AND I LOVE YOU SO

Duy Lộc viết cùng Khang Nguyễn

“And I love you so” là một tình khúc trong album đầu tay “Tapestry” ra mắt vào năm 1970 đã được nhiều ca sĩ cover lại, trong đó bản cover của ca sĩ Perry Como vào năm 1973 đã trở thành một bài hit. 2 năm sau, đến lượt Elvis Presley cover ca khúc này để đưa vào album “Today” của anh, rồi còn nhiều ca sĩ khác nữa như Rick Astley, Shirley Bassey, Glen Campbell, Bobby Goldsboro, Tom T. Hall, Emmylou Harris, Engelbert Humperdinck, Howard Keel, Johnny Mathis, Nana Mouskouri, Jim Nabors, Helen Reddy, Bobby Vinton và có cả Claude Francois với phiên bản tiếng Pháp mang tên “Et je t’aime tellement” (1977).

AND I LOVE YOU SO

And I love you so,
The people ask me how,
How I’ve lived till now
I tell them “I don’t know”
I guess they understand
How lonely life has been
But life began again
The day you took my hand

“Cuộc sống thật buồn tẻ, nhưng cuộc đời bắt đầu đáng sống trở lại vào ngày mà em nắm lấy tay anh…”

And yes I know how lonely life can be
The shadows follow me
And the night won’t set me free
But I don’t let the evening bring me down
Now that you’re around me

Quyết tâm không để cho sự buồn bã xâm chiếm mình, người thanh niên đã tự nhủ như vậy, dù cho bóng tối có lan tràn trong một cuộc đời chưa có một tình yêu đúng nghĩa.

Rồi khi cô gái đến, bỗng nhiên như đã gặp từ bao giờ, khi mà “Your thoughts are just for me”, đến suy nghĩ mà hai ngừoi cũng giống nhau nữa! Thật là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

And you love me too
Your thoughts are just for me
You set my spirit free
I’m happy that you do
The book of life is brief
And once a page is read
All but love is dead
This is my belief

Hình tượng cuộc đời được ví như một quyển sách, khi ta lật từng trang qua thì chẳng còn gì thú vị nữa, tất cả đều chết, trừ tình yêu. Thực ra quan niệm này rộng lắm, phần nào khiến ta nhớ đến phim “Interstella”, khi tình yêu giữa cha và con đã tồn tại xuyên qua thời gian và không gian.

And yes I know how lonely life can be
The shadows follow me
And the night won’t set me free
But I don’t let the evening get me down
Now that you’re around me
And I love you so
The people ask me how,
How I’ve lived till now
I tell them “I don’t know”.

Câu trả lời khi người khác hỏi “Trước giờ anh sống ra sao?” đều được anh trả lời chân thật “Tôi không biết sao mà tôi vẫn sống được (mà không có tình yêu)”.

Những lời hát ngọt ngào đó không phải đến từ một nghệ sĩ vô danh, mà là Don McLean, sinh năm 1945 tại New Rochelle, bang New York. Khi mới 5 tuổi, anh đã say mê âm nhạc và đã bỏ ra hàng giờ mỗi ngày để nghe nhạc qua radio hay nghe những dĩa nhạc cha anh sưu tập được.

Bệnh suyễn sớm bộc phát đã khiến cho anh không thể đến trường liên tục như những học sinh khác và những quãng thời gian anh phải ở nhà để chữa bệnh đã tạo điều kiện để anh nuôi dưỡng tình yêu dành cho âm nhạc. Anh đã tự sắm cho mình một cây đàn guitar và theo học một lớp dạy hát opera vì chị anh đã hào phóng đóng hết học phí cho anh.

Năm 1961, cha anh dẫn anh đi du lịch ở Washington D.C., rồi chỉ vài tháng sau ông từ trần, nhưng chuyến viếng thăm thủ đô đã làm cho anh quyết tâm đi vào hoạt động âm nhạc. Anh đã gởi số điện thoại của nhà mình cho một vài người trong giới âm nhạc, trong đó có ca sĩ – nhạc sĩ Erik Darling. Nhờ sự giới thiệu của Erik Darling, anh đã vào phòng thu để thu âm những ca khúc đầu tiên với Lisa Kindred và được Erik Darling mời tham gia nhóm nhạc the Rooftop Singers của anh ta. Thế nhưng anh đã từ chối lời mời hấp dẫn này vì tự trong thâm tâm, anh cảm thấy mình giống một nghệ sĩ hát rong hơn là một thành viên của một nhóm nhạc thời thượng.

Năm 1963, khi theo học 4 tháng tại Đại học Villanova, anh kết bạn với ca sĩ Jim Croce và bắt đầu trình diễn tại những quán cà phê ở New York như Bitter End và Gaslight Café, tại Liên hoan nhạc folk ở Newport và tại hơn 40 trường đại học ở New York và các bang ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Buổi tối, anh học chương trình đại học của Đại học Iona cho tới khi có được bằng cử nhân Quản trị kinh doanh vào năm 1968, nhưng sau đó lại từ chối không nhận một học bổng để học cao học của Đại học Columbia danh tiếng vì chỉ muốn làm một nghệ sĩ biểu diễn thường xuyên ở quán cà phê Lena tại New York. Vào thời gian này, Hội đồng nghệ thuật của New York đã mời anh làm nghệ sĩ hát rong (troubadour) trên sông Hudson và anh đã nhận lời, đi từ thành phố này tới thành phố khác ở Thung lũng Hudson để đàn hát và nói chuyện về môi trường.

Một năm sau, anh tham gia nhóm nhạc đầu tiên của Sloop Clearwater, cùng với ca sĩ Pete Seeger đi trên chiếc thuyền Clearwater chạy dọc theo bờ biển miền Đông nước Mỹ để đàn hát trong một dự án bảo vệ môi trường. Anh cũng đi hát ở các trường tiểu học và viết được một vở nhạc kịch về danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh, nhưng không có hãng dĩa nào chịu thu âm tác phẩm này; chỉ có hãng MediaArts ký với anh hợp đồng thu âm một album gồm những bản nhạc khác của anh. Album đầu tay mang tên “Tapestry” không thành công như mong đợi, nhưng may mắn thay, ca khúc “And I love you so” do ca sĩ Perry Como cover lại đã trở thành một bài hit nên hãng United Artists ký tiếp một hợp đồng thu âm với anh. Năm 1971, anh thành công rực rỡ với “American pie”, một ca khúc dài hơn 8 phút lấy cảm hứng từ cái chết của ca sĩ – nhạc sĩ Buddy Holly. Ca khúc thành công vang dội ngay sau đó là “Vincent”, một bài hát về danh họa Van Gogh, người nghệ sĩ có tâm hồn đau khổ đã ám ảnh ảnh anh suốt nhiều năm.

Thế nhưng sau thành công vang dội của “Vincent”, những nhạc phẩm sau đó của anh như “Playin’ Favorites” (1974), “Homeless Brother” và “Solo” (1976) không còn gây chú ý và hãng United Artists hủy hợp đồng với anh. Năm sau, anh ký hợp đồng với hãng Arista và cho ra mắt album “Prime Time”, nhưng kết quả cũng chẳng khả quan hơn nên suốt nhiều năm sau đó không một hãng dĩa nào chịu ký hợp đồng với anh.

Đến thập niên 1980, anh phục hồi được vị trí và danh tiếng của mình với ca khúc “Chain Lightning” rồi đạt được thành công lớn hơn khi cover lại ca khúc “Crying” của Roy Orbison và giới thiệu “Castles in the Air” và “Since I Don’t Have You”, hai ca khúc mới sáng tác ngay sau đó đã chiếm thứ hạng cao trên bảng xếp hạng âm nhạc. Đến năm 1983, ca khúc “Dominion” lại thất bại và anh không còn được một hãng dĩa nào mời cộng tác. Những năm gần đây, anh thực hiện những chuyến lưu diễn với những ca khúc đã giúp anh thành danh như “American Pie”, “Vincent” và vào phòng thu ghi âm những ca khúc cho album “For The Memories” (gồm những những bản cover những ca khúc kinh điển của dòng nhạc pop, country và jazz) và album “Rivers of Love” (1995).

Các ca khúc của anh được trình bày bởi rất nhiều ca sĩ thuộc nhiều dòng nhạc khác nhau, từ nữ ca sĩ Madonna với ca khúc “American Pie” vào năm 2000 đến nam ca sĩ George Michael với ca khúc “The grave” chống cuộc chiến tranh Iraq vào năm 2003. Năm 2004, Songwriters’ Hall of Fame đã vinh danh anh vì những đóng góp lớn lao trong việc sáng tác những ca khúc đã góp phần làm nên diện mạo của âm nhạc Mỹ thế kỷ 20.

Ca khúc “And I love you so” Don McLean hát live:https://www.youtube.com/watch?v=qog65XHM-ok
Ca khúc “And I love you so” với giọng ca Don McLean:https://www.youtube.com/watch?v=KCM7wx6wZUo

Năm 1973, ca khúc “And I love you so” đã trở thành một bài hit của Perry Como (được xếp hạng 29 trên bảng xếp hạng Hot 100 của tạp chí Billboard) khi anh cover lại để đưa vào album “And I love you so”

Ca khúc “And I love you so” với giọng ca Perry Como (hát live):https://www.youtube.com/watch?time_continue=3&v=KYEDt9AckFE
Ca khúc “And I love you so” với giọng ca Perry Como (studio version):https://www.youtube.com/watch?time_continue=3&v=FVtcZcT6qjY
Ca sĩ Claude Francois đã cover ca khúc “And I love you so” dưới cái tên “Je t’aime tellement”:t’aime tellement”:https://www.youtube.com/watch?time_continue=2&v=QhRmONyWVi0

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Phát hiện đáng kính ngạc của các nhà địa lý: Bẩy đền thánh cổ kính tại Âu Châu và Trung Đông nằm trên một đường thẳng

C ác nhà địa lý Italia vừa công bố một khám phá rất đáng kính ngạc: Bẩy đền thánh cổ kính của Châu Âu và Trung Đông nằm hoàn toàn khít trên một đường thẳng dù ở cách nhau rất xa. Toán học gọi là co-linear (đồng tuyến tính).
2018-05-04_9-06-03

Hãng tin Aleteia của Italia nói đường thẳng này, theo truyền thuyết, có thể là đường lưỡi gươm của Tổng Lãnh Thiên Thần Micae chém ma qủy, đưa chúng xuống địa ngục.
Thật đáng ngạc nhiên hơn nữa là 6 trong số 7 đền thánh này là các đền kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae. Hơn thế nữa, ba đền thánh quan trọng nhất trong số này là Đền Tổng Lãnh Thiên Thần Micae ở Pháp; Đền Tổng Lãnh Thiên Thần Micae ở Val de Susa; và Đền Tổng Lãnh Thiên Thần Micae ở Gargano cách nhau cùng một khoảng cách. Toán học gọi là equi-distant.
Một số người nói đường thẳng này là một lời nhắc nhở từ Tổng Lãnh Thiên Thần Micae rằng các tín hữu được trông đợi là người công chính, không hành xử quanh co nhưng đi theo một con đường thẳng.
Các nhà địa lý nói rằng nếu hiện tượng bẩy đền thánh cổ kính này nằm khít trên một đường thẳng chưa đủ gây ngạc nhiên, thì có thêm một chi tiết thú vị nữa. Vào ngày hạ chí (Summer Solispice) của Bắc bán cầu (thường là vào ngày 21 tháng Sáu), bẩy ngôi đền thánh này nằm thẳng tắp trên đường hoàng hôn!
Đường thẳng nói trên bắt đầu ở đền thánh Skellig Michael kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae trên đảo Michael’s Rock của Ái Nhĩ Lan. Tương truyền đây là nơi Tổng lãnh thiên thần Michael đã hiện ra với Thánh Patrick, để giúp ngài giải phóng đất nước đó khỏi tay quỷ dữ.
Sau đó, con đường nghiêng về phía nam đến đền kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae trên đảo Cornish của Anh. Nói là đảo, nhưng khi thủy triều xuống, miền đất này được nối liền với đất liền. Tương truyền đây là nơi Tổng lãnh thiên thần Michael đã hiện ra với một nhóm ngư dân.
Con đường kỳ diệu này, sau đó, đi đến Pháp, nơi có đền thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae ở Mont Saint-Michel, cũng là một trong những nơi mà Tổng Lãnh Thiên Thần Micae đã hiện ra với các tín hữu Công Giáo Pháp. Đền thánh này, nằm ngoài khơi bờ biển Normandy, rất đẹp khiến cho khu vực này trở thành một trong những địa điểm du lịch được ghé thăm nhiều nhất ở Pháp, và đã được UNESCO công nhận là di sản Thế giới từ năm 1979. Năm 709, Tổng Lãnh Thiên Thần Micae đã hiện ra với Thánh Aubert, thúc giục ngài xây dựng một nhà thờ trên các tảng đá. Công việc được bắt đầu ngay lập tức, nhưng mãi đến năm 900 mới hoàn thành được.
Cách đó khoảng 1000 km, tại Val de Susa, là đền thánh thứ tư: Sacra di San Michele, cũng là một đền thánh kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae. Việc xây dựng đền thánh được bắt đầu vào khoảng năm 1000 và, trong suốt nhiều thế kỷ, các cấu trúc mới đã được thêm vào tòa nhà ban đầu. Các tu sĩ Bênêđíctô cũng đã xây thêm một nhà trọ, bởi vì đền thánh này nằm trên con đường Via Francigena là con đường những người hành hương đi qua để sang Rôma.
Cách đó một ngàn cây số khác trên đường thẳng kỳ diệu này, là đền thánh kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae tại Gargano, Italia được xây dựng từ năm 490, khi Tổng Lãnh Thiên Thần Micae hiện ra với Thánh Lorenzo Maiorano.
Từ Ý, dấu chân của Tổng Lãnh Thiên Thần Micae đưa ta đến đền thánh thứ sáu. Đền thánh này trên đảo Symi của Hy Lạp. Đền thánh này có một bức tượng Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cao ba mét, là một trong những bức tượng lớn nhất thế giới.
Con đường kết thúc tại Israel, với đền thánh Mount Carmel, ở Haifa. Nơi đã được xây dựng từ thời cổ đại, với các thánh đường Công Giáo và Chính Thống Giáo có niên đại từ thế kỷ 12..
024_2883063

Saint Michel
________________________________________
Source: Aleteia7 Sanctuaries linked by a straight line: The legendary Sword of St. Michael

Posted in Uncategorized | Leave a comment

CÂU CHUYỆN 300 CỦA NƯỚC NGA HAY SỨC MẠNH BINH ĐOÀN VODKA

Sau khi chiến thắng Ba Tư trong cuộc chiến năm 1804, tất cả lực lượng của Nga dồn sang mặt trận châu Âu để đối đầu với quân Napoleon, do đó lực lượng phòng thủ của cả vùng Kavkaz, biên giới với Ba Tư của Nga chỉ có khoảng 8.000 – 10.000 lính.
Nhân tình hình đó, để rửa hận cho cuộc chiến 1804, tháng 6 năm 1805, vua Ba Tư là Fath Ali đã điều 40.000 quân, dẫn đầu bởi hoàng tử Abbas Mirza, vượt sông Araks để tấn công vào vùng Kavkaz.
Không thể gom được quân từ bao nhiêu đồn lính trải khắp cả vùng, hoàng tử Pavel Tsitsianov, thống đốc vùng Kavkaz chỉ gửi được 493 binh sĩ, 2 khẩu pháo trên một đoàn tầu, dưới sự chỉ huy của đại tá Pavel Karyagin nhằm cầm chân 40.000 quân Ba Tư để đợi quân nội địa gửi tới cứu.
Đội quân này xuất phát từ ngày 21/6/1805 và hành quân suốt 100 km qua địa hình rừng núi để tới đồn Shusha, nhằm chặn quân Ba Tư tại đây. Tuy nhiên sau 3 ngày, tới ngày 24/6 chưa kịp tới đích thì họ đã đụng độ với quân đoàn kỵ binh 10.000 lính của Ba Tư. Đại tá Karyagin đã khéo léo tấn công chọc thẳng vào đội quân này và tiếp tục tiến lên và khiến quân Ba Tư thiệt hại vô số kể. Tuy nhiên, sau khi tiến được 20 km, đội quân của Karyagin đã đụng phải quân chủ lực Ba Tư và bị chặn lại. Quân Nga khi đó đã đắp tạm một tòa lũy đất trong một nghĩa địa cũ của người Tatar để phòng thủ. Lúc này, gần 500 binh sĩ Nga bị vây kín hoàn toàn bởi 40.000 quân Ba Tư.
Trong suốt ngày 25/6, quân Ba Tư tấn công liên tục không ngơi nghỉ vào lũy phòng thủ của quân Nga từ sáng tới đêm, hết đợt này đến đợt khác. Đến sáng hôm sau, quân Nga đã thiệt hại 197 binh sĩ nhưng xác quân Ba Tư đã chất kín tất cả các lối vào của tòa lũy đất quân Nga đắp.
Lúc này, quân Nga chỉ còn chưa đến 300 binh sĩ, mệt mỏi, đói khát và bị thương. Tình huống còn tồi tệ hơn khi Hãn vương vùng Karabakh gần đó, Ibrahim Khalil vốn trước đó xưng thần với nước Nga, đáng ra phải hỗ trợ quân của Karyagil thì lại ngay lập tức đầu hàng quân Ba Tư, chặn luôn đường rút lui của quân Nga khi đó (lol, ít nhất là trong 300 quân Sparta không bị chặn sau lưng).
Nhận biết được tình thế ngặt nghèo của quân Nga, quân Ba Tư đã đắp đập chặn nguồn nước dẫn vào vị trí quân Nga và bắt đầu sử dụng sơn pháo đặt ở bờ sông Karkarchai bắn vào tòa lũy của quân Nga. Đêm ngày 26/6, một đội cảm tử của quân Nga dưới sự chỉ huy của Trung úy Ladinsky bí mật đột nhập vào vị trí đặt pháo của quân Ba Tư, dùng lưỡi lê giết sạch các pháo thủ, đặt mìn phá nổ các khẩu pháo, vứt phần còn lại xuống sông và cướp được 15 khẩu pháo mang về trại. Tất cả trận chiến chỉ diễn ra trong nửa tiếng và quân Nga không mất một binh sĩ nào.
Tuy nhiên, tình hình hai ngày tiếp theo cũng không khá khẩm hơn. Ngày 27/6, 25 binh sĩ Nga ra hàng quân Ba Tư. Cùng ngày hôm đó, một phân đội 40 binh sĩ Nga đi tìm thức ăn bị kỵ binh Ba Tư phục kích giết gần hết, chỉ còn 6 người sống sót chạy được về. Sang ngày 28/6, quân Nga chỉ còn chưa đến 200 lính và đã hết sạch nước trong khi đường ra sông bị chặn hoàn toàn. Không những thế, tất cả các sĩ quan đều bị thương và gần như hết sạch đạn. Chỉ huy đội quân, Đại tá Karyagin đã ba lần bị sức ép đạn pháo bất tỉnh và bị trúng một phát đạn vào sườn.
Các sĩ quan Nga cuối cùng đã đưa ra quyết định: ĐỘt phá vòng vây vào đêm, tấn công thành Shahbulag gần đó đang bị quân Ba Tư chiếm và sử dụng thành này để phòng thủ. Cả đội quân thương tật đầy mình đã phải vứt lại đoàn tầu để lừa quân Ba Tư, sau đó chạy bộ rút lui. Chỉ có ba sĩ quan bị thương nặng là Karyagin, Kotlyarevsky và Ladinsky được ngồi trên lưng ngựa, tất cả những người còn lại đều đi bộ và tự tay kéo pháo. Số pháo không kéo được đi họ tháo rời và chôn giấu để tránh rơi lại vào tay quân Ba Tư.
Mặc dù trên đường rút chạy, họ đụng phải một nhóm quân Ba Tư tuần tra nhưng quân Nga đã giết sạch được nhóm tuần tra này và mang vũ khí chạy kịp về thành Shahbulaq trước khi quân chủ lực Ba Tư phát hiện ra.
Đội quân 150 người sống sót, mệt mỏi rã rời sau trận chiến kéo dài 4 ngày một lần nữa đã làm được điều kỳ diệu. Họ đã dùng pháo bắn tung cổng thành Shahbulaq và chiếm được thành chỉ trong một đợt xung phong. Hai Hãn vương Ba Tư cùng toàn bộ lính Ba Tư trong thành chống cự đã bị đâm chết bằng lưỡi lê, số lính còn lại gồm 400 người đã bỏ chạy.
Tuy nhiên, vận đen của quân Nga vẫn chưa hết, trong thành không hề có đạn hay lương thực còn sót lại, trong khi đó phần lương thực dự trữ của quân Nga còn lại đã bị bỏ lại trên đoàn tầu. Nhận biết được tình thế, Abbas Mirza đã để lại 8.000 quân để công thành Shahbulaq và điều số quân còn lại đi đường vòng để tiếp tục tiến sâu vào lãnh thổ Nga.
Sau 1 tuần đánh thành không có kết quả với lực lượng gấp hơn 50 lần (8000 vs 150), Karyagin định trá hàng quân Ba Tư nhưng người Ba Tư cũng không ngu, họ nhận ra ý định của ông và chuẩn bị tổng tấn công đợt cuối. Karyagin quyết định một lần nữa liều lĩnh phá vây và tiến đến thành Mukhrat gần đó, cũng đang bị quân Ba Tư chiếm.
22 giờ ngày 7/7, để có thể rút lui thành công, Karyagin để lại một đội lính canh và hình nhân giữ nguyên vị trí trên thành để lừa quân Ba Tư. Đáng lẽ đội lính canh này đã bị giết sạch nhưng cũng chả hiểu thế quái nào, họ vẫn tiếp tục trốn thoát thành công và bắt kịp với đội quân chính của Karyagin.
150 người Nga “bất tử” này đã quyết định tấn công thành Mukhrat. Tuy nhiên, trên đường đi, có một rãnh đất lớn đã cản đường họ và pháo không thể kéo qua, đồng thời, xung quanh cũng chẳng có rừng để đốn cây lấp vào hào. Khi đó, một binh sĩ trong đội là Gavrila Sidorov đã đề xuất ý tưởng dùng 4 người, sử dụng những khẩu hỏa mai cắm lê xuống đáy rãnh, lấy những khẩu súng khác gác lên trên và 4 người lính này sẽ chui xuống rãnh, dùng vai mình để đỡ tất cả những khẩu súng trên cho pháo đi qua. Khẩu pháo thứ nhất đi qua thành công, nhưng khẩu pháo thứ hai đã đè chết hai binh sĩ, trong đó có Sidorov, tuy nhiên lính Nga vẫn kéo được nó qua rãnh.
Ngày 8/7, họ đi đến ngôi làng Kasapet và được người dân ở đây cho ăn một bữa no. Tuy nhiên, vì dừng lại, họ đã bị kỵ binh Ba Tư bắt kịp ở cách Mukhrat 3 km. Một đội kỵ binh Ba Tư gồm 1500 quân đã tấn công vào đội của Karyagin và cướp được một khẩu pháo. Tuy nhiên, lại cũng không hiểu bằng cách nào, đội quân thương tích đầy mình này đã dùng lưỡi lê đánh bại đội kỵ binh đông gấp 10 lần của Ba Tư và cướp lại khẩu pháo vào đêm hôm đó. Ngay lập tức, đội quân của Karyagin đã sử dụng hai khẩu pháo này và hạ gục thành Mukhrat với số quân đồn trú ít nhất gấp 5 lần và chiếm được ngôi thành và sẵn sàng đón lực lượng 8000 quân Ba Tư tấn công.

May mắn thay, lần này quân của hoàng tử Tsitsyanov đã cứu kịp, họ mang theo 2300 quân cùng 10 khẩu pháo và đánh bại đội quân Ba Tư 8000 người ở đây.

Quân chủ lực Ba Tư lúc đó khoảng 30.000 người đang vây thành Askeran, sau khi nghe tin quân của Tsitsyanov đã rời Elizavetpol định tấn công thành này, tuy nhiên ngày 27/7, 600 lính Nga, bao gồm cả 100 binh sĩ sống sót thuộc Đội quân “bất tử” của Karyagin đã đột ngột đột kích thẳng vào trại của Abbas Mirza và giết phần lớn các tướng Ba Tư chỉ huy ở đây. Abbas Mirza cùng toàn quân vội vàng chạy thoát và chính thức kết thúc cuộc chiến giữa Nga và Ba Tư tại Kavkaz năm 1805.

Tổng kết:

Sau 3 tuần, với 493 quân và 2 khẩu pháo, quân Nga đã cầm chân được 40.000 quân Ba Tư, hạ hai thành, góp công lớn trong việc hỗ trợ quân chủ lực Nga gồm 2500 người đánh bại hoàn toàn quân Ba Tư và vẫn còn sống sót 100 người.

#VodkaPower

Hình: Tranh vẽ Gavrila Sidorov cùng những người lính dùng thân mình làm cầu sống để vận chuyển pháo qua hào khi 150 lính Nga tấn công thành Mukhrat
A

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Nguồn gốc địa danh Sài Gòn, Đồng Nai và Huế

Trương Thái Du's Blog

Sài Gòn ơi ta trả lại tên em
Âm Triều Châu sao mà thân thương thế
Những khúc cong lượn như bầu vú mẹ
Dòng Sông Tây nuôi mớm đất anh hào

Khởi đi từ tư duy hệ thống và phi tuyến tính, chúng tôi thấy rằng rất ít khi có một địa danh lẻ loi, từ trên trời rơi xuống. Mỗi địa danh đều gắn kết với ít nhất một địa danh khác, mà chúng tôi tạm gọi là “hệ địa danh”. Trong nội bộ một hệ địa danh nhất định, sự tương tác cũng như liên đới về phương hướng (đông tây nam bắc), ngữ nghĩa, ngữ âm, lịch sử hình thành và địa lý chắc chắn sẽ giúp chúng ta khám phá ra logic gần sự thật nhất, có độ thuyết phục cao nhất, từ ít cứ liệu nhất.

Đó là lý do chúng tôi quyết định…

View original post 994 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

NO MATTER WHAT

Mary Hayley Bell là diễn viên người Anh nhưng sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, bà có một cuộc sống gia đình viên mãn với chồng (suốt 64 năm và gần như họ cùng mất đi năm 2005) và ba người con cũng đều là nghệ sỹ. Nhưng người đời biết tới bà nhiều hơn bởi 4 tác phẩm văn học đều đã được đưa lên màn ảnh, trong đó đáng kể nhất là “Whistle Down the Wind” ( Thả cho gió cuốn) lên màn ảnh năm 1961. Một tuyệt phẩm thấm đẫm tính nhân văn!
Nội dung của bộ phim xoay quanh việc ba đứa trẻ nông thôn vùng Lancashire nước Anh tìm thấy một tên sát nhân đang ẩn nấp trong nhà kho của mình. Đó là một gã nhiều râu, cảnh sát gọi gã là “Blakey”. Bọn trẻ đã nhầm gã là Chúa Jesus, nguyên do là bởi bọn trẻ bị ảnh hưởng nặng nề từ những câu chuyện mà chúng được nghe kể ở trường ngày chủ nhật và bởi vì đứa lớn nghe thấy tiếng hét “Chúa Jesus” của tên sát nhân đó lúc chập choạng tối khi cô bé phát hiện ra gã đang trốn trong kho thóc của gia đình. Tên sát nhân – ban đầu có ý định thủ tiêu ba đứa trẻ Bostock để tự bảo vệ mình, không để người lớn phát hiện ra mình – nhưng rồi lại hùa theo đức tin của bọn trẻ, chẳng cần cố gắng giải thích làm gì, nhất là khi gã thấy cô chị cả Kathy sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ gã khỏi cảnh sát địa phương, mặc cho những tấm áp phích đang được truyền đi trong thị trấn nói rằng gã ta thực sự muốn giết người.
Lũ trẻ con ở thị trấn nhỏ gần đó cuối cùng cùng biết được tin Chúa Jesus đang sống trong nhà kho, điều này làm cho những nỗ lực giữ bí mật của Kathy ngày càng khó khăn. Khi tin này đến tai người lớn, đó là cha của Kathy, ông đã báo cảnh sát đến để bắt giữ tội phạm.
Bọn trẻ con trong làng, lúc đó phải đến cả trăm đứa cùng kéo đến nhà kho. Cho rằng mình đã bỏ rơi Chúa Jesus, Kathy lẻn ra sau và xin lỗi Blakey rằng cô không thể bảo vệ gã nữa. Gã tha thứ cho cô bé và, sau nhiều lời thúc giục từ Kathy, hứa rằng cô bé sẽ gặp lại gã. Như cam chịu số phận, Blakey ném khẩu súng lục của mình ra ngoài cửa và đầu hàng cảnh sát.
Khi Blakey bị giải đi và đám đông giải tán, có hai đứa trẻ tiến tới chỗ Kathy và đòi gặp Chúa Jesus. Cô nói với chúng rằng lần này chúng đã bỏ lỡ, nhưng một ngày nào đó Người sẽ trở lại.

(cô bé đóng trong phim đó là con gái của chính tác giả Mary Harley Bell).
Trẻ em có thế giới quan riêng và có niềm tin vào những điều tốt đẹp mà người lớn chúng ta đã đánh mất đi và chẳng bao giờ còn có được… Năm 1996 Andrew Lloyd Webber – nhà soạn nhạc người Anh và ông bầu âm nhạc thành công nhất trong lịch sử – đã dựng nhạc kịch cùng tên tại Mỹ khá thành công, trong đó có bài hát sau:
“No Matter What”
No matter if the sun don’t shine
Or if the skies are blue
No matter what the ending
My life began with you
I can’t deny what I believe
I can’t be what I’m not
I know, I know
I know this love’s forever
That’s all that matters now
No matter what…
Clip bài hát từ buổi diễn thử của vở nhạc kịch thiếu nhi này năm 1996 ở Mỹ (tôi có lẽ đã xem lại nhiều chục lần và lần nào cũng rất xúc động) – các diễn viên nhỏ đã thực sự xuất thần: https://www.youtube.com/watch?v=7EJt5T4pZSQ
Dù cho họ có nói với chúng ta điều gì đi nữa
Dù cho họ có làm những gì
Dù cho họ dạy chúng ta điều gì
Thì những gì chúng ta tin tưởng vẫn là sự thật
Dù cho họ gọi chúng ta là gì đi nữa
Dù cho họ công kích ta
Dù cho họ có đưa chúng ta đến đâu đi chăng nữa
Thì chúng ta vẫn sẽ tìm ra được lối về của riêng mình
Anh không thể chối bỏ những gì anh tin tưởng
Anh không thể chối bỏ bản thân mình
Anh biết tình yêu của chúng ta sẽ vĩnh cửu
Anh biết, dù cho thế nào đi nữa
Giá như những giọt nước mắt là tiếng cười vui
Giá như đêm tối tăm là ngày tươi sáng
Giá như những cầu nguyện được hồi đáp
Rồi ta sẽ nghe được Chúa trả lời
Dù cho họ có nói với em điều gì đi nữa
Dù cho họ có làm những gì
Dù cho họ dạy em điều gì
Thì những gì em tin tưởng vẫn là sự thật
Anh sẽ giữ cho em an toàn và khỏe mạnh
Và che chở em trước sóng gió cuộc đời này
Dù cho đó là nơi cằn cỗi đến đâu đi chăng nữa
Thì giấc mơ vẫn sẽ được sinh ra
Dù cho họ có theo ai đi nữa
Dù cho họ dẫn ta đến nơi đâu
Dù cho họ xét đoán ta thế nào
Anh vẫn sẽ trở thành bất kì ai mà em cần
Dù cho mặt trời không còn chiếu sáng
Hay bầu trời chỉ mang một màu u buồn
Dù cho cái kết là gì đi chăng nữa
Thì cuộc đời anh vẫn bắt đầu cùng với em
Anh chẳng thể chối bỏ những gì anh tin tưởng
Anh không thể chối bỏ bản thân mình
Anh biết tình yêu của chúng ta sẽ vĩnh cửu
Như vậy là đủ rồi
Dù cho thế nào đi nữa!
Cũng khoảng thời điểm này có một ông bầu xứ Ireland “mát tay” khác là Louish Walsh lập ra cả loạt boyband là Boyzone và Westlife (chưa kể ca sĩ Johnny Logan) và đều thành công nhanh chóng. Thế rồi năm 1998 Boyzone đã hát khúc ca “No Matter What” nói trên và làm cho toàn thế giới biết đến nó…





Năm 2009 giọng ca thứ hai của nhóm Boyzone là Stephan Gately qua đời, có vẻ như các bài hát cũ của Boyzone lại càng được nghe đến nhiều hơn, “No Matter What” được rất nhiều ca sỹ biểu diễn, nhiều nhất có lẽ là… Westlife! Nhưng có ý nghĩa nhất là ta nghe Boyzone cùng hát với Westlife tưởng nhớ tới người bạn diễn sớm ra đi:

Tôi biết đến bài hát này đã rất lâu, có lẽ từ khi Queen Bee còn hoạt động và nhóm “Quả Dưa Hấu” buổi nào cũng lên mát mở màn bằng chính bài này, và hát rất hay. Nhưng mãi sau này tôi mới hiểu ra ý nghĩa thực sự của bài hát: có nhiều lúc cần tin mãnh liệt vào những điều tốt đẹp nhất, bất kể người khác nói sao! Đó là bài học đáng nhớ mà các ca sĩ nhí của Mỹ đem tới cho tôi, dành cho những thời khắc dễ ngã lòng nhất:

No matter if the sun don’t shine… No matter what!

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Tên gọi “Việt Nam” có từ khi nào?

Trương Thái Du's Blog

Ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 Trương Lập Đạo dẫn đầu sứ đoàn nhà Nguyên đến Thăng Long. Ngày 19.3 tại Sứ quán, Thế Tử nhà Trần hỏi Lập Đạo đi đường chắc mệt nhọc lắm (驅馳 khu trì), Nguyên sứ trả lời: “天子不以越南為逺何以驅馳 – Thiên tử bất dĩ Việt Nam vi viễn hà dĩ khu trì”.

vietnam1

Bản dịch An Nam Chí Lược của Viện Đại Học Huế năm 1960 ghi: “Thiên tử không cho rằng nước An Nam là nơi xa cách, thì sứ thần ngại gì xông pha”. Một số người thông thạo Hán tự cho rằng Việt là vượt, nam ý chỉ phía nam, đại khái phải hiểu như sau: “Thiên tử không cho rằng đi phượt về phương nam là xa xôi thì làm sao dám mệt mỏi”.

Tuy nhiên An Nam Chí Lược không chỉ nhắc đến từ kép “Việt Nam” một lần duy nhất…

View original post 729 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thẹn thùng xem tranh Bùi Xuân Phái minh họa thơ Hồ Xuân Hương

Những ý thơ gợi tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được khắc họa sinh động qua nét bút phóng khoáng của cố danh hoạ Việt Nam.

Đó là bộ tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của Hồ Xuân Hương, được cố danh họa thực hiện từ năm 1982 đến 1986. Bộ tranh này hiện do người con trai của ông là họa sĩ Bùi Thanh Phương lưu giữ. Gầy đây, nhiều tác phẩm trong bộ tranh đã được giới thiệu trên mạng.

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu…

(Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương).

Lắt lẻo cành thông cơn gió thổi
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

(Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương).

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay

(Quả mít – Hồ Xuân Hương).

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn…

(Tự tình – Hồ Xuân Hương).

Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con

(Tự tình – Hồ Xuân Hương).

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh

(Tranh hai Tố nữ – Hồ Xuân Hương).

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm…

(Hang cắc cớ – Hồ Xuân Hương).

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo

(Kiếp Tu Hành – Hồ Xuân Hương).

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng…

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông…

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long…

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông..
.

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay…

(Vịnh cái quạt (1) – Hồ Xuân Hương).

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này

(Vịnh cái quạt (1) – Hồ Xuân Hương).

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa…

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa…

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi…

(Trống thủng – Hồ Xuân Hương).

Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

(Đánh đu – Hồ Xuân Hương).

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi

(Mời ăn Trầu – Hồ Xuân Hương).

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau…

(Dệt vải – Hồ Xuân Hương).

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết…

(Đánh cờ – Hồ Xuân Hương).

Theo KIẾN THỨC

Posted in Uncategorized | Leave a comment