CÂU CHUYỆN 300 CỦA NƯỚC NGA HAY SỨC MẠNH BINH ĐOÀN VODKA

Sau khi chiến thắng Ba Tư trong cuộc chiến năm 1804, tất cả lực lượng của Nga dồn sang mặt trận châu Âu để đối đầu với quân Napoleon, do đó lực lượng phòng thủ của cả vùng Kavkaz, biên giới với Ba Tư của Nