm”

– Bên phải là chữ khẩu  là cái miệng (miệng để ăn uống, đồng thời cũng là cơ-quan phát ra tư-tưởng, lời nói, là tượng-trưng tinh-thần. Miệng là cơ-quan để lập ngôn đó vậy).

Bài Diễn-văn của Đức Hộ-Pháp có giải rõ:

“Phép của Trời có một, là thương khắp cả chúng sanh, nên định cho phẩm-vị hữu-hình và thiêng-liêng có một, nghĩa là phải tương đắc cùng nhau, đặng định quyết phép công-bình lành thăng, dữ đọa.

          “Máy tạo bởi Chữ HÒA mà có, thì thế-giới Càn khôn cũng phải HÒA mới toàn-hảo, nhơn-loại cũng phải HÒA mới trường tồn, chẳng khác nào như xác thịt phải HÒA-THUẬN cùng  linh-hồn mới mong đoạt Đạo.

          “Lấy lớn mà định nhỏ, xem nhỏ mà tìm lớn, thi hài này nhờ HÒA-KHÍ  mà thành hình, thì linh-hồn cũng phải tùng theo phép âm dương HÒA-HIỆP mới qui hồi cựu bổn; linh-hồn bởi chữ HÒA-KHÍ mới có đến, thì tức nhiên phải nương theo HÒA-KHÍ mới có về.

           “Tuy pháp bửu của các Tôn-giáo đã đoạt đặng vẫn nhiều, chớ cơ mầu-nhiệm chỉ có CHỮ  HÒA  là đủ:

           “Thân thể cho mạnh-mẽ tinh-vi, đừng để sa-đà vào lục-dục thì là thuận cùng trí-lự khôn-ngoan.

          “Khí-lực cho cường-thạnh thanh-bai, đừng để đến đỗi mê-muội bởi thất tình, thì trí-lự khôn-ngoan thuận theo linh-tâm mà nẩy-nở.

          “Linh-tâm phải định-tĩnh từ-hòa, đừng để đến đỗi mờ-ám bởi tội-tình, thì thuận với lòng Trời, hiển-linh tại thế đặng đoạt phép huyền-vi:

   –  Thân là   TINH

  –  Lực  là    KHÍ

  –  Trí   là    THẦN                           

          “Nói rõ ra thì TINH là thân thể; KHÍ  là điển lực, nghĩa là trí-lự; THẦN là linh hồn; ba cái BÁU của mình ngày nào tương-đắc, nghĩa là HÒA-HIỆP cùng nhau, thì người mới mong đắc Đạo.

           Cơ Đạo của Chí-Tôn đến lập buổi hạ nguơn Tam Kỳ Phổ-độ này duy lấy một CHỮ HÒA  làm tôn-chỉ.

           “Có HÒA mới có HIỆP, có HIỆP mới có THƯƠNG, mà sự THƯƠNG-YÊU là chìa khóa mở cửa Tam thập lục thiên, Cực-lạc thế-giới và Bạch-Ngọc-Kinh  y như lời Chí-Tôn đã dạy, chỉ nghĩa là phải Từ-bi Bác-ái mới đắc Đạo vô-vi, phải HÒA-HIỆP mới có CƠ QUI NHỨT.        

          “Chí-Tôn đã định khai Đạo đặng thị chứng cho các Tôn-giáo biết nhìn nhau trong đường hành thiện, trừ tuyệt hại tranh đấu thù hiềm, làm cho thế-giới đặng HÒA-BÌNH thoát cơ tự diệt.

          “Thể Đạo của Chí-Tôn cũng phải nương theo CHỮ HÒA mới toan thành lập, Chí-Tôn định thành Hội-Thánh, đặng thay thế hình ảnh của Người, thì cũng tùng theo phép tạo-hóa cá-nhân mà gây nên ảnh tượng:

             – Cửu-Trùng-Đài là thi hài  ấy là  TINH

            – Hiệp-Thiên-Đài là chơn-thần ấy là KHÍ

            – Quái-Đài  là linh-hồn  ấy là THẦN

           “Nếu cả BA mà không tương-hiệp, thì khó mong thành Đạo cho đặng.

           “Nếu có một quyền hành nào tại thế này mà làm cho thân thể Chí-Tôn phải chia phui manh-mún, thì là Đạo Ta là giả Đạo, tất nó phải bị tiêu-diệt trong một lúc ngắn ngủi chi đây.

          “Còn như quả là Chí-Tôn vì thương-yêu con cái của Người, chính mình đến lập Đạo đặng giải thoát cho chúng-sanh, thì những mưu chước của tà-quyền ngăn cản bước Đạo của Thầy khó mong nghịch mạng với Chí-Tôn, ắt là không mong bền vững” (PCT/ 67)

Lời Thầy vẫn luôn thân thiết rằng:

           “Thầy vui muốn cho các con thuận-hòa cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất nên trân-trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe! Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý  muốn của Thầy”

 

 

16- HIẾU 孝 – TÌNH 情

          Làm một kiếp con người trong cuộc thế này có hai món nợ vừa khó đền trả cho đồng cân, mà cũng vừa mâu thuẫn nhau, rất khó liệu cho vẹn toàn.

– Một là giữ câu hiếu thảo với cha mẹ.

– Hai là trọn nghĩa vợ tình chồng

TÌNH 情 là một sự cảm mến thân thiết  nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâmlà tấm lòng với chữ Tinh 青 là cái tinh tuý, tốt lành. Hai món nợ này khó đi đôi cho đặng. Là một vấn đề khó giải quyết xưa nay. Hãy nghe:

“Thất-Nương Diêu-Trì-Cung là vì HIẾU khi hay cha mẹ mắc tội nơi Phong-đô, liền bỏ Cung Diêu-Trì xuống đó để độ rỗi nên bị Thiên-đình  bắt tội. Đã  hai kiếp sanh khổ vì Tình, vì Hiếu,  sau khi Thất-Nương được đặc ân của Ngọc-Hư-Cung xá tội liền tình-nguyện đến Âm quang để độ rỗi các chơn-linh thất thệ đặng trả nghĩa cho Thầy. Trước khi đi làm nhiệm vụ, trong một kỳ đàn, Thất Nương Diêu trì-Cung có đến từ-giã và để lời than với Đức

Hộ-Pháp và gặp-gỡ một vài Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài.

                                 Bài thi ấy như vầy:

Hai kiếp đeo đai mối nợ tình,

Cái thân vì khổ bận cho thân.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt.

Nỗi Hiếu rơi châu tưới mộ phần.

Giữ Đạo mong chờ ngồi độc tịch.

Bán mình quyết cứu độ song thân,

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh.

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần

Ngài Cao-Đức-Trọng khi tả lại cuộc đời của Đấng Nữ-Tiên có nói rằng:

           “Bần Tăng tả cảnh khổ trên đây để các bạn nhập tâm ghi nhớ. Thất-Nương là vị Phật thứ bảy trong hàng Cửu vị Nữ-Phật còn tránh không khỏi khổ. Đó là bài học của tâm-hồn trí não. Nếu tránh được khổ thì trên con đường lập công chúng ta rất may duyên sẽ  gặp đặng Đức Chí-Tôn, mà Người trông ngóng  hằng ngày.

             Cái hạnh-phúc nơi cõi tạm này không chi bền-bĩ, thấy đó liền mất đó. Cái kiếp sanh của con người  trong ba vạn sáu ngàn ngày nghĩa là một trăm năm, ngày giờ này thử xem ai sống được tới chừng đó.

             Trong thời-kỳ lọan-lạc này, năm tuổi cũng một kiếp, mấy mươi tuổi cũng một kiếp. Ba vạn sáu ngàn ngày đã mất giá-trị rất nhiều mà con đường thắng khổ lại vẫn không bờ bến. Nay được may duyên núp dưới bóng Từ-bi, chúng ta hãy tìm hạnh-phúc thật, là cái hạnh-phúc về mặt thiêng-liêng, muốn đặng vậy cả Chức-sắc Thiên-phong mỗi người tùy theo phẩm-vị mình phải lo cho tròn bổn phận khi lìa khỏi xác, mới mong qua khỏi Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới. Chúng ta nên lấy đó làm quí trọng và nên nhìn hạnh-phúc cõi trần toàn là hạnh phúc giả.  Ai đã đau khổ tâm hồn ? Ai đã chua cay tình thế ?  Ai đã từng đổ giọt lệ đặng tự an-ủi lấy cõi lòng tan-nát  đều dư hiểu lời của Bần-Tăng nói, nên Bát-Nương có nói:

           “Muốn tìm hạnh-phúc thật phải lướt khỏi khổ, tìm đến Chí-Tôn mới mong trọn vẹn”

 

 

17 -HỌC  

Phân  tích chữ HỌC   thấy có hai phần: phần trên là hình ảnh người Thầy hai tay cầm roi đứng dưới mái nhà đang dạy trẻ, phía dưới là chữ tử 子 Điều này chứng tỏ sự giáo huấn ngày xưa rất nghiêm khắc.

Nay nói về việc học Đạo:

Đức  Phật  Quan-Thế-Âm Bồ-Tát giáng dạy rằng:

            “Thiếp xin hỏi Chư Hiền-hữu: – Các bậc Tu-hành muốn đặng thành Đạo phải làm thế nào ?

        Bạch:

            -Trước phải lo trau-giồi đức tánh và biết sửa mình.

Đầu tiên muốn sửa mình thì phải học hỏi, phải không?  Học hỏi đặng dụng vào đâu ?

           Cho mình hiểu Đạo trước rồi dìu-dắt chúng-sanh sau; thì ắt phải kiên chí, nhẫn-nhịn mới mong đoạt kiến thức; có kiến-thức thì mới bác-lãm, mới có tư-tưởng cao sâu; hễ có tư-tưởng cao sâu mới mong đặng văn-chương quán thế. Hễ có văn-chương quán thế mới mong cảm hóa lòng người đặng, phải không ?

              – Phải !

              – Thì phải lo lập nền móng trước chớ sao! Phải có trí-thức tài-tình mới mong đoạt Đạo. Phải tài tình mới đủ lực-lượng diệt vô minh.  Trong Đạo Thầy ngày nay, Thầy đã chọn những kẻ ấy để dìu-dắt chúng sanh qua khỏi mê tân, đáo bĩ-ngạn.

             – Thiếp hỏi những kẻ ấy là ai há ?       

             – Chính là Chư Hiền-hữu đó.

             Vì các cớ nên Thiếp mới đến ngày hôm nay mừng cho chư Hiền-hữu đó, nên có mấy lời thức tỉnh.

             Xin Chư Hiền-hữu miễn chấp nghe”!

                            (Ngày 8-6-Giáp-Tuất 1934)

Bà Đoàn có dạy cho mỗi người một phương thức học rồi:

Học cho thấu máy linh cơ Tạo,

            Học cho toàn trí xảo văn minh,

            Đem tài hay nhập nước mình,
            Làm cho dân hưởng Thái bình giàu sang.

18- HOẶC 或

Chữ này có hai phần: chữ hoặc 或 là thay đổi. Nếu ghép chữ hoặc này với bộ vi 囗 thành ra chữ Quốc 國 có nghĩa là đất nước này thay đổi thể chế luôn. Còn nếu đất nước có vua thật sự thì bên trong bộ vi có chữ vương.

Hào Tứ của Quẻ Càn cói câu “Hoặc dược tại uyên” 或 躍 在 淵 tức nhiên có thể nhảy trong vực. Dược là nhảy, nhưng ở thế của Cửu Tứ Quẻ Kiền là thời kỳ tiến lên được, nhưng không nên vội tiến mà phải đợi đúng lúc, đúng thời tiến sẽ có lợi hơn.

Hào này đã rời khỏi hạ quái rồi, mà lên gần đến Cửu Ngũ tức là gần ngôi Vua, dù thế nào cũng tiến mà thôi. Tóm lại người trí làm việc gì cũng biết tuỳ thời. Chữ Biết rất cần trong Đạo-học

Nếu thêm bộ tâm vào phía dưới thành ra chữ “Hoặc  là một nghi-từ có nghĩa là nghi ngờ.

Thánh ngôn dạy về “BiẾT” như vầy để khỏi nghi hoặc nữa: phải Biết cho đến nơi đến chốn mới gọi là Biết:

“Cơ lập Đạo là nhiệm-mầu vô giá: Biết Đạo, Biết ta, Biết người, Biết thế, Biết thời, Biết vinh hư, Biết tồn vong ưu liệt rồi mới có Biết hổ mặt thẹn lòng, Biết sự thế là trò chơi, Biết tuồng đời là bể khổ, Biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, Biết nhục vinh mà day trở  trên con đường tấn thoáiCó đâu đường đời còn giành xé, hại lẫn nhau, mong chi đặng tầm Tiên noi Phật.”  (TN II/ 68)
Có cả thảy 12 chữ Biết. Biết cho thấu lý là gần Phật, gần Trời đó vậy!

 

19- KIỀN  乾

QUẺ KIỀN  SỐ 1 TƯỢNG NGÔI CHÍ-TÔN:

1-Ý-nghĩa: Quẻ Bát thuần Kiền còn gọi Bát Thuần Càn. Trước khi nói đến quẻ Bát-thuần, xin định nghĩa và phân-tích chữ KIỀN. Kiền là kiện, tức là tráng kiện, mạnh mẽ, tính của Dương, là ngôi Chí-Tôn.

Chiết-tự chữ Kiền 乾 thấy có hai phần: phần bên trái có hai chữ thập (thập là mười) chữ thập ở trên tượng-trưng “thập phương chư Phật” chữ thập dưới là “Thập điện Diêm cung” giữa là chữ nhựt  (nhựt là mặt trời. Người đứng đầu là Anh Cả nhơn sanh là Thượng Trung-Nhựt) chỉ không gian vũ trụ mà vạn-loại đang sống. Phần bên phải là chữ KHÍ  (khí là sự sống, viết đủ nét là  cũng gọi là khí sanh-quang. Nguồn sống của Trời đất

Như vậy Kiền có nghĩa là Trời, tức nhiên gồm các cõi vô hình cũng như hữu hình, nơi nào có khí sanh-quang của Thượng-Đế tức là có sự sống, mà sự sống tức là Đạo.

Nơi nào khiếm ánh linh quang của Thượng-đế ắt phải chịu u-ám, tối tăm,  gọi là cõi Phong-Đô, Địa ngục.

Xưa Vua Phục-Hi là một nhà thông-minh huệ trí, ngẩng lên thì ngắm Thiên-văn, cúi xuống thì xét lý Âm Dương, chẵn lẻ, vì cớ đó mới vạch thành nét: Một nét liền tượng Dương  một nét đứt tượng Âm  (Đây cũng là do theo lý tính của người mà phân biệt Âm Dương, Nam Nữ. Chỉ một Âm, một Dương làm đầu mối cho muôn ngàn sự vật trong cõi đời này. Cả thế-giới hữu hình lẫn vô hình, chính hai ngôi này làm khởi thuỷ, như cha và mẹ trong gia-đình; vạn-vật là đực cái, trống mái.

Người dân-tộc Campuchia hay Chàm họ cũng biết đến hai ngôi này, họ cũng lấy vật Tổ để thờ gọi là Cái “Linga” tức là hình ảnh “chày đặt lên cối” cũng là hình ảnh Âm Dương, nhưng suy-nghĩ của họ còn nằm trong thời ấu-trĩ, tức là còn bán khai, chưa tiến-hoá.

Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi (Lưỡng nghi tức là hai ngôi Âm Dương), cũng gọi là Kiền Khôn.

Hai ngôi tác-dụng lên nhau thì có biến-hoá. Sự biến-hoá ấy giống như một tế-bào cứ tăng gấp đôi lên: một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Khoa-học gọi là theo luật song tiến-số. Dịch-học gọi là Lưỡng-nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát Quái; Bát-Quái biến hoá vô cùng mới thành ra Kiền-Khôn thế giái.

2-Thành lập nên quẻ Kiền 

Biến-hoá lần này là qua hai giai-đoạn: thêm âm, thêm dương lên ngôi Dương thành ra hai nét dương  gọi là Thái-Dương số 1, lấy Dương làm gốc, cho một âm đặt lên dương nữa sẽ có dạng là  gọi Thiếu-âm số 2.

Bấy giờ đến ngôi Âm biến-hoá cũng như trên, lấy âm làm gốc,thêm dương lên sẽ có một dương một âm 

gọi là Thiếu-Dương số 3, tiếp-tục thêm âm sẽ có hai âm   gọi là Thái Âm số 4. Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng là lần biến-hoá ở giai đoạn này, tức nhiên hai nghi sinh được 4 tượng là Thái dương số 1, Thiếu-âm số 2, Thiếu dương số 3, Thái-âm số 4. Gọi là tượng, tức là tượng hình, mỗi tượng chỉ có hai vạch thôi.

Vạn-vật biến-hoá không ngừng, thế nên Tứ tượng cũng biến-hoá theo qui-tắc như trên. Tức nhiên lần này Tứ tượng biến Bát-Quái,gốc Tứ-tượng vẫn đặt ở dưới, Ví như:

Thái-dương qua hai lần thêm dương, thêm âm lên trên thành ra lần đầu có 3 nét dương tạo thành quẻ KIỀN

Kiền vi Thiên (Kiền là trời) là quẻ số 1.

Lần sau thêm lên nét âm thành quẻ ĐOÀI    tức là có một Âm trên hai Dương. Đoài vi Trạch số 2. Trạch là hồ, đầm, ao…

Thiếu-Âm cũng qua hai lần thêm dương, thêm âm thành ra quẻ LY   Số 3, Ly vi hoả (ly là lửa), tiếp theo là quẻ Chấn vi Lôi số 4, CHẤN   là sấm.

Thiếu-Dương cũng qua hai lần biến sẽ có quẻ số 5 là TỐN  Tốn vi phong (Tốn là gió). Quẻ số 6 là  Khảm vi thuỷ, KHẢM  (Thuỷ là nước).

Thái-Âm qua hai lần biến-hoá như trên, sẽ cho ra hai quẻ là CẤN  số 7 và KHÔN   số 8

Bát-quái đã thành hình, theo thứ-tự là: Kiền 1, Đoài 2,  Ly 3,  Chấn 4,  Tốn 5,  Khảm 6,  Cấn 7,  Khôn 8.

3- Bát thuần  八 純 là gì?

Bát là tám, thuần là tinh ròng, là không có pha trộn. Bát thuần ở đây là chỉ tám quẻ ròng một thứ kết hợp với nhau. Trong giai-đoạn này là chỉ bàn qua các quẻ kép mà thôi, tức nhiên do hai quẻ đơn cùng tên đặt chồng lên nhau. Như: Kiền đặt lên kiền thành ra Thuần-Kiền

Tương tự là Thuần-Đoài        Thuần-Ly

Thuần-Chấn Thuần-Tốn  Thuần-Khảm      Thuần-Cấn      Thuần-Khôn

Như vậy chỉ có 8 quẻ được gọi là Thuần nên chính

nó có đủ đức tính của quẻ mà nó mang tên và danh gọi không đổi. Ngoài ra đối với các quẻ khác là sự hợp quẻ, cho nên tên gọi của nó là do nghĩa của hai quẻ kia mà thành. Thí-dụ:

Kiền vi Thiên đặt lên Đoài vi Trạch sẽ có một tên mới là Thiên Trạch Lý

4-Nhận xét: Trong 8 quẻ đơn thì chỉ có Kiền là đứng đầu hết là số 1. Gọi là Kiền tam thiên tức nhiên là quẻ Kiền vi thiên, có 3 nét liền.

Nếu là quẻ kép thì nhân lên 8 lần thành ra 64 quẻ

(8 x 8)  Bát-thuần Kiền vẫn đứng đầu là số 1.

Tính chất con số 1:

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến vi hữu tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, có tính cách chuyên nhất và cầm quyền vi chủ, chỉ cơ động, thái quá. Do lý Thái-cực sanh ra nên nó nhiệm-mầu hiện biến. Nó thuộc về ngôi Phật, chủ quyền cai trị và giáo-hoá vạn-linh.

Số 1 thuộc bản thể Hư-linh sản xuất nên có quyền thống trị Càn-khôn. Quyền vi chủ có 1 mới hoàn-toàn.

Số 1 tượng ngôi Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế Giáo-Chủ nền Đại-Đạo về phần vô-vi.

 

 

20 –KHẢO 拷

Khảo 考 có nghĩa là thí nghiệm. Nhưng nếu có thêm bộ thủlà cái tay nữa tác động vào là đánh tra, làm cho đau đớn, khổ sở. Là một sự thử thách lớn với người tu

thường gọi là khảo thí, như câu:

Khảo thí lọc lừa tường hắc bạch,

Chung tâm hiệp sức thoát cơn nguy.

            (Đức Nguyệt Tâm Chơn nhơn)

Sự khảo Đạo 拷 道 đó được Thất-Nương Diêu Trì Cung giải-thích khi được cầu hỏi; Bà nói:

“Em tỏ sơ mỗi khi trong mình mấy anh có điều chi khác hoặc đau lạ kỳ hơn kẻ khác,  xin mấy anh không nên phiền muộn, ấy là các Đấng chuyển đấy đa !

           “Sửa tâm luyện tánh, tắm sạch phách hồn cho tinh chuyên, trong mấy điều sửa đó, phải chịu hành xác chút đỉnh: ấy là phận sự của kẻ chỉ giáo; còn phải chịu cho vị Giám-khảo hỏi nữa  nghe !

 “Trong ban khảo hạch lại chia ra làm hai ban khác nhau:

 -Một ban khảo thí tinh-thần,  một ban khảo thí  vật-chất.

           Phải biết phân biệt, hai ban này có lộn Quỉ-Vương nữa đa, vì Đức Chí-Tôn cho lộn chúng nó (xin Cô giải nghĩa giùm khảo về tinh-thần và khảo về vật-chất) ?

           – Khảo về tinh-thần là làm cho trí não mờ-mệt, biếng nhác, hay quên, quạo-quọ,  bị kẻ khác sỉ-nhục tên tuổi mình.

           – Khảo về xác thịt thì đau té, có khi phải chịu chúng dọi đầu, gia-đình lộn xộn xào-xáo chẳng yên. Đó là Em kể sơ qua, phải dễ đâu !

           “Hữu duyên đắc ngộ, vô duyên muôn kiếp bất tương phùng”.

           Biết Đạo-mầu, dầu nhà triệu phú muốn nài đổi cũng chẳng  thèm; thanh thì bần, trược thì phú. Có phân cây mới tốt, mà phân vẫn là chất trược.

           “Phép này dễ học hơn hết !

           “Hễ mỗi lần  xác phách muốn làm điều chi thì mấy

anh  tự hỏi coi điều này Ông Trời làm đặng chăng?”

Bà Đoàn có thơ:

Cây trăm thước bắc qua bến khổ,

                        “Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ”.

Nhưng đấy là về cá nhân, ngày nay là ngày cuối của thời Hạ nguơn thì đến ngày lọc lừa của Thượng đế. Thánh giáo của Chúa nói rằng “Ngày phán xét cuối cùng” cũng gọi là Đại khảo. Thế nào là Đại khảo?

            (Đại là lớn, khảo là duợt, là thử thách). Đại khảo là một cuộc thử thách nặng nề. Người Đạo mà thiếu đức tin, thiếu tinh thần đạo đức, không nắm vững giáo lý, giáo pháp của Đạo Thầy thì rất dễ bị lung lạc, sa ngã, rồi khủng khiếp hơn nữa là phá Đạo, hại Đạo, phản Đạo…làm mất danh thể Đạo. Nhưng Đại Khảo cũng là một sự thanh lọc Thánh Thể của Chí-Tôn: Thánh ra Thánh, phàm ra phàm không cho lẫn lộn. Mục đích để lập lại đời Minh đức, Tân Dân hầu nền Đại-Đạo mới phổ truyền ra khắp toàn cầu Thế giới như lời Thầy đã dạy:

“Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc.

“Chủ quyền Chơn Đạo một mình TA”

Sau đây là Thánh Giáo ngày 13-10-Đinh Mùi của Đức Lý Đại Tiên giáng dạy:

“Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy Nam Nữ phải để tâm cho lắm. Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn lành cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảonày: Chư Đạo Hữu phải giữ trai giới cho được 10 ngày đổ lên y như Tân Luật, thì mới mong sống sót. Trận đại họa này không riêng cho Thánh-Điạ tại Việt-Nam Quốc mà chung cho cả đia cầu, Thảm! Thảm! Thảm!

Hạ Nguơn là Nguơn mạt kiếp, Nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ Hạ Nguơn: Hạ là dưới thấp, sau cùng là chữ Hạ gồm ý nghĩa: Tệ, Suy, Tàn, Hoại, là diệt chủng đó. Hạ Nguơn là Nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo Hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo tới giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới …Họa …Thảm!  Cả Thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, cả vinh hoa phù phiếm trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng. Ôi! Tu thành hay không là nhờ tâm Đạo, chơn tâm, chơn tánh Thầy ban cho không lo trau-luyện, lại ham lợi chác quyền mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh-danh Thầy, nạn cân đai áo mão, đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước là cái nguơn thỉ chơn tâm. 

Thầy hằng thương con dại mới mở Đạo Kỳ Ba mà vớt chúng sanh. Hại thay ! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ, ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa, Họa! Thảm. Thảm …Ôi ! Lão vì lòng Từ-bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo mà chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nên Đạo Thầy mới ra nông nỗi. Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai. Khổ ! Khổ ! Khổ ! Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào hay đâu họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại  khảo…  Khảo……Khảo…(Thăng)

 

 

21- KHÍ 氣

Sự hanh Thái là tượng cho Khí Âm Dương giao hòa nhau trong trời đất làm cho vạn vật cùng hít thở.

Vậy Khí là gì?

Chữ khí 氣 thuộc bộ mễ 米  âm khí气, tức nhiên đây là cách nấu gạo hay nếp gọi là mễ, đun lên cao độ cho nó bốc hơi thành khí. Trong cái kỹ-thuật nấu ấy người ta hứng lấy chất hơi ngưng đọng lại, cái KHÍ ấy gọi là Rượu dùng vào việc cúng kính, cũng là một trong ba bửu: Bông (Tinh), Rượu (Khí), Trà (Thần) dâng về Thiêng liêng là Tiên Tửu.

– KHÍ  氣  là nguyên-uỷ của vạn-vật hữu hình.

Khí này đã bao trùm vũ trụ ngay từ lúc còn trong  trạng thái đầu tiên chưa động tĩnh: lớn nhất không gì ra ngoài nó gọi là đại nhất. Nhỏ nhất thì không nơi nào, vật nào mà vào được bên trong của nó, gọi là tiểu nhất.

Để mô tả cái Khí bao trùm vũ-trụ là cái khí đầu tiên tức là nguyên-khí, từ đó sinh ra vạn-vật và con người đó là chí đại. Đến như chí tiểu thì trong mỗi vật dù là chỗ nhỏ đến đâu nó cũng chỉ là một dạng khí hoá, khí này gọi là Vô cực. Nó là cái làm cho “vật là vật” “người là người”. Từ đó người xưa đánh giá cấp bậc khí-hoá ở mỗi vật hay ở mỗi người.

Khí ở trên trời đến lúc sẽ thanh tịnh, quang minh, dầu rằng cái “Minh đức” vẫn luôn luôn ẩn tàng, nhưng lúc nào cũng “kiện vận bất tức” Nghĩa là đi mãi mà không ngừng nghỉ. Kinh nói: “Thời thừa lục Long. Du hành bất tức”  là do đó.

Ôi! Thiên khí gíáng xuống, địa khí thăng lên, tạo

thành quẻ Địa-Thiên Thái, sự vận-hành và dụng sự của nó không bao giờ ngơi nghỉ cho nên không cần đợi đến lúc hạ xuống mới có. Ở đây người xưa muốn nói rằng Thiên-khí phân bố ở khắp nơi, hoá sanh vạn-vật; nhưng cái thể, cái vị của nó vẫn tôn quí cao thượng. Thiên-khí rất quang minh, ban ngày nhờ nhật, ban đêm nhờ nguyệt đem lại nguồn sống cho muôn loài.

Phật-Mẫu ban sơ đến Hiệp-Thiên-Đài

làm MẸ của chữ Khí tức là khí sanh vạn-vật.

Ngài lấy nguơn-pháp trong chữ KHÍ biến thành Càn Khôn vũ-trụ, chữ Khí tương-quan trong Hiệp-Thiên Đài, nên Phật-Mẫu trước đến Hiệp-Thiên-Đài thuộc Pháp tức là Toà ngự của Người, rồi sau mới lập Cửu-Trùng-Đài. Người đến gọi mình là Bạn của chúng sanh, tự xưng Thiếp, đem Bí-mật  từ thử chưa ai nghe đối với Chí Tôn thể nào, nói rõ không kiêng phép Ngọc-Hư, vì để tạo gia nghiệp cho con cái của Người, thì Người có quyền nói, không ai cản được nỗi. Buổi nọ, Đức Phật-Mẫu nói: Ngày nào Bà Thân của Đức Thượng-Phẩm qui vị là ngày ấy thành Đạo: trước ngày Vía ấy Đức Phật-Mẫu giảng Đạo có dùng tiếng “MẸ” con xưng hô cùng ta tức là ngày thành Đạo nhằm Lễ Trung-Thu. Trước kia Đức Lý Giáo Tông không nói rõ nhưng chúng ta cũng hiểu là: Cao-Đài đã thành QUỐC ĐẠO”! 

Trong giây phút đây Cao-Đài đã được đưa vào Đạo-sử, toàn nhân sanh đều thấy Phật-Mẫu đến in ấn thiêng-liêng định thành nền Quốc Đạo của chúng ta vậy”

             (Đức Hộ-Pháp thuyết 14-8 Đinh-Hợi)

 

 

22- KHỔ 苦

Khổ là sự đau đớn làm cho người sống trong thế gian này nhiều khi đến nỗi không chịu đựng được. Chính nghĩa ra khổ là đắng. Như khổ qua là mướp đắng.

Về lý Ngũ hành thì vị “Khổ” hay là vị đắng này là do lửa đốt cháy một vật thành than thì sinh vị đắng. Người tu cũng vậy, muốn được thành công mỹ-mãn thì phải chịu được một sức khảo thí của đời gọi là khổ. Chính cái ánh sáng minh triết có được từ một sức chịu khổ mà nên.

Có câu “Thuốc đắng đả tật” là vậy..

Phân tích chữ KHỔ 苦 thấy có hai phần: phần chính yếu là âm CỔ 古 là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu 口) vẫn còn nhắc đến mười (thập 十) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo    là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ mà thôi.

Đức Hộ-Pháp nói: Đức Chí-Tôn “Ngài đến bồng nhơn-loại trong tay ru rằng: khối đau khổ tâm hồn của các con là tại các con đào-tạo chớ không phải của Thầy, khổ là do quả kiếp mỗi đứa giục khổ cho nhau; muốn diệt khổ không gì khác hơn đập đổ các đẳng cấp tâm hồn, thống nhứt nhơn-loại, nhìn nhau là anh em đồng máu thịt, cùng một căn bổn cội nguồn hầu chia vui sớt nhọc, biết tôn-ti nhau, kẻ trên không hiếp người dưới, không áp chế nhau; kẻ trí không hiếp ngu, hèn sang không phân biệt, mực thước tâm hồn, nhơn-loại phải đồng phẩm giá, đồng quyền năngNgày giờ nào nhơn-loại biết tôn trọng nhau, dầu sang hèn nhìn nhau là anh em cốt nhục, ngày ấy phương giải khổ không khó. Con nghe lời Thầy mà làm y như Thầy thì khổ ấy tự diệt. Nếu các con còn đau thảm thì đấm ngực nói: Khổ này do các con tạo, không phải do Thầy định tội đa nghe! Thầy đến chỉnh đốn tâm lý loài người: tránh tranh đấu tiêu-diệt lẫn nhau thì không còn hỗn loạn với nhau, thì tức nhiên diệt khổ chớ có chi đâu lạ

         “Cơ-quan giải khổ tâm hồn của Ngài là đó !”

Tuy nhiên, phương giải khổ về phần xác thịt cũng tối cần trong kiếp sống này đây:

         “Chí-Tôn đến đặng hiệp con cái lại một nhà của Ngài, trong Thánh-ngôn Ngài còn quả-quyết đó. Ngài đến tạo ra Tân-Thế-giới làm cho nhơn-loại Đại-ĐồngNếu sự tìm-tàng sắp xếp không đặng kết liễu thì Chí-Tôn sẽ thất hứa với con cái của Ngài mà chớ! Nhưng quả quyết rằng Ngài không bao giờ thất hứa, vì đã được  99 điều rồi Ngài đã thật hành vẹn hứa, không lẽ còn một điều nữa Ngài làm không đặng”  (TN I /81).

Đức Phật Thích-Ca đã tìm ra “Tứ Diệu Đề Khổ” nhưng chưa ai đánh đổ nó được. Thế nên con người sống đây là sống khổ. Một nhà thơ đã hóm hỉnh rằng:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?

Cảnh phù du xem thấy cũng nực cười.

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

Tiêu-khiển một vài chung lếu láo….

Nhưng “Tiêu-khiển một vài chung” để giải khổ  không phải là thượng sách, trái lại biến chúng sanh thành hạ cấp thì hơn. Duy có Đại-Đạo ngày nay đánh đổ cái “TỨ KHỔ” này được:

Đức Hộ Pháp nói: “Giờ phút này người tu là đem thân làm nô lệ cho nhơn loại, rồi có vui sướng gì với kiếp sanh mà cần sống, giá trị cái sống của ta khác hẳn hơn thiên hạ tưởng tượng, mà tưởng tượng cái chết của ta là buổi nghỉ ngơi, buổi hết cực, cái chết ấy chẳng phải do mình, mà do nơi Đức Chí Tôn định là tới buổi Đức Chí Tôn nói các con đã làm xong phận sự Thầy cho con về. Giờ phút này chúng ta đương ở Đền Thánh của Ngài đây, đương phụng sự cho Ngài đây, thì cái sống chết của chúng ta không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa. Và trong Tứ Khổ không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa: Ấy vậy “Tứ Diệu Đề” tức nhiên bài học, bài thi, của đề mục khổ, duy có Đạo Cao Đài giải quyếtnó, đánh mất nó, làm cho nó không còn giá trị chi nữa, tức nhiên chính mình và toàn cả con cái của Đức Chí Tôn hay tương lai Tôi nữa cũng vậy. Chúng ta trọn hiến thân làm Thánh Thể cho Ngài mà ta sống cho mình chớ không phải sống cho Ngài là không đúng; sống không phải sống cho mình mà chính là sống cho Ngài vì chính mình đem trọn cái sống ấy dưng nạp cho Ngài, mà tưởng tượng ta khổ thì tức nhiên Đức Chí Tôn khổ còn gì. Ổng không có khổ, mà lại sống vinh diệu quá, ta lại gặp thời kỳ này may duyên gặp được một cảnh sống lạ thường, sống về Thánh chất, sống về Thiêng Liêng, sống về Càn Khôn Vũ Trụ, sống về Trời Đất, sống dường ấy mà gọi là khổ sao đặng.! ?

Ấy vậy Chơn Pháp thuộc về Thể Pháp của Thiên Đạo Cao Đài ngày nay có lẽ phù hạp với tinh thần nhơn loại hơn các nền Tôn Giáo khác..”

 

 

23 -LÊ 

1- Đoán tính tự (họ tên người):

    Người mang quẻ Chấn có họ hoặc tên có chữ bộ mộc 木

– Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung 梨文忠 họ LÊ viết thành chữ Hán có dạng:   tức nhiên cấu tạo bởi các phần sau: phía trên là Hòa 禾 (cây lúa) họp với Đao 刂 và dưới là  bộ MỘC 木 Quả nhiên họ Lê của Ngài có  bộ mộc

2- Đoán số mục:

   Người mang quẻ Chấn có ảnh-hưởng các con số: 4, 8, 3.

– Quẻ Chấn số 3 là dương-số, lại là hướng cung Mão nên Chấn cũng là Càn; ba thành một, một mà ba. Vai trò này hết sức quan-trọng đứng vào Tam ngôi nhất thể. Số 3 cũng là Trời, “thay mặt Thầy mà dạy-dỗ nhơn-sanh” thế nên Giáo Tông là Anh Cả của nhơn-sanh.

Ngài hành-đạo vừa tròn 8 năm, không dư không thiếu một ngày. Phải chăng tất cả đều có quyền thiêng liêng đã đặt định trước. Tức nhiên:

– Ngày khai Đạo 15-10- Bính Dần   (dl: 19-11-1926)

– Đức Ngài qui:   13-10-Giáp Tuất  (dl: 19-11-1934)

Đức Hộ-Pháp làm bài Điếu văn khóc Ngài có đoạn: “Từ năm Bính-Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê-Văn-Trung, Ðạo-tịch Thượng Trung Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là Phổ độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh giáo. Một mối Ðạo rất cao thâm mầu nhiệm mà chính mình Ðức Thượng-Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ nhen như Việt-Nam ta đây, thiết tưởng sự khó-khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 (1) năm trường, chẳng quản nhọc-nhằn, một tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

(1) 8 năm tròn, nhưng qua 9 cái móc thời gian.

 

24- MINH 明 (8 nét)

            Minh là sáng. Phân tích chữ Minh 明 thấy có hai phần: bên trái là chữ nhựt 日 cho ánh sáng ban ngày, bên phải là chữ nguyệt 月 cho ánh sáng ban đêm. Cả hai ánh sáng này gom lại là một nguồn sáng lớn

Cúng Tứ thời là luyện Thiên Nhãn:

 

 

 

 

Phải trải qua các giai đoạn để được chứng ngộ:

*-Khi ngồi Cúng đôi mắt hướng về Thiên-Nhãn-Thầy. Mắt trái gọi là nhựt  Mắt phải gọi là nguyệt  Mắt nhìn tâm động, nhận thức mọi vật nơi tâm, gọi là minh tâm 明心 tức là hai ánh sáng qui về một điểm do sự hồi quang, luyện dần sẽ được điểm sáng hơn. Minh  là sáng đây gọi là “Nhứt nguyên lưỡng cực” bởi vì trong chữ minh là một khối (nhứt nguyên) có hai phần âm dương (lưỡng cực). Ấy là chỉ con người đang sống trong thế giới Nhị nguyên, nghĩa là hễ có sướng thì có khổ, có vui tất có buồn. Chính vì lẽ đó mà con người phải tu để vượt lên trên sự sướng khổ, buồn vui ấy. Tuy nhiên Đức Hộ-Pháp cũng nói “Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc vui buồn thấm vào chân tánh”. Là có phần an nhiên tự tại.

*-Khi ánh sáng phản chiếu lại ấy là giai đoạn kết đơn  (đơn là điểm sáng màu hồng cũng gọi là Huệ nhãn, Tâm nhãn, Thần nhãn, Thánh nhãn) tùy theo trình độ tu tập. Chữ ĐƠN  là do chữ nhựt và nguyệt đặt chồng lên nhau  đó là con mắt thứ ba chính là Nhãn  đó vậy. Đây là điểm Đơn nhứt Thái-cực. Nghĩa là bấy giờ qui vào một điểm mà thôi.

Thế nên khi gọi là NHÃN thì chỉ có một. Do vậy mà Đạo Cao-Đài chỉ thờ một “Con Mắt trái” mà thôi. Mắt trái là Dương. Dương là chỉ ánh sáng tuyệt đối là Lương tri của con người.

Điểm Thái Cực này ở giữa hai chơn mày, do vậy mà người Ấn-Độ hay đính một hột sáng hoặc điểm một chấm đỏ, giả làm con mắt thứ ba.

Cúng kiến thường là đạt được sự minh tâm kiến tánh hay là hồi quang phản chiếu là đạt được sự sáng vậy.

Như thế hai con mắt đã biểu tượng bằng hai chữ nhựt 日nguyệt 月 .Khi ngồi Cúng có ba trường hợp xảy ra:

1- Thứ nhứt: nhựt nguyệt đặt liền nhau thành ra chữ Minh  minh là sáng. Nhìn vào cũng thấy rõ nhựt là mặt trời, nguyệt là mặt trăng, tức là mỗi loại cho một thứ ánh sáng khác nhau, bây giờ ghép hai chữ liền với nhau thành chữ Minh  là sáng vô cùng. Đây là luyện Tinh hoá Khí.

2-Thứ nhì: Nếu chữ Nhựt 日 đặt chồng lên chữ nguyệt月

thành ra chữ Dịch  là sự biến hoá. Đây là cốt tuỷ Kinh Dịch. Dịch 易 là biến đổi. Giai đoạn này luyện Khí Hóa Thần tức là phần trung gian tạo nên sự biến đổi cho hai giai đoạn 1 và 3. Có câu“Lễ bái thường hành Tâm Đạo khởi”  là vậy.

3- Thứ ba là Nhựt nguyệt đặt chồng vào nhau sẽ thành chữ Đơn 丹. Chữ Đơn  tức là Đơn nhứt Thái-cực là Tu đắc Đạo. Là luyện Thần huờn hư.

Nếu cứ mãi nhìn ra thì hoá ra vọng niệm. Nhưng đối với người tu thì chỉ hướng vào bên trong tâm hồn mà thực hiện câu Kinh Nhựt tụng:

    “Làm người rõ thấu lý sâu,

    “Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh”

Thử hỏi cái lý sâu đó nó nằm nơi nào mà mong sửa lòng trong sạch? Tức nhiên ta phải biết quí trọng những gì mà Thượng-Đế ban cho, nghĩa là phải phát triển điểm chơn linh hay là điểm linh quang cho sáng suốt. Có thế, tức là không dám khinh thường cái Tâm, bởi khinh thường cái Tâm là tất nhiên khinh thường Trời. Nhưng Trời thì chẳng ai dám khinh hết. Bởi quyền năng của Trời là ban sự sống cho muôn loài, mà muôn loài luôn hướng về Trời để nhận sự sống ấy, là KHÍ; mà khí tức là Đạo. Tức nhiên dù người hay vạn vật lúc nào cũng tìm Đạo là vậy.

Việc cúng kiến hằng ngày với mục đích là làm cho sáng đức tin, tức là sáng tỏ đức sáng của chính mình. Khi sáng tỏ được đức sáng thì tâm linh hoát nhiên khai ngộ.

         Tại sao cũng là con mắt mà khi gọi

Mục 目 khi gọi Nhãn 眼 ?

*Mục目là con mắt nhìn ra, cốt để thấy vật bên

ngoài, khoa-học gọi đó là cơ quan thị giác. Mắt phải có hai mới thấy rõ sự vật. Gọi là lưỡng mục

*Nhãn 眼 là mắt nhìn vào trong. Thường nói là con mắt thứ ba. Trước hết chữ Nhãn kết hợp bởi Mục 目 và Cấn 艮 là núi. Hình ảnh của Mắt khi nhìn ra bị núi chắn lại nên phải nhìn vào bên trong, tức là sự sáng bằng tâm linh còn gọi là con mắt thấu thị. Muốn có được con mắt thứ ba phải luyện, tức là hình thức cúng Tứ Thời, đó là luyện Tinh- Khí- Thần; mà trước nhứt là luyện Thiên-Nhãn (như các nhà thôi miên vậy). Nhờ cúng Tứ Thời thường nhựt nên được phát huệ đó là cách thức luyện đơn của các Tiên gia qua hình ảnh trên đây của người Đạo Cao-Đài:

Ý nghĩa việc luyện: chữ Minh 明 ở đây nghĩa là nhựt nguyệt hiệp lại mới có sự sáng, gọi là “nhựt nguyệt hiệp đồng minh”. Nhựt nguyệt chính là tâm và thận ở nơi ta, tâm là Ly ☲ người tu tiên gọi là “hống”, thận là Khảm ☵ gọi là “diên”.Khảm -Ly cũng là “huyền tẩn tổng trì môn”,nếu hai thể được dung hòa ký hợp thì trí huệ tự khai.

Con người khi Khảm (thận) và Ly (tâm) giao hòa thì sống, phân tán thì chết “Khảm Ly giao tắc sanh, phân tắc tử”. Còn “huyền tẩn” ở đây là âm dương, nhựt nguyệt có hợp mới được sáng “đắc kỳ minh”. Muốn minh phải dùng phép tụ quang khai Thiên nhãn. Đấy là phương pháp Cúng kiếng hằng ngày qua Tứ thời nhựt tụng, mà ngày nay Đạo Cao Đài đã áp dụng đó là một pháp tu Tiên:

“Phép Tiên Đạo tu chơn dưởng tánh”

Khi hai con mắt duy nhất chú vào một điểm Thần quang (Thiên Nhãn Thầy) thì chơn khí không còn phóng tán. Khi Thần được yên thì vọng thức khó sanh. Phép tụ quang là bước đầu của cơ sở để hồi quang phản chiếu vào trung huỳnh đặt nhãn tạng vào đấy thì hai khí: tâm thận triều viên, Khảm Ly giao hội, thủy hỏa ký tế, long hổ qui triều. Khi mà nhật nguyệt hiệp thành Minh thì khí Trung hòa huân kết thành Đơn (đan). Đơn ở đây là thể hỗn nhất hồn dung không còn thấy được hình dáng của nhật nguyệt, đó là minh đức, minh linh, đạt đắc diệu lý vậy..

Chữ Minh   ở đây là một bí quyết tối thượng, là chìa khóa mầu nhiệm mở cửa bí mật cho nguyên căn, sớm đặng nhập Thánh siêu phàm, tạo Tiên tác Phật. Muốn được trường sanh, muốn thoát khỏi luân hồi sanh tử, đoạn dứt vòng xiềng xích nhân duyên, cần phải tìm lại nguồn đầu, nguyên căn sinh ra trời đất vạn vật, nhận lại bản lai diện mục của chính mình, nghĩa là tìm ra manh mối và phăn dần về nguồn cội nguyên sơ để bảo toàn tánh mạng. Nguyên sơ là lúc chưa có trời đất, vũ trụ này chỉ là một khí hư không, ngưng kết thành một khối hồn nhiên, cực huyền, cực diệu. Khí ấy trong vô cực hiện ra Thái cực. Kinh rằng “Đại La Thiên  đế. Thái Cực Thánh Hoàng”

   Trong nền Đại-Đạo, Sự cúng kính đặt hàng đầu  tức nhiên hướng tinh-thần theo Thể-pháp của Thiên Đạo.

 

 

25- NIỆM  念

Niệm là nhớ, tưởng đến. Niệm  họp bởi chữ nhơn 人 và kế đến là nhị 二 sau cùng là bộ tâm 心 tức nhiên là bạn đồng sanh với nhau lòng ta luôn nghĩ đến gọi là niệm, nghĩa là thường nhắc nhớ hay tưởng nghĩ đến.

Về vấn đề tâm linh, tâm ta luôn gởi đến một Đấng

cao cả đó là cha mẹ thiêng-liêng là Trời đất,  bởi hai đấng này có đủ sức hộ trì ta, ban phước và tha tội cho ta, nên khi gặp điều khó-khăn ta nhớ ngay đến Đấng ấy, đó là sự cầu-nguyện hoặc là “niệm danh Thầy”.Câu niệm là:

“Nam-Mô Cao-Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát”

Thánh-ngôn Thầy dạy (TNII/107)

              Thầy………………  ….  .1

Thành tâm niệm Phật……………2

Tịnh, Tịnh, Tịnh, Tịnh, tịnh,……3

Tịnh là vô nhất vật………………4

Thành tâm hành Đạo……………5

Một bài Cơ chính Thầy giáng dạy chỉ có năm câu thật đơn-giản. Ấy là một bài cơ ngắn nhứt trong các bài.

A-Giải-nghĩa:

           Câu 1 là Thầy tức là Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng Đế hay là Đại-Từ-Phụ (ngôi Thái cực).

Câu 2: Người tu thường phải niệm Phật một cách chân thành, để không bị phân tâm, cho khỏi vọng niệm. Tức là tạo một sự cảm-ứng với Đấng Huyền-linh. “Thành tâm niệm Phật” ngày nay là niệm danh Thầy: một là để được giải thoát. Hai là những tội lỗi tiền khiên đều được bôi xóa.

           Câu 3– Năm chữ “Tịnh” cho thấy phương tu cần phải “bế ngũ-quan” tức là quên đi những việc phồn-tạp, mà năm giác-quan trong người lúc thanh-tịnh nó hay phóng túng, phải có cách giữ nó lại. Muốn tu sửa thì nên nhớ, người đạo-đức phải biết:

– Mắt (là cơ-quan thị-giác) người tu không nên thấy những gì không cần phải thấy (chánh kiến)

– Lưỡi (là cơ-quan vị-giác) không ham món ngon vật lạ, nói điều lành để tránh khẩu-nghiệp (chánh ngữ)

– Tai (cơ-quan thính-giác) không nghe những gì người đạo-đức không cần phải nghe (chánh định).

 Mũi (cơ-quan khứu-giác) không đòi hỏi những mùi hương lạ (chánh tinh-tấn).

 Tay (cơ-quan xúc-giác) làm việc chân chính, nhất là nên tránh các nghiệp sát (chánh nghiệp).

Trong Bát-chánh-Đạo người tu-hành nên gát bỏ những gì có thể làm cho mất thì-giờ, đồng thời tập thói quen tốt, mục-đích hướng tới điều: chân- thiện- mỹ.

 Câu 4: giữ sự thanh-tịnh đến mức độ cao, giống như mặt nước phẳng không sóng gợn, thì cõi lòng không xao xuyến, bấy giờ trí-huệ mới sáng suốt và thông-công được các cõi vô hình, đó là sự cảm-ứng với huyền linh. Dầu một Tôn-giáo nào hay một bậc chân tu nào, vẫn lấy tâm thanh-tịnh làm đầu mối cho việc tu-hành.

           Câu 5: khi đã thấu-hiểu được chơn-truyền đạo pháp phải đem ra để truyền-bá cho mọi người cùng thực-hành hầu đốt giai-đoạn thời-gian, thâu ngắn con đường đến Tây phương hơn. Có làm được như vậy là đã thực-hiện được ngũ-nguyện rồi:

 

B- Nghiệm về lý: con đường tu của Đạo Cao-Đài.

Xét câu Ngũ nguyện

           -“Nam-mô Nhứt nguyện Đại-Đạo hoằng-khai tức nhiên người Tín-hữu Cao-Đài phải làm sao cho mối Đạo ngày càng phát-triển, bành trướng mạnh-mẽ thêm. Có câu “Nhơn năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân”. Sự hoằng dương chánh-pháp là làm cho mọi người biết tu hành là để cùng hướng thiện và hướng thượng. Làm cho nhơn-sanh bớt khổ cùng sống vui trong  đời giả tạm này.

“Nhì nguyện Phổ-độ chúng sanh”: Lời tâm nguyện của người tu là muốn cho chúng sanh bớt điều nghiệt chướng, cầu mong cho nhân-loại giảm bớt đau thương vì chiến-tranh tàn-khốc. Sự đau thương chất cao như núi, nước mắt chúng-sanh nếu góp lại nhiều hơn bốn biển. Lời Phật Thích-Ca than như vậy. Ngày nay nhân-loại quá đau thương, xin cùng nhau nối tình thương lớn. Nguyện thế giới sớm hiểu Đạo Trời để được sự cứu rỗi.

          “Tam nguyện xá tội Đệ-tử lời cầu: xin Thiêng liêng xoá bỏ tội-tình kiếp trước hoặc do vô minh mà đã gây ra, hiện tại không gieo thêm nữa để khỏi gặt hái đau thương; đồng thời chính mình cũng bỏ lỗi của người khác, tức là quên đi những thù hận, ích-kỷ, nhỏ-nhen, cuộc đời ngắn ngủi này có nghĩa gì đâu!

“Tứ nguyện thiên-hạ Thái-bình”. Nếu thiên-hạ được thái-bình là toàn cầu được thái bình, nhà nhà đều hạnh-phúc, thay súng đồng, gươm máy bằng phi đạn tình thương để không còn thấy cảnh nhà tan, cửa nát, chết-chóc hằng ngày nữa. Máu và nước mắt chúng sanh thôi chảy.

Ngũ nguyện Thánh-thất an-ninh Thánh-thất đây chính là cõi lòng của mỗi người được bình-an, vui-vẻ Thể hiện trong cảnh sum-họp gia đình, loáng ra xã hội, thế giới đều được hạnh phúc trong cuộc đời tạm này.            Có giữ được cõi lòng thanh tịnh như thế ấy tức là giữ được Ngũ-giới cấm vậy. Thế nên sự tu hành bất cứ hình-thức nào hay tùng theo một Tôn giáo nào, bậc nào cũng phải có sự xét mình nghiêm túc như vậy. Chắc chắn không còn mật pháp nào hay hơn, vì đó là căn-bản của người tu. Quan-trọng nhứt là câu nguyện thứ năm, vì nó đã đi vào cõi lòng của người rồi. Một khi khí tịnh, thần an thì không còn nghĩ đến sự xung-đột nào cả, người người đều nắm chữ “nhàn” trong tay thì lo  chi thế giới không  hòa bình,

nhân sanh không an-lạc?

Sự tu-hành có giá-trị ở sự Xét mình vậy.

            Thầy dạy: “Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phân-sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương-tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương-tâm chưa đặng yên-tịnh, thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu-ý đến sự sửa mình ấy, thì lấy làm may-mắn cho nền Đạo; rồi các con sẽ đặng thong-dong mà treo gương cho kẻ khác. Các con thương mến nhau, dìu-dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó”.   (TNI/97)

Con người có 5 giác-quan: đó là ngũ quan hữu tướng. Phải có tư-tưởng tốt, hay là ý-tưởng mới có thể dùng nó mà Xét mình được; chính đây là lục quan vô hình, còn gọi là giác-quan thứ sáu.

Đức Hộ-Pháp cũng dạy rồi: “Hôm nay là ngày mở cửa thiêng-liêng và đưa nơi tay các Đấng nguyên-nhân ấy một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình, hai món Bí pháp ấy là:

          1/- Long-tu-phiến của Đức Cao Thượng-Phẩm

          2/- Kim Tiên của Bần-Đạo, hiệp với ba vòng vô vi tức nhiên diệu quang Tam giáo hay là hình trạng của càn khôn vũ-trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ-quang-khiếu của chúng ta đó vậy. Con người có ngũ-quan hữu tướng và lục quan vô hình, mà phải nhờ cây Kim-Tiên ấy mới có đủ quyền-hành mở lục-quan của mình đặng”

         Mà Kim-Tiên là gì? Là tượng hình ảnh của điển lực điều-khiển càn-khôn vũ-trụ, mà chính đó là điển-lực, tức nhiên là sanh-lực của vạn-vật đó vậy. Với nó mới có thể mở đệ bát khiếu- Trong thân con người có thất khiếu và còn có một khiếu vô hình  là Huệ-quang-khiếu – Vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được”.

Nói rõ ra cây Kim Tiên tức là cây roi Tiên có chín khúc (cửu khúc Kim Tiên). Số 9 đây là nói đến Bát-Quái Tiên-Thiên. Có 4 lần con số 9. Mà 4×9=36 tượng trưng 36 cõi Thiên-tào.

Thêm cây quạt của Đức Cao Thượng-Phẩm tức là Long-Tu-phiến, nghĩa là cây quạt được kết bằng 36 lông cò trắng. Con số 36 này là kết quả của thành số vừa nêu trên, cũng là ý-nghĩa của hai quẻ Càn Khôn vậy.

Đây là hai quẻ Càn ☰ Khôn ☷ Nhìn vào số nét trong mỗi quẻ ta thấy quẻ Càn có 3 vạch, quẻ Khôn có 6 vạch. Như thế thì số 36 là nói đến hai quẻ Càn Khôn nằm trong Bát-Quái Tiên-thiên, chính Bát-Quái này là cánh cửa để đi vào Đạo-pháp.

Tóm lại muốn “rõ thấu lý sâu” phải thấu hiểu Bát Quái một cách tinh-tường.

C- Phân-tích chữ “Tịnh” qua 4 chiều không-gian:

Tịnh  là đối với động, là sự yên-lặng hoàn toàn, không nhiễm, không luyến bất cứ vật gì của đời, đại-khái như danh- lợi- tình; những thứ mà làm cho người đời say đắm: Vì ăn nên phải bị đọa, vì dâm nên phải bị đày, người đời cũng vì những thứ vật dục ấy khiến cho cõi lòng dấy động, nếu không biết giữ mình thì nó buông lung như ngựa không cương. Thử phân-tích qua bốn chiều không gian để thấy sự mầu-nhiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Khởi đầu là TINH  về mặt văn-pháp, Tinh có nghĩa là sự sống, khi sự sống có thì nó cùng đến, nói khác đi nó có mặt ngay khi sự sống bắt đầu; đó là TINH KHÍ.

Gốc chữ Tinh vốn là trạch mễ 擇 米 tức là lựa gạo

(chữ Tinh thuộc bộ mễ 米 mễ là gạo).Tinh còn có nghĩa là

lựa gạo để lấy những phần thuần khiết, cho nên mới có bộ mễ, nói rõ hơn Tinh là phần gạo ngon nhất, sạch nhất, sau khi đã chọn lựa kỹ. Ngoài ra còn đọc là thanh  tức là màu xanh, đó là màu bất biến. Sách Nội-kinh nói Tinh là phần khí-chất được sạch nhất, ròng nhất, trong thủy-cốc nó đóng vai trò quan-trọng trong quá trình tạo thành chân-khí, nguyên-khí và huyết-khí. Riêng con người, chữ Tinh mang một nội-dung cao hơn nữa, đó là Tinh của thiên địa. Bởi Tinh là cái“thiên chi nhứt, địa chi lục” 天之一地 之六

Thiên lấy nhứt sinh ra thủy, địa lấy lục thành thủy “Thiên nhứt sanh thủy, địa lục thành chi 天一生水地六 成之. Đây là quá-trình sinh thành của Ngũ-hành sớm nhất, vì vậy vạn-vật lúc mới sanh đều đến từ thủy. Ví như hạt của một trái cây lúc chưa chín đều có tính thủy (nước).

Một cái thai, một cái trứng, lúc chưa thành đều là thủy. Phàm con người có sự sống, cho đến côn-trùng, thảo-mộc, không loài nào không như thế.

Kinh Dịch nói: Nam nữ cấu tinh thì vạn vật mới hóa-sinh. Y-học cũng xác định: thường sinh ra trước thân (hữu hình) gọi là Tinh “Thường tiên thân sinh thị vị Tinh” 嘗先身生是胃精 Tinh còn mang một ý-nghĩa rất quan trọng trong  việc giao-hợp giữa âm dương, giữa huyết khí,

giữa trai gái, mà kinh Dịch đã đề cập đến.

Phàm con đường sinh thành của vạn-vật không có con đường nào không do sự giao nhau của âm dương để rồi Thần được minh vậy. Cho nên cuộc sống của con người ắt phải do sự hợp khí của âm dương. Tinh của cha mẹ đã cấu hợp nhau tức là dịch đã nói “Lưỡng tinh tương bác”兩 精相剝. Sau đó thì hình thể và thần khí mới thành. Nơi hợp khí của thiên địa gọi là nhân.

Hai tinh khí 精氣 của thiên địa, của trai gái, của Tiên-thiên, Hậu-thiên luôn giao nhau, đánh nhau đúng theo nhịp biến-hóa của khí Thái cực thì cuộc sống của con người sẽ có Thần . Vậy Thần là kết-quả hiển-nhiên của quá-trình khí hóa liên tục, tuần-huờn giữa lưỡng tinh trong thân-thể con người. Vậy Tinh và Thần là kết-quả kỳ-diệu của sự vận-hành khí-hóa trong thân thể người. Sự vận hành này phải theo những chiều vãng lai, nghịch thuận tạo thành vòng âm dương. Tinh là âm, Thần là dương vậy.           Đó là hiện thân của người mang đầy bản tính của trời đất.

           “Con người đứng phẩm tối linh,

           “ Nửa người, nửa Phật nơi mình anh-nhi”

Nhìn qua hình vẽ trên, thấy sự biến đổi của chữ Tinh, nó ở vào Thái-cực, là tâm, là nguồn khởi đoan của con người và vạn-vật. Sự cấu-tạo tế-bào tinh-trùng của người cũng như vạn-vật có phần giống nhau: nghĩa là tế bào họp bởi 1 nguyên-tử Dương và 9 nguyên-tử Âm. Thế nên cái sống hữu-vi này các nhu-cầu cần-yếu giữa người và vật đều giống nhau, từ cái đói ăn khát uống, cho đến sự truyền giống nữa. Nhưng người khác hơn vật và được gọi là người là nhờ có đạo-đức điều-khiển cho mọi hành-động. Có được vậy mới xứng đáng là “tối linh” vậy.

Thế nên ngày Vọng Thiên cầu Đạo, Đức Chí-Tôn dạy ba vị mỗi người cầm 9 cây nhang khấn vái, xin Đạo là tượng cái TINH của con người đó vậy.

          *Tính 性 là người đạo-đức phải biết tập sửa Tính  tốt, nó phải hướng thượng và hướng thiện, bởi dấu sắc là biểu hiệu sự đi lên: Tinh sắc Tính.

Sự kết cấu chữ Nho gọi là “Tính tự tâm sanh” 性自心生 (đây là lối chiết tự: tức nhiên chữ Tính  do bộ tâm họp với chữ sinh  Cũng là ý-nghĩa rằng bổn nguyên: Tính của người do tâm mà sinh ra.

*Chữ Tình  thì nằm ngang; ai cũng có tình cảm, tuy nhiên người có đến thất tình, người tu phải biết chuyển-hóa cho thất tình trở thành thất khiếu sanh quang (chữ tình 情cũng do lối chiết tự, tức nhiên do bộ tâm 忄họp với chữ tinh 青, còn đọc là thanh, nghĩa là phải có một thứ tình cao-thượng).

Chữ Tình cốt ở chữ Tính mà ra. Nhưng Tính thời tịch-nhiên bất động thuộc về phần thể. Tính là nguyên-lý sở-dĩ sinh ra người, cái bản nguyên về tinh-thần của người, bản chất của người hoặc vật. Tình thời cảm nhi toại thông thuộc về phần dụng, nên Tính thời khó thấy mà Tình thì có thể thấy được. Tình thiên địa cốt ở nơi vạn-vật sinh ra, mà tình vạn-vật cốt ở nơi ứng với thiên địa. Tỷ như gặp Xuân Hạ thì vật gì cũng sinh trưởng, gặp Thu Đông thì vật gì cũng ẩn tàng: Đó chính là tình cảm-ứng của thiên địa vạn-vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình của Thánh-nhân, nên không cần nói Thánh nhân chi tình 聖人之情 Vì Thánh nhân với thiên-hạ cũng như thiên địa với vạn-vật. Duy người có thấm nhuần triết-học thì mới nhận ra được. Tình có đến 7 mối ràng buộc lấy người từ khi mới lọt lòng mẹ nên gọi là thất tình.

Nhưng thật ra Tình cũng xuất hiện cùng lúc với “Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi” nữa kìa. Vì khi một chơn-hồn đến thế này dù được tự-do lựa chọn trong cái nhân duyên hay cưỡng bức vì oan-nghiệt đi nữa, cũng được cấu-hợp bởi thất tình do chơn-thần sản-xuất.

Phật-Mẫu tạo Chơn-thần này cũng như cho mặc vào 7 lớp áo để đến thế-gian. Sự cấu-tạo con người quan trọng là bởi Chơn-thần.

Chơn thần là đệ nhị xác thân tạo hình bằng nguơn khí của bảy từng thiên. Bỏ Tạo-Hóa-Thiên là từng thứ chín, linh hồn đến từng thứ 8 trụ thần quyết định đến thế gian nầy làm việc gì, kể từ từng thứ 7 mới tạo xác thân. Ta chia 7 từng làm 7 phách, Ðạo Giáo nói là 7 cái thi hài hữu tướng, 6 cái thuộc về khí chất, cái thứ 7 là xác thú nầy đây. Bảy từng có liên quan lạ lùng với thất tình 七 情

 

 

 

 

– Từng thứ 7, 6, 5 là ba tình:  Ái, Hỉ, Lạc  愛 喜 樂

– Từng thứ tư là Dục  欲

– Từng thứ ba là  Ai  哀

– Từng thứ nhì là Ố  惡

– Từng thứ nhứt là Nộ 怒

Tới từng chót, thì xác thịt là hiện tượng của Nộ giác. Ấy vậy, Bần-Ðạo chỉ rõ rằng ba tánh đức Trung- Hiếu- Nghĩa do ở tình ÁI phát hiện đó là cái tình độc nhứt có liên quan mật thiết với Chơn linh. Ta thấy con nít sơ sanh, thi hài chưa biết vi chủ, nó chỉ sống với Chơn-linh mà thôi. Khởi đoan nó chỉ biết Thương mến những kẻ gần gũi như cha mẹ; còn Chơn thần để gìn-giữ nó, cho nó biết tìm cái sống, bảo-tồn sanh mạng. Thật ra theo Ðạo pháp con nít từ 12 tuổi mới bị chịu ảnh hưởng của xác thịt, còn dưới 12 tuổi xác thịt chưa có quyền. “Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng ?”.

Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ Chơn thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại”.

Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

           Bảy từng thiên có liên-quan với thất tình.       

*Bắt đầu từng thứ 7 thì kết vào tình HỈ (mừng)           *Qua từng 6 thì kết vào tình ÁI (yêu thương).

*Từng thứ 5 kết vào tình LẠC (vui).

Đó là ba thứ tình-cảm tốt  HỈ- ÁI- LẠC được duy trì cho thêm cao-thượng hợp đức của người tu.

*Qua từng 4 kết thêm tình DỤC (muốn).

Chính tình này nguy-hiểm nhứt, nó xây chuyển và quyết định sự đọa thăng của cuộc đời, bởi nó có thể dục lên hoặc dục xuống. Nếu hướng thượng thì gấm ghé ngôi Tiên

phẩm Phật, hướng hạ thì con đường đọa đày, thoái-chuyển

*Còn lại ba tình AI, Ố, NỘ thì lần-lượt xuất hiện ở

từng thứ 3, 2 và 1.

Chính từng nộ-giác là xác hài này đây, cho nên người đời rất dễ giận-hờn. Còn ba tình-cảm cao-thượng lại lẫn khuất vào trong, vậy người tu là phải biết bỏ giả tầm chơn, khổ công luyện tập sửa đổi tánh tình hằng ngày là vậy. Ở nơi người, đạo nhân-luân là trọng, nếu không biết tự-trọng thì nhân-quả buộc ràng khó tránh khỏi. Chính 7 dây oan-nghiệt buộc ràng mà nhiều chơn-linh bị đọa chưa bao giờ thoát qua được cửa luân-hồi sanh tử. Chữ Tình lắm trái-ngang và nhiều rắc-rối, một chơn-hồn muốn được nhẹ-nhàng siêu-thoát thì phải biết Tĩnh tâm, tịnh thần mới mong nhập vào đại ngã.

          *Tĩnh 靖 cũng là Tịnh 靖 vậy. Tịnh là sự yên-lặng hoàn-toàn. Qua bốn chiều không-gian thì chữ Tịnh  ở dưới cùng như nước lắng đọng trong lòng giếng. Nhưng nếu được “giếng Nhân-nghĩa” thì hạnh-phúc cho cuộc đời, bằng trái lại gặp giếng cạn hoặc đục cũng không ơn ích gì!

Bà Đòan-thị-Điểm có dạy phương tu trong Nữ Trung tùng phận (Câu 1249-1252) rằng:

Bế ngũ-quan không kiên tục tánh.

Diệt lục trần xa lánh phàm tâm.

 Mệnh Thiên giữ vững tay cầm,

Đọat phương tự diệt giải phần hữu sinh”

Chữ “Phi” tượng Thất tình

 

 

Chữ 非 có nghĩa là không (0). Nếu chia làm hai phần bằng nhau, thì mỗi bên có 3 điểm: xem như âm dương, cao hạ, tức nhiên 3 tình: Hỉ- Ái- Lạc là ba thứ tình hướng thượng (dương) được đề cao, ba tình Ai- Ố- Nộ là ba tình hướng hạ (âm) cần phải sửa đổi. Duy tình Dục này đứng ở giữa, nghĩa là nếu biết đạo-đức thì nó dục lên, thiếu đạo-đức nó dục làm điều quấy. Vậy người tu là biết xét mình để “sửa lòng trong sạch”.Nếu dưới chữ phi có chữ tâm thành ra chữ Bi  là buồn, gọi là phi tâm. Tất nhiên người được gọi là phi tâm là một Đấng cao cả như Phật Quan-Âm gọi là Đấng Đại-từ, đại-bi, tức nhiên Bà là vị Phật có lòng quảng-đại, Bà buồn trước nỗi buồn của chúng sanh, Bà cứu khổ cứu nạn trước khi chúng sanh kêu cứu, còn chúng sanh Bi là chỉ biết riêng đau khổ thôi.

Ngày nay Bà là một Đấng được Đức Chí Tôn chọn làm Nhị Trấn trong Tam trấn Oai nghiêm để nêu cao đức: BI- TRÍ-DŨNG hầu đem lại thái-bình cho nhân-loại.

               D- Nghiệm về SỐ:

Các câu trên có các số chữ ứng vào các con số thật là huyền-diệu. Thử giải lý một vài con số tượng-trưng: Cả thảy có 5 câu ứng với Ngũ-hành.

Câu 1: có 1 chữ Thầy” ứng với ngôi Thái-cực

*4 câu sau ứng vào Tứ-tượng.

Câu 2 có 4 chữ, câu 3 có 5 chữ, ấy cũng là phương tu của Đạo Cao-Đài, Tân-luật đã qui định về đạo nhơn luân:

Nữ thì Tứ đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) với Tam tùng là tùng phu, tùng phụ, tùng tử.

Nam phải giữ Tam cang Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) là nguồn cội Đạo.

 Câu 4 có 5 chữ, câu 5 có 4 chữ ấy là về  Đạo-pháp là:

-Hễ nhập môn rồi phải trau-giồi tánh hạnh, cần giữ

Ngũ giới cấm và Tứ đại điều-qui.

Tóm lại: Nếu so-sánh với các lời dạy trên thì:

Câu 1  có 1 chữ, ứng ngôi Thái-cực.

Câu 2 (4chữ) là gái gìn     Tứ đức (tứ Âm)

Câu 3 (5chữ) là Nam giữ  Ngũ thường                                        (thuộc Ngũ hành âm)

Câu 4 (5chữ) là tu-hành thì giữ Ngũ giới-cấm.

(Ngũ hành dương)

Câu 5 (4chữ) phải biết tôn-trọng Tứ đại điều-qui

(Tứ dương)

Những con số ứng hiệp trên tạo thành một Bát quái Đồ Thiên, đồng thời còn ngụ cả một nguồn Giáo-lý cao siêu của nền Đại-Đạo.

Tại sao có lời dạy nghiêm-mật ấy?

Bởi “Đạo Thầy là nền Đại-Đạo do chính Thầy đến lập là Đấng Chí-Tôn Ngọc-Hòang Thượng-Đế, tá danh  Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-Ha-Tát. Ngài đến giáo Đạo tại Nam-phương, xưng mình là Thầy, kêu cả tòan Môn-đệ là con cái của Ngài”.

Thầy dạy: “Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh-gỗ nghe!. Các con phải giữ phận làm vừa ý Thầy muốn. Ngày sau sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy

              E- Lý Dịch trong lời dạy:

Trước nhất thấy rằng đây là một bài Cơ của Đức Chí-Tôn giáng dạy ngắn nhứt, giản-dị nhứt và cũng sâu sắc nhứt. Câu “giản-dị nhi đắc thiên lý” đúng vào trường hợp này vậy.

Nếu đếm số chữ thì chỉ có 5 câu ứng với Ngũ hành.

Câu đầu chỉ có một chữ “Thầy”, số 1 đó là ngôi

Thái-cực Thánh Hoàng, vi-chủ là Thầy, là Thượng-Đế. Vì:

Thầy là Chúa cả càn-khôn thế-giới, tức là chúa tể

sự vô-vi, nghĩa là chủ-quyền của Đạo, mà hễ chủ-quyền

của Đạo nơi nào thì là Đạo ở nơi ấy.”

Câu 2 và 3 hiệp lại bằng (4+5)=9. Cũng như câu 4 và 5 hiệp lại (5+4)=9. Tức hai con số 9 (99) gọi là “cửu cửu”.

Sấm ký Đức Trạng-Trình

Cửu Cửu Càn-Khôn dĩ định.

Thanh-minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo Dương đầu Mã vỹ,

Hồ binh bát vạn nhập Tràng-an.

Có nghĩa rằng: Trời đất định rằng chín lần 9 là 81, vào Tiết Thánh-minh sức Dịch đã gần như phai tàn. Đến dầu năm Dê (dương đầu) và cuối năm ngựa (mã vĩ) 1954 có tám vạn binh của cụ Hồ tiến vào kinh đô chấm dứt ách nạn Việt Nam phải chịu 81 năm nô lệ của thực dân Pháp

Tất nhiên con số 9 có một giá-trị nhiệm mầu trong lý Dịch, phi thời-gian. Nay là buổi cuối Hạ-nguơn Tam chuyển sắp bước vào Thượng-nguơn Tứ chuyển, Đức Chí Tôn mở Đạo đồng thời “bày tất cả bửu-pháp” để chuẩn bị cho mùa hoa Đạo nở. Đó là định-luật: Hoa bên ngoài tàn rụng đi để cho Hoa Đạo nở kết thành khối yêu thương lớn.

Lại nữa, về lý Dịch thì khi các quẻ kép đặt theo chiều xuyên tâm đối có tổng-số là 99.

Ví dụ Bát-Thuần Kiền là 11 hiệp với Bát-Thuần Khôn 88 sẽ có tổng số là 99. Tương-tự như vậy có đến 32 cặp âm dương đều có tổng-số là 99 như thế (sẽ bàn sau). Về đất nước thì Đảo Phú-Quốc có 99 hòn tất cả, Tây ninh – Sài-gòn cách 99 km, có phải là sự ngẫu nhiên chăng?

           4 câu sau  gọi là Tứ-tượng, nhưng hiệp lại chỉ còn hai vế ứng với Lưỡng-nghi,  từ đó mới trở về Thái-cực là 1 chữ (Thầy).

 

 

26- NGỌC 玉

NGỌC玉 là dạng chữ VƯƠNG 王 nhưng có thêm một chấm ở phần dưới, nếu nét chấm ấy đem đặt lên trên đầu của chữ, sẽ thành ra chữ CHỦ 主 (chúa), họăc cho nó biến đi tức là hòa nhập vào bên trong thì thành ra chữ VƯƠNG.

Thế nên khi nói Ngọc  là chỉ chung vàng bạc, ngọc ngà, đá quí, là của cải quí báu ở trong đời.

Thầy hỏi: – Của cải ấy gồm những gì?

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường. Hồng là một chất màu; Còn Lục là chất do loài vật cấu thành ra. Các  con xem của ấy là quí giá thật sự sao?

Xét từ nơi sản xuất ấy, đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cữu. Của quí ấy không ai cướp đặng cả.

Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu  nhờ nơi sự gian trá.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách.

(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm phẩm tước của cải và danh vọng của Trời?).

– Thấy trả lời: “TU”.

– Tu là chi ?

Thánh ngôn dạy rằng:“Tu-hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh Thiêng-liêng”.

Tu để đến được với Trời, là Đức “Ngọc Hoàng giáng thế Giáo Đạo Nam phương” Ngài đã đến  nói:

                                

 

THI

Ngọc  ẩn Thạch kỳ ngọc tự cao

Hoàng  Thiên bất phụ chí anh hào

Giáng  ban phúc hạnh nhơn đồng lạc

Thế  tạo lương phương thế cộng giao

Giáo  hóa nhơn sanh cầu triết lý.

Đạo  truyền thiên hạ ái đồng bào.

Nam  nhơn tỉnh cảm sanh cao khí

Phương  tiện tu tâm kế diệt lao.

Ngài xưng vừa là Thầy mà cũng vừa là Cha của nhân loại:

Đêm 17-12-1925: một Đàn Cơ do ba ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, cầu:

“Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Muốn TA truyền Đạo, kể từ bây giờ phải gọi TA bằng THẦY  và TA gọi lại là các con, nên mới có câu “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Ngày 9 tháng giêng năm Giáp Thân (dl: 2-2-1944):

Thầy nói: “Kỳ nầy là chót, Thầy lập nơi đây một Trường thi công quả và cho các Đấng khảo đủ phương diện. Thầy đau đớn thấy các con còn đặt mình chung cùng danh lợi. Đây cũng đến kỳ Tận Thế, đổi cựu thay tân, tuyển bực đại hiền cứu thế. Các con cũng còn nhớ những lời Thầy dạy lúc mới lập Đạo, Thầy tưởng cũng nên lập lại một lần chót cho các con nhớ: “Thầy là các con, các con là Thầy. Chư Phật, Thánh, Tiên cũng là các con, các con là Phật, Thánh, Tiên  tại thế”.  Vậy các con hiểu Đạo thì các con tập tánh sao cho ra vẻ, cho đúng in như các Đấng vậy. Thầy đã cho các con biết trước: “Thầy cho các con đắc Đạo tại thế”. Nay muốn tầm lên cao thì phải lập công cho cao, chí cho bền, đi cho vững, leo núi chớ than mệt, thuyền ra khơi đừng lo biển rộng, dầu sóng gió thế nào cũng vẫn tươi cười đặng lướt qua  khỏi bể. Nghe cùng tuân lời các Đấng dạy răn.Thầy khuyên các con đừng sanh nạnh cùng nhau, co đầu cứng cổ, e phải bị tội  lỗi  đa nghe!.” Thầy đã nói: “Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn-thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-khôn Thế-giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con”.

Thầy đến độ kẻ vô Đạo:

Đàn Cơ ngày 23-11-Bính Dần (Thứ hai 27-12-1926)

“Thầy dặn rằng: Thầy đến chẳng phải lập một nền Đạo mới, mà đến đặng nhắc các con rằng: Ngày Tận tuyệt đã hầu gần, Quỉ vương sắp đến. Thánh ngôn các Đạo đã khai từ thuở tạo Thiên không đủ kềm thúc nhơn sanh đặng trọn lành. Đời càng ngày càng trở nên hung bạo, nhơn loại giết lẫn nhau, cả hoàn cầu giặc giã, bịnh chướng biến sanh, Thiên tai rắp đến. Ấy là các điều Thầy đã nói tiên tri rằng: Ngày Tận Thế đã đến. Thầy đã tạo Thánh giáo trọn đủ Pháp luật. Thầy đến chỉ độ kẻ vô đạo chớ không phải sửa đạo.  Con hiểu à !”  (ĐS. II. 123 -125)

 

 

27- NGHĨA 義

            Phân tích chữ Nghĩa   thấy có hai phần:

Phần trên là chữ Dương 羊 là con dê, phần dưới là chữ ngã 我 là ta (c’est-à-moi). Dê là một trong ba con vật người xưa thường đem ra tế Thần linh, tế cả Trời đất nữa, như Đàn Nam-giao còn dấu tích, hình ảnh nơi Cung Đình Huế còn đó. Ba con vật đem tế sống như vậy gọi là Tam sanh: Trâu, Dê, Heo. Mỗi một vật này nó phải chịu hy sinh mạng sống thay cho giống loại của nó mà cúng tế, đó là

một việc làm có ân nghĩa vậy: tức là tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Thế nên khi hai chữ này đặt lên nhau thành ra chữ NGHĨA 義 là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự.  Đức Hộ-Pháp nói:

Tại sao ta có Nghĩa? Tại sao Nghĩa lại hiện tướng trên tánh đức của một chơn-linh cao trọng?

Nơi cõi Hư-linh mỗi người có một gia-tộc, một đại nghiệp, Anh em đông biết bao nhiêu. Bần-Ðạo xin nhắc lại câu nầy cho toàn cả hiểu điều yếu trọng: Chẳng phải vì sự tình cờ mà chúng ta được chung đứng trong lòng của Ðức Chí-Tôn ngày nay đây. Biết đâu trong 24 chuyến thuyền Bát-Nhã chở các Nguyên-nhân hạ trần đặng làm bạn và độ rỗi các Hóa nhân và Quỉ-nhân, lại không có chúng ta ngồi chung trong đó. Ðã từng chia đau sớt khổ cùng nhau chẳng những trong thế giới nầy mà trong các thế giới khác nữa. Ðã từng chung sống cùng nhau, cái thâm tình vĩ đại đã nhiều. Nếu cả thảy không nhớ lời nầy của Bần-Ðạo, đến khi linh hồn xuất ngoại rồi sẽ ân hận biết bao nhiêu, mà chừng ấy đừng trách Bần-Ðạo không chỉ trước. Không thương yêu nhau cho trọn nghĩa là lỗi tại mấy người đa ! Chớ không phải tại Bần-Ðạo không nói !

Ban sơ, nơi cõi Hư linh, thọ nhứt điểm linh đến thế nầy tạo ngôi vị, làm bạn với biết bao nhiêu chơn-linh khác, dầu nguyên do của mình là Thảo mộc hay Thú cầm cũng phải có nhiều bạn, chừng nào đạt đến địa vị mới biết bạn nhiều. Người Nghĩa ta có nhiều ở mặt thế nầy, lo tìm người Nghĩa đặng tương liên cấu hiệp tâm tình trong cảnh

khổ não, truân chuyên chịu hình thử thách nầy.

 

28- NGỤC  

        Ngục 獄 là nhà giam: gồm có bộ khuyển犭là con chó, thêm phía sau là chữ khuyển 犬, ở giữa là ngôn 言  lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Người giữ ngục hầu như cũng mất tính người! Nhà tù là để trừng giới kẻ trái pháp-luật. Ngày nay quả thật nhà tù là địa ngục ở trần gian, hình như không thiếu một hành động dã man nào mà không có ! Nhà tù là nơi giam cầm kiên cố và người tù bị đối xử tệ bạc. Theo Hán Việt thông thoại, nhà tù do ông Cao-Dao đời cổ dựng ra. Vì có những chuyện vượt ngục, thoát tù, cho nên nhà tù làm kín đáo, không khe hở để không thể thoát, cho nên gọi là nhà ngục 獄.

Câu “nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại”一日在囚 千秋在外 không ai còn lạ gì ! Tức nhiên ví một ngày ở tù mà bằng ngàn năm ở ngoài vây. Chữ TÙ 囚 cũng tượng hình cho thấy người (chữ nhân 人) bị nhốt trong bốn bức tường kín thì có gì là vui sướng, thảnh thơi ?.

Cái cảnh ngồi ngục được Đức Thanh Sơn Đạo Trưởng viết trong  “Thập Thủ liên hoàn”, trích một bài:

Ðai cân đã có vẻ chi chưa ?
Hay phận tù lao kiếp sống thừa.?
Đạp đất gập ghình chôn trẻ dại,
Ngừa thời điên đảo trí già xưa.
Ngồi hang thương kẻ mang da chó,
Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.
Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa.
Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

            Nhưng ngẫm lại thì quả địa cầu 68 này chính là cái “ngục” lớn mà các chơn linh đến thế này học hỏi, ai nấy đều phải chịu giam trong cái nhục thể này, cũng gọi đây là “khám tù  nhân thế”. Vậy khi khổ thì ai cũng oán than, mà cái chết thì ai cũng sợ, tìm mọi cách để sống. Nhiều khi chính họ cũng không biết cần sống để làm gì ? Mà cũng không biết sự chết sẽ đi về đâu ? Chơi vơi và chơi vơi.

Thuyền Đạo đã chực bờ mà  sao chưa bước xuống?

Khác xa với Đời Văn-Vương lấy Thánh-đức trị dân, nơi giam cầm rất sơ-sài, như muốn cầm tù kẻ phạm pháp thì vẽ một vòng tròn bắt kẻ có tội đứng trong đó để suy nghiệm việc sai trái của mình mà tự sửa cải.

Thầy dạy, vào thời xa xưa “Nước Hạng, người Trọng-Sơn, sạch mình cho đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả; trong sạch đến đỗi của trời đất cũng không nhơ bợn, con hiểu à!  Con hiểu ý bài thi  này chăng?

“Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng-Sơn,

“Chung-qui hữu phước hạnh tao-phùng.

“Hậu lai mạt tín đa phi-thị.

“Hữu ngoại thành tâm tái vận cung”.’

Sao? Nói cho Thầy nghe.

Chư Nhu đặng tọa vị hầu Thầy.

(M…N..cắt nghĩa trái Thánh-ý).

– Không đâu con! Con có hiểu hai câu này chăng?

               “Hớn Lưu-Khoan trách dân Bồ-Tiên thị nhục,

               “Hạng Trọng-Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.”

Nghĩa là đời Hớn, người Lưu-Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi. Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia-quyến con cho chánh-đáng, phải lấy lòng trong sạch đối-đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Con khá đọc Thánh ngôn và cắt nghĩa Thánh-ý Thầy cho mọi người biết. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!” (TN II/10)

 

 

29- NGUƠN 元

Nguơn hay là Nguyên là gì?

Về mặt chữ: Nguyên  họp bởi chữ ngột 兀 là cao chót vót, thêm vào nét nhứt  ở trên để chỉ cái lý duy nhất, cao cả như nước nguồn đổ ra trăm sông, ngàn mạch, như một chủng-tử lưu truyền theo mỗi loại. Nguyên là bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên.

Theo dạng chữ thì chữ ngột 兀 giống như một cái Đài cao mà từ xưa các bậc tiền bối thường lập nơi thanh vắng và tinh-khiết để cầu Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nét nhứt ở trên chỉ sự chí diệu, chí linh, tối đại, tối cao, duy tinh, duy nhất. Nói rộng ra Nguyên bao gồm cái nguồn phát xuất đầu tiên do đức háo-sanh của Đấng Tạo-đoan để mỗi loại được cái sống lưu truyền với cái giác, cái linh huyền nhiệm mà lưu tồn. Nguyên tượng cho mùa xuân, ở người là đức Nhân.

Có thể nói nguyên  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 儿

Tương tự thì chữ Nhân  gồm chữ nhị 二 và bộ nhân

Chữ Thiên   cũng gồm chữ nhị 二 và bộ nhân 人

Ý nghĩa chữ Nguơn

Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo

Nho giáo của  Trần Trọng Kim  thì một  nguơn là 12 Hội,

một Hội = 30 Vận, một Vận = 12 Thế, một Thế = 30 năm.

         Đức Hộ-Pháp nói: “Mỗi chặn đường tiến-hóa được gọi là nguơn: Có Thượng-nguơn, Trung-nguơn rồi Hạ nguơn. Hạ nguơn rồi trở lại Thượng-nguơn nữa, vậy là một vòng tròn không lối thoát ? Nhìn qua là một cuộc luân-hồi tưởng chừng theo một vòng tròn, nhưng đúng ra là theo đường trôn ốc; như vậy mới gọi là tiến-hóa hay là dục tấn. Nhơn-loại hiện nay đang sống vào thời Hạ-nguơn Tam chuyển và đang tiến lần vào Thượng-nguơn Tứ chuyển: Mỗi chuyển của điạ-cầu là một bước tăng tiến. Mỗi chuyển có 36.000 năm, chia làm ba nguơn; mỗi nguơn có 12.000 năm. Chiếu theo pháp Phật mỗi chuyển như vậy  tính  từ:

– Thượng-nguơn, còn gọi là khai nguơn thì thuộc quyền của Phật,

– Trung-nguơn, thuộc quyền Tiên,

– Hạ-nguơn,  thuộc quyền Thánh.

 Nhận-định bí-pháp thiêng-liêng của Chí-Tôn, nhỏ có người dạy, lớn học hành lập thân danh, thành nhơn rồi tự trị lấy mình.

– Phật thì dạy. – Tiên đào luyện  – Thánh thì trị.

Hạ-nguơn thuộc Thánh, nhơn-sanh tranh-đấu cho sự sống còn, ấy nguơn tranh-đấu mà triết-lý cốt là trị, được sản xuất cơ-quan bảo-tồn cho loài người. Nay, Hạ-nguơn Tam chuyển hầu mãn, khởi Thượng nguơn Tứ chuyển, địa-cầu chúng ta lạc-hậu quá nhiều. Đã ba ngàn năm xa xuôi, đã thua Thủy-đức, Kim-đức và  Mộc-Đức Tinh quân, trong số bảy địa cầu. Người ta đã bảy chuyển, mình mới tới đệ Tứ chuyển, vì vậy nên Chí-Tôn mượn các Đẳng chơn-linh ở các địa cầu kia, đến làm bạn với chúng ta. Chẳng những hóa-nhân mà đến nguyên nhân, Chí-Tôn cũng mượn họ đến tại địa-cầu này làm bạn giáo-hóa chúng ta,  không biết số bao nhiêu;  theo Phật pháp thì được 24 chuyến thuyền chở họ đến độ chừng 100 ức: Phật-Tổ độ 6 ức, Lão-Tử độ 2 ức, còn lại 92 ức, đến Hạ nguơn này cũng chưa thoát khổ, vì thế Chí-Tôn mới đến khai Đạo Cao-Đài.

“Cả cuộc biến-thiên đó không đi ngoài cuộc biến dịch thiên hình vạn-trạng, tương khắc tương sanh, từ mâu thuẫn xung đột đến tiến-bộ ôn-hòa, qua mỗi nguơn hội có khác.

Tam nguơn của Trời đất: 

        – Thượng-nguơn: là nguơn Tạo-hóa ấy là nguơn Thánh đức, tức là nguơn vô tội (cycle de création c’est-à-dire cycle de l’innocence).

Thượng nguơn là thời kỳ sanh hóa, con người còn sống theo thiên-lý hồn-nhiên chơn chất nên gọi là đời Thánh đức.

       – Trung-nguơn là nguơn Tấn-hóa, ấy là nguơn tranh đấu, tức là nguơn tự diệt (Cycle de  progrès ou cycle de lutte et de destruction)

        Trung nguơn là thời kỳ mâu-thuẫn tiến-bộ, nhưng rất tiếc là tiến-bộ về vật-chất thấp hèn nặng hơn về tiến-bộ tinh thần cao-thượng, tạo khổ cho nhau nhiều hơn là xây dựng hạnh-phúc chung cho nhau, tranh-đấu nhau rồi thúc đẩy nhau đến chiến-tranh tàn-khốc mà Đạo giáo gọi là nguơn tranh đấu.

– Hạ-nguơn là nguơn bảo-tồn, ấy là nguơn tái tạo, tức là nguơn qui cổ (cycle de conservation ou cycle de reproduction et de rénovation).

          Hạ nguơn là thời-kỳ biến dịch tuần-huờn vạn-vật qui nguyên-cổ. Nếu sanh thì thiên sanh, vạn sanh; nếu diệt thì tận diệt không sao tránh khỏi (hiểu như vậy chúng ta nên chọn con đường nào trong hai lẽ sanh và diệt tức là lẽ sống hay chết. Tưởng cả thảy đều chọn đường sanh tức là con đường sống, chớ không ai chọn con đường chết”

           Đức Hộ-Pháp cũng cho biết tiếp:

Mỗi nguơn niên, theo ta hiểu biết cái đại nghiệp của càn khôn vũ-trụ với triết lý nhà Phật, thì cả tinh-thần lẫn vật-chất của vạn linh đều thay đổi mới. Theo cái triết lý ấy thì ngày nay là ngày các chơn hồn đặng quyền Chí Tôn ân-xá nếu không nói rằng hưởng được một sự tấn hóa đặc ân hơn nữa ! Bần-Đạo không cần nói, buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, Đức Chí-Tôn Ngài đến để hai chữ Ân xá thì chúng ta đóan hiểu được”.

 

 

30- NGUƠN NGỌC  元玉

Chữ:Nguơn-Ngọc 元玉 được cắt nghĩa và giải rằng:

“Đời nhà Nguơn có báu Ngọc vô giá. 

Điển-tích:  Vua Nguơn khải ca nhiều trận, chư Hầu

khiếp vía, Bắc-vương kiên oai, cống sứ cho Trung-Quốc một hột Ngọc-điệp, trong đời ít có. Khi đem phơi ngọc ấy ngoài nắng, tất nhiên chiếu nhiều màu, thiên ám địa hôn; người khát nước, ngậm vào miệng, dường như ngậm búng nước lã, mà hết khát. Còn nhiều điều quí nữa, song kể không hết. Bởi cớ đó, nên có câu: “Ngươn-Chiêu-Đế hữu bửu ngọc”, nay trích trong câu văn ấy, mà lấy hiệu Nguơn-Ngọc“.

Ông Cao Quỳnh Diêu (Bảo-Văn Pháp quân) có hiệu là Mỹ-Ngọc. Các con của ông đợi khi các ông đi vắng mới bắt chước xây bàn cầu vong linh người em đã qui từ lâu về nói chuyện và xin danh hiệu, được người em giải thích như trên. Vị này nói tiếp: “Đặng cái hiệu và lời giải ấy, khi ông thân tôi về, tôi thuật lại cho ổng nghe; Ổng cắt nghĩa rành lại, tôi mới hiểu rõ rằng, cả dòng họ Cao Quỳnh, danh hiệu đều do nơi bộ Ngọc; chừng ấy, tôi mới có chút đức tin là vì nơi đó.

 

 31- NHẠC  

Nhạc là Âm nhạccòn đọc là Lạc có nghĩa là vui. Tức nhiên trong lòng tự nhiên có sự thanh thản, vui vẻ thì tiếng đờn mới thoát ra du dương, nhẹ nhàng, thanh thoát. Người nghe cũng vậy nhờ tiếng nhạc đủ sức thu hút, tâm hồn mới trầm lắng mà phấn khởi tinh thần.

Đức Hộ-Pháp nói: Nhạc nó sản-xuất trong tinh thần, mà tinh-thần là gì ? – Tinh-thần mới thật là Đạo !

           Tại sao Nhạc là Lễ ?

          – Lễ, ngoài đời mấy Em đã ngó thấy một bằng cớ hiển-nhiên, là khi mấy Em đờn, hòa cùng nhau. Tuy vân, ngón đờn của mấy Em mỗi đứa một khác nhau, hay dở mỗi đứa một đặc biệt không giống nhau, nhưng mà cái nhịp trường canh mấy Em phải theo nó mà thôi, nếu không tùng nó thì mấy em chẳng hề khi nào hoà Nhạc cùng kẻ khác được.

          – Trong khuôn-khổ hòa với nhau ấy là Lễ. Vì cớ cho nên Qua giảng tiếp cho mấy Em hiểu: Lễ và Nhạc do âm thinh đó vậy.

        – Chỉ có dân-tộc Việt-Nam về văn-hóa Nho-Tông của chúng ta mới có đặng một cái Nhạc là đều do nơi âm thanh và điều Qua đương nói với mấy Em, cái kinh-dinh của các sắc dân nơi mặt địa-cầu này, cả các quốc-dân xã hội đều nhận điều đó. Nước Trung-Hoa hay các sắc dân chịu ảnh-hưởng cái văn-minh tối cổ của Nho-Tông chúng ta mới có Nhạc, âm-thanh ấy là Lễ. Bằng cớ hiển-nhiên, chính Qua đọc một tờ Nghị-luận tại Liên-Hiệp-Quốc, họ luận rằng: Nếu cả thảy các sắc dân-tộc nơi mặt địa-cầu này mà đặng giữ-gìn cho còn Lễ cũng như nước Tàu đã được Lễ tối cổ của họ, cả những điều nghịch hẳn cùng nhau, khởi hấn cùng nhau giữa Hội-Nghị của Liên-Hiệp Quốc chẳng hề khi nào xảy ra, nếu có xảy ra là tại họ vô lễ cùng nhau  mà chớ! Do nơi vô-lễ ấy, mà nhân-loại chịu thống-khổ hai phen Đại-chiến hoàn-cầu, mấy Em nghĩ: Họ vô-lễ cùng nhau cho đến mức họ đập bàn ghế ra khỏi Hội Nghị của quốc-tế, là tại họ thiếu Lễ, mà LỄ LÀ NHẠC.”

         Sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe để Hoà, vì:

– Nhạc làm cho phong-hóa, luân-lý tốt đẹp, dịu dàng, mà không phải một mình nước Pháp, mà các liệt quốc Âu-Châu đều cũng nói.

           – Giờ phút này Qua Thánh-lịnh cho mấy Em đi các nơi cốt-yếu đặng mấy Em đem cái ngôn-ngữ điều hòa, lấy một ống tiêu mà Trương-Lương đã làm cho tan vỡ một đạo-binh hùng-tráng của Hạng-Võ, đánh tan-nát cơ nghiệp của Sở, thâu đạt cơ-nghiệp ấy đem lại cho nhà Hớn, duy có ống tiêu Trương-Lương mà thôi.

           – Giờ phút này Qua giao cho mấy Em một sứ-mạng làm sao cho thiên-hạ nghe ống tiêu Thiêng-liêng đặng tinh-thần nòi giống mấy em đứng dậy định tương-lai vinh quang cho mình. Với cái giọng ngọt dịu của mâý em, làm cho thiên-hạ thức-tỉnh, diệt tiêu bớt hung-hăng bạo ngược. Trái lại đem đến một con đường hòa-huỡn, cao quí, tốt đẹp, êm-dịu; đem lại cái đạo-đức tinh-thần  chiến thắng để cứu-vãng sanh mạng lòai người. Bởi giờ phút này họ đang đi đến con đường diệt-vong mà chớ!” 

Vi diệu Nhạc là Âm thinh sắc tướng:

           –Từ thử Đạo Cao Đài dùng Lễ-Nhạc và ai cũng cho âm thinh sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Đạo Nho là Lễ Nhạc, mà chính Đạo Tam-Kỳ là Nho-Tông Chuyển Thế  thì phải truy tầm nguyên lý của nó mà xác nhận cho đúng nghĩa là thế nào.

             –Đòi phen chúng ta không hiểu được cho uyên thâm khi dâng lễ cho Chí Tôn lúc “Nhạc Tấu Quân Thiên”, hết lớp trống qua lớp đờn bảy bài thì lâu quá có khi phải chồn chân rồi nản chí, chính Bần Đạo cũng vậy, vì nghĩ rằng Chí Tôn tư-vị quôc dân Việt-Nam nên tiền định chi chi cũng làm gương mẫu cho toàn Đại-Đồng Thế Giới mà có Lễ Nhạc này luôn luôn khi dâng lễ, thì ý nghĩa ấy ắt cao trọng lắm là phải.

           – Bởi cớ cho nên khi mới khai Đạo, Bần Đạo đến tại Thánh Thất Thủ Đức của ông Thơ tạo lập, Bần Đạo không tin nên hỏi Đức Lý Giáo Tông.

Nguyên-lý:

           -Kể từ phôi-thai càn-khôn vạn-vật này, Chí Tôn là khối sanh quang, biến thành hai khối sanh khí, hai khối ấy tụ lại thành một khối lớn tương hiệp nhau mới nổ sanh tiếng “Âm”. Người ta gọi là “ầm” hay nghe tiếng “Ni”. Đạo Phật sửa lại thành “úm”(úm ma ni bát ri hồng). Nhờ tiếng nổ ấy bát hồn mới vận-chuyển biến sanh vạn vật và loài người. Tiếng ấy bay ra nghe đến đâu thì khí sanh quang đến đó, tức là có sự sống đến, bằng chẳng nghe được thì nơi ấy tiêu diệt nghĩa là chết mất mà thôi.

Vì sao phải đờn bảy bài ?

Đức Chí-Tôn dạy:

– Thầy thích nghe những bản âý

– Vì nó có ý-nghĩa của sự Tạo thiên lập địa, là buổi mới có  Trời đất.  

– Đảo ngũ cung có ý-nghĩa là qui trở lại, tức là qui cổ: đó là Vạn thù qui nhất bổn.

 

Nếu lấy những bài đó hiến lễ thì Thầy tư-vị

dân-tộc Việt-Nam sao ?

       Đức Chí-Tôn phán dạy rằng:

       -Trên thế-gian này chưa có nền Âm-nhạc cổ nào để rước Thầy mà đủ ý-nghĩa như âm-nhạc cổ của Việt-Nam

 – Nên Thầy chọn nó làm tiêu-biểu cho toàn cầu,

 – Cho nhân loại noi theo” (18-5-Bính-Dần 1.926)

 Nhạc  là cái gì đặt bên trên âm-thanh. Thanh  là một tiếng kêu nào bất cứ. Khi tiếng kêu đó có văn-vẻ, tiết-điệu thì gọi là Âm . Khi âm đó đưa tới Đức gọi là Nhạc.

           Con vật mới biết thanh mà chưa biết âm (tạm nói theo thông lệ). Người thường chỉ biết âm mà chưa biết nhạc. Chỉ có bậc quân-tử mới biết được Nhạc tức là  cái đức của âm-thanh. Cái Đức đó là Hoà. “Nhạc dữ thiên địa đồng hoà” 樂 與 天 地 同 和

 

 

32- NHO 儒

NHO là nguồn đạo-lý phát xuất từ Đức Thánh Khổng-Phu-Tử là người sáng lập nên Đạo nhân-luân làm giềng mối trật-tự, kỷ cương, từ trong gia-đình loáng ra ngoài xã-hội không đâu là không cần ích đến.

NHO 儒 là gì? Nhìn dạng chữ ta thấy rõ hai phần đủ nói lên cái lý Âm dương không xa lìa nhau. Bên trái là bộ nhân 人 nhân là người, bên phải là chữ nho hay là nhu nhu là sự cần yếu,  nhưng trong chữ nhu này có thể còn thấy hai yếu-tố kết-hợp nữa: Trên là chữ vũ 雨 là mưa, dưới chữ nhi 而 là mày; như vậy chữ nhu là ý nói rằng của này mày có quyền sử-dụng, như nước mưa mà trời đã ban thí cho nhân-loại vậy.

Tóm lại, kẻ được gọi là Nho-sĩ hay thông-nho là kẻ ấy rất cần-ích cho mọi người. Bởi trong  chữ Nho nó cấu tạo tất cả là ba  yếu-tố, như vậy chứng tỏ đây là con số 3 tròn đầy: thể hiện con người đứng trong Tam-tài: thiên, địa, nhân; chỉ có người đức-hạnh hoàn-toàn mới xứng đáng là bậc “Thông Nho”, cho nên kẻ ấy phải hiểu biết:    Trên thông thiên-văn. Dưới đạt địa-lý. Giữa quán nhân-sự.

Nay Đạo Cao-Đài được lập tại nước Việt-Nam, Đức Thượng-Đế đến lấy “Nho-Tông chuyển thế” mà cốt tủy của đạo Nho là lấy Nhơn-Nghĩa làm đầu; vì thế người Cao-Đài Phải:

– Hằng ngày thực-hành theo chủ-nghĩa Đạo Nho tức là  tròn Nhơn-đạo “Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi”

– Còn việc tu-luyện thì theo Tiên-Đạo: luyện Tinh, Khí, Thần. “Phép Tiên Đạo tu chơn dưỡng tánh”.

– Con đường trở về đạt ngôi Phật-Đạo.

Tại sao có chuyện như vậy? Bởi nay Tam-Kỳ Phổ Độ, tôn-chỉ là Qui nguyên Tam-giáo phục nhất Ngũ chi.

Qua lời dạy của Đức Hộ-Pháp,Giáo-Chủ Đạo Cao Đài trong quyển “phương tu Đại-Đạo” rằng:

          “Phép Tu chẳng phải luyện nội tinh-thần theo đạo hạnh mà thôi, mà cái thân thể mình đây cũng phải tùy tùng phù hợp Đạo-tâm, thể Đạo chơn-chánh bởi gương mình, hễ chúng sanh ngó Đạo nói mình, xem mình cho là Đạo mới phải”

          Thế nên: “Người Tu-hành mục-đích đem cái ân cho

người chớ không phải đợi người làm ân cho mình; nghĩa là mình phải lo sự ấm no cho bá tánh tức là lo cho ta, bởi Đức Chí-Tôn đã dành phần cho ta một nhiệm vụ đặc biệt là ta phải Phụng-sự cho vạn-linh để giải khổ cho loài người trong lúc họ đang lâm nàn kêu cứu; khi ta làm xong phận sự thì không còn ai chối cải rằng ta không phải là ân-nhân của xã-hội, chừng ấy ta không muốn về Tây phương họ cũng lập bàn hương-án để đưa ta đặng đền ơn cứu tử”.      

Rồi từ bước đi lên trên nấc thang tiến hóa, cho đến cái Đạo ở Đại-học là làm sáng cái đức sáng, làm mới con người và dừng ở chỗ chí thiện. Có câu “Đại-học chi Đạo Tại minh minh-đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư chí thiện”.

“Khuôn luật của  Đạo Cao-Đài là lo về phần Thế đạo tức là Nho-Tông chuyển thế. Mà Nho-Tông chuyển thế tức nhiên Đạo của Tổ phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu-lý của Nho-Tông mới có thể làm mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng, chúng ta đã ngó thấy Nho Tông của chúng ta là một nền Tôn-giáo xã-hội, đặc điểm của nó là Đức Chí-Tôn đến lập trường Nho-tông trị  thế.

           Thế nên, tinh-ba của Nho-Tông là gì ?

           Phải chăng cái chiến-thuật của nó là “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” tức nhiên cái tôn chỉ cao thượng của Đức Mạnh-Tử là câu trên: “Đại học chi Đạo, tại Minh Minh đức, tại Tân-dân, tại chỉ ư Chí thiện”.

           Nhưng thế nào là tu thân ?

           Từ trước, vấn đề tu thân đã bàn qua nhiều rồi, nay dẫn từ thượng cổ tới giờ, đức Thánh-nhân lấy hai chữ “tu thân” làm căn bản. Hai chữ tu thân đã có từ lâu, nếu chúng ta xem lịch-sử của Nho-Tông thấy nó đã xuất hiện từ đời Huỳnh-Đế, có trên không biết mấy ngàn thế-kỷ  trước Thiên-Chúa giáng sanh.

            Vậy rất là tối cổ, phương pháp tu thân dù thời đại nào cũng có, chí hướng của các Tôn-giáo là phải tu thân lấy mình, dầu cá nhân, dầu xã hội hay toàn thể nhơn loại cũng vậy, tâm đức con người bao giờ cũng có sự mâu thuẫn. Hễ họ nghe thấy điều nào hay, điều nào thiện đặng họ nhìn một cách chơn thật, nhưng họ không làm. Còn biết chê cái dở, cái ác mà họ lại làm; hai cái đó nghịch cảnh với cái Tâm, không có một vị Thánh nào ở thế gian tìm nguyên lý nó cho  đặng.

           Bởi vậy tâm lý con người hay xu ác mà xa thiện, vì cớ cho nên các vị Giáo-Chủ lập nên Tôn-giáo dạy phải làm thế nào gọi là tu thân. Dầu cá nhân hay toàn thể nhơn loại cũng phải lấy hai chữ “Tu thân” làm gốc và chính nó

khởi đương cho sự lập đức là “tại minh  minh đức” vậy.

           Nếu cả thảy đều biết nỗi khổ của nhơn loại mà làm phương Tu thân, lập đức thì cái giá trị của thiên hạ thực hiện một cách dễ-dàng và chính những tâm hồn ưu-ái vì Đạo, vì Thầy và vì nhân-loại phải đem cái đức thiêng liêng ấy rải khắp cả thiên hạ thì mới cứu khổ được”.

 

 

33- NHÂN

Nhân là Người, giống khôn nhất trong loài động vật.

Tiếng đối lại với mình; như tha nhân  người khác, chúng nhân  mọi người, vô nhân ngã chi kiến  là không có phân biệt mình với người …thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bực tu được nhân

không . Thánh nhân khi chế tác thành chữ đều có dụng ý rất tinh vi: nghĩa là bắt chước theo tượng hình của trời đất mà chế ra VĂN, ứng dụng theo hình thanh mà chế ra TỰ.

Chữ Nhân 人 là người, ứng dụng theo thuyết Thiên địa Âm dương và sách Lễ ký nói: con người là đức lớn của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự hội tụ linh khí (quỉ thần) của non sông đất nước và tinh túy của năm chất: Kim, Mộc,Thủy, Hỏa, Thổ.“nhân giả thiên địa chi đức, âm dương chi giao,quỉ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã”.

Chữ nhân 人: cách cấu tạo theo thuyết âm dương:

– Một phết bên trái  (丿) biểu thị cho Dương

– Một nhấn bên phải (  ) biểu thị cho Âm.

Chữ nhân do cả hai thành phần vừa nêu trên họp lại, tức là do âm dương phối hợp mà sinh ra. Như lời Kinh Hôn phối:

Cơ sanh hóa Càn khôn đào tạo,

Do Âm dương hiệp đạo biến thiên.

Con người nắm vững chủ quyền,

Thay Trời tạo thế giữ giềng nhân luân.

Như vậy con người được tạo hóa sanh ra tất cả đều bình đẳng, đầy đủ cả thể xác và linh hồn, nhưng ý-thức tâm linh mỗi người không giống nhau. Có người sinh ra là hiểu biết ngay, có người cần phải học hỏi mới hiểu biết được. Vì thế Thánh nhân là người “Thể Thiên hành hóa”: trên thể lòng Trời, dưới phù chánh đạo, nên mới lập ra qui tắc, phương pháp, lễ nghi để làm mực thước cho con người chu toàn nhân đạo, đó là đạo làm người: trung-hiếu, nghĩa-nhân, hòa-ái, kỉnh vì. Khi con người chu toàn nhân đạo có thể góp phần vào việc giúp đỡ hoàn chỉnh cái đạo của trời đất, nâng đỡ cho dân sinh: lập đức, lập công, lập ngôn để lại cho đời, thì người đó đã đạt đến bậc Đại nhân.

Có nhiều chữ NHÂN, tuy đồng âm nhưng dị nghĩa:

1- Chữ 人 là người, có hai nét là do Âm Dương hòa hợp; nét trái là chân Âm, nét phải là chân Dương. Nếu chữ nhân 人(người) hợp với chữ nhị 二 (là hai) thành ra chữ thiên 天. Trong chữ Nhị thì nét nhứt trên chỉ trời, nét nhứt dưới chỉ đất, giữa là chữ nhân đặt vào, như vậy chỉ có người mới được dự vào chuyện của trời đất để hoàn thành Tam tài: Thiên- Nhân- Địa. Người là sản phẩm hoàn hảo nhất của Thượng Đế.

Đức Hộ-Pháp có lời dạy rằng: “Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu này. Chúng ta ngó thấy hiện hữu phải vận hành, phải xao động, bởi nó là động vật, nó phải hoạt động, nếu không hoạt động là chết”.

2- Nhân  仁   Nhân là gì? -Là lòng nhân, hào hiệp, phóng khoáng. Theo phép Lục thư thì chữ nhân 仁 do hai chữ: Nhân là người 人và nhị 二 là hai, ghép lại mà thành, là nói lòng nhân của người, biết thương người mến vật,  thể hiện đức háo sanh của Thượng Đế. Nếu đem chữ Nhị 二 và nhân ghép lại thành ra chữ nguyên  là đứng đầu tất cả. Phép lục thư có nói:

“Nguyên dĩ Nhị dĩ nhân. Nhân dĩ nhân dĩ nhị”

元 以 二 以 人.  仁  以 人 以 二

– Chữ nguyên 元 lấy chữ nhị và chữ nhân ghép lại.

– Chữ nhân 仁 thì lấy chữ nhân 人 và chữ nhị mà nên.

– Ở trời gọi là nguyên, nên quẻ Càn có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh; mà chữ nguyên đứng đầu.

– Ở người thì chữ Nhân đứng đầu trong năm thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Người linh hơn vạn vật là ở đức Nhân “nhân sở dĩ linh ư vạn vật giả nhân dã”人 所以 靈 於萬 物 者仁也

            3-Nhân 因 là đầu mối của sự việc, là hột giống.

Cấu tạo chữ Nhân gồm chữ Đại大 ở trong và bao quanh ngoài là bộ Vi 囗. Đấy cho thấy điểm khởi đầu nó quan trọng dường nào. Chữ đại 大 là lớn về vật thể. Ví như hột xoài, có lớp vỏ bao, phần trong là chủng tử, là giống, chính nó khi gieo xuống đất để được một cây con mới ra đời. Suy ra chữ “Nhân quả” nhà Phật cho biết rằng Phật rất sợ quả nên không gầy nhân. Còn chúng sanh cứ nhắm mắt gây nhân, rồi khi gặt hái kết quả xấu thì mới kêu la.

Kết luận: Phật sợ nhân, chúng sanh sợ quả, là thế.

4-Nhân 姻 là chỉ về hôn nhân, nhân duyên. Có bộ Nữ 女 (gái) đứng trước chữ nhân thứ ba 因. Điều này cho thấy rằng trong việc hôn nhân thì vai trò chính là Nữ-phái. Thế mà hầu như ít ai chú ý dạy riêng về phần học vấn, đạo đức, nhân cách cho nữ phái. Nay là thời Hạ nguơn thì đạo đức đã suy đồi trầm trọng, ảnh hưởng ngoại lai rất nhiều, nhưng chỉ ảnh hưởng cái bóng dáng bên ngoài, xấu xa nhơ nhuốt, mà điều tốt nếu có cũng bị khuất trong cái lố lăng, tệ hại. Nếu rác bên ngoài đang thời kỳ kêu cứu, thì rác trong tư tưởng giờ cũng tương đương. Những nhà đạo đức sẽ kêu cứu cùng ai? Trách nhiệm về ai?

Đức Hộ-Pháp đã than dài: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng? Ước ao cả thảy biết điều trọng hệ bí-mật đó mà Thương-yêu lẫn nhau, Thương lún Thương càn đi, rồi ngày kia coi có lầm chăng? Bần-Ðạo quả quyết, Ấn Hộ Pháp, Bần-Ðạo nắm trong tay, nói chẳng hề sai chạy. Bần Ðạo mong ước cả thảy con cái của Chí-Tôn, đừng tưởng mang thi hài nầy mà Nam Nữ phân biệt đa nghe.!  Biết đâu trong đám Nữ nầy, có kẻ đã làm Cha, làm Anh của người nào đó. Giả cuộc đừng coi trọng hệ, cả thảy nên hiểu và từ đây noi theo lẽ thiệt, đừng mơ sự giả, đó là điều mơ vọng ước ao của Bần Ðạo hơn hết”.

 

 

34-  NHŨ  乳

            Nhũ là vú, tức là phần nằm trên ngực của người đàn bà dùng cho con bú. Chữ nhũ  乳 gồm các phần sau: Có hai phần: phía trên bên là bộ trảo 爫 là móng vuốt và dưới là chữ khổng 孔 (cái lỗ), nghĩa là trong vú có nhiều lỗ, chính là nơi phát xuất những tia sữa cho trẻ con bú; nhưng lỗ này không tính vào Cửu khiếu trong châu thân con người, vì đó là mạch sữa, ứng duyên mà phát sinh, rồi cũng ứng duyên mà tàng ẩn. Tinh huyết của mẹ biến thành giọt sữa. Khi con còn măng sữa, nhờ sữa mẹ mà nuôi lớn nên người. Con gái hễ đến tuổi 16 thì đôi nhũ bắt đầu phát sinh, nhưng đến tuổi 49 (7×7) thì đôi nhũ bắt đầu suy giảm, mạch sữa cũng bắt đầu đóng kín và kinh nguyệt cũng bắt đầu ngưng hẳn.. Vú người con gái là do khí Tiên Thiên và Hậu Thiên (Hà đồ -Tiên Thiên và Lạc thư –Hậu thiên) phát sinh ra.Sữa là nguồn sống từ mẹ truyền cho con

Thánh giáo của Bát Nương cho hay Ðại Từ Phụ trở pháp về quyền cầm mạng của nhơn sanh và Lục Nương cho biết về sự chuyển pháp làm cho các Ðấng vui mừng

Diêu Trì Từ Mẫu đẹp dạ không cùng, nhưng vì cái mừng ấy mà làm cho Người đổ lụy ngâm bài than nầy:

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,
Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.
Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,
Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ còn.
Lợt điểm Thánh tâm trần tục khảo,
Vẻ tươi bợn thế nét dò đon.
Thà xưa ví bẳng nay gìn vậy,
Lòng mẹ ngại ngùng con hỡi con!

Nhị ca ôi! Bài thi làm cho cả Cung Diêu Trì đều đổ lụy. Mấy anh nên lấy nó làm phép hằng tâm, thì bước vinh diệu thiêng liêng không lạc nẻo.

 

 

35-  NHỰT 日

Xét kỹ Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung Thánh danh Thượng Trung Nhựt, Ngài là Người nắm chữ Kiền 乾 trong tay rồi. Chữ Kiền phân tích ra thì phần bên trái có trên một chữ thập, dưới có một chữ thập, giữa là chữ nhựt. Như vậy có phải Ngài đã mang chữ Nhựt  nơi mình có đủ uy-tín để làm Anh Cả của nhân-loại và toàn cầu không? Ngài là Quyền Giáo-Tông Thượng Trung-Nhựt. Để rồi Ngài mới “thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên thế giái, Lục Thập thất Địa cầu và Thập Điện Diêm Cung đặng cầu siêu cho cả nhân loại” được chứ! Nhưng mặt trời chỉ có một; có nghĩa là trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người không hai lòng. Nhưng đây là những mơ vọng vì “Chữ Nhựt” mà ông Thái-Ca-Thanh đã bỏ Đạo và tách khỏi Tòa-Thánh để về quê lập lên phái Minh-Chơn-lý, rồi chính ông Thượng Chánh Phối-sư Thượng Tương Thanh viết thơ khuyên ông Ca nên trở lại Tòa-Thánh cùng chung lo việc Đạo, nhưng trớ trêu thay, ông Ca không trở lại mà ông Nguyễn Ngọc Tương lại tiếp tục ra đi để mở ra phái “Ban Chỉnh-Đạo” Bến Tre  cho đến ngay nay.

Lời thơ ông Tương khuyên ông Ca như vầy:

“… Anh sẽ thấy rõ các sự Anh đã làm trong một năm rưỡi nay, đối với đạo-đức ra sao, thế nào, xa đạo-đức bao nhiêu dặm, chừng ấy Anh hết lầm nghe Cơ Bút Hậu giang nữa. Biết được sự thiệt rồi, mau mau tự nhiên Anh sẽ bãi hết các cuộc Anh đương gầy, giải chức Thái Đầu sư mới của Anh. Vì Anh sẽ thấy rõ chữ NHỰT trong Đạo hiệu Thái-Ca-Thanh của Anh. Đó là một cái lắt-léo của Cơ để cho Anh biết mà phân biệt chơn giả đó. Trong lòng Anh thiệt hết giận rồi, tự nhiên Anh cũng sẽ thấy rõ ràng là không có Thần hay Tiên Thánh nào xúi Anh thêm nghịch, dạy Anh chia lìa, đốc Anh truyền rao nhục mạ Tây-Ninh rồi lại gia phong cho Anh và các vị theo giúp Anh, hối đốc lập dựng Thánh Thất Cầu Vỹ mà làm Toà Thánh để nhóm Hội-Thánh Tây Ninh, mượn nhà Anh mà làm Hiệp-Thiên-Đài, Anh sẽ thấy rõ ràng là cơ cám dỗ nương cái hơi phiền-phức của Anh và chư vị kia mà phát hiện những sự ấy đặng giúp cho mấy Anh Em được thoả

tình tư tưởng”…

Có lẽ vì ông Thái-Ca-Thanh thích được chữ Nhựt của Đức Lê văn Trung là THƯỢNG TRUNG NHỰT, nên ông tách ra lập Chi phái ở Cầu Vỹ (Mỹ tho) và lấy danh là Thái Ca Nhựt ngay, mà khiến ông Tương phải hết lời khuyên nhủ. Nhưng Thầy đã nói rồi, Trời không hai mặt, đất chẳng hai vua, người chẳng hai lòng, qua bài Thi:

Mặt NHỰT hồi mô thấy xẻ hai?

Có thương mới biết Đấng Cao-Đài,

 

36- PHÁP 法

Chữ Pháp 法 nghĩa là phép, là phương pháp; cũng có nghĩa là một sự mầu nhiệm (huyền pháp, tâm pháp…) Phân tích sẽ thấy có hai phần: bên trái bộ thủy là nước, tức nhiên những chữ nào bất cứ mà có bộ thủy này đều có liên quan đến nước.Bên phải chữ khử  nghĩa là dùng nước để khử trược. Như nước pháp mà trong Tôn giáo dùng vào việc Tắm Thánh, Giải oan gọi là Ma-Ha-thủy nên có câu “Ma Ha thủy năng hủy oan khiên giải trừ nghiệt chướng chi đọa”. Một âm là khứ chỉ việc đã qua như quá khứ, khứ hồi. Bộ thuỷ có 3 nét ứng với Tam tài, chữ khử có 5 nét là lý Ngũ-hành; cộng 3 và 5 là 8 là một Bát quái vô hình, tức là một yếu-tố để chứng tỏ đây là Hư vô Bát-Quái.

Pháp là chủ của vạn-linh:

Kinh Phật-Mẫu có câu:

                “Thiên-cung xuất vạn-linh tùng Pháp

                “Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh”

Bởi do nơi Pháp, vạn-linh mới chủ tướng biến hình, do nơi Pháp mới sản-xuất vạn-linh, cả huyền-vi hữu hình Đức Chí Tôn tạo Đạo do nơi Pháp, chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của vạn linh, vì cớ cho nên Đạo giáo minh-tả rõ rệt Tam châu Bát bộ thuộc về quyền Hộ Pháp”.

Quyền-hành của Hộ-Pháp:

1-Sao gọi là Tam châu? “Trong Tứ Đại Bộ châu ở phần thiêng-liêng thì Hộ-Pháp nắm ba châu: Đông thắng thần châu, Tây Ngưu hạ châu, Nam-thiệm bộ châu, đều thuộc về quyền hạn của Hộ-Pháp; còn Bắc Cù Lư châu để cho các phần chơn hồn quỉ vị họ định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Họ có một quyền-năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỉ-vị ăn-năn tu học đặng đoạt vị. Ba bộ châu kia do quyền-hạn của Hộ-Pháp giáo-hóa, duy có Bắc Cù Lư châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho họ tự-do làm gì thì làm: khôn nhờ dại chịu.

2- Bát bộ là gì ? – Là nơi Bát phẩm chơn-hồn chớ có chi đâu ! Tám hồn là: vật-chất-hồn, thảo-mộc-hồn, thú cầm hồn, nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh-hồn, Tiên Hồn, Phật-hồn. Tám bộ ấy thuộc quyền HỘ PHÁP THIÊN-VỊ  nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ-quan tận độ chúng sanh không còn ai khác hơn Hộ-Pháp. Chính Hộ-Pháp trách nhiệm ấy.

Đạo phục của ĐỨC HỘ-PHÁP:

Bộ Tiểu phục thì toàn bằng hàng vàng (màu Đạo), đầu đội Hỗn-Nguơn-Mạo màu vàng, bề cao một tấc ngay trước trán chính giữa có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo là Bình Bát vu, cây phất chủ, Bộ Xuân thu, ngay trên ba Cổ pháp ấy có chữ Pháp 法 (PCT)

 

Hộ-Pháp là người của cung Hỗn-Nguơn-Thiên (số11),

thế nên trên bàn thờ của Hộ-Pháp có cả thảy 11 cúng phẩm, đúng ra đó là quẻ Bát-Thuần-Càn, chứng tỏ Ngài là người đã thay Trời tạo thế trong buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ này, từ đó những vấn-đề có liên-quan cũng phải đúng vào con số biểu-tượng là 11, mới đúng thời, đúng lúc đó vậy. Chiếc Mão của Ngài đội có tên là “Hỗn-Nguơn-Mạo”.            Bề cao một tấc trước trán (số 1).

Số 1 là số đầu tiên sau số 0, tức là cái nguồn sanh hoạt trước nhất để biến-vi hữu-tướng. Số 1 chỉ về Thái-cực tức Dương, người mang số này có tánh chuyên nhất và cầm quyền vi chủ. Số 1 là số động, nó vốn là lý Thái-cực suy ra nên nó huyền-diệu, nhiệm-mầu, hiện biến.Ngôi số 1 thuộc về ngôi Phật chủ quyền cai trị và giáo-hóa vạn-linh.

           Tại sao phải đặt trước trán?

– Bởi Đạo là lấy chính trung, nên chi đặt ở trán là điểm giữa của mặt. Lại nữa chính giữa “có thêu ba Cổ pháp của Tam giáo” là Xuân thu,Phất chủ và Bình Bát vu.

Nay đứng đầu của Tam-giáo thì có ngôi “Chưởng Pháp của ba phái là Thích, Đạo, Nho. Nghĩa là mỗi phái là một vị, mà ba Đạo vẫn khác nhau; nội dung, ngoại dung đều khác hẳn, luật-lệ vốn không đồng chỉ nhờ luật-lệ làm cơ qui nhứt”.

 

 

 

            “Mỗi Chưởng-Pháp phải có ấn riêng:

             – Thái Chưởng-Pháp thì Bình-Bát-vu,

             – Thượng Chưởng-pháp thì cây Phất-chủ,

             – Ngọc Chưởng-Pháp thì bộ Xuân thu.

Hiệp một gọi là Cổ pháp. Ba cái Cổ-pháp ấy vốn của Hộ Pháp hằng kỉnh trọng. Nơi  Mão Tiểu-phục của Người phải có ba Cổ-Pháp ấy” (PCT)

(xem thêm về Cổ-Pháp).

Đức Hộ-Pháp là Người của Cung Hỗn-Nguơn Thiên, nên kinh Đại Tường có câu:

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo-chủ,

                 Di-Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

                 Tái sanh sửa đổi chơn truyền,

                 Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

“Hộ-Pháp là thể các Đấng trọn lành, Người lại giao quyền cho Thượng-Phẩm lập Đạo, đặng dìu-dắt các chơn hồn lên tột phẩm-vị của mình, tức là nâng-đỡ binh vực cả Tín-đồ và Chức-sắc Thiên-phong ngồi an địa-vị, cũng như chư Thần, Thánh, Tiên, Phật điều-đình Càn Khôn thế giới cho an-tịnh”.

           “Chơn đi hia, trên chót mũi hia có chữ “PHÁP”.

Chữ Pháp 法 thấy có hai phần ấy là Âm Dương tương hiệp. Với nền Tôn-giáo, chỉ duy các Chức-sắc Đại Thiên phong mới được phép mang hia hoặc giày vào chầu lễ Chí-Tôn, nhưng các giày hay hia này chỉ dành riêng sử dụng trong lúc chầu lễ Chí Tôn mà thôi. Trước mũi hia có  chữ “Pháp 法” chỉ nghĩa rằng Ngài Chưởng-quản “Chi Pháp” là một trong ba chi “Pháp- Đạo- Thế”.

 

 

Tiếp theo >

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Alfred Cunningham

Hội Viên Hội Á Châu Hoc Hoang Anh Anh Quốc, Chi Nhánh Trung Hoa

Member China Branch, Royal Asiatic Society

 

HẢI PHÒNG, HÀ NỘI &

DU HÀNH LÊN MẠN NGƯỢC

[Năm 1902]

 

Ngô Bắc dịch

 

 

 

Lời Người Dịch:

 

       Dưới đây là phần dịch Lời Giới Thiệu và Các Chương về Hải Phòng, Hà Nội và Du Hành Lên Mạn Ngược, trong tác phẩm nhan đề The French In Tonkin and South China của Alfred Cunningham, một ký giả người Anh thường trú tại Hồng Kông, giới thiệu về Bắc Kỳ nhân cuộc viếng thăm nơi đây trong mùa xuân năm 1902, dưới thời Toàn Quyền Doumer.  Cũng như các tác giả người Anh khác cùng thời, tác giả cổ vũ cho việc mở cửa Đông Dương cho hoạt động tự do mậu dịch, hầu cho phép người Anh tham dự nhiều hơn nữa vào thị trường Đông Dương lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, văn phong vẫn chứa đựng cách nói mỉa mai, châm biếm người Pháp thường thấy trong các tác phẩm của các tác giả người Anh cùng vào thời kỳ đó.

 

*****

 

DẪN NHẬP

 

Các trang sau đây là kết quả của một cuộc thăm viếng Bắc Kỳ với một chiếc máy chụp ảnh trong mùa xuân năm 1902, và của các sự quan sát ghi nhận được bởi người viết với tư cách một ký giả thường trú tại Hồng Kông.  Một số độc giả có thể nhận định rằng đã có quá nhiều tầm quan trọng được gắn liền với các tham vọng của các láng giềng của chúng ta, những kẻ, như bị cáo giác, phần lớn bị ảnh hưởng bởi xúc cảm; và rằng các công tác của ông Doumer đã được gán cho sự nổi bật và nhấn mạnh không cần thiết.

Nhiều con số trích dẫn được rút ra từ báo cáo của ông Doumer; các con số khác đước biên soạn từ nhiều nguồn tin đáng tin cậy khác nhau.

Người viết nhân cơ hội này xin ghi lại lòng biết ơn của mình đối với các nhà Chức Trách tại Bắc Kỳ về sự lịch sự đã dành cho người viết.

Người viết không dự tính trưng dẫn lịch sử cổ xưa của Bắc Kỳ hay ngay cả việc kể lại sự chiếm đoạt nó: các sự kiện này được thảo luận một cách thích đáng tại các tác phẩm khác.  Mục tiêu của người viết là cố gắng và trình bày một sự phác thảo chính xác về thuộc địa y như hiện trang vào lúc này, và để thiết định một sự so sánh giữa Pháp và Anh, trong hoạt động chính trị và thuộc địa, với hy vọng rằng chúng ta có thể được khích động để tiến tới các thành quả tốt đẹp hơn nữa.

 

A [lfred]. C[unningham].

 

Hồng Kông, ngày 1 Tháng Tám, 1902.

 

—–

 

LỜI TỰA CHO ẤN BẢN THỨ NHÌ

Sự ấn hành ấn bản lần thứ nhì đã giúp cho người viết thực hiện được các sự hiệu chính và tăng bổ.

  1. C.

Hồng Kông, ngày 1 Tháng Mười, 1902

***

Hải Phòng

Vị Trí – Hải Cảng Mới Đề Nghị — Sự Mô Tả Trước Đây – Đồ Sơn – Khu Định Cư – Các Khía Cạnh Xã Hội Và Kinh Doanh – Các Câu Lạc Bộ — Giải Trí – Thương Mại – Lao Động – Các Kỹ Nghệ — Đường Rầy Xe Hỏa

__

Trong các năm tám mươi [của thế kỷ thứ 19, chú của người dịch] khi nước Pháp sáp nhập Bắc Kỳ, đã hiện hữu một niềm tin chính thức rằng Hải Phòng sẽ cạnh tranh với Thượng Hải như một hải cảng thương mại, nhưng mặc dù các sự tin tưởng hăng say vẫn còn ngự trị ở đó, thời gian đã làm dịu bớt nhiệt tình này.  Chính Quyền Thuộc Địa sau các năm ngập ngừng và nhiều kinh phí, sau cùng đã quyết định rằng hải cảng thương mại chính yếu phải được tái thiết lập trên bờ biển Bắc Kỳ, và rằng Hải Phòng, nơi hiện nay nắm giữ vị thế đó, phải trở lại thành một trung tâm phân phối nội địa.  Thời đại của Hải Phòng đang chính thức được tính từng ngày bởi vì vị trí không thuận tiện của nó, là một cảng sông và gồm chứa trên lối tiếp cận, hai hàng rào cản, tại cửa con sông Cửa Cấm.  Các toàn quyền trước đây, trong khi thừa nhận các điểm bất lợi phát sinh từ vị trí của nó, đã ngần ngại để tiến hành bất kỳ điều gì khác hơn một sự chữa trị tại chỗ, hậu quả của các khoản tiền lớn lao đã sẵn được chi tiêu để làm cho hải cảng được tiếp cận dễ dàng hơn.  Tuy thế, các tàu với tầm nước sâu từ mười tám đến hai mươi bộ Anh giờ đây có thể vào được thành phố.  Một khoản tiền khác nữa tổng số 4,000,000 phật lăng đã được biểu quyết trong năm 1902 để cải thiện hải cảng.  Tuy nhiên, ông Doumer đã đề nghị rằng một hải cảng hải vận mới cho Bắc Kỳ (Tonkin) sẽ phải được tạo dựng tại vịnh xinh đẹp Hạ Long, kề cận các mỏ than Hòn Gay và Ke Bao[?] phong phú, và rằng một con kinh sẽ nối kết nó với Hải Phòng, khoảng cách giữa hai nơi vào khoảng hai mươi lăm dặm.  Đa số các thương nhân của Hải Phòng đã ca ngợi kế hoạch, mà họ nghĩ sẽ thúc đẩy sự phát triển của thuộc địa và sẽ làm lợi cho họ, một cách cá nhân.  Các tàu hơi nước chạy đường đại dương có trọng tải lớn sẽ có thể tiến vào hải cảng mới, và các tàu hơi nước chở thư tín của Công Ty Vận Tải Đường Biển (Compagnie des Messageries Maritimes) sẽ có thể không cần đến các tàu nhỏ, nối chuyến hiện đang chạy từ Sàigòn đến Hải Phòng và sẽ cập bến trực tiếp nơi hải cảng mới.  Sông Bặch Đằng Giang, một chi lưu của sông Cửa Cấm, nối liền thành phố kể sau [tức Hải Phòng, chú của người dịch] với Vịnh Hạ Long, nhưng nó chỉ có thể hải hành được bằng tàu hơi nước loại nhỏ.  Hải Phòng nằm cách 300 dặm phia nam  Hồng Kông.

 

Mặc dù không có gì để nghi ngờ rằng sự tạo lập một cảng biển tại bờ biển phía bắc của Bắc Kỳ, đặc biệt tai nơi đề nghị, sẽ làm lợi một cách cụ thể cho thuộc địa, điều vẫn còn có thể tra hỏi rằng nếu sự bất khả tiếp cận của Hải Phòng đối với các tàu hơi nước loại to có hạn chế mậu dịch một cách nghiêm trọng hay không.   Nếu cần phải chuyển hàng hóa đến Hải Phòng, để người ta lấy nó một khi chúng đã sẵn ở đó, như ở Thượng Hải, chắc chắn còn nhiều khó khăn cho sự tiếp cận. Đúng hơn dường như các nhà thương mại ở Hải Phòng sẽ vui vẻ phục tùng cả rào cản bằng cát và bùn, một khi chỉ cần vứt bỏ đi hàng rào khó chịu của sở Quan Thuế và Công Quản (Douanes et Regies).  Nếu ông Doumer, hay người kế nhiệm ông, có thể nghĩ ra một đường dây xâm nhập rào cản đó, khi đó ông sẽ thực sự là ân nhân của giới thương gia và của xứ sở.

Ông Hoàng xứ Orléans (Prince d’Orléans) đã viết cho đồng bào ông rằng “Chúng ta đã làm chủ nhân ông của Bắc Kỳ chưa đến hai năm trước khi chúng ta bao quanh nó với một bức tường dầy của các sắc thuế quan, và để làm vừa lòng một số ít các nhà mậu dịch Pháp, chúng ta đã ngăn chặn sự phát triển thương mại của thuộc địa, không suy nghĩ rằng một thuộc địa chớm phát triển cần đến sự tư do tối đa và hành động tự do, rằng các số nhập cảng và xuất cảng càng lớn hơn, các doanh lợi càng nhiều hơn.  Điểm chính là khuyến khích tư bản đên nơi và guồng máy được thiết lập, để khai mở một con đường cho thương mại và làm cho nó trở nên giản dị và rõ ràng càng nhiều càng tốt.  Điều này đã không được để ý tới.” * Về các điều này,  ông Hoàng quá cố người Pháp, giống như các nhà tiên tri khác, không phải lúc nào cũng được dành cho danh dự mà ông xứng đáng được hưởng tại xứ sở của chính ông.

 

Hải Phòng ngày nay là một công trình bất hủ của lao động và sự tính táo bạo của Pháp.  Một sự mô tả hải cảng trong năm 1880 phác họa nó tọa lạc cả bên bờ của một lạch nước.  Các đường xá thì hẹp, gớm ghiếc và dơ bẩn, và cho thấy không có sự cải tiến dưới chế độ giám sát của Pháp.  Các bờ sông thì thấp và chứa bùn phù sa, từ đó khu định cư của người Pháp đã tốn rất nhiều công sức và phí tổn để khai hoang.  Các kiến trúc bản xứ được xây dựng một cách tồi tàn bằng bùn, tre và cói.  Các kiến trúc đàng hoàng duy nhất là các kiến trúc được chiếm ngụ bởi người Trung Hoa và các người ngoại quốc.

Một tác giả khác mô tả địa điểm bốn năm sau đó đã viết “Thị trấn có lẽ tăng trưởng, ngay dù điều này cũng được để ngỏ cho sự tranh luận, nhưng không có tình huống nào để nó có thể phát triển nhanh chóng được, bởi các địa điểm xây dựng chỉ có thể có được bằng cách thu thập một cách khổ sở bùn và đất sét từ các cánh đồng chung quanh, và đắp nó lên để tạo thành một nền trên đó một ngôi nhà có thể dựng trên một bệ cao một hay hai bộ Anh (feet) đối với mặt đầm lầy, trên đó phần lớn hơn của thị trấn bị biến cải bởi một làn sóng cao.  Ngay các đường xá cũng phải được xây dựng theo cách này … Dường như chỉ có nước lợ mới cứu vãn Hải Phòng khỏi trở thành một nghĩa địa thường lệ của người Pháp.  Thoạt nhìn vào đầm lầy trông xấu xa xâm nhập vào mọi phần của thị trấn và bốc hơi dưới ánh mặt trời bừng bừng, người ta sẽ nghĩ không cách gì cứu nó thoát khỏi một dịch bênh.  Như hiện thực, mọi căn nhà thực sự là trung tâm của một hầm chứa phân.” **

Kể từ đó Hải Phòng đã trải qua một sự biến thể, và ngày nay nó là một thành phố tân tiến được xây dựng và thoát nước hoàn hảo với các đường xá tốt và các đại lộ đẹp đẽ, và mặc dù nó không thể tuyên nhận là một thành phố xinh đẹp như Hà Nội, song khi cứu xét đến các khó khăn khởi đầu theo đó nó đã được xây dựng, nó có thể được nhìn như một thắng lợi to lớn hơn cho chế độ thực dân Pháp.

Một con đường được tạo lập gần đây nối liền hải cảng với hòn đảo nhỏ ở Đồ Sơn, nằm ở cửa con sông Cửa Cấm, đã trở thành một nơi làm loãng nước ven biển sang trọng, và thụ đắc một khách sạn xinh đẹp và nhiều biệt thự nhỏ ngoạn mục, nơi mà cư dân Hải Phòng có thể vui chơi cuối tuần.

Một lạch nước rộng bao quanh khu định cư cõ ở Hải Phòng, tách biệt nó khỏi phần dân cư mới, và điều đã được quyết định là lấp đầy con lạch này và tạo nó thành một lối di chuyển khoảng khoát.  Có nhiều khách sạn tốt, chính yếu là các Khách Sạn Thương Mại (Hotel du Commerce) và Khách Sạn Hoàn Vũ (Hotel de l’Univers); các cửa hàng thì to lớn và nhiều, trữ cất đầy hàng hóa, và rõ ràng có hoạt động kinh doanh phát triển.  Có hai tờ nhật báo rất đứng đắn.  Từ một khía cạnh đô thị, thị trấn được quản trị tốt đẹp; các đường xá rộng rãi và được giữ sạch và trong tình trạng tốt; các lối đi bộ thì khoảng khoát và được che mát bởi cây cối, và người đi bộ không bị bắt buộc, như tại Hồng Kông, phải men theo đường lộ để né  tránh các đám đông các phu thợ lê bước bốc mùi ghê gớm.  Thị trấn được thắp sáng bằng điện.

Các cư dân Pháp đón nhận sự lưu vong khỏi xứ sở thân yêu của họ một cách đầy triết lý và thoải mái.  Tất cả đều tuyên bố họ oán ghét sự phân cách, nhưng họ đã đền bù cho sự hy sinh đến mức tối đa có thể làm được.  Họ không phải là những kẻ mà các người bạn Hoa Kỳ của chúng ta sẽ gọi là “các người hăng hái làm việc” (hustlers)”, và sau tách cà phê hay chocolat buổi sáng, họ bắt đầu làm việc vào lúc 8 giờ và nghỉ làm vào lúc 11 giờ để dùng điểm tâm.  Thời lượng được dành cho bữa ăn này vào khoảng hai tiếng rưỡi, và trong thời gian đó công việc hoàn toàn được đình chỉ.  Bưu Điện đóng cửa, các cửa Hiệu khóa trái cửa, và mọi người ngưng làm việc một cách nhàn nhã để ăn và trò chuyện.  Ở mặt ngoài, Hải Phòng khi đó có khía cạnh của một thị trấn địa phương Anh Quốc vào một ngày Chủ Nhật.

Quang cảnh tại phòng khách [salon, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của một khách sạn ở Hải Phòng vào lúc 12:30 trưa, sau bữa ăn, là điều gì đó tân kỳ một cách nổi bật đối với một du khách người Anglo-Saxon.  Hãy tưởng tượng đến một phòng lớn; bàn chơi bi-da, chỗ đọc sách báo, quầy rượu và các buồng chơi bài đều chung một phòng, với hàng hiên mở rộng; hãy chụp hình nó với đông đảo các người đàn ông Pháp đầy sức sống, cùng với vợ và con của họ, trong một tâm trạng nhân hậu mà một bữa ăn ngon mang lại.  Cha mẹ ngồi ở các chiếc bàn nhỏ, đàm thoại và hút thuốc trong khi dùng cà phê, đa số vui chơi một canh bài, các trẻ em đã biển đổi một cách vui vẻ một góc phòng thành gian chơi đùa; các phụ nữ mặc áo dài buổi sáng và đội các chiếc mũ che nắng được trang điểm bởi các rèm xếp nếp – một loại nón đang ghét nhất.  Quang cảnh kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ khi, các đề tài trong ngày đã can kiệt, cuộc họp mặt được giải tán – có những người có thể vui hưởng một giấc ngủ trưa ngắn, số còn lại vật lộn với công việc.

 

Vào 1:30 trưa, công việc nói chung được tái lập, các cửa Hiệu mở khóa các cánh cửa, Bưu Điện rút lại các cảnh cửa chớp và các Văn Phòng Công khác dần dần xác định sự hiện hữu của chúng.  Giờ đây có thể mua sắm đồ vật gì đó, bởi tập tục đóng cửa [nghỉ trưa] là phổ biến, có lẽ không có doanh nghiệp nào bị mất mát.

Vào 5 giờ chiều, các văn phòng thương mại được đóng cửa, nhưng các cửa Hiệu thì không, và Hải Phòng tự hiến mình cho sự vui chơi và giải trí.  Đánh quần vợt xem ra là trò chơi ngoài trời duy nhất được theo đuổi tại Bắc Kỳ, ngoài trò cưỡi ngựa và săn bắn mà người Pháp rất say mê.  Các phụ nữ, các kẻ trong suốt cơn nóng của ban ngày gắng gượng mặc các áo dài buổi sáng và các chiếc mũ che nắng – một trang phục hợp lý và thoải mái nếu không cần biết đến nét thanh nhã – giờ này xuất hiện trên các cỗ xe ngựa, mặc quần áo đúng kiểu Paris, trông thật duyên dáng và sống động.  Đây là thời khoảng thú vị nhất của một ngày, và các cỗ xe ngựa, được kéo bởi các chú lừa bản xứ nhỏ bé, tung tăng theo mọi chiều hướng; có vài con đường tráng lệ, đường xá bất kể có nhiều sự lưu thông bằng xe cộ đã được bảo quản trong tình trạng tuyệt hảo.

Vào 6:30 hay 7 giờ tối, mọi người ăn cơm tối, và theo sau là các trò tiêu khiển xã hội, thường là chơi bài.  Các ban quân nhạc trình diễn tại các địa điểm công cộng thường đóng góp nhiều vào các thú vui của thành phố.  Dĩ nhiên là có nhà hát, là một kiến trúc rất xinh đẹp, mặc dù số chỗ ngồi thì ít so với kích thước của nó.  Nó đã tốn $80,000 để xây lên, và nhà thầu khai thác nhận được từ Chính Phủ $75,000 phật lăng mỗi năm như một khoản trợ cấp, từ khoản đó và các số thu, nhà thầu trả lương cho các nghệ sĩ, nhưng không kể các chi phí về việc mang họ sang từ quê nhà vì các khoản này được đài thọ bởi Chính Phủ.  Mùa nhạc kịch kéo dài ba tháng tại Hải Phòng và ba tháng tại Hà Nội, và nhà thầu khai thác cùng là một người cho cả hai thị trấn, khoản trợ cấp cho ông ta yểm trợ cho cả hai nơi.

Hội Quán Thương Mại (Cercle du Commerce) là một hội nhỏ, giàu có, được điều hành một cách nào đó theo các đường lối của Anh Quốc, mặc dù sinh hoạt của hội như nó hiện diện tại các thuộc địa Anh Quốc không được biết đến tại Bắc Kỳ.  Có các sự sắp xếp bữa ăn tối, và một thư viện nhỏ, với phòng đánh bi-da và một phòng khách (salon) chung, nơi các hội viên ngồi, nói chuyện, hút thuốc và đánh bài.  Trong một số buổi tối, các bà được mời và sảnh đường được dành cho âm nhạc hay khiêu vũ dành nhiều ưu đãi cho các phụ nữ vốn được nói là rất được tán thưởng.  Hội Quán Cây Đa (Cercle Banian), được đặt tên theo một cây đa mọc lên trong vườn, là một câu lạc bộ khác được hỗ trợ mạnh mẽ.  Vòng Đua Ngựa (Race Course) cách thị trấn một dặm, và một vườn hoa công cộng nhỏ, với bục hòa nhạc, tọa lạc phía trước Ngân Hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine).

Ông A. R. Marty, người mà danh tính là một từ ngữ quen thuộc tại Bắc Kỳ, và đang nổi tiếng không kém tại Hồng Kông, đã xây cất một ngôi nhà Trung Hoa tráng lệ bên ngoài thị trấn và bên cạnh đường rầy xe hỏa.  Nó được xây dựng rất công phu, phần lớn các vật liệu được nhập cảng một cách đặc biệt từ Quảng Châu (Canton), cùng với công nhân xây dựng ngôi nhà.  Đó là một ngôi nhà khó tìm được đối thủ tương đương tại miền Nam Trung Hoa, và hẳn phải tốn kém một khoản tiền khổng lồ.  Sự khoái chí của mọi người Trung Hoa khi nhìn thấy nó là điều tự nhiên, và nó được trang bị toàn bộ theo cách Trung Hoa, đầy các đồ cổ và các vật đắt tiền mà ông Marty đã sưu tầm trong suốt thời gian cư trú lâu dài của ông tại Trung Hoa.  Ông đã vô cùng hãnh diện về nó và với lý do vững chắc, mặc dù tên gọi địa phương cho ngôi nhà là “nỗi điên rồ của ông Marty: Marty’s Folly”.

Về mặt thương mại, Hải Phòng đang làm thất vọng.  Như hải cảng chính yếu của một thuộc địa giàu có, với một dân số được ước lượng khoảng 12,000,000 người, giờ đây đã được bình định và phát triển, du khách sau khi nhìn thấy Thượng Hải, Hồng Kông hay Singapore kỳ vọng sẽ tìm thấy một điều gì đó tiến bộ hơn những gì Hỉ Phòng phô bày.  Các ít bến tàu, bến chính được dành cho Sở Quan Thuế, và thay vì nhìn thấy hàng loạt nhiều tàu thuyền, chỉ có trung bình khoảng một tá, và các chiếc tàu này là tầu chạy cận duyên và chuyên chở.  Về mặt thương mại Hải Phòng có thể đã phát triển một cách chậm chạp nhưng không ai có bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng, nếu xứ sở được giải thoát ra khỏi sự tê liệt của Chính Sách Bảo Hộ Mậu Dịch và mở cửa cho thương mại tự do, nó sẽ phô bày một khía cạnh khác xa với bộ mặt ngày nay.

Một số khách du lịch, tuy thế, nhìn Hải Phòng xuyên qua các khía cạnh khác.  Hầu Tước Barthélemy *** nghĩ “Khách du hành lấy làm vui sướng đến một đất nước tràn đầy các thương nhân và nơi Chinh’ Quyền đủ loại như tại Sàigòn”, song với sự châm biếm rõ rệt, ông tiếp tục viết, “lên bờ một cách kỳ lạ, bởi giữa các bến của hải cảng là bảng trang hoàng đề tên “Ty Quan Thuế” và các bảng hiệu hành chính khác có chủ định rõ ràng gây sự kinh sợ cho hoạt động thương mại tự do.”

Các thống kê mậu dịch chứng thực cho một sự phát triển, mặc dù khó khăn để lấy được các con số.  Mậu dịch cho năm 1877 là 2,231,749 phật lăng, gồm 1,134,448 phật lăng cho nhập cảng, và 1,032,092 phật lăng cho xuất cảng.  Tổng số khai quan thuế của các tàu ngoại quốc và Trung Hoa là 309 chiếc, trong đó hơn 50% là của Anh Quốc.  Trong năm 1878 số nhập cảng từ Hồng Kông tương đương với 1,015,938 lạng (Tls: taels?) [không rõ vàng hay bạc?]; và xuất cảng sang Hồng Kông là 734,433 lạng [?].  Số nhập cảng từ Sàigòn là 8,363 lạng và số xuất cảng đến hải cảng đó là 216,133 lạng; phần lớn số xuất cảng xuống Sàigòn đi xuyên qua Hồng Kông.  Sau năm 1878, mậu dịch đã sút giảm một cách lớn lao, chủ yếu là vì sự ngăn cấm xuất cảng gạo và tình trạng bất ổn của xứ sở, nhưng đã bắt đầu phục hồi, và trong năm 1880 trị giá đăng ký số nhập cảng là 5,467,315 phật lăng, và số xuất cảng là 7,507,528 phật lăng, tổng cộng mậu dịch là 12, 974,838 [? phải là 12,974,833, có lẽ do lỗi sắp chữ của nhà in, chú của người dịch] phật lăng.  Số nhập cảng trong năm 1899 vào Bắc Kỳ, trong đó Hải Phòng là cảng biển chính yếu, tương đương với 1,800,000 Bảng Anh (Livres), trong đó 803,000 Bảng Anh là từ các nước ngoại quốc.  Số xuất cảng trong cùng năm là 774,000 Bảng Anh, trong đó chỉ có 50,000 Bảng Anh là từ Pháp và các thuộc địa của nó.  Các số nhập cảng chính là hàng dệt, khoáng chất, kim loại, mứt, rượu nho, vàng lá, bột mì, v.v… tất cả đều cho thấy một sự gia tăng liên tục.  Các phẩm vật xuất cảng hàng đầu là gạo, cá, hạt tiêu, than đá, và lụa.  Các hàng dệt Anh Quốc đang mau chóng nhường chỗ cho hàng dệt của các nhà sản xuất Pháp.

Lao động bản xứ thì rất rẻ so sánh với Hồng Kông và Thượng Hải. và chúng tôi nhận thấy, thí dụ, rằng các thợ in được trả tại Hải Phòng 50% ít hơn tiền công của cả hai nơi kể trên.  Các gia nhân là người An Nam, và một hệ thống đăng ký, chẳng hạn như đã được thảo luận và đề nghị tại Hồng Kông, thì thịnh hành, và nó được nói là rất hiệu quả, các gia nhân được chụp ảnh trước khi nhận được một giấy chứng nhận từ cảnh sát.  Tuy nhiên, thuộc địa, [cũng là] quê hương của gia nhân, giúp cho một hệ thống như thế dễ được thực hiện  một cách hữu hiệu, điều mà trong trường hợp của Hồng Kông sẽ trở nên khó khăn, các gia nhân ở đó đến từ đại lục.

Điều đáng lấy làm thỏa mãn để ghi nhận rằng nhiều kỹ nghệ địa phương đã được khởi sự hồi gần đây, trong đó chính yếu có một nhà máy dệt bông vải và một nhá máy sản xuất xi măng.  Công Ty Dệt Bông Vải Đông Dương (Société Cotonnière de l’Indo-Chine) hiện hoạt động tại Đường Avenue du fort Annamite, và chế tạo các cuộn vải có phẩm chất tốt, và được nói là một cuộc kinh doanh có lãi; trong khi đó Công Ty Xi Măng Portland Nhân Tạo Đông Dương (Société des Ciments Portland Artificiels de l’Indo-Chine), với số vốn 2,000,000 phật lăng, cũng là một doanh nghiệp phát triển, và hiện đang sản xuất một loại xi măng tốt.  Chúng tôi được thông tri rằng để bảo vệ các sản phẩm này và để khuyến khích các kỹ nghệ khác, Chính Quyền đã quyết định gia tăng các thuế quan trên cuộn bông vải và xi măng ngoại quốc nhập cảng.  Dưới các tình huống này, chừng nào mà các xí nghiệp địa phương chưa trở nên tự mãn trong sự thịnh đạt của chúng và nâng cao giá cá của chúng, điều sẽ được giả định là khách tiêu thụ sẽ được thỏa mãn, nhưng một châm ngôn tổng quát rằng sự cạnh tranh trong kinh doanh sẽ làm lợi trong nhiều khía cạnh cho giới tiêu thụ, trong khi sự bảo hộ thuế quan thường tạo bất lợi cho cả nhà sản xuất lẫn giới tiêu thụ.

Kỹ nghệ chính yêu là xưởng đóng tàu của các ông Maty và d’Abbadie, được thiết bị hoàn hảo và phát đạt, và chế tạo ra các tàu với trọng tải lên tới 500 tấn.  Phần lớn các tàu hơi nước chạy trên sông của họ được chế tạo tại đây.  Sự tham khảo đến dịch vụ tàu hơi nước huy hoàng của họ sẽ được tìm thấy ở nơi khác, và chắc chắn Hải Phòng sẽ mắc nợ không ít sự thịnh vượng của nó nơi dịch vụ thuận tiện và sâu rộng của các chiếc tàu hơi nước chạy đường sông của công ty này, liên kết nó với tất cả các địa điểm quan trọng trong nội địa.

Dân số của thành phố trong năm 1899 bao gồm 1,000 người Âu Châu, 10,000 người An Nam, 50 người Nhật Bản, 38 người Ấn Độ, và 5,000 người Trung Hoa.

Một đường xe hỏa nối liền Hải Phòng với Hà Nội đã được mở cho sự lưu thông vào Tháng Bẩy, 1902 và chắc chắn sẽ góp phần cho sự thịnh vượng gia tăng của Hải Phòng.

***

HÀ NỘI

Vị Trí – Một Sự So Sánh – Đời Sống Xã Hội – Một Ý Kiến Của Pháp – So Sánh Hồng Kông và Hà Nội – Các Khách Sạn – Các Kiến Trúc – Các Cửa Hiệu – Khu Sinh Sống Của Người Bản Xứ — Hồ Hoàn Kiếm – Thành Hà Nội – Vườn Bách Thảo – Bãi Đua Ngựa – Các Nài Ngựa An Nam – Phụ Nữ Thực Dân – Các Quán Cà Phê – Kinh Doanh – Đường Xe Điện – Trạm Xe Hỏa – Sự Phát Triển Của Hà Nội – Giới Chức Trách Tòa Thị Chính

Thành phố Hà Nội, hiện là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp, cách xa Hải Phòng khoảng 80 dặm.  Hiện tại du khach có thể di chuyển bởi một trong các tàu hơi nước có tầm nước nông, loại nhỏ của Công Ty Giao Thông & Chuyển Giao Thư Tín Miền Phù Sa tại Bắc Kỳ (Correspondances Fluvials au Tonkin), rời Hải Phòng lúc 8 giờ tối và đến Đáp Cầu, trên sông Cửa Cấm, vào lúc bình minh của ngày hôm sau.  Khi đó du khách có thể lên bờ và tiến vào tàu xe hỏa, sẽ chở du khách đến Hà Nội trong ba tiếng đồng hồ, hay có thể tiếp tục đi đến nơi đến bằng tàu hơi nước.

Một lối đi khác là bằng đường rầy xe hỏa mới giữa Hải Phòng và thủ đô, hiện giờ đi mất năm tiếng đồng hồ nhưng sẽ sớm được giảm xuống thành ba giờ.

Một phóng viên chiến tranh người Anh, ông James G. Scott, kẻ đã thăm viếng Hà Nội trong năm 1884 trong chiến dịch Bắc Kỳ, khi ghi chép các cảm tưởng của ông về thủ đô bản xứ nơi tác phẩm đáng chú ý của ông, France and Tongking, đã viết như sau:

“Có thể không cần bàn cãi rằng Hà Nội sau rốt sẽ vượt xa Sàigòn, thị trấn đẹp đẽ như hiện nay, giống y như sau rốt, nó tất nhiên sẽ thay thế cho Sàigòn như là thị trấn chủ yếu trong các lãnh thổ sở hữu của Pháp tại Viễn Đông.”

Mặc dù điều vẫn còn bị thắc mắc là liệu trong một vài khía cạnh, Hà Nội như một thành phố vượt trội trong hiện tại hơn thủ phủ của Nam Kỳ hay không, song dưới chế độ [régime, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của Toàn Quyền Doumer, sự tiên tri của ông Scott đã được hoàn thành, bởi ngày nay Hà Nội là thủ đô của Đông Dương, bao gồm các xứ Nam Kỳ (Cochin-China), Trung Kỳ (An Nam), Lào, Căm Bốt, và Bắc Kỳ (Tonkin).  Nó rất xứng đáng nhận danh dự đó.

Hà Nội, như một thành phố được xây dựng giữa các vùng ngoai vi mang sắc thái Á Châu, thì vượt trội hơn bất kỳ thành phố nào khác tại Viễn Đông.  Thượng Hải có thể tuyên nhận có nhiều doanh nghiệp hơn; Hồng Kông có thể hãnh diện nói về khu cư dân trên Đỉnh (Peak) cao và các con lộ đục ra từ núi đá tảng; Manila với khu phố cổ của nó, và Singapore với mức độ huy hoàng của nó, nhưng trong tổng thể [tout ensemble, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] Hà Nội chắc chắn là địa điểm trội bật.  Về mặt các đường lộ khoảng khoát và được bảo trì chu đáo, các không gian mở ngỏ và các khu dân cư cách biệt, Singapore đứng ở các vị trí hoàn toàn tương đương với Hà Nội; nhưng sau khi mặt trời lặn, Singapore thiu thiu ngủ trong khi Hà Nội ở vào thời khắc huy hoàng nhất của nó.

Khái niệm Đại Lục (Continental) bình thường của nếp sống thuộc địa Anh Quốc, có nghĩa, với ngoài lệ về sự đam mê của giống dân Anglo-Saxon dành cho thể thao ngoài trong bất kỳ thời tiết nào – điều họ không thể nào hiểu được – các kẻ thực dân bày ra việc tự biên tự diễn một cách công khai là phải chịu khổ sở đến mức tối đa.

Khái niệm Anglo-Saxon về đời sống thuộc địa của Pháp là, các láng giềng của chúng ta chi tiêu tiền của công cộng trong việc giúp cho họ được thoải mái đến mức tối đa.  Trong nhiều khía cạnh, điều này là đúng, và bất kỳ ai đã đến thăm một thuộc địa Pháp đều phải nhìn nhận rằng đời sống thuộc địa Pháp có nhiều sự việc đáng ca ngợi, và nhất định lôi cuốn nhiều hơn so với sinh hoạt thuộc địa của chúng ta.  Thực dân Pháp oán ghét việc phải hy sinh thú vui trong cuộc sống ở quê hương, và chắc chắc không có lý do tại sao người đó phải làm như thế.

Đời sống xã hội tại Bắc Kỳ được tiêu biểu bởi sự vắng mặt của tính chuộng hình thức bất tiện, bởi sự tự do hoàn toàn tách ra khỏi các kiềm chế xã hội của chúng ta, với hậu quả rằng trong khi người Anh dẫn đến, ở một tầm mức lớn lao, một sự hiện hữu xã hội giả tạo, người Pháp hoàn toàn sống thoải mái, và khi công việc đã kết thúc, họ đắm mình toàn diện vào sự giải trí và hưởng thụ.  Các nét đặc thù xã hội tinh tế của chúng ta rõ ràng không có mặt ở đó.  Chúng ta xem sự giải trí một cách nghiêm trọng và thường biến nó thành công việc; người Pháp không làm như thế, và hoàn toàn không theo quy uớc.

Hãy tưởng tưởng, các vị thánh thần ơi, tại Hồng Kông, vợ của một công chức [fonctionnaire, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] hàng đầu, thả bước dọc đường phố trong cái nóng giữa ngày của mùa hè với mũ cối (topee) màu trắng và áo dài buổi sáng thả lỏng, ghé ngang khách sạn để ăn trưa và trò chuyện sau đó.  Hay một sĩ quan quân đội hay hải quân cao cấp ngồi, cùng với vợ, sau bữa ăn tối, ở một chiếc bàn nhỏ trên vệ đường bên ngoài quán cà phê, nhấm nháp rượu ngọt (liqueur), đàm thoại và ngắm nhìn các người nồi trên các cỗ xe ngựa ngang qua!

Để đối chiếu, hãy chụp ảnh một phòng hòa nhạc tại một thuộc địa của Anh tại phương Đông, với khối thính giả an vị một cách nghiêm trọng, ăn mặc với đầy đủ trang phục buổi tối, tất cả mọi thứ đối với đầu óc của dân Gauls [Gallic, tức sắc dân Pháp, chú của người dịch], là cứng ngắc, trông thực trang trọng và không thoải mái đến mức tốí đa.  Người Anglo-Saxon biến sự vui chơi thành một bổn phận; các láng giềng của chúng biến các bổn phận của họ thành một thú vui.

Một buổi tối ở Hà Nội, chúng tôi đã dùng bữa tối với một sĩ quan quân sự quan trọng cùng với bạn của ông – nhà xây dựng chiếc cầu Hà Nội.  Ngôi nhà của ông là một ngôi nhà oai nghiêm với đầy các đồ vật đẹp đẽ.  Bữa ăn tối thật tuyệt hảo, vị chủ nhân đón tiếp chúng tôi vẫn mang đồng phục hàng ngày, với băng quấn từ cổ chân lên đầu gối (putties), người bạn của ông trong bộ y phục mầu trắng cài cúc!

Một lần nữa, khi đi ngược lên vùng trên, chúng tôi được khoản đãi một cách thú vị tại Tòa Trú Sứ Chính của các Tỉnh.  Mười hai người chúng tôi ngồi xuống dùng bữa ăn thịnh soạn, không kém phần thỏa thích mặc dù không có ai mang trang phục buổi tối.  Thật không thể tưởng tượng ra điều này tại một thuộc địa của Anh Quốc.

Song, mặc dù chúng ta có khuynh hướng chế diễu người Pháp, các tục lệ xã hội của họ, và các phương pháp thực dân hóa của họ, chúng tôi là các người đầu tiên sử dụng và tán thưởng các điều này khi chúng tôi đến thăm viếng các thuộc địa của họ. Tuy nhiên, người ta không thể đi xa đến mức nêu ý kiến rằng nữ du khách Anh Quốc sẽ đi trên đường phố trong cơn nóng của ban ngày với một chiếc nón cối và áo choàng buổi sáng.  Cô ta sẽ kinh sợ trước ý tưởng đó!

Cố Hoàng Thân Prince Henri d’Orléans đã nhận xét: – “Khi người Pháp chúng ta thực hiện chính sách thực dân, chúng ta thường biểu lộ sự thiếu kinh nghiệm lớn lao và thiếu sót dự kiến; nhưng đi kèm với các khiếm khuyết này là một số phẩm chất tốt đẹp nào đó mà chúng ta mang theo cùng với mình đến khắp nơi trên địa cầu.  Trước tiên, chúng ta có một sự khéo léo trong việc giải tỏa một thị trấn bản xứ và trong việc xây dựng bên cạnh nó một cái gì đó tức thời sạch sẽ và thanh nhã, ứng dụng các chi tiết nhỏ nhặt nhất sao cho tạo được một hiệu ứng toàn bộ làm vui mắt nhìn.  Khiếu thẩm mỹ thú vị của cô gái bán hàng mặc áo xám tại khu Montmartre có thể được tìm thấy dấu vết trong công việc của kẻ tiền phong ở California và viên hạ sĩ quan (non-commissioned officer) gốc Nam Kỳ, rằng điều gì đó tế vi và vô hình phát sinh từ tính khí của chúng ta và thuộc vào chính bản chất của chúng ta, giải thích cho sự kiện rằng, với khoản tiền chi tiêu nhỏ bé, chúng ta đã khai quang và tái kiến thiết một phần nào hai trong các thành phố đẹp đẽ nhất tại Viễn Đông – Hà Nội và Sàigòn.  So sánh chúng với những thị trấn xây cất bởi người Anh tại Bombay và Calcutta ở Ấn Độ, hay với Hồng Kông ở Trung Hoa, và bạn sẽ tìm thấy ở thành phố kể sau các kiến trúc to lớn, đồ sộ, biểu hiệu cho sức mạnh và quyền lực, nhưng nặng nề; trong khi đó tại những thị trấn do Pháp xây dựng, luôn luôn có sự tương đồng đôi chút với Paris.”

Phần lớn du khách sẽ nhìn nhận sự chính xác trong ý kiến của ông.  Sau một cuộc thăm viếng Hà Nội, người ta sẽ phải thắc mắc để biết những gì mà người Pháp sẽ thực hiện với Hồng Kông nếu họ chiếm hữu nó.  Công trình của người Anh trong nhiều khía canh thật tuyệt diệu, song sự phát triển hòn đảo thuộc địa là do sự kinh doanh tư nhân nhiều hơn công tác chính thức.  Về mặt các kiến trúc thương mại, Hồng Kông vượt xa Hà Nội; không có các tòa nhà kinh doanh khổng lồ như thế ở đây.  Không có nhu cầu về chúng, giống như tại Singapore, bởi đất đai thì tràn đầy, phẳng và rẻ tiền.

Trong việc quản trị hành chính thành phố, Hà Nội tiến bộ hơn nhiều so với Hồng Kông hiện nay hay mãi mãi sau này, trong khi nó lại là một thuộc địa của hoàng gia.  Các chức năng của Chính Quyền Hồng Kông mang tính chất Thành Phố (Municipal) hơn là Đế Quốc (Imperial); lãnh vực hoạt động của nó bị giới hạn trong lãnh thổ vài dặm vuông.  Ngoài công việc Thành Phố, giới Quân Sự hoàn toàn có khả năng một mình điều khiển chính phủ.  Đó là một cơ chế tốn kém như hiện trạng, và công việc quản trị Thành Phố của nó là một thảm họa.  Tại Hồng Kông chúng ta liên tục phải chịu đựng chính sách thiển cận và vụng về của các viên chức trước đây của chúng ta, và Chính Phủ ngày nay thay vì nhìn nhận điều này lại tự làm mất năng lực khi nỗ lực để bào chữa cho các sai lầm trong quá khứ bằng một chính sách chắp vá về quản trị, chống đối sự tự do hành động, né tránh kinh phí lành mạnh về công chánh, và lẩn trốn một hệ thống thành phố tân tiến.  Các ban ngành chính phủ bị cắt giảm tới mức nhỏ nhất có thể được, gần như mọi ngành đều thiếu nhân viên và hậu quả không có khả năng đáp ứng công việc thật bén nhậy mà một thành phố đang tăng trưởng đòi hỏi.  Tham vọng của viên Thống Đốc là muốn phô diễn một khoản thặng dư hàng năm – được tích tụ từ các tổn thất của các công trình công chánh thiết yếu và các sự cải thiện vệ sinh.  Tại Hà Nội, mọi việc mà Chính Quyền có thể làm được để thực hiện các sự cải thiện công cộng nhằm làm đẹp và hoàn chỉnh thành phố, họ đang làm.  Họ cũng sẵn lòng để chi tiêu tiền bạc trong khi chúng ta lại tích trữ nó thật nhiều.  Không có cư dân nào than phiền về thuế khóa quá mức của Thành Phố, nhưng mọi người đều ca ngợi công tác tráng lệ của các kỹ sư thành phố của họ.

Một tính chất nổi bật của việc xây dựng thành phố của Pháp, như được minh họa tại Hà Nội, và gần hơn tại Quảng Châu Văn (Kwang-chau-wan), là viễn kiến mà họ bộc lộ.  Họ thiết kế và xây dựng cho tương lai và trong khía cạnh này họ rõ ràng vượt trội hơn người Anh.  Liệu các kỹ sư của họ có vượt trội hơn các kỹ sư của chúng ta hay không về mặt huấn luyện là một câu hỏi đáng cứu xét; nhưng chắc chắn họ cho thấy các kết quả tốt đẹp hơn.

Thí dụ, Hồng Kông phải chịu đựng hồi gần đây một tình trạng tràn ngập các bệnh dịch, dịch hạch, dịch tả, và đậu mùa, hậu quả mà các chuyên viên đã tuyên bố của nạn quá đông dân, và, cộng đồng cũng tác cũng có bổ trợ, vào việc thoát nước không thích hợp và một tình trạng khan hiếm nước.  Sự việc này phát lộ một sự thiếu sót khả năng quản trị nơi các Thống Đốc trước đây, trong việc không ước lượng sự phát triển nhanh chóng của hải cảng, và sự thất bại của họ trong việc bước theo nhịp với sự phát triển.  Điều đó cũng phơi bày rằng các kỹ sư của chúng ta đã không có khả năng tương ứng với công tác thực sự của họ, hay nếu họ có khả năng, họ đã không thể thực hiện được các ý kiến của mình.  Hiện nay các phương tiện công cộng của sự chuyển vận mau lẹ và rẻ tiền để cứu giúp các quận hạt tắc nghẽn một cách khủng khiếp đều không hiện hữu, và không có phà công cộng cung cấp sự nối liền giữa hòn đảo và đất liền, công việc như thế được dành cho dịch vụ độc quyền của một công ty địa phương.  Tuy nhiên, một dịch vụ xe điện được hứa hẹn, và một viên chức đã đề nghị về một chiếc cầu ngang qua bến tàu, nhưng các chiếc phà hơi nước công cộng, đủ lớn để chở được một chiếc xe điện, sẽ ít tốn kém hơn và thực tế hơn.

Mặc dù thuộc địa đã từng có một bài học khách quan đáng sợ như thế trong sự quản trị chính quyền sai lạc như thế, bất kể điều đó, ở khu Kowloon đang bị xâm nhập bởi cùng các lỗi lầm, cùng các tai hại.  Đất đai, mọi tấc đất có thể được bán, cho mục đích xây dựng, đều được quyết định bởi Chính Phủ.  Các đường xá, mau chóng trở thành các lộ chính tiến vào vùng Đất Mới (New Territory), thì nhỏ hẹp và chiều ngang của nó chỉ bằng với con đường trung bình tại khu vực dân bản xứ của Hà Nội.  các ngôi nhà Trung Hoa cao ngất, nhiều cái được xây cẩu thả, xấu xí và thiếu vệ sinh, đang hàng ngày được dựng lên, trong một số trường hợp giáp với mép lề của các con đường này, và các ngôi nhà ngoại quốc thực sự, đứng biệt lập trên mảnh đất đất riêng của chúng, và thích hợp cho sự cư ngụ tại khí hậu nhiệt đới, trong thực tế còn ít.  Các chủ đất được phép để dựng lên các dẫy nhà dành cho sự cư trú của người nước ngoài, sẽ đua tranh với một khu vực ngoại ô London bị lạm dụng, và hoàn toàn không thích hợp với địa điểm **** và khi các mảnh sất trống được xây lên và người Trung Hoa lũ lượt kéo vào trung tâm và tràn ngập nó, một sự tái diễn các nạn dịch Hồng Kông có lẽ sẽ theo đuôi.  Trong Tháng Tám năm 1902, Ngài Sir William Gascoigne đã khánh thành một công viên nhỏ, trước đó đã không có sự dự trù cho các khoảng không gian trống.

Có mọi lý do để tin rằng nếu người Pháp sắp xếp khu Kowloon nó sẽ là một khu định cư đẹp đẽ, với vườn hoa và các đại lộ xinh đẹp, các ngọn đồi sẽ được cắt thấp xuống và các nhà ở được rải trên một khu vực rộng lớn hơn với các phương tiện lưu thông công cộng.  Người Trung Hoa sẽ có khu đặc biệt của họ và ở lại đó.  Sức khỏe và hạnh phúc tương lai của các đồng hương sẽ là lý tưởng của kỹ sư người Pháp.

Có nhiều khách sạn, quán cà phê, và nhà nghỉ tại Hà Nội để chứa các khách thăm viếng, quan trọng nhất là Khách Sạn Métropole và Khách Sạn Hà Nội.  Khách sạn trước là một kiến trúc tráng lệ, mới được dựng hồi gần đây, và tọa lạc trên Đại Lộ Henri Rivière, đối diện trực tiếp với Tòa Thống Sứ (Résidence Supérieure)  Khách sạn được trang bị một cách thanh nhã, mỗi phòng ngủ có một buồng tắm liền bên; và có một phòng khách chung, salons de conversations [tiếng Pháp trong nguyên bản, phòng nói chuyện,  chú của người dịch], phòng đọc sách báo.  Các sự sắp xếp vệ sinh thì hoàn hảo, và tiện nghi tổng quát không còn thiếu thứ gì.  Dịch vụ thật tốt, các kẻ phục dịch tại phòng ăn là người Trung Hoa và các kẻ trực phòng là người An Nam .  Cách nấu nướng là những gì mà người ta sẽ mong đợi tại một thị trấn Pháp, và giá tiền thay đổi từ $6 đến $7.70 một ngày hay $155 một tháng.  Đối với hai người, $10 đến $12 một ngày và $210 đến $250 một tháng, và theo tục lệ một chai rượu vang trắng hay đỏ, và rượu ngọt (liqueur), được miễn phí ở cả hai bữa ăn, trưa và tối.  Khách Sạn Hà Nội cũng là một địa điểm rộng rãi và được điều hành chu đáo, tương tự, có khách đông đảo, và gồm một quán cà phê rất được ưa chuộng.

Hà Nội là một thành phố rất thuận tiện để du lịch trong đó.  Có nhiều xe kéo [pousse-pousses, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], tên họ gọi cho jinrickisha [tiếng Nhật trong nguyên bản, jin để chỉ người, riki, sức, và sha, xe, tức xe kéo bằng sức người, chú của người dịch], với phu kéo người An Nam.  Một đường xe điện chạy ngang qua thị trấn và các khu ngoại ô trên một khoảng cách dài tám dặm, và có đông khách là người ngoại quốc cũng như dân bản xứ.  Các kiến trúc chính là Tòa Thị Chính (Mairie), Trụ Sở Bưu Điện và Điện Tín, Dinh Thống Sứ, Ngân Khố, Khu Quân Sự và các văn phòng khác.  Các Trường Học Công Lập, tốn phí 175,000 phật lăng, tạo thành một dẫy kiến trúc lộng lẫy, với các phần dành riêng cho con trai và con gái, giảng đường, v.v…  Một Phủ mới cho Toàn Quyền đang trong tiến trình xây dựng gần Vườn Hoa Công Cộng, cũng như một Pháp Đình mới.  Dẫy phố trung tâm nguy nga của các kiến trúc Khu Hội Chợ Triển Lãm, hiện đang hoàn tất, sau rốt sẽ biến thành một viện nghiên cứu về khảo cổ và ngữ học.  Một nhà hát mới với 800 chỗ ngồi, được dựng lên bởi Chính Quyền Thành Phố, chỉ cách vài thước ngôi nhà thờ Tin Lành Pháp nhỏ bé và xinh đẹp.

Các đường xá thì rộng rãi, được che mát bởi cây cối, và trong tình trạng tuyệt hảo.  Chúng đều được đắp bằng đá giăm và tổng số chiều đài của chúng, kể cả các lối đi vùng ngoại ô, lên tới hơn năm mươi dặm Anh (miles).

Các cửa hiệu to lớn và chất đầy hàng hóa tạo thành một đặc điểm nổi bật của đời sống Hà Nội, nhiều hãng may đồ trang phục phụ nữ và vải vóc sẽ làm hài lòng các khách phụ nữ trong suốt thời gian Triểm Lãm.  Trong thực tế, cái nhìn với nhiều đường phố với các cửa hiệu hạng nhất đủ mọi loại, với các mái hiên che nắng bằng vải nhiều màu, các cửa sổ bày biện lôi cuốn, các cửa hàng thịt và bánh nướng ngoại quốc, tất cả đều được điều hành bởi người Pháp và không có người Á Châu, là một bức tranh quyến rũ làm gợi nhớ các cảnh tượng thú vị của đời sống quê nhà.  Như tại các thành phố Trung Hoa, các cửa hàng bản xứ bị giới hạn vào các khu đặc biệt.  Các thợ đồng thau và đồ đồng có một khu vực, các người sản xuất cuộn giấy chiếm một khu khác, v.v….  Công việc bản xứ hay nhất được sản xuất là việc khảm xà cừ trên gỗ màu đen bản xứ, trên các loại hàng đẹp đẽ một cách xuất sắc có thể tạo ra được dưới hình thức các bức bình phong, tủ, khay, hộp, v.v…  Nơi sản sinh sản phẩm này thực sự là thị trấn Bắc Ninh.  Một số đồ thêu trên lụa rất thanh nhã cũng có thể tìm mua được.

Tại trung tâm thành phố có tọa lạc Hồ Nhỏ [Petit Lac, tiếng Pháp trong nguyên bản, để chỉ Hồ Hoàn Kiếm, chú của người dịch], với đảo nhỏ của nó và một chiếc cấu mộc mạc ở một đầu, và ở giữa đảo là một ngôi chùa An Nam trông cổ quái [có lẽ để chỉ Tháp Rùa?, chú của người dịch]], được phủ trên nóc bởi một tượng [Nữ Thần] Tự Do (?statue of Liberty) bằng đồng.  Tiền bạc làm bức tượng này được thu thập từ các khoản tiền nhỏ của nhiều người đóng góp bản xứ.  Hồ rộng khoảng gần nửa dặm vuông,  lối đi quanh hồ tạo thành một lối dạo mát thú vị, và nếu khách bộ hành trở nên mệt mỏi, người đó có thể ngồi nghỉ tại quán cà phê của Khách Sạn Bên Hồ (Hotel de Lac), và chú mục vào phong cảnh trước mặt.  Cạnh hồ là Nhà Thờ Công Giáo La Mã, và ở phía bên kia, bên cạnh Văn Phòng Bưu Điện và Điện Tín, là một vườn hoa công cộng nhỏ với một bục hòa nhạc và một bức tượng bằng đồng tạc hình ông Paul Bert.

Từ Hồ Nhỏ này, du khách có thể lấy xe điện đến Tòa Thành, đồn phòng thủ An Nam cổ xưa đáng chú ý của Hà Nội, các bức tường thành hãy còn hiện hữu.  Tại nơi đây nhiều binh chúng khác nhau của quân đội được đồn trú.  Trên nền tòa thành này, một công ty ở Paris hiện đang bận rộn xây cất một khu vực các nhà ở Âu Châu được thiết kế đẹp đẽ, với chợ cùng các tiện nghị khác đi kèm.  Dùng xe điện đi xa hơn chạy ngang thành phố cổ với những ngôi nhà cổ lỗ nhỏ bé, một khu vực mà người Pháp đã cho thoát nước toàn bộ và cải thiện, và các đường lộ giờ đây thì rộng rãi, sạch sẽ và bảo trì tốt.

Xe điện sau đó sẽ nhập vào các khu ngoại ô, ở một bên nằm rải rác các nhà ở kiểu biệt thự cách biệt đẹp đẽ với mọi kích thước phù hợp với mọi túi tiền, trong khi đó bên phía tay phải trải dài Hồ Trúc Bạch và Hồ Lớn Tây Hồ.  Có nhiều ngôi đền và chùa bản xứ, đền chính yếu là đền Đại Phật (Grand Bouddha), bên bờ Hồ Tây, có chứa một tượng đồng khổng lồ [? có lẽ tác giả muốn nói đến bức tượng đồng đúc hình ông Trọng, người chuyên đúc các tuợng Phạt khi trước, tại Đền Quan Thánh, chú của người dịch].

Gần nơi đây là Vườn Bách Thảo (Jardins Botaniques) thực sự là các vườn hoa công cộng thanh nhã và ngoạn mục nhất tại Viễn Đông.  Các vườn cây được xếp đặt một cách đẹp đẽ, và được cắt ngang bởi các đường xe ngựa che mát bởi cây cối.  Nơi đây trong cơn mát của buổi tối, các cư dân Hà Nội cưỡi trên các cỗ xe ngựa của họ, và những kẻ thích đi bộ hơn tìm được nhiều nơi ẩn náu quyến rũ.  Có một sưu tập nhỏ nhưng hay ho các thú vật, và một số loại đặc biệt về hổ, báo và gấu Bắc Kỳ được  nhìn thấy.  Các khu vườn, bao phủ một diện tích 23 mẫu tây (hectares), chứa đựng hơn 3,000 mẫu các loại thực vật.

Đi xa hơn nữa, đến Sân Đua Ngựa (Race Course), và rõ ràng được bảo trợ tốt.  Các cuộc đua được tổ chức vào ngày Chủ Nhật khi chúng tôi ở đó, và quang cảnh là một loại lễ hội.  Ngựa cưỡi là các con lừa Bắc Kỳ, các con vật nhỏ bé linh hoạt, trông hơi giống nhưng phần nào lớn hơn giống lừa Deli tại vùng Eo Biển [Mã Lai].  Chúng không đủ lớn cho người Âu Châu đễ cưỡi, vì thế các nài ngựa là các người An Nam nhỏ xíu, và hợp lại, họ đã trình diễn một số cuộc đua ngựa đẹp mắt.  Các nài ngựa có vẻ rất lấy làm hãnh diện về công việc của họ, và trông khệnh khạng khi mặc y phục mang màu sắc của chủ nhân của họ, [là] các đối tượng của sự ngưỡng mộ bản xứ.  Các con lừa thì đầy rẫy và rẻ tiền, và bởi có nhiều đường đi thú vị, đa số cư dân sắm một cỗ xe và một đôi lừa.  Các quang cảnh trên các đường lộ xuyên qua các khu vườn làm nhớ đến các dự kiến về khu Lunetta tại Manila trong thời kỳ lệ thuộc Tây Ban Nha, đặc biệt khi một ban nhạc đang hòa nhạc.

Khi đó là thời điểm để nhìn thấy phụ nữ Pháp xinh đẹp nhất.  Người đàn bà cởi bỏ y phục nhẹ, lùng thùng của buổi sớm hơn trong ngày, và có thể được nhìn thấy đang mang trang phục kiểu Paris thanh nhã, trong cỗ xe của bà ta được kéo bởi một đôi lừa, với kẻ đánh xe và “phục dịch” (“tiger”) có cánh tay khoanh lại, mang đồng phục bảnh bao, và đôi giầy ủng ống cao.

Cảnh tượng là một hình ảnh sáng chói, sinh động và thích thú; chuỗi xe ngựa di chuyển xuyên qua các con đường đẹp đẽ, với các người đi xe ăn mặc xinh đẹp.  Hà Nội trong thực tế là một thành phố có nhiều phụ nữ xinh đẹp.

Vào 7 giờ tối, cộng đồng ăn bữa tối, và sau 8 giờ các quán cà phê bắt đầu đông dần.  Các đoàn người kéo tới và tự tìm chỗ ngồi tại các bàn nhỏ bằng đá hoa cương: nhâm nhi rượu congac hay rượu ngọt (liqueurs) hút thuốc và trò chuyện.  Bia cũng là một thức uống được ưa thích.  Một cái vỗ tay, một lệnh gọi ngắn bằng tiếng Pháp “bồi” (pidgin French), và một người “bồi” An Nam mặc quần áo trắng mang ra một tấm khăn nhỏ, được đặt vào giữa bàn, và một cuộc chơi bài tiếp diễn, trong đó có các phụ nữ gia nhập.  Sinh hoạt quán cà phê rất ôn hòa, rất thích thú và rất phổ thông.  Một người Anh Quốc, trừ khi anh ta là một kẻ kiêng cữ, sẽ có thể cần đến các ly rượu mạnh hơn và các sự khích động hơn; một cốc bia hay một ly rượu ngọt nhỏ đủ thích hợp với người đàn ông Pháp vào buổi tối.

Giới quân sự hiển nhiên là đông đúc, các sĩ quan mọi cấp bị bắt buộc luôn luôn phải xuất hiện trong quân phục.  Như thường lệ, áo chẽn quân đội Pháp thường bằng vải đen, với cổ áo hay cửa tay màu đỏ, vàng hay bạc, ấn tượng trên người mặc và người quan sát không hoàn toàn quá xốn mắt như là áo choàng đỏ của một sĩ quan Anh mang lại, nếu người đó bị bắt buộc phải xuất hiện thường trực trong quân phục.  Vải khaki được mặc một cách sâu rộng – đặc biệt ở vùng thượng du, và băng quấn bắp chân theo mẫu thiết kế của Anh đang trở thành thời trang.

Các buổi dạ tiệc (soirées), khiêu vũ, hòa nhạc và diễn kịch cấu thành các thú vui xã hội của cuộc sống Hà Nội.

Hiện có một khối lượng lớn và gia tăng vũng chắc các doanh vụ được giao dịch tại Hà Nội, nơi mà dĩ nhiên sẽ phát triển một cách bao la nếu xứ sở chỉ cần được mở ngỏ cho mậu dịch tự do.  Nhiều kỹ nghệ địa phương đã được tạo lập, trong số đó có nhà máy bia, dệt bông vải, nhà máy giấy, chưng cất rượu bản xứ, và các nhà máy sản xuất diêm.

Cả Hải Phòng lẫn Hà Nội đều chưa đạt tới giai đoạn khi mà tiền tệ địa phương được đầu tư vào các công ty công lập, và dân chúng có thặng dư tiền mặt đầu tư tiền vào doanh nghiệp riêng của họ, hay gửi tiền về Pháp.  Thị trường cổ phần như đang hiện diện tại Hồng Kông hay Thượng Hải chưa được biết đến, nhưng khi một hay hai công ty công lập đã được thành lập để điều hành một ít kỹ nghệ xuất hiện, một định chế như thế là điều khả hữu trong tương lai.

Doanh nghiệp chính yếu là Công Ty Xe Điện (Electric Tramway Company), mà họ giải thích với chúng tôi là một phần tư nhân, một phần là công ty công lập, bất kể theo nghĩa nào.  Công trình được xây dựng trong năm 1900, và một dịch vụ xe điện tuyệt hảo nhất được cung cấp, chiều dài của tuyến đường vào khoảng tám dặm.  Các toa xe được xây dựng rất tốt và thoải mái, được chia thành hạng nhất và hạng nhì, và đều do người Pháp chế tạo.  Đi kèm theo xe là một toa nhỏ, mui trần, với các màu che bên hông bằng vải, trên đó khách đi có thể thích ngồi trong thời tiết nóng nực.  Xe điện được chạy trên một hệ thống truyền điện (trolley system), bởi một dòng điện biến đổi từ 500 đến 600 volts.  Nhà máy phát điện bao gồm ba máy phát điện mạnh có công suất 250 mã lực, và có 22 xe điện.  Các người bán vé và lái xe đều là người An Nam, toàn thể số nhân viên vào khoảng 100 người, trong đó có 8 người Pháp.  Các xe điện có khách đông đảo là người Âu Châu cũng như dân bản xứ, và công ty được nói kiếm được lợi tức tốt.  Giá vé tối đa là 5 xu cho hạng nhất, và 3 xu cho hạng nhì, và người đi có một chuyến đi thú vị trong bốn mươi phút cho một giá vé rất rẻ.

Một trạm xe hỏa đẹp đẽ đã được xây dựng trên Đại Lộ Boulevard Gambetta, nơi mà toàn thể mạng lưới của đường rầy xe hỏa Bắc Kỳ sẽ sớm hội tụ.  Từ chiếc cầu nguy nga băng ngang sông Hồng đường rầy xe hỏa chạy qua một cầu cạn bằng đá dài 600 thước, và sau đó đi xuyên qua thị trấn.

Trong năm 1897, 384 cơ sở ngoại quốc hiện hữu tại trung tâm đô thị của Hà Nội, từ đó cho đến 1901 con số của chúng đã tăng lên 608.  Số cư sở bằng gạch của dân bản xứ là 1,225 cũng được xây dựng trong cùng thời kỳ đó.  Có vài ngôi chợ được xây dựng rất tốt, và các ngôi chợ khác được dựng lên theo đòi hỏi.  Các nhà chức trách Thành Phố xứng đáng được ghi nhận cộng trạng về hệ thống thoát nước xuất sắc mà họ đã cung cấp với phí tổn không hạn chế, bởi xứ sở thì phẳng và đầm lầy, và nhiều hồ nước phải được san lấp vốn đã hiện hữu tại thành phố và các vùng ngoại ô.  Hệ thống Nước đã được xây dựng trong các năm 1895-6, nước được chuyển vận bởi một kinh đào, dài 25 cây số (kilomét), từ các giếng nước to lớn, cung cấp được 5,000 mét khối mỗi ngày.  Nước được dẫn vào các ngôi nhà người ngoại quốc, và có 85 trụ vòi nước (borne fontains) và 85 nhánh dẫn nước dành cho sự cung cấp nước cho dân bản xứ.

Thị trấn được thắp sáng bằng điện, ở đó có 523 ngọn đèn 523 nến (incandescent) và 55 ngọn đèn chiếu sáng khu người ngoại quốc.  Các khu vực bản xứ ngoại vi được thắp sáng bằng đèn dầu hỏa.  Thị trấn được tuần cảnh kỹ càng nhưng cảnh sát thì rất khiêm tốn.  Ngân sách Thành Phố được ước lượng cho năm 1902 lên tới $844,304, được đóng góp bởi các khoản khác nhỏ hơn về các sắc thuế cho thuê nhà $29,000; môn bài $60,000; thuế thân trên các ngoại kiều gốc Á Châu $17,484; thuế cá nhân trên người An Nam $9,458.  Số thu nhập từ các ngôi chợ trong năm 1901 là $71,497; lò sát sinh $18,682; phu kéo xe $43,370.

Dân số của Hà Nội là 160,000 người, trong đó có 1,500 người Âu Châu, không kể số quân đồn trú lớn, và 4,000 người Trung Hoa.  Thành phố lành mạnh một cách đáng ghi nhận, và nhiệt độ tối đa trong mùa hè, bắt đầu từ Tháng Tư, là 350 bách phân (950 F.), và xuống mức thấp nhất trong mùa đông, bắt đầu trong Tháng Mười, là 60 bách phân (4208 F.)   Đường rày xe hỏa giờ đây giúp cho các cư dân lên tới vùng núi đồi trong ít tiếng đồng hồ, nơi mà cái nóng của mùa hè có thể được né tránh, và nơi mà các cư sở thích thú có thể được xây cất.

Hiện thời cộng đồng đang chú ý một cách sôi nổi về kỳ Hội Chợ Triển Lãm sắp được mở ra tại Hà Nội trong Tháng Mười Một 1902, sẽ lôi cuốn du khách từ mọi nơi và một sự trình bày về Hội Chợ Triển Lãm này được dành cho một chương sách khác./-

DU HÀNH LÊN MẠN NGƯỢC

Giao Thông Miền Phù Sa Tại Bắc Kỳ — Hải Phòng – Các Con Muỗi – Đáp Cầu – Tàu Xe Hỏa – Quang Cảnh – Sông Hồng – Sơn Tây – Việt Trì – Sông Lô – Phủ Doãn – Hòa Muc [?Mộc] – Một Câu Chuyện – Các Niên Sử Dòng Sông – Tuyên Quang – Các Địa Điểm Đáng Chú Ý Khác

—–

Hành trình từ Hải Phòng về Hà Nội có thể được thực hiện một phần bằng tàu hơi nước, và một phần bằng xe hỏa, hay du khách có thể lên xe hỏa tại Hải Phòng và năm tiếng đồng hồ sau đổ xuống Hà Nội.  Miền châu thổ phì nhiêu nằm giữa Bắc Kỳ, giống như miền tây nam Trung Hoa, đầy các giang lộ, trên đó tọa lạc nhiều trung tâm bản xứ quan trọng về kinh doanh và các đồn quân sự bị biến đổi trong thời bình thành các kho trung chuyển hàng hóa [entrpots, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của các kẻ thực dân siêng năng.

Yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của Bắc Kỳ là đoàn tàu hơi nước đường sông có tầm nước nông tuyệt hảo được gọi là Dịch Vụ Được Trợ cấp Về Giao Thông Vùng Phù Sa tại Bắc Kỳ (Service Subventionné Fluviales au Tonkin), và được sở hữu bởi các ông Marty và D’Abbadie. Trụ sở của công ty này đặt tại Hải Phòng, nơi mà các văn phòng của họ tạo thành một dẫy cao ốc kinh doanh oai vệ nhất, và xưởng đóng tàu của họ, nơi mà nhiều chiếc tàu hơi nước của họ được đóng, là công nghiệp lớn nhất trong ngành tại Đông Dương.  Công việc kinh doanh được đích thân chỉ huy bởi hai người đứng đầu xí nghiệp, những kẻ mà năng lực và sự bén nhạy thương mại đã tạo ra sự thành công cho công ty.  Các tàu hơi nước của công ty này cung cấp các phương tiện cho sự truyền thông cá nhân với vùng nội địa; chúng chuyên chở các binh sĩ và chở khách du lịch; chúng vận tải thư từ và hàng hóa đến các phần sâu xa nhất của thuộc địa, và nơi mà sau hết các con sông quá nông để tiếp nhận được các tàu hơi nước có bánh lái sau đuôi với tầm nước nông hai bộ Anh (feet), công việc được đảm nhận bởi các thuyền bản xứ của Công Ty này và các thuyền khác làm việc với Công Ty.  Đoàn tàu được trợ cấp bởi Chính Phủ; các chiếc tàu được trang bị hoàn hảo và cung cấp một khối lượng tiện nghi đáng ngạc nhiên khi cứu xét đến kích thước của một số tàu trong chúng.  Đề tạo sự thuận tiện cho các khách du lịch, Công Ty ấn hành một quyển Hướng Dẫn Khách Du Lịch (Guide des Voyageures) hàng năm chứa đựng các thông tin thiết yếu và gồm cả một biểu đồ bằng màu, chỉ các tuyến đường được chạy bởi các tàu hơi nước.

Khi muốn về Hà Nội, chúng tôi lên tàu từ Hải Phòng vào lức 8 giờ tối, và nhận thấy tàu chật đầy các khách đi.  Nhiều người cẩn thận đặt mua vé các buồng riêng (cabins) trước, và chúng tôi đã có sự lụa chọn hoặc nằm ngủ trên các ghế dài ở phòng khách lớn hay trên sàn tàu.  Chúng tôi ưa thích trên sàn tàu hơn, nhưng một lá thư cá nhân của ông D’Abbadie sau rốt đã dành cho chúng tôi một buồng riêng ở một phần xa cách của chiếc tàu, mặc dù viên ủy nhiệm [commissaire, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], viên chức phụ trách vừa là thuyền trưởng kiêm quản lý tài chính, đã nói với chúng tôi và các hành khách thất vọng khác mà không đỏ mặt, rằng không còn giường ngủ còn trống nào.  Cách xử sự chân thật của ông dưới các tình huống căng thẳng cần phải được  nêu ra để thăng thưởng cho ông ta.

Căn buồng trên tàu tính chúng tôi $3, tất nhiên là nhỏ và rất nóng, nhưng chúng tôi không quan tâm vì chỉ cần qua một đêm.  Sự thản nhiên chịu đựng của chúng tôi đối với bất kỳ sự bất tiện nào mà sau này chúng tôi trải qua có lẽ là nhờ ở kinh nghiệm ban đầu của chúng tôi về cuộc sống khách sạn ở Hải Phòng.  Chúng tôi khá kém may mắn để tới khi thị trấn đầy các viên chức và gia đình của họ đang thay đổi nhiệm sở, và nơi ở duy nhất chúng tôi có thể có được là chỗ nằm trên sàn của phòng ăn riêng của một khách sạn hàng đầu.  Có bảy người khác ở trong cùng hoàn cảnh khốn khổ.  Giới quản lý chắc chắn đã cố gắng tối đa để làm chúng tôi thoải mái, và các con muỗi đã tung hết năng lực của chúng nhằm cắt giảm sự thoải mái đó.  Có bao giờ bạn có kinh nghiệm với muỗi Hải Phòng hay chưa?  Chúng tôi đã từng phải chịu sự tàn phá của “con [muỗi] hổ” [?”tiger” trong ngoặc kép, nhiều phần không phải để chỉ con hổ chính danh, có lẽ là một cách nói thậm xưng chỉ một loại “muỗi” đáng sợ nào khác ở vùng này, chú của người dịch] tại Vịnh Gulf of Tartary, và họ hàng của nó tại Phi Luật Tân, nơi mà có những chỗ các binh sĩ Tây Ban Nha bị bắt buộc phải bao che khuôn mặt của họ trong khi canh gác; cùng với các cuộc tấn công của quân xâm lăng âm thanh của một loại xe hỏa của Nhật vào buổi tối, và loại sinh sản tại vùng Eo Biển [Mã Lai], nhưng các con muỗi anophèles của Hải Phòng là một quái vật khát máu không có đối thủ.  Chúng tôi không ngủ một phút nào xuyên qua các cơn hấp hối im lặng của buổi tối sau cùng đó.  Chúng tôi chùm mình bằng các chiếc chăn màu xám dầy với nỗi nguy ngộp thở trước mắt, nhưng các con ác muỗi Hải Phòng cách nào đó chui qua được hay đã cắn xuyên qua chiếc mền.  Chúng tôi bật đèn sáng và giữ quạt máy điện trên đầu quay tròn, nhưng tiếng kêu vo ve của chúng, cùng với tiếng ngáy giọng trầm phụ họa của một khách bên cạnh, gần như đã nhận chìm tiếng quạt.  Sau cùng, chúng tôi ngồi dậy và đợi cho đến khi trời sáng, mà chỉ với điều ấy mới cứu nguy được.  Rõ ràng chúng vẫn chưa nhiệt tình với lý thuyết muỗi sốt rét tại Bắc Kỳ, bởi tại Hải Phòng và Hà Nội, khắp nơi đều có các ao tù nước đọng để nuôi dưỡng giống muỗi anopheles làm chúng ta run sợ. Bắc Kỳ là một nơi chốn phải cung cấp cho các lý thuyết gia muỗi sốt rét của chúng ta một vùng đất cắm trại huy hoàng, nơi mà mọi người đều có thể bị đốt một cách tự do vì mục đích khảo cứu khoa học.

Chúng tôi có ít muỗi cùng với chúng tôi trên chiếc tàu này, cũng như một ít muỗi trên các chiếc tàu khác, và bất kỳ ủy ban vô tư nào của Hội Chợ Triển Lãm Hà Nội nên dành giải thưởng cao nhất cho các con muỗi anopheles Bắc Kỳ.  Các loại muỗi khác mà chúng tôi đã gặp chỉ vào “hạng đáng khen”.

Chúng tôi không được phép quên không nhắc đến bữa cơm tối tuyệt hảo được cung cấp tại buồng tàu, và trong suốt các cuộc du hành ngắn của chúng tôi trên các tàu hơi nước của Hãng Giao Thông Miền Phùn Sa, chúng tôi nhận thấy các bữa ăn lúc nào cũng ngon miệng.  Thật là điều kỳ điệu để hiểu được làm sao mà trên một số các tàu hơi nước loại nhỏ hơn, chỉ chuyên chở khoảng nửa ta hành khách hạng nhất, chúng lại có thể nấu ăn cho khách trong một cung cách như thế.  Khách thăm viếng không cần lo nghĩ về các bữa ăn của mình tại Bắc Kỳ; người Pháp để ý kỹ lưỡng về vấn đề đó.

Chúng tôi đến Đáp Cầu vào 5 giờ sáng hôm sau, và, sau một ly cà phê, lên bờ và dùng xe hỏa tại trạm ven sông dọc cầu tàu.  Đây là một đường nhánh ngắn từ tuyến đường chính đến Lạng Sơn.  Đáp Cầu nổi tiếng chính yếu về các viên gạch to và ngói mái nhà của Công Ty Các Ông Blazeix (Messrs. Blazeix & Co.).  Trạm hiện nay bao gồm một toa xe cũ trên một đường tàu phụ (đường tàu tránh) được lập để đáp ứng mọi đòi hỏỉ và được trông nom bởi một trưởng trạm người An Nam.

Xe hỏa, được kéo bởi một đầu máy nhỏ có mang két nước thuộc loại chỉ được dùng hiện nay cho tuyến đường Lạng Sơn, bao gồm, vào khoảng một tá toa xe.  Các hành khách có sự lựa chọn để du hành trong bốn hạng, hạng chót là một toa trần không có chỗ ngồi dành cho dân bản xứ là các kẻ không thể đài thọ cho giá vé hạng 3.  Hạng nhất thì thoải mái, và các toa được xây dựng theo họa kiểu có đường hành lang với lối ra ở mỗi đầu toa.  Các toa đều được bọc nệm rất tốt, được trang bị hoàn hảo mọi chỗ và có một phòng vệ sinh.  Chúng được chế tạo tại Pháp và theo một kiểu mẫu của Hoa Kỳ.  Các giá vé xe hỏa rất phải chăng và hành trình từ Đáp Cầu đến Hà Nội, vé hạng nhất, giá $2.50: hành trình kéo dài khoảng 1 giờ 20 phút, xe hỏa chạy với một tốc độ trung bình – khoảng 20 dặm Anh (miles) một giờ, nhưng ngừng lại tại từng trạm.  Dân bản xứ là khách hàng đông đảo của trạm xe hỏa, và họ du hành với giá rất rẻ.

Quang cảnh chúng tôi đi qua làm gợi nhớ lại vùng đất sản xuất lúa gạo bằng phẳng của sông Dương Tử [Trung Hoa].  Hàng dặm các cánh đồng lúa gạo trải dài ở cả hai bên, một biển lúa xanh sinh động, chỉ bị ngắt quãng bởi các bụi cây xanh đậm hơn bao quanh các thôn ấp bản xứ, xuyên qua đó các đầu hồi và mái nhà của các trang trại An Nam nhô lên.  Một con đường bộ chạy song song với tuyến xe hỏa, trên đó đi qua mặt một chiếc xe kéo đôi khi – ngay giờ này một di tích của phương tiện lưu động thời quá khứ; hay một nhóm các dân bản xứ nhiệt tình, với cờ quạt, hương và các lễ vật, thờ phụng ở các ngôi miếu Phật Giáo hoang phế.  Một dẫy nhà có các lỗ châu mai đổ nát [phải là dilapidated, trong nguyên bản tiếng Anh in sai là delapiđate, chú của người dịch], có tính chất công kích trong thiết kế đơn giản, hình vuông, nói lên các cuộc tranh đấu của thời trước kia khi người dân Bắc Kỳ và Quân Cờ Đen kháng cự lại cuộc tiến quân của người Pháp.  Các phụ nữ và thiếu niên đang làm việc cực nhọc tại các cánh đồng lúa khoảng khoát, thường ngập nước với một chiếc gầu đan bằng gai, có một sợi dây thừng tại mỗi đầu, mà họ lần lượt thả xuống ao và kéo lên cánh đồng cao hơn, nghiêng đổ nước trong gầu, trong một chuyển động nhịp nhàng, chỉ ngừng lại để nhìn chằm chằm vào đoàn xe lửa ngang qua.  Khi chúng tôi băng ngang thành cũ của Bắc Ninh, các binh sĩ An Nam chạy ùa ra như một đám học trò huyên náo để nhìn xe hỏa đi qua.  Các cảnh tượng tại các trạm xe hỏa làm gợi nhớ đến quang cảnh tại Nhật Bản.  Có các kiểm soát viên bản xứ oai nghiêm trong đồng phục chỉnh tề thi hành phận sự, các phu khuân vác bản xứ được chỉ huy bởi viên trưởng trạm An Nam đội khăn đóng và mang áo dài.  Đám đông dân làng há hốc mồm,  nhìn trừng trừng khi gặp các hành khách đến nơi và các quầy của các kẻ bán trái cây và thức ăn lưu động.  Trạm thường gồm một tòa nhà khiêm tốn, đơn giản, rộng lớn không có các nhà ở, và, nơi mà các người Âu Châu cư ngụ, với các khu vườn trồng rau trong lành và các loại hoa đẹp đẽ, trục kéo (tời) bằng gỗ trên giếng nước hoàn tất một bức tranh làm gợi nhớ các cảnh trí của các trạm xe lửa nông thôn nơi quê nhà.  Chiếc đồng hồ trạm xe lửa ở đó, với các bảng cáo thị và hộp điện tín, trên đó có dán hàng ngày các tin tức mới nhất từ Âu Châu của hãng tin Havas – miễn phí cho tất cả những ai quan tâm để đọc đến.

Khi gần đến Hà Nội, các đồng lúa đã nhường chỗ cho các vườn trồng rau, kết quả của chúng cung cấp cho các chợ ở Hà Nội.

Hành trình từ Hà Nội đến Đồng Đăng, tại biên cương với Trung Hoa, được mô tả ở một chương khác.

Nếu khách viếng thăm mong muốn nhìn thấy sinh hoạt ngược dòng sông, một chuyến đi rất thú vị có thể được thực hiện cho tới Việt Trì, tại điểm giao nhau của ba con sông, và từ đó đến Chợ Bờ, trên sông Đà (Black River, Sông Đen) hay tới Tuyên Quang, trên sông Lô (Claire River, Sông Nước Trong).  Chúng tôi rời Hà Nội trên một chiếc tàu hơi nước chạy đường sông lúc 11 giờ sáng, trên đường đi tới Tuyên Quang và Chợ Bờ.  Tàu hơi nước thực hiện cuộc hành trình lên Việt Trì là loại lớn và rộng rãi, và được trang bị một cách đáng nể phục.  Lối đi ngược dòng sông Hồng rất thú vị, giang lộ này rất rộng và nông, các bờ sông được chấm họa với các ngôi làng Bắc Kỳ và các cánh đồng lúa.  Thả trôi xuôi dòng là nhiều bè lớn bằng tre với các túp lều bằng gai trên mặt bè trong đó đoàn người chèo bè sinh sống.

Đồn quân sự lịch sử của Sơn Tây được vươn tới vào lúc 3 giờ chiều, nhưng chỉ có ít điều được nhìn thấy từ chiếc tàu hơi nước.  Các nhóm binh sĩ và dân bản xứ tụ tập đông đảo trên bờ sông dốc đứng để chào đón chiếc tàu hơi nước.  Không có bãi đáp và các hành khách phải đi lên bờ bước qua một vài thanh gỗ khó gây được sự an tâm.  Xuôi xuống dòng sông đôi khi là các tượng thú vật thô sơ và được gắn trên các chiếc bè nhỏ, rõ ràng là các phẩm vật dâng cúng bản xứ cho các vị thần dòng sông.

Thị trấn Việt Trì, một trung tâm có một số tầm quan trọng về quân sự, được đến nơi vào lúc 6 giờ chiều.  Có một dân số miền sông bản xứ lớn sinh sống trong các túp lều bằng gai được dựng trên các chiếc bè thả neo ngoài bờ sông.  Khu định cư người ngoại quốc là một địa điểm nhỏ, đẹp mắt, bao gồm một số nhà gỗ một tầng (bungalows), hầu hết được cư ngụ bởi quân đồn trú.  Có một văn phòng của công ty tàu hơi nước, và kế cận nó là một khách sạn nhỏ, cao một tầng, tạo thuận tiện cho du khách, chính yếu là các công chức hay các chủ đồn điền đi ngang qua.  Một làng bản xứ được mọc lên chung quanh khu định cư và gần như mọi căn lều con đều mở một quầy giải khát nhỏ để lôi kéo các lính Pháp.

Việt Trì tọa lạc ở giao điểm của sông Hồng, sông Đà và sông Lô, và sẽ sớm trở thành một trung tâm đường sắt quan trọng, tuyến đường từ Hà Nội lên Lào Kay và Vân Nam đi ngang qua đây.  Một chiếc cầu bằng thép mỹ lệ đang trong tiến trình xây dựng ngang qua sông Lô.

Chúng tôi đã ở lại khách sạn nhỏ bé khiêm tốn tối hôm đó và vào lúc rạng đông lên một chiếc tàu hơi nước nhỏ bé, có bánh lái đàng đuôi để đi Tuyên Quang.  Chiếc tàu được dự trù để chứa bốn du khách hạng nhất, nhưng chúng tôi có tám người, cùng với nửa tá hạ sĩ quan [sous- officiers, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], và khoảng ba mươi lính bộ binh An Nam.  Được buộc chặt dọc theo chiếc tàu hơi nước là một thuyền bản xứ hẹp, dài, đầy chật các hành khách bản xứ và hành lý của họ.

Du hành trên sông Lô trên tàu có bánh lái sau đuôi không phải là không có điều đáng để ý và khoái chí.  Phong cảnh rất quyến rũ và khi chiếc tàu càng ngược dòng xa hơn, cảnh trí càng trở nên nguyên sơ và xinh đẹp.  Các ngọn đồi mênh mông nằm dọc hai bên bờ sông và tán lá phần lớn thuộc cây vùng nhiệt đới che phủ rậm rạp.  Đôi khi các ghềng nhỏ được băng ngang và chiếc tàu hơi nước chỉ cách các tảng đá sắc nhọn kinh khiếp có vài phân Anh (inches), thùy thủ đoàn trực sẵn với các chiếc sào để chống đỡ trong trượng hợp cần thiết.

Sông Lô thì rộng nhưng rất nông, và cứ mỗi vài phút, tiếng còi được thổi bởi một viên thuyền trưởng bản xứ và hai nhân viên đoàn lái thuyền cầm lấy các sào tre, trên đó có các số đo lường được đánh dấu, và, ở các tư thế lom khom, họ thăm dò và đọc lên chiều sâu.  Đột nhiên, có một tiếng động cọt kẹt vang lên và chiếc tàu hơi nước mắc cạn trên một nền cát.  Máy tàu được trả ngược số, thường không có hiệu quả, và thủy thủ đoàn cố gắng dùng sào đẩy.  Nếu không thành công với nỗ lực này, họ xuống một chiếc thuyền tam bản (sampan) và đẩy ra xa một khỏang cách và rồi thả neo; họ trở lại và khởi động trục kéo (máy tời) để kéo về hướng neo, hy vọng nhờ thế kéo được chiếc tàu hơi nước ra [khỏi chỗ mắc cạn].  Thường nỗ lực này chứng tỏ thành công nhưng không phải luôn luôn, và trong nhiều dịp, họ đã lội xuống nước và cố gắng để bẫy mũi tàu lên, hay đẩy nó vào chỗ nước sâu hơn bằng đôi vai của họ.  Thoạt tiên, động tác này thì thú vị và đáng để y nhưng sau sự lập lại nó dần trở nên nhàm chán, và, trong cái nóng của ban ngày không có gió, thật khó chịu.  Một ngày chúng tôi đã mắc cạn tám lần, các khoảng nghỉ ngơi dài nhất của chúng tôi là ba đến năm tiếng đồng hồ, và chiếc tàu hơi nước đã chỉ nổi lên tại vùng nước sâu hơn bằng việc di chuyển các hành khách và hành lý sang chiếc thuyền bản xứ bên hông và quấy cát rời bằng bánh lái.  Đúng ra, Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa phải trả một khoản tiền thuê đất cho một số con sông nội địa, bởi sự chiếm ngụ đáy sông của họ thì thường xuyên và kéo dài.

Hậu quả là hành trình đôi khi kéo dài bởi vài ngày, nhưng việc này rõ ràng không tạo ra sự khác biệt trong giá biểu và các bữa ăn được cung cấp mà không phải trả phí tổn phụ trội: một sự sắp xếp rất tử tế và công bằng.

Đúng là một biến cố có tầm quan trọng đối với các cư dân của các trạm nội địa khi có tiếng rít lên của còi tàu báo hiệu sự cập bến của tàu hơi nước với các hành khách và thư tín.   Toàn thể dân chúng – người Pháp và dân bản xứ — ùa ra từng toán [en bloc, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] và xếp hàng dọc bờ sông.  Đây là trường hợp đặc biệt tại Phủ Doàn.  Chúng tôi đã ngừng ở đó cả đêm, các hành khách không lên bờ ngủ trên sàn tàu.

Gần Hoa-Muc [?Hoa Moc] chúng tôi đã được chỉ cho thấy một tượng đài kỷ niệm được dựng lên cho 800 người Pháp được nói là đã bị hạ sát trong một cuộc phục kích, khi bị bao vây bởi 30,000 người Bắc Kỳ và Trung Hoa.  Chúng tôi đã được nghe nhiều truyện kể về quang cảnh trận đánh nổi tiếng trong các niên sử Bắc Kỳ, nhưng con số dự trận và bị giết phần nào khác biệt trong các tài liệu cung ứng.  Một số người luôn luôn thoát được các trận đánh đẫm máu này để thuật lại câu chuyện, và các tài liệu đã trở nên thần thánh hóa và phóng đại xuyên qua thời gian và sự biến hóa trong chi tiết.

Sự việc này làm nhớ đến câu chuyện về các kẻ buôn lâu trong quyển Le Lac de Gers của Topffer.  Mười tám người trong họ mang thuốc súng trong các túi xách, đi bộ theo hàng một (Indian file), và kẻ đi sau chót, dần tin rằng khối hàng của anh mang nhẹ đi, đã bỏ túi xuống và tìm thấy một lỗ hổng.  Anh ta nhìn thấy vệt thuốc súng làm lộ tẩy trên lối đi, và, lo sợ rằng nó tiết lộ bí mật của họ cho các viên chức Quan Thuế, anh ta kêu gọi ngừng lại, và truy tìm ngược lại bước đi của mình trong khoảng vài dặm đường cho đến khi anh ta hết cả thuốc súng.   Anh ta đã ngừng lại ở đây để lau mồ hôi trên trán, và, chụp lấy một ý tưởng sáng chói, đốt một que diêm vào thuốc súng với ý định mau chóng phá hủy vết tích.  Điều này hẳn sẽ là một mưu kế tuyệt hảo nếu không có các đồng chí của anh ta ở cuối vệt kia, đang chờ đợi anh ta quay trở lại, với mười bẩy bao thuốc súng.  Kết quả là một tiếng nổ vang dội trong đó mười bẩy kẻ đã biến mất, trừ anh ta trốn thoát – để kể lại câu chuyện.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa như một sự coi nhẹ nhiều chiến công sáng chói của vũ khí của Pháp tại Bắc Kỳ trong suốt cuộc chinh phục của họ trên vùng đất này, các tài liệu về chúng mới được công bố hồi gần đây dưới hình thức quyển sách.

Cuộc phòng thủ anh hùng tại Tuyên Quang được xếp hạng như một trong những thành tích quân sự Pháp hiện đại tốt đẹp nhất.

Chúng tôi đi ngang qua một hẻm núi sâu, nơi lối vào nổi bật lên từ trên cao là một tòa nhà gỗ một tầng ngoạn mục.  Ngôi nhà này được đặt tên theo một Trung Úy Diah nào đó, kẻ, trong những ngày chiến đấu, tại một đồn gần cận, nơi mà một bộ phận nhỏ linh Pháp bị bao vây bởi 40,000 kẻ ngu dốt la hét, như một người với các thói quen thường lệ, thường đến thăm viếng một địa điểm trên một thềm đất cao mỗi chiều tối.  Nơi đây anh ta sẽ uống chậm rãi ly rượu ngọt buổi tối của mình, và bắn súng trong khi nhâm nhi các hớp rượu vào các quân Trung Hoa bao vây.  Vì là một tay thiện xạ, các đốí thủ của anh ta đã không tán thưởng sự tận tụy thường xuyên của anh ta, và một buổi tối, họ canh chừng cho tới khi họ nhìn thấy khói súng đến từ cùng một địa điểm và khi đó họ tiến gần đến tầm bắn, với kết quả rằng khi anh ta nhô lên để nhìn những gì anh ta hạ thủ được, họ đã gửi cho anh một tràng súng.  Anh ta bị sát hại và các đồng hương của anh đã tưởng nhớ anh vĩnh viễn bằng căn nhà thực tế này.

Để ngăn chặn sự buồn chán, chúng tôi được chỉ cho thấycác tảng đá mà một tàu hơi nước trước đây đã va vào và chìm xuống cách xa bờ vài thước Anh (yards) nơi dòng nước sâu chín mươi bộ Anh (feet).  Nhiều cư dân Pháp với vợ của họ đã bị chết đắm cùng với nhiều dân bản xứ; cả với số tiền $80,000 chưa hề được thu hồi.  Một bãi cát khác đánh dấu một địa điểm nơi mà một chiếc tàu vũ trang táp vào bờ và bị chìm đắm.  Các kẻ thực dân bị hớp hồn với các câu chuyện về nỗi nguy hiểm tại các vùng đất này, và, chúng tôi không bao giờ tra hỏi họ; mặc dù chúng ta giữ lại sự phán đoán của mình.

Lối vào Tuyên Quang trong thực tế thật khích động, bởi có nhiều ghềnh thác và các tàu hơi nước nhỏ hơn không ngần ngại để tự xoay vòng tròn theo bán kính của chính nó, làm thót mình kinh sợ vì sự sát cận với các tảng đá.  Nhưng các tàu này được lái một cách an toàn, nhờ ở kỹ năng tuyệt vời của vị thuyền trưởng bản xứ, và chúng tôi thả neo dọc trạm hẻo lánh này, dưới bóng che của một rặng núi hùng vĩ.  Từ đây du khách có thể thăm viếng A-yang [?] tại biên giới Trung Hoa, bằng lối đi theo một dịch vụ bằng thuyền bản xứ, được làm chủ bởi ông Audran.  Hành trình hẳn phải là khích động khi đi qua 45 ghềnh thác và cần đến hai mươi hai ngày để ngược dòng, nhưng chỉ cần hai ngày để xuôi dòng.

Trên bờ đối diện phía trên Tuyên Quang, trên đỉnh một ngọn đồi cao có thể được mô tả là một đồn của Pháp.  Bản thân khu định cư là một tòa thành cổ (các tường thành và cổng ra vào được bảo vệ bởi các súng máy) và một vuờn hoa công cộng nhỏ, với bục hòa nhạc.  Có nhiều nhà ở của người ngoại quốc, một nữ tu viện, các cửa hiệu và nhà ở bản xứ, và một ngôi chợ nhỏ.  Một toán biệt phái của Đoàn Lính Lê Dương Ngoại Quốc Đánh Thuê nổi tiếng, với pháo binh và các binh sĩ bản xứ, đã đồn trú nơi đây.  Việc trồng trọt thành công và được thực hiện trên khắp quận hạt này.

Khi trở về Việt Trì, cùng chiếc tàu hơi nước rời đi Chợ Bờ, trên sông Đà, nơi mà phong cảnh còn đẹp đẽ hơn nữa.  Các chuyến đi khác có thể được thực hiện – một đến Lào Kay bằng thuyền bản xứ, thuộc Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa, dòng nước quá nông trong hầu hết cả năm để cho phép một tàu hơi nước có thể ngược dòng.  Trong vòng vài năm, các đường xe hỏa khác nhau sẽ nối liền các địa điểm nội địa đáng chú ý và quan trọng này với thủ đô, khi mà các hành trình, nếu có kém thú vị đi, sẽ lại được thực hiện một cách nhanh chóng hơn nhiều.

 

Chuyến đi hấp dẫn nhất và thoải mái nhất là cuộc thăm viếng Vịnh Hạ Long tại Hòn Gay, một trong những địa điểm quyến rũ nhất tại vùng Viễn Đông.  Huế và Đà Nẵng (Tourane), trên bờ biển Trung Kỳ, cũng có thể được thăm viếng bởi các tàu hơi nước của cùng công Ty.  Chúng tôi hụt mất chiếc tàu hơi nước nối chuyến, tại Việt Trì và đã di chuyển xuôi sông Hồng về Hà Nội, trên một chiếc thuyền tam bản nhỏ, rời Việt Trì lúc 2 giờ sáng và về tới Hà Nội vào 4:30 chiều cùng ngày.  Bởi chuyến đi thì dài, cần phải mang lại cho người chèo thuyền của chúng tôi một chất kích thích đôi lúc, và anh ta sẵn sàng nhất để uống bia, mặc dù anh ta không hoàn toàn vô tư.  Không được tắm gội hay thay quần áo trong một tuần, chúng tôi hài lòng để tiến vào một lần nữa các cánh cửa hiếu khách của Khách Sạn Métropole./-

—–

NguồnAlfred CunninghamThe French In Tonkin And South China, Second Edition – Revised, Hongkong: Printed At The Office of The “Hongkong Daily Press” & London: Sampson Low, Marston & Cọ, St. Dunstan’s House, Fetter Lane, các Chương: Hải Phòng, từ trang 46-62, và Hà Nội, từ trang 63-89, Dh Hành Lên Mạn Ngược, các trang 164-188.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thiết Phủ Đồ, một đơn vị thiết kỵ của Kim quốc

Thiết Phủ Đồ, một đơn vị thiết kỵ của Kim quốc

Họ là một đơn vị huyền thoại, những kị binh được trang bị khôi giáp nặng nề nhất trong lịch sử Trung Hoa. Được biết dưới cái tên “Thiết Phù Đồ” (铁浮屠), đây là một công cụ đắc lực của Kim quốc, tham gia hàng chục trận chiến quan trọng, góp phần tạo dựng nên những võ công vang dội của người Nữ Chân khắp vùng phía Bắc Trung Quốc trong thế kỉ 12.

Nguồn gốc

Kết quả hình ảnh cho Aguda jin

Hoàn Nhan A Cốt Đả

Nhà Kim là một vương quốc của người Nữ Chân, được hình thành trên địa bàn tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang hiện nay (Đông Bắc Trung Quốc). A Cốt Đả (Aguda) thủ lĩnh của bộ tộc Hoàn Nhan là người có công kiến quốc. Theo truyền thuyết, tên của vương quốc “Kim” (vàng) bắt nguồn từ tên dòng sông nơi bộ tộc của A Cốt Đả sinh sống (sông Anchuhu trong tiếng Nữ Chân có nghĩa là vàng). Cũng có thể tên này được đặt để đối kháng lại với vương quốc thù địch với họ, nhà Liêu, như A Cốt Đả khi lên ngôi đã nói: “Liêu lấy sắt tinh luyện làm hiệu, nhằm thể hiện sự vững mạnh. Sắt tinh luyện tuy cứng song cuối cùng cũng bị “biến hoại”, chỉ có ‘kim’ là “bất biến bất hoại”. Liêu là một quốc gia của người Khiết Đan, kẻ thù đầu tiên của nước Kim, có vị trí tại vùng phía Bắc, Đông Bắc Trung Hoa và Mông Cổ hiện đại.

Jurchen warrior standing, carrying a bow

Một chiến binh Nữ Chân (chữ trên góc phải: Nữ Chân Quốc)

Vào mùa xuân năm 1114, A Cốt Đả đã thống nhất được các bộ lạc Nữ Chân, lúc này đang bị người Khiết Đan (nhà Liêu) nô dịch. Ông đã phát động một cuộc chiến chống Liêu. Năm 1115, ông lên ngôi Hoàng đế, thành lập nhà Kim, bắt đầu xuất binh chinh phạt Liêu.

Năm 1121, người Nữ Chân đồng ý tham gia liên minh trên biển (Hải thượng chi minh) với nhà Tống để cùng nhau diệt Liêu. Trong khi quân Tống thua trận, quân Kim giành được hết chiến thắng này đến chiến thắng khác và buộc tàn quân Liêu phải chạy sang phía Tây. Trong những trận chiến với Liêu, chiến thắng của quân Kim đến từ việc triển khai một cách khéo léo những đội thiết kị thiện chiến của họ.

Tập tin:金滅遼與北宋形勢圖.png

Kim diệt Liêu cùng Bắc Tống hình thế đồ (quá trình diệt Liêu và đánh Bắc Tống của nhà Kim) (Ngũ kinh của nhà Liêu: 東京遼陽府: Đông Kinh Liêu Dương phủ, 上京臨潢府: Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, 中京大定府: Trung Kinh Đại Định phủ, 西京大同府: Tây Kinh Đại Đồng phủ, 南京析津府: Nam Kinh Tích Tân phủ) 

Năm 1125, sau cái chết của A Cốt Đả, nhà Kim đã phá vỡ liên minh với nhà Tống và bắt đầu Nam tiến. Khi giao chiến với quân Tống, họ đã gặp khó khăn khi đụng phải những khối bộ binh vững chắc với hỏa khí. Tứ hoàng tử Ngột Truật đã tập hợp những kị sĩ giỏi và giàu kinh nghiệm nhất thành một đội quân, gọi là “Thiết Phủ Đồ”.

Sự hưng khởi của nước Kim là một kì tích. Dưới sự lãnh đạo của A Cốt Đả và những võ công của Hoàng tử Ngột Truật, xuất phát từ những vùng đồng cỏ khô cằn quanh sông Anchuhu, họ chỉ mất 10 năm để chinh phạt toàn bộ nước Liêu và mất hơn 5 năm để tràn ngập miền Bắc Trung Quốc, tấn công kinh thành và bắt hai vua Tống làm tù binh. Từ những người lang thang, trong vòng chưa đến 20 năm, họ đã tạo dựng được một vương quốc rộng lớn hơn cả đế quốc Frankish của Charlemagne hay nước Pháp đệ nhất dưới thời Napoleon.

Tập tin:南宋疆域图(繁).png

Nước Kim năm 1142 (金: Kim, 宋: Tống,  西夏: Tây Hạ, 西遼: Tây Liêu, 大理: Đại Lý)

Lực lượng tiên phong

Ngột Truật muốn sử dụng đội kị binh này như một đơn vị tiên phong, luôn đi đầu trong các trận chiến, tạo ra những cơn shock cho quân địch bằng những cuộc càn quét (charge) khủng khiếp hay xuống ngựa chiến đấu như những người bộ binh nặng.

Phong cách chiến đấu của đơn vị này có thể đã chịu ảnh hưởng từ những kị binh “Thiết Dao Tử” (鐵 鷂子) của đế quốc Tây Hạ. Về “Thiết Dao Tử”, trong Tống sử có miêu tả về đơn vị này như sau: “những kị sĩ có thể di chuyển hàng trăm đến hàng nghìn dặm một ngày trên mình ngựa, họ là những kị sĩ xuất sắc, tấn công mạnh mẽ như sấm sét, di chuyển linh hoạt như mây bay. Khi gặp quân địch, họ tấn công phủ đầu bằng những đợt charge mạnh mẽ và bất ngờ”.  Những kị binh này là một đội quân tinh nhuệ của hoàng gia Tây Hạ, họ tham gia rất nhiều chiến dịch. Chỉ được bọc giáp ở mức độ trung bình, ưu thế của họ đến từ độ dẻo dai và nhanh nhẹn. Những cây thương cũng có thể gắn chặt lên mình ngựa để phòng trường hợp người kị sĩ hi sinh, con ngựa vẫn có thể tự hoàn thành nhiệm vụ.

Thiết Phủ Đồ

Khác với “Thiết Dao Tử”, “Thiết Phủ Đồ” là những kị sĩ được trang bị những bộ giáp nặng nhất ở vùng Viễn Đông. Chúng ta sẽ khảo sát nhân lực, trang thiết bị và phong cách của đơn vị này một cách chi tiết ở bên dưới.

Nhân lực

Khoảng ba triệu người, một nửa trong số đó là người Nữ Chân đã tiến xuống miền Bắc Trung Quốc trong hơn hai thập kỉ. Số người Nữ Chân này đã thiết lập được sự cai trị lên 30 triệu người Hán bản địa. Sau khi chiếm được miền Bắc Trung Quốc, nhà Kim bị Hán hóa, họ nhanh chóng tiếp thu rất nhiều nét văn hóa Trung Quốc như trang phục, bộ máy quan liêu, Nho giáo. Nhiều người Nữ Chân kết hôn với phụ nữ người Hán, hoặc nô dịch họ làm thê thiếp, nô tỳ. Các quý tộc Nữ Chân rất hứng thú với việc nghiên cứu kinh điển Trung Hoa và làm thơ kiểu Hán. Nhưng họ vẫn giữ vị trí độc tôn của những quý tộc Nữ Chân trong chính quyền.

Theo “金虏图经” (Kim lỗ đồ kinh – ghi chép của một tù binh Kim) “金兀术自将牙兵三千策应,皆重铠全装,虏号铁浮屠,又号叉千户,这叉千户便是指侍卫亲军” (Kim Ngột Truật đích thân đem ba ngàn nha binh đến tiếp ứng, tất cả nha binh toàn thân bọc giáp, giặc gọi là Thiết Phủ Đồ, cũng gọi là Xoa Thiên Hộ, cái tên Xoa Thiên Hộ này là để chỉ thân quân thị vệ)

Nhìn chung chính quyền và quân đội hoàn toàn do người Nữ Chân nắm giữ. Theo những ghi chép của Uông Nhược Hải (汪若海), một người làm việc trong triều Tống đã quan sát được những cuộc chiến giữa Kim và Tống thì Thiết Phủ Đồ là một đơn vị dành riêng cho con trai của các gia đình quý tộc Nữ Chân danh giá. Lòng trung thành của họ được đảm bảo một cách vững chắc. Các vị trí trong quân đội của người Nữ Chân được thế tập từ đời này sang đời khác và họ còn được ban phát đất đai. Những gia đình Nữ Chân được tổ chức theo chế độ Mãnh An Mưu Khắc, 100 hộ hợp lại thành 1 Mưu Khắc, 10 Mưu Khắc thành 1 Mãnh An.

Kị binh là lực lượng chuyên nghiệp duy nhất trong quân đội nước Kim. Họ được trả lương, trang thiết bị được nhà nước chu cấp. Trong khi đó, kị binh của người Hán đa phần là những đơn vị được trưng tập.

Trang bị

Các Thiết Phủ Đồ được bọc giáp toàn thân, chỉ để lộ hai mắt và bàn tay, gần giống với các kĩ binh Ba Tư thế kỉ 4-7. Một số sử gia dùng thuật ngữ “cataphracts” hay “clibanarii” (với Hi-La) để chỉ những kị binh được bọc giáp kín người như vậy. Những con ngựa  cũng được bọc giáp. Họ sử dụng giáp lamellar và giáp bông dày. Một kị sĩ sẽ được cấp cho hai con ngựa để đảm bảo được độ cơ động và khả năng tác chiến trong mọi tình huống.

Vũ khí của họ cũng rất đa dạng. Ngoài một cây thương, họ thường có một chiếc chùy nhỏ, cung tên và đao. Để thực hiện được những nhiệm vụ khác tùy yêu cầu của tình hình thực tế, họ được trang bị cả thang dây, xẻng và rìu.

Họ thường được triển khai với số lượng lớn, 3000-6000 người mỗi lần ra quân. Những kị sĩ ở châu Âu thời trung đại còn xa mới đạt đến con số này, những đợt tấn công của họ trở nên chết chóc hơn bao giờ hết.

Quy mô quân đội của các quốc gia phương Đông vượt xa châu Âu rất nhiều. Lưu ý rằng đây chỉ là đơn vị tiên phong của một đoàn quân khổng lồ được hỗ trợ bởi 15.000 kị binh khác các loại và 40-80.000 bộ binh được trang bị tốt. Quân số của nước Kim đã có thể đạt đến con số nửa triệu người, vẫn còn rất khiêm tốn nếu so với nhà Hán hay nhà Đường.

Chức năng

“Thiết Phủ Đồ” được sử dụng như một mũi dùi tiên phong lao thẳng vào đội hình quân địch. Triệu Ngạn Vệ, một người Tống đã ghi chép lại về chiến thuật của họ: “Những kị sĩ xếp thành hình tam giác hướng về phía trước, họ lao về phía kẻ thù nhanh hết mức có thể rồi sau đó tỏa ra, chạy quanh bao vây quân địch, chờ cơ hội để tấn công thêm lần nữa, nếu tình hình yêu cầu, họ có thể xuống ngựa chiến đấu như những người lính bộ binh”

Kết quả hình ảnh cho cavalry formation

Trong một số ghi chép khác, quân Kim cũng sử dụng Quải Tử Mã (拐子马), ba kị sĩ sẽ được liên kết với nhau bằng một sợi dây da, tàn sát bất kì tên bộ binh xấu số nào bị kẹt ở giữa.

comic1

Có nhiều tranh cãi xung quanh từ này, có ý kiến cho rằng “Quải tử mã” là một đơn vị riêng, tách biệt với “Thiết Phủ Đồ”. Có ý kiến lại cho rằng “Quải tử mã” thật ra là lực lượng 10.000 kỵ binh chạy ở hai cánh trợ chiến cho những đợt tấn công của  “Thiết Phủ Đồ”.

Hai cánh “B” sẽ là những lực lượng kị binh trợ chiến cho lực lượng chính “C” tấn công vào đối phương “A”

“Thiết Phủ đồ” còn có thể xuống ngựa chiến đấu như một đơn vị bộ binh nặng. Trong trận chiến tại Tiên Nhân Quan, họ đã xuống ngựa và tiến lên theo đội hình của bộ binh. Điều này được thể hiện trong bộ trang bị của họ, trong đó có nhiều vũ khí được trang bị cho bộ binh như trường đao dùng để phá giáp.

Để chống lại những đội kị binh thiện chiến quân Kim, quân Tống cũng đã phát triển những chiến thuật của riêng mình với những khối bộ binh vững chắc được trang bị nỏ, hỏa khí và các loại kích (Halberd).

Nội dung được chuyển ngữ từ bài viết trên: http://dragonsarmory.blogspot.com/2017/02/medieval-chinese-cataphracts-1-iron.html (riêng về phần hình ảnh người chuyển ngữ biên tập lại để minh họa cho bài viết)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (1)

https://litalila1411.wordpress.com/2017/05/18/late-imperial-chinese-army-1/

GIỚI THIỆU

Đây là tập cuối cùng trong bộ năm tập phác thảo lịch sử quân sự Trung Quốc. Do công chúng ở các quốc gia phương Tây không được tiếp nhận mảng lịch sử này nên họ cho rằng do những tác động của một nền văn hóa phi quân sự nên nghệ thuật chiến tranh ở Trung Quốc không thay đổi trong thời gian dài. Những thể hiện yếu kém của quân đội Trung Quốc trong chiến tranh Nha Phiến là điều hoàn toàn bình thường và không thể cải thiện được. Hi vọng rằng loạt bài này sẽ xua tan đi những huyền thoại đó, thúc đẩy một số nhận thức khác về lịch sử, thú vị hơn và cũng đẫm máu như ở châu Âu.

Tập này được giới hạn trong khoảng thời gian từ khi những người châu Âu đầu tiên xuất hiện cho đến khi bắt đầu chuỗi “các hiệp ước bất bình đẳng” từ năm 1840. Trong thời trung đại, Trung Quốc đã dẫn đầu trong công nghệ quân sự, là những người đầu tiên phát triển Pháo và tàu biển mà sau này người phương Tây đã sử dụng chính chúng để chống lại họ. Sau thế kỉ 15, những tiến bộ này không được duy trì và Trung Quốc rời vào trạng thái trì trệ. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn còn đang được tranh luận nhưng chúng ta có thể xác định một số yếu tố chính: những học giả không quan tâm đến vấn đề quân sự; những chính sách cấm đoán của nhà nước do lo ngại các thế lực chống đối; và có lẽ trên hết là do thiếu những đối thủ cạnh tranh có sức mạnh tương đương cùng với những ảo tưởng về vị trí hàng đầu của Trung Quốc. Bất kể vì lý do gì, từ thế kỉ 16 châu Âu đã bắt đầu vượt Trung Quốc về mặt vũ khí và sau đó là bỏ xa họ vào giữa thế kỉ 19.

Quy mô khổng lồ của đế quốc, sự tự mãn về văn hóa và tính phức tạp của chính trị đã ngăn cản sự phát triển của khoa học kĩ thuật quân sự rồi dẫn đến một hậu quả thảm khốc như nhiều xã hội khác. Trung Quốc bị chinh phục bởi một số ít người nước ngoài như trường hợp của Aztec và Incas nhưng trên thực tế, vào cuối thể kỉ 18, thời kỳ phát triển của hệ thống thuộc địa, Trung Quốc vẫn ở trên vị thể của người chiến trắng. Nhà Thanh của người Mãn Châu đã lật đổ nhà Minh vào năm 1640, trở thành một đế quốc lớn nhất là đông dân nhất thế giới với các lãnh thổ được mở rộng ra rất nhiều sau đó.

Dưới sự cai trị của nhà Thanh, lãnh thổ Trung Quốc đã được mở rộng hết mức có thể, gần với các ranh giới hiện tại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Mông Cổ và phía Bắc Mãn Châu. Họ đã chinh phục được những người du mục Trung Á, mối đe dọa chính đối với nền văn minh Trung Hoa suốt hai thiên niên kỉ. Giai đoạn này cũng chứng kiến việc hoàn thiện Vạn lý trường thành ở phía bắc, can thiệp vào cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên, sự tranh giành quyền lực giữa nhà Minh và nhà Thanh, những chuyến thám hiểm đến Siberia, Kazakhstan và Nepal.

Sự tiếp xúc không thể tránh khỏi với phương Tây trong thời kì này đã mang đến những quan điểm mới về hệ thống quân sự của họ. Ngoài con mắt của người Trung Quốc, chúng ta còn có thể khai thác góc nhìn của người bên ngoài về hệ thống quân sự Trung Quốc thời kì này. Từ những ghi chép của de Rade vào những năm 1570 và của Huc những năm 1840 không thể nào không bị ảnh hưởng bởi những điểm tương đồng, người Trung Quốc hiện lên một cách hèn nhát, rời rạc, bị buộc phải chiến đấu như một đám đông vô tổ chức chỉ biết la hét một cách vô ích, thích bày vẽ hơn là quan tâm đến hiệu quả.

Tái hiện một cách chân thực những thành tựu quân sự của nhà Minh và nhà Thanh là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên chúng tôi đã được trợ giúp bởi những nguồn cung cấp thông tin phong phú từ Trung Quốc. Chính sử, sử địa phương cũng như các hồi ký, báo cáo có chứa một lượng dữ liệu rất lớn về quân sự mặc dù chỉ có rất ít được dịch. Ngoài quyển bách khoa toàn thư về quân đội đương đại nổi tiếng nhất là Võ Bị Chí (武備志) được Mao Nguyên Nghi (茅元仪)viết vào năm 1621 không thể thiếu là một số lượng lớn những tác phẩm nghệ thuật, vũ khí, áo giáp còn lại được tìm thấy trong các viện bảo tàng ở Anh.

NIÊN BIỂU

1517 Mông Cổ bại trận tại Ying-chou. Đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Trung Quốc.

1525 Phá hủy hạm đội để cô lập Trung Quốc khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài.

c.1540 Bắt đầu xây dựng hệ thống Vạn lý trường thành hiện đại.

c.1540-c.1565 Thời kì hoàng kim của hải tặc Oa Khấu tại Đông Nam Trung Hoa.

1550 Yên Đáp Hãn (Altan Khan) tấn công Bắc Kinh.

1567 Dỡ bỏ lệnh cấm hải thương.

c.1583 Sự trỗi dậy của Nỗ Nhi Cáp Xích (Nurhachi), những bước khởi đầu của nhà nước Mãn Chu.

1593-98 Chiến tranh với Nhật Bản tại Triều Tiên.

1618-19 Chiến dịch chống Mãn Châu của nhà Minh thất bại.

1626 Nhà Minh đánh bại Mãn Châu tại Ninh Viễn, Nô Nhi Cáp Xích tử trận.

1636 Nhà Thanh thành lập.

1644 Vị vua cuối cùng của nhà Minh tự sát. Nhà Thuận của Lý Tự Thành tồn tại trong thời gian ngắn. Mãn Châu chiếm Bắc Kinh.

1661-1722 Thời đại của hoàng đế Khang Hi.

1664 Mãn Châu chiếm Phúc Kiến. Nhà Thanh kiểm soát hoàn toàn nội địa Trung Quốc.

1673-81 Loạn Tam Phiên.

1683 Thế lực thân Minh ở Đài loan sụp đổ.

1689 Hòa ước Nerchinsk điều chỉnh đường biên Trung – Nga.

1696 Đánh bại Cát Nhĩ Đan (Galdan Khan). Đông Mông Cổ sáp nhập vào nhà Thanh.

1720 Tây Tạng trở thành chư hầu của nhà Thanh.

1736-96 Thời đại của hoàng đế Càn Long.

1757 Quyết định hạn chế ngoại thương.

1757-59 Đánh bại Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ (Jungar Mongols) và đồng minh Hồi giáo của họ.

1792 Đánh bại Nepal.

1793 Đại sứ quán Anh dưới quyền của Macartney ở Bắc Kinh.

1817-27 Người Hồi giáo thánh chiến tại lòng chảo Tarim,

1839 Thất bại trong chiến tranh Nha phiến lần 1 với người Anh.

1842 Hòa ước Nam Kinh mở cửa nhiều cảng biểu của Trung Quốc. Người Anh chiếm Hồng Kông.

CUỐI THỜI MINH (1517-1598)

Mặc dù nhà Minh đã trục xuất người Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc vào năm 1368 nhưng vào thế kỉ 16, mối đe dọa chính lại tiếp tục đến từ các con cháu người Mông Cổ ở biên giới phía Bắc. Những bộ tộc Mông Cổ liên tục liên minh với nhau dưới dự lãnh đạo của những thủ lĩnh tự nhận mình là hậu nhân của Thành Cát Tư Hãn. Hoàng đế Chính Đức (1506-1521) đã bị các sử gia trung đại phê phán nặng nề vì ông không quan tâm đến võ bị và không xứng đáng là một nhà lãnh đạo. Ông đã đạt được một số thành công trong cuộc chiến chống lại Mông Cổ nhưng dưới sự cai trị của người kế nhiệm ông, Gia Tĩnh (1522-67), những thành quả thu được đã nhanh chóng bị mất đi. Vị vua mới đã chủ trì những cuộc tranh chấp bất tận trong triều đình, ngăn cản việc phát triển chính sách quân sự một cách nhất quán nhưng ông lại chống Mông Cổ một cách cuồng tín, ngăn chặn tất cả nỗ lực hòa bình, trừng phạt bất kì viên quan nào có ý định đàm phán.

Ming_cavalrymen (1) 2

(Kị binh quân Minh)

Một trong những điển hình trong phong cách của ông là một sắc lệnh cho nhân vật “i”, ‘đề cập đến “lũ mọi rợ” miền Bắc nên luôn luôn được viết càng nhỏ càng tốt’. Tất nhiên những biện pháp này không ngăn cản được người Mông Cổ. Văo năm 1540, thủ lĩnh của Vệ Lạp Đặc (Tây Mông Cổ) Yêm Đáp Hãn đã hợp nhất với những người Mông Cổ phía Đông và đặt nền móng cho một nhà nước: xây dựng các thành phố, thúc đấy nông nghiệp phát triển, thu hút những người Trung Quốc đến phục vụ ông. Ông đề nghị buôn bán với nhà Minh nhưng bị từ chối. Thậm chí nhà Minh còn lên kế hoạch tấn công ông, kế hoạch mạo hiểm này cuối cùng đã bị hủy bỏ vì những khó khăn về tài chính của chính phủ. Năm 1548, Yêm Đáp hãn đã tấn công nhà Minh, chiếm đóng và phá bỏ những bức tường tại Hsuan-fu. Hai năm sau, ông lại dẫn quân vượt qua Vạn lý trường thành và bao vây Bắc Kinh. Mặc dù người Mông Cổ đã rút lui nhưng sự kiện nhục nhã này đã làm nổi lên sự bất lực của quân Minh, bên cạnh đó đã tạo động lực thúc đẩy việc hoàn thiện Vạn lý trường thành. Phải đến tận năm 1571, sau khi Gia Tĩnh qua đời, người Mông Cổ mới được buôn bán với nhà Minh trong hòa bình. Biên giới được bình ổn trong 20 năm sau đó.

Sự thiếu quyết đoán trong cách cai trị của Gia Tĩnh cũng được thể hiện ở các mặt trận khác. Năm 1513, Hami, một tiền đồn trên con đường tơ lụa dưới sự kiểm soát của nhà Minh đã bị chiếm đóng bởi Hồi vương của Turfan, một trong số những nhà cai trị độc lập, người đã thành công trong việc cai trị Timurid và Hãn quốc Sát Hợp Đài tại lòng chảo Tarim. Người Trung Quốc đã trả đũa lại bằng việc thuê một số đạo quân Mông Cổ đến chiếm lại Hami nhưng đáng tiếc đã thất bại. Năm 1528, thành phố bị xóa sổ, khả năng nắm bắt thông tin yếu kém của nhà Minh đã tạo cơ hội cho một cuộc đột kích từ Turfan vào phía Tây Bắc Trung Quốc và những người Hồi giáo đã nổi dậy trong đế quốc. Năm 1537, một kế hoạch tấn công vào Việt Nam với lý do Việt Nam ngừng triều cống đã được lập ra nhưng sau ba năm ngần ngại, vị hoàng đế đã từ bỏ ý định. Tiếp đó, người Việt Nam và Miến Điện đã tấn công lên vùng phía Nam của Vân Nam và Quảng Tây.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

(Quân Minh với hỏa khí)

Một vấn đề nghiêm trọng khác xuất hiện trong năm 1540, những tên cướp biển tại bờ biển phía Nam đã tổ chức thành một lực lượng quân sự đáng gờm. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự thiển cận của chính phủ Trung Quốc vào năm 1525 khi đã cố cách ly người dân khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài bằng một loạt các sắc lệnh hạn chế thương mại và đi biển. Các thương nhân địa phương đã chiếm giữ các hòn đảo ngoài khơi làm cơ sở cho các hoạt động thương mại trái phép với người Nhật và người Bồ Đào Nha. Bên cạnh buôn bán, họ đã nhanh chóng phát triển các hoạt động cướp phá, xây dựng lực lượng quân đội mạnh và thậm chí đã tấn công các thành phố ven biển. Những tên cướp biển ban đầu được hỗ trợ bởi các gia đình thương nhân tại Kyushu, Honshu và được củng cố thêm bởi những đội cướp biển người Nhật, những người đã cướp bóc suốt hai thế kỉ tại khu vực Đông Nam Á. Mặc dù nhà Minh gọi những toán cướp biển này dưới cái tên “Oa Khấu”, có nghĩa là cướp biển Nhật Bản, nhưng hai phần ba nhân lực của những toán cướp là người Trung Quốc.

Năm 1547, Chu Wan đã được cử đến để ổn định tình hình nhưng các thương nhân với những mối quan hệ trong chính quyền đã tìm cách để sa thải ông.

Những hạn chế nghiêm ngặt hơn về những hoạt động trên biển đã đẩy ngư dân vào bước đường cùng và buộc họ phải bạo động. Điều này khiến cho Oa Khấu mạnh hơn bao giờ hết. Vào năm 1554, họ đánh bại quân Minh trên đất liền, đe dọa những thành phố lớn ven biển như Nam Kinh, Hàng Châu.

Hai viên tướng đã được chọn để kiểm soát tình hình là Hồ Tôn Hiến và Thích Kế Quang. Các hoạt động quân sự, những nỗ lực bắt giữ các thủ lĩnh cướp biển được tăng cường. Sau đó, vào năm 1567, lệnh hải cấm được dỡ bỏ. Tình hình dần ổn định trở lại.

Hoàng đế Vạn Lịch lên ngôi vào năm 1573, ông là một người không có khả năng và bị giam cầm bởi hệ thống chính trị lúc bấy giờ, cố giữ cho hoàng đế như bị cầm tù trong cung điện, cách biệt với thế giới bên ngoài. Triều đại của ông đã ghi nhận “ba chiến dịch vĩ đại” và chúng thường được sử dụng như một bằng chứng cho thấy quân đội nhà Minh vẫn còn mạnh mẽ. Tuy nhiên, hai trong số những chiến dịch này không đáng kể. Dương Ứng Long, một viên quan ở Tứ Xuyên, sau khi nhận được sự ủng hộ của các bộ tộc Miêu bản địa đã phát động nổi loạn ở Phan Châu. Tranh thủ nhà Minh còn bận bịu ở những nơi khác, Dương giữ được độc lập trong vài năm. Đến năm 1600, một đội quân, chủ yếu là các bộ tộc địa phương, do Lý Hóa Long lãnh đạo đã đánh bại Dương trong một chiến dịch kéo dài 100 ngày. Chiến dịch tại Ordos (Ngạc Nhĩ Đa Tư) năm 1592 thậm chí còn được bản địa hóa hơn nữa. Quân đồn trú tại Ninh Hạ đã nổi dậy và liên minh với một thủ lĩnh Mông Cổ. Cuộc nổi dậy này bị đánh bại vào tháng 10 năm đó khi quân triều đình dùng nước ở một hồ gần đó làm suy yếu tường thành.

Chiến dịch can thiệp vào chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592-1598) là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong ba chiến dịch quân sự thời Vạn Lịch. Năm 1592, người Nhật dưới sự dẫn dắt của Hideyoshi Toyotomi đã xâm lược bán đảo Triều Tiên như một bước đầu để chinh phục Trung Quốc. Ban đầu, chiến dịch của người Nhật khá thuận lợi, chiếm được Seoul và Bình Nhưỡng trong thời gian ngắn, sau đó họ tạm dừng lại để tập hợp lại lực lượng. Tháng 1 năm 1593, một đội quân Minh dưới quyền của Lý Như Tùng đã vượt sông Áp Lục tiến vào Triều Tiên, đánh bại quân Nhật bên ngoài Bình Nhưỡng. Đang gặp khó khăn về vấn đề hậu cần, tình hình của quân Nhật càng trầm trọng thêm vì hoạt động của hải quân Triều Tiên và các mật vụ Trung Quốc, những mật vụ này đã đốt một kho lương lớn của quân Nhật rồi rút về gần Busan. Một thỏa thuận ngừng chiến được thiết lập cho đến tháng 10 năm 1596 khi một đoàn đại sứ của Trung Quốc đến Nhật để đàm phán hòa bình.

Kết quả cuộc đàm phán minh họa cho một trong những khiếm khuyết trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trung Quốc không chấp nhận việc những người man di được đối xử một cách bình đẳng. Hideyoshi dự liệu việc Triều Tiên được phân chia và có một cuộc hôn nhân chính trị với công chúa nhà Minh nhưng người Trung Quốc lại chọn cách: sẽ công nhận ông là vua của Nhật Bản (ông đã cai trị Nhật bản trên thực tế trước đó) nếu ông chấp nhận là một chư hầu và không bao giờ xâm lược lục địa nữa. Hideyoshi coi điều này như một sự xúc phạm và đã tổ chức một cuộc tấn công vào Seoul trong năm tiếp theo. Cuộc tấn công này đã bị chặn bởi một lực lượng Trung Quốc 5 vạn người. Đô đốc Triều Tiên Lý Thuấn Thần (Yi Sun-sin) được một đội tàu nhà Minh dưới sự chỉ huy của chuyên gia pháo binh Trầm Lâm giúp đỡ đã kiểm soát được mặt biển, cắt đứt hậu cần và những đoàn quân tiếp viện từ Nhật Bản, làm cho người Nhật một lần nữa thất bại. Năm 1598, tuy những cuộc tấn công của quân Minh tại Ulsan, Sunchon, Sochon đã bị thất bại nặng nề nhưng họ đã thành công trong việc giam chân người Nhật ở những khu vực quan trọng. Tin về cái chết của Hideyoshi đến vào cuối năm, khi mọi người đã kiệt sức, đã tạo điều kiện cho cả hai phe đồng ý đình chiến. Người Nhật rút khỏi Triều Tiên, nhà Minh đạt dược một thắng lợi chiến lược.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (2)

QUÂN ĐỘI CUỐI MINH

18700803_1905028396440662_8494008904079883031_o

Những quan lại tham nhũng và bất tài đã làm suy yếu hệ thống quân sự “vệ sở” của nhà Minh. Vào thế kỉ 16, quân đội đã trở thành một gánh nặng, thiếu đào tạo và kỉ luật, sức mạnh của họ ngày một giảm sút. Các sĩ quan tiếp tục ghi tên những người đã chết hoặc đã bỏ đi vào trong danh sách để lấy thêm tiền lương. Ch’en Chien khi viết về thời Gia Tĩnh đã miêu tả vệ sở như là: “nguồn gốc của nhiều rắc rối. Họ nổi loạn và sẵn sàng tạo phản bất cứ khi nào các nhà chức trách chậm trả tiền cho họ… bất kì khi nào có chiến tranh, do lo sợ quân đội bị tổn thất, lính đánh thuê và dân binh được sử dụng để chống lại những bọn cướp. Nói cách khác, dân thường được sử dụng để bảo vệ những người lính“.

Vào giữa thế kỉ 16, lực lượng chính của quân Minh là những người lính đánh thuê được tuyển dụng từ dân chúng – một hệ thống tương tự như của nhà Tống. Tuy nhiên, thời đại của những chiến binh đã trôi qua, những người lính có địa vị xã hội rất thấp. Họ được tuyển mộ chủ yếu từ những kẻ lang thang, trộm cướp. Họ bị đối xử tồi tệ, lương thấp, thất thường và thậm chí còn bị cướp bởi những viên chỉ huy. Do được tuyển mộ từ những vùng khác nhau, những đạo quân mang tính địa phương rất lớn. Những người đến từ Hsiang-fu, Hồ Nam dễ kiểm soát nhưng lại hèn nhát. Trái lại, Mao Hồ Lô binh (毛葫蘆兵), những cựu thợ mỏ dũng cảm nhưng lại vô kỷ luật. Những người lính Tứ Xuyên vốn là những kẻ cướp, dễ bị thu hút bởi những đồ đạc bị kẻ thù bỏ lại. Nhìn chung, những người nông dân làm lính tốt hơn những thị dân. Về sau, những đội quân này được trao quyền tự quản khá cao.

Kết quả hình ảnh cho ming cavalry

Kị binh nhà Minh

Những người lính từ Liêu Đông đã chống lại cuộc nổi dậy ở Thiểm Tây vào năm 1630 khá hiệu quả. Họ không hiểu được tiếng địa phương nên không thể bị mua chuộc hay bị làm rối loạn (quân đội được tuyển dụng ở Thiểm Tây trở nên vô dụng vì họ là những người đồng hương với quân nổi dậy, có xu hướng liên kết với đối phương thay vì chiến đấu). Những đội quân quan ngoại cũng được tuyển mộ.

Tùy mục đích sử dụng, họ sẽ dũng những người lính đánh thuê Mông Cổ với quy mô khác nhau. Từ việc thuê toàn bộ bộ lạc để chinh phục Trung Á cho đến những toán nhỏ hơn được tuyển mộ từ những tù binh chiến tranh. Những toán nhỏ này được đưa đến những vùng xa xôi của đế chế và được phân biệt bởi những chiếc mũ đỏ của họ.

Pubei, nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy Ordos năm 1592 là một người Mông Cổ xuất thân từ một gia đình từng phục vụ quân Minh trong nhiều thế hệ. Giống như những người Mông Cổ, một số bộ lạc chư hầu người Nữ Chân đã cung cấp những binh lính, chủ yếu là kị binh cho quân Minh. Các nhóm nhỏ của Nhật cũng được thuê vào cuối thể kỉ 16. Một đạo quân Triều Tiên với tư cách đồng minh đã chiến đấu bên cạnh quân Minh trong chiến dịch chống lại Mãn Châu năm 1618-19.

Theo truyền thống, thủ cấp của kẻ thù được mang ra treo thưởng để tạo động lực cho binh lính chiến đấu, nhưng vào thể kỷ 17, việc này đã bị lạm dụng. Các tù nhân chiến tranh và thường dân vô tội thường bị binh lính tàn sát để lấy thủ cấp làm bằng chứng cho những chiến tích hư cấu và thậm chí có một phương pháp hấp đầu để làm cho thủ cấp của người Hán trông như thủ cấp người Mãn Châu. Điều này đã làm cho số lượng kẻ thù bị tiêu diệt tăng vọt, khiến chính phủ không biết một chút gì về tình hình thực tế. Năm 1640, hoàng đế Sùng Trinh đã cố gắng hủy bỏ hệ thống này nhưng đã quá muộn.

Trận Ninh Viễn lần thứ nhất năm 1626 (Viên Sùng Hoán đã lãnh đạo quân Minh đánh bại người Nữ Chân dưới sự chỉ huy của Nỗ Nhi Cáp Xích)

Giống như “vệ sở”, nhiều đơn vị lính đánh thuê cũng nhanh chóng trở thành gánh nặng. Năm 1620, Shen kuo-yuan đã đưa ra một báo cáo về quân đội tại Bắc Kinh cũng tồi tệ như những gì Ch’en Chien viết: “Không thể dùng chúng để bảo vể kinh đô nếu chiến tranh nổ ra. Người ta nói các nhà chức trách không dám cải tổ chúng vì sợ chúng sẽ làm loạn. Họ cũng không dám đào tạo vì điều này cũng sẽ dẫn đến thảm họa tương tự“.

Các nhà quan sát châu Âu cũng không kém gay gắt khi nói về chất lượng quân đội của nhà Minh. Matteo Ricci vào cuối thể kỉ 16 cho rằng sức mạnh của quân Minh nằm ở số lượng chứ không phải kỹ năng của họ. Nhiều phong trào cải cách đã được bắt đầu, đáng chú ý như cuộc cải cách của Trương Cư Chính trong thời Vạn Lịch nhưng cuộc cải cách này ít tiến bộ và đã bị lực lượng quan liêu chống lại gay gắt. Tham nhũng thậm chí đã được thể chế hóa. Ví dụ như ở một số địa phương, các viên chức sau khi đóng một khoản tiền sẽ được miễn trừ nghĩa vụ hoặc được phép “mượn” ngựa của quân đội để sử dụng cho mục đích cá nhân. Trong những năm 1560, chỉ có 3 vạn lính ở Hsuan-fu chống lại cuộc xâm lược của Mông Cổ, trong khi con số trên giấy là 12 vạn.

Sự đa dạng của các đơn vị khiến cho việc kiểm soát của trung ương rất khó khăn, cộng thêm sự chênh lệch giữa những con số trên giấy và thực tế. Các lực lượng vũ trang thời đầu nhà Minh được cho là có khoảng 3 triệu người. Tình trạng quản lý gian dối và yếu kém đã trở thành căn bệnh mãn tính khiến cho không thể nào xác định được sức mạnh thật sự của quân đội. Martin de Rada đã đưa ra một danh sách các đồn lũy vào cuối thế kỉ 16 với tổng cổng 4.178.500 bộ binh và 780.000 con ngựa. Không còn nghi ngờ gì nữa, những ghi chép trên giấy đã vượt quá xa thực tế. Nhưng với mức độ dân số của nhà Minh, từ 65 triệu trong năm 1400 đến 150 triệu vào năm 1600 đã có thể đảm bảo quy mô của một đội quân lớn.

Về mặt chiến lược, được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng với rất nhiều con đường và cây cầu được xây trong thời kì bùng nổ của nền kinh tế vào thế kỉ 11-13, tính cơ động của họ khá cao. Trong chiến dịch Ninh Hạ vào năm 1592, 400 khẩu pháo đã vượt qua 300 dặm địa hình khó khăn trong một tháng. Chiến dịch năm 1619 chống lại Mãn Châu với bốn mũi tiến quân riêng biệt có tổng quân số khoảng 20 vạn người cho thấy các cuộc hành binh đầy tham vọng vẫn có thể được thực hiện.

Trận Tát Nhĩ Hử (chiến dịch năm 1618-19 của liên minh: nhà Minh, Triều Tiên và Diệp hách nhằm chống lại người Nữ Chân)

Chiến dịch Tát Nhĩ Hử (1618-19)

Đầu thế kỉ 17, dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhi Cáp Xích, các bộ tộc Nữ Chân được thống nhất và ngày càng trở nên hùng mạnh. Diệp Hách là một trong những bộ tộc thân Minh còn sót lại và họ không thần phục Nỗ Nhi Cáp Xích. Đây là một trong những lí do chính khiến người Nữ Chân đụng độ với nhà Minh. Năm 1618, ông ban bố “Thất đại hận”, chính thức khai chiến với quân Minh.

Rất nhanh chóng, các thành ở Đông Bắc nhà Minh gục ngã trước vó ngựa của Nữ Chân. Sơn Hải Quan bị uy hiếp. Để đáp trả, Minh Thần Tông phong Dương Cảo làm Liêu Đông kinh lược sứ, chỉ huy cuộc hành binh, phối hợp với Triều Tiên và tộc Diệp Hách để chống lại Nữ Chân.

Liên quân bao gồm 14 vạn quân, chia làm bốn đường đánh thẳng vào kinh đô của người Nữ Chân:

  • Tây lộ quân do Tổng binh Sơn Hải quan Đỗ Tùng chỉ huy, khoảng 3 vạn quân Minh
  • Bắc lộ quân do Tổng binh Khai Nguyên Mã Lâm chỉ huy, khoảng 2,5 vạn quân Minh và 1 vạn quân bộ tộc Diệp Hách do Kim Đài Cát chỉ huy.
  • Đông lộ quân do Tổng binh Liêu Dương Lưu Đĩnh chỉ huy, khoảng 2,7 vạn quân Minh và 1,3 vạn quân Triều Tiên do Khương Hoằng Lập chỉ huy.
  • Nam lộ quân do Tổng binh Liêu Đông Lý Như Bách chỉ huy, khoảng 2 vạn quân Minh.

Dương Cảo cùng với 1,5 vạn quân đóng ở Thẩm Dương để chỉ huy toàn cục.

Lực lượng của Nỗ Nhi Cáp Xích khoảng 6 vạn người. Nhận ra những nhược điểm của quân Minh như lực lượng bị phân tán, những bất đồng trong nội bộ, khả năng thông tin liên lạc, phối hợp và kĩ năng kém, ông quyết định sẽ tập trung lực lượng giao chiến với từng đạo quân Minh một. Với ưu thế cơ động của kị binh cùng với khả năng chiến đấu vượt trội, ông đã đánh bại hoàn toàn 14 vạn liên quân chỉ trong vòng 6 ngày.

Danh tiếng của Nỗ Nhi Cáp Xích vang dội khắp miền Bắc Trung Quốc. Toàn bộ các bộ tộc Nữ Châu giờ đã quy phục ông. Đây là một trận đánh điển hình của việc vận dụng nguyên tắc tập trung binh lực và khả năng cơ động.

Trên chiến trường, thay vì cố gắng chỉ huy những đoàn quân khổng lồ được đào tạo sơ sài, các tướng thường sử dụng các đơn vị được tuyển chọn đặc biệt với quy mô không lớn hơn một tiểu đoàn làm mũi nhọn tấn công. Ví dụ như Lưu Đĩnh, vào năm 1619 ông đã dùng một lực lượng gồm 736 vệ binh trang bị trường kiếm chiến đấu ở trận tiền. Những tinh binh như vậy rất thiện chiến và hung dữ, thề chết với các chỉ huy của họ chứ nhất quyết không chạy trốn. Những đợt tấn công dữ dội của họ đã gây ấn tượng mạnh với đồng minh Triều Tiên. Tuy nhiên, với hầu hết các sĩ quan có kĩ năng chiến đấu kém, việc đánh trận trở nên tồi tệ hơn, những cách đánh đầy chiến thuật và linh hoạt được sử dụng bởi quân Minh vào thời kì đầu đã bị thay thế bằng cách tấn công toàn lực vào mặt trước với việc sử dụng ưu thế về lực lượng.

Các nhà quan sát phương Tây đã bình luận về hiệu quả đào tạo và luyện tập. Người Trung Quốc nhấn mạnh vào kĩ năng sử dụng vũ khí cá nhân hơn là phối hợp tập thể. Theo Rada, các cung thủ Trung Quốc rất khéo léo nhưng bộ binh của họ nói chung: “…các cuộc diễn tập không được thực hiện theo mệnh lệnh… các đám đông đứng tụ lại gần nhau một cách hỗn loạn”.

Có những ngoại lệ với việc suy giảm chung của quân đội. Đặc biệt nhất là Thích Kế Quang, người chỉ huy quân đội tại Chiết Giang năm 1555 với nhiệm vụ chống lại giặc Oa Khấu. Khi đã thiết lập được một tinh thần tốt hơn cho quân đội, ông đã áp dụng một hệ thống kỷ luật nghiêm ngặt. Thậm chí ông đã giết những sĩ quan tự ý rút lui trên chiến trường. Những người lính cũng được khuyến khích thông qua các bài diễn văn, các hình tượng tôn giáo. Họ được đào tạo các chiến thuật ở đơn vị nhỏ và các kĩ năng chiến đấu cá nhân một cách chuyên sâu. Ở cấp cao hơn, ông lên kế hoạch một cách cẩn thận với sự trợ giúp của các sa bàn.

Early Mandarin Duck Squad

Uyên ương trận

Sự đổi mới lớn nhất của Thích Kế Quang là việc thành lập những đội “Uyên ương” 12 người, trong đó mỗi người lính có một vai trò xác định. Bốn trong số họ được trang bị giáo dài để chiến đấu với những tên cướp biển được trang bị kiếm Nhật, những giáo binh được bảo vệ trong trận chiến tầm gần bởi hai kiếm sĩ, một ở bên phải với khiên lớn và một bên trái với lá chắn nhỏ hơn với một vài cái lao; hai người mang trúc xoa, với những cành cây trên trúc xoa sẽ gây vướng víu, giúp giữ khoảng cách với kẻ thù; canh chừng phía sau là hai người được trang bị đinh ba; những người còn lại là một sĩ quan và một người phục vụ. Sự sắp xếp này có vẻ không hiệu quả, chỉ có một phần ba trong số những người này có thể tấn công nhưng trong thực tế mà Thích Kế Quang phải đối mặt, ông có rất nhiều nông dân nhưng không có khả năng chế tạo vũ khí tinh vi, đây là một sự sắp xếp hợp lý.

Một đặc điểm nổi bật của Oa Khấu là khả năng dùng kiếm của họ, kỹ năng này được học hỏi cả ở Nhật và Trung Quốc. Họ chiến đấu, nâng và hạ gươm rất nhanh theo mệnh lệnh từ quạt của các viên chỉ huy.

Ban đầu, những tên cướp biển có kỉ luật tốt hơn và thường xuyên đánh bại quân triều đình, nhưng họ thích phòng thủ hơn là chủ động tấn công quan quân. Thích Kế Quang lưu ý rằng: “những tên cướp biển luôn luôn ngồi trên những cao điểm rình mò chúng tôi. Chúng chờ cho đến khi trời tối, lúc mà binh lính trở nên mệt mỏi. Rồi họ xuất hiện cùng những chiếc mũ bằng dây màu và sừng động vật với những tạo hình ma quái để dọa chúng tôi”.

Thích Kế Quang dần dần trấn áp được cướp biển. Năm 1568, ông được chuyển lên phía Bắc, đến Cẩm Châu, để chiến đấu với Mông Cổ. Tại đây ông cũng sáng tạo ra những chiến thuật mới phù hợp với tình hình địa phương để bộ binh có thể đối mặt với kị binh Mông Cổ trên địa hình bằng phẳng. Chiến thuật này dựa trên một nhóm 20 người được triển khai xung quanh những chiếc xe kéo hai bánh, mỗi xe trang bị hai pháo hạng nhẹ do mười người điều khiển, mười người còn lại mang những vũ khí khác nhau, bốn trong số đó sử dụng súng hỏa mai. Thích Kế Quang phản đối việc phụ thuộc quá nhiều vào súng tay, những kinh nghiệm ở phương Nam đã cho ông thấy những rủi ro với loại vũ khí này như là nhiều lúc không bắn được hay thậm chí bị nổ.

Đội hình phòng thủ trước kị binh sử dụng xe của quân Minh (nguồn: http://greatmingmilitary.blogspot.com)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Late Imperial Chinese army (3)

PHÁO BINH QUÂN MINH

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

Súng cầm tay là một vấn đề gây tranh cãi thường xuyên vào cuối thời nhà Minh, nhưng nhìn chung, mọi người đều đồng ý tăng số lượng súng trong khả năng có thể. Năm 1530, đã có một đề nghị muốn giảm bớt số lượng quân đồn trú bằng cách tăng cường trang bị những khẩu pháo nhỏ, mỗi khẩu do ba người vận hành, điều này sẽ giúp giải phóng chín phần mười nhân lực để tăng cường cho các hoạt động nông nghiệp. Vài ngàn vũ khí đã được sản xuất trong những năm sau đó nhưng sản lượng không đủ. Trong thời gian này các đơn vị sử dụng hỏa khí truyền thống của Trung Quốc đã bắt đầu được thay thế bằng các loại vũ khí phương Tây. Những khẩu hỏa mai tân tiến được đưa vào vùng Tây Bắc Trung Quốc từ đế quốc Ottoman thông qua Turfan trong chiến dịch Hami (1513-24) và vào các vùng đất khác trong những năm 1540 bởi hải tặc Nhật Bản, những người mới sao chép chúng từ người Bồ Đào Nha. Những vũ khí này được người Trung Quốc gọi là “điểu thương”, có lẽ do lúc điểm hỏa giống như con chim đang mổ xuống. pháo Phật Lăng Cơ (Frankish cannon) có lẽ đã được người Trung Quốc thu được lần đầu tiên vào năm 1523 trên hai con tàu Bồ Đào Nha bị bắt, sau đó họ đã sản xuất loại pháo này vào năm 1529. Ban đầu,”pháo Phật Lăng Cơ” được dùng để gọi những khẩu súng nạp hậu làm bằng sắt gắn trên những tàu chiến Bồ Đào Nha, nhưng thuật ngữ này sau này còn được dùng để gọi cả những khẩu súng lớn nạp tiền làm bằng sắt hoặc đồng và những phiên bản sao chép nhẹ và di động hơn làm bằng gỗ. Dường như ở từng khu vực khác nhau, chất lượng của những loại hỏa khí cũng khác nhau. Rada đã mô tả pháo Trung Quốc rất nhỏ và yếu đuối. Juan de Mendoca vào năm 1585 lại mô tả khẩu pháo “thật to lớn và vĩ đại, tốt hơn cả những khẩu pháo của chúng ta”. Phương pháp sử dụng pháo cũng rất phức tạp: một ghi chép lịch sử địa phương tại Tô Châu dưới thời Sùng Trinh đã mô tả lại những người lính đã dùng kính viễn vọng trong một trận chiến chống lại Lý Tự Thành, trước khi khoa học kĩ thuật được áp dụng rộng rãi ở châu Âu.

Kết quả hình ảnh cho súng trung liên

Đội hình quân Minh với súng hỏa mai

Vào cuối thể kỉ 16, pháo binh hạng nặng ở châu Âu đã vượt trội hơn so với pháo binh Trung Quốc. Những khẩu pháo ở Trung Quốc gần như đã biến mất, chỉ còn được dùng để bảo vệ cho các bức tường thành, nơi mà tính di động và tốc độ bắn của chúng ít quan trọng hơn khi ở trên những chiến trường trống trải. Trong thời kì trị vì của vua Thiên Khải (1621-27) họ thậm chí còn thờ cúng những khẩu đại pháo như những vị thần. Nhà Minh thường tìm kiếm sự trợ giúp của những người châu Âu, những người được coi là chuyên gia trong việc sử dụng pháo, trong cuộc chiến chống lại Mãn Châu. Năm 1621, ba khẩu pháo Bồ Đào Nha do những nô lệ châu Phi điều khiển đã đánh bại quân Mãn Châu mà không cần hỗ trợ từ bên ngoài.

Hong Yi Po

Định Liêu Đại tướng quân, pháo được đúc bằng sắt và đông, bảo tàng tỉnh Liêu Ninh

Chiến thắng này chủ yếu là nhờ khả năng sử dụng pháo của họ, được kế thừa từ những nhà truyền giáo được phép cư trú ở Bắc Kinh. Matteo Ricci là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên được cư trú tại Bắc Kinh vào năm 1602, ông sớm bị buộc phải sản xuất súng cho nhà Minh, tiếp đó là Adam Schall vào năm 1642.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Một số người bảo thủ và bài ngoại đã phản đối việc sử dụng vũ khí nước ngoài. Cuối năm 1642, Lưu Tôn Chu đã khuyên hoàng đế không sử dụng các vũ khí phương Tây với lý do các triều đại Đường và Tống vẫn cai trị được mà không cần có chúng. Trên thực tế, những người lính ở nhiều khu vực không quen thuộc với súng và những người thợ Trung Quốc thiếu kinh nghiệm chế tạo súng. Năm 1630, Từ Quang Khải cho rằng việc sản xuất thuốc súng và sử dụng hỏa khí nên giao hẳn cho người châu Âu, ông cũng phớt lờ ý kiến của hoàng đế muốn tăng hiệu quả các khẩu pháo ngoại nhập bằng việc tăng lượng thuốc phóng. Những tai nạn thuốc súng thường xuyên xảy ra với người Trung Quốc. Hàng trăm người đã chết trong một vụ nổ vào năm 1605, những người lính phát hiện ra thuốc súng của họ đã đóng cục lại sau một thời gian dài lưu trữ, họ dùng búa để làm tan thuốc súng và vụ nổ đã xảy ra.

Trận Liêu Dương (1621), có thể thấy quân Minh sử dụng khá nhiều hỏa khí để chống lại kị binh Nữ Châu khi thủ thành.

Ngay cả vào cuối thời nhà Minh, đa số binh lính vẫn được trang bị những vũ khí truyền thống. Kị binh chủ yếu dùng cung, với kĩ thuật kị xạ được học từ Mông Cổ. Kị binh suy yếu ngay từ đầu thời Minh vì thiếu ngựa, một vấn đề thường gặp phải ở các triều đại không tiếp cận được với những đồng cỏ phía Bắc. Bộ binh sử dụng cung, nỏ, trường kiếm và vũ khí cán dài và những loại vũ khí khác được mô tả trong Võ Bị Chí. Giáp trụ chủ yếu là lamellar và brigandine được làm từ da hoặc các tấm sắt , được trang bị chủ yếu cho kị binh và các sĩ quan. Phần lớn bộ binh không được trang bị giáp.

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

Vạn lý trường thành là thành tựu quân sự nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Được xây dựng lần đầu dưới thời Tần (215 TCN) sau đó được nhà Hán xây mới thêm rất nhiều. Bức tường được mở rộng về phía Tây đến tận Cam Túc. Những năm sau đó, việc xây dựng bị gián đoạn lại một thời gian. Vạn lý trường thành ngày nay là sản phẩm được xây dựng dưới thời nhà Minh.

Bản đồ Đông Bắc Á (1620-1630)

Ý thức được sự nguy hiểm của các bộ tộc phương Bắc, nhà Minh đã cho xây dựng các công trình phòng thủ dọc biên giới ngay từ những năm 1370. Việc xây dựng bức tường một cách có hệ thống được bắt đầu tại Ordos dưới thời Binh bộ thượng thư Yu Tzu-chun vào năm 1480. Năm 1540, mối đe dọa ngày một tăng đến từ nước Mông Cổ mới của Altan Khan đã thúc đẩy việc thay thế những bức tường đất đã bị xói mòn bằng những bức tường mới được xây từ gạch và đá. Lực lượng xây dựng những bức tường này là những đội quân đóng tại địa phương. Đây là một trong các phản ứng để đối phó lại với những cuộc tấn công của quân Mông Cổ. Nhiều đoạn tường thành đã được xây đi xây lại rất nhiều lần do bị người Mông Cổ tàn phá trong những đợt tiến quân.

Sơn Hải quan ngày nay

Bức tường cũng thể hiện những thăng trầm trong nền chính trị nhà Minh. Sự đấu đá giữa những người theo đuổi một chính sách tấn công hung hăng và những người chỉ muốn phòng thủ.

Một số đoạn tường thành ở phía Tây không được xây bằng đá và hiện tại chỉ còn lại một chút tàn tích. Một số đoạn khác, như ở Đại Đồng và Bắc Kinh được xây dựng vững chắc hơn rất nhiều. Tại Bát Đạt Lĩnh, phía Bắc kinh đô, bức tường có chiều cao trung bình khoảng 24 feet (khoảng 7,3m) rộng 20 feet (6m) ở chân và 16 feet (4,9m) trên bề mặt, đủ để năm kị mã đi song song. Bề mặt của nó được bọc đá, bên trên có hàng rào với lỗ châu mai. Cứ 150 yard (137m) lại có một tháp lửa truyền tin, cứ 300 yard (274,3m) có một tháp canh được trang bị vũ khí hạng nặng như pháo hoặc nỏ hạng nặng.

Kết quả hình ảnh cho manchu conquest of china

Sơn Hải quan (1644), có thể thấy hệ thống phòng thủ ở khu vực này của quân Minh với một loạt các đồn, pháo đài và tường thành được xây dựng dựa trên những chướng ngại tự nhiên

Ba pháo đài quan trọng trên bức tường là Gia Dục quan, “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” thuộc núi Gia Dục, nằm ở điểm cực tây của Vạn lý trường thành. Tuy được xây dựng vào năm 1372 nhưng phải đến năm 1570 mới được liên kết với phần còn lại của bức tường. Thứ hai là Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh, được xây dựng vào năm 1580. Cuối cùng là Sơn Hải quan ở điểm cực Đông, trên vịnh Bột Hải. Sơn Hải quan được xây dựng để đối phó với sự lớn mạnh của người Nữ Chân trong những năm cuối thế kỉ 16, nhưng cuối cùng thì Ngô Tam Quế, người trấn giữ Sơn Hải quan lại mở cửa cho người Nữ Chân tiến vào Trung Nguyên vào năm 1644. Từ đó, người Nữ Châu sở hữu cả hai phía bức tường.

role_2_1_c56f825.png

Sàng nỏ

Vào cuối thế kỉ 16, bức tường được chia thành chín đoạn, có thể được hiểu như chín khu quân sự được chỉ huy bởi các vị tướng. Ở các khu vực ít quan trọng, chỉ có những đội tuần tra canh giữ. Ngược lại, ở những vùng trọng điểm, bức tường là trung tâm của một hệ thống phòng thủ phức tạp. Các pháo đài được xây dựng ở cả hai phía bức tường để chống đỡ các cuộc tấn công hoặc là những điểm tựa cho những cuộc phản công.

Ngay trước bức tường là một dải cát để theo dõi những hành động của quân địch. Các cuộc tấn công có thể được cảnh báo một cách rõ ràng bằng pháo hiệu là lửa. Ví dụ, một đợt tấn công của khoảng 100 quân địch sẽ được báo hiệu bằng một phát pháo hiệu và một đống lửa, năm phát súng và năm đống lửa để báo hiện cho một cuộc tấn công của 1 vạn người. Khói màu và những người truyền tin được dùng để truyền tải những thông tin cụ thể, đầy đủ hơn.

Đằng sau bức tường là những điểm đóng quân được xây dựng kiên cố với tường bao xung quanh bảo vệ. Những cây nỏ lớn và pháo được trang bị trên những tháp canh. Giá trị của hỏa khí trong việc chống lại những đội kị binh du mực đã được công nhận từ rất sớm. Từ năm 1412, pháo đã được triển khai ở các pháo đài phía Bắc. Số lượng hỏa khí được cung cấp khá lớn. ở Thiểm Tây trong giai đoạn 1536-38, hơn 9300 khẩu súng đã được trang bị.

Posted in Uncategorized | Leave a comment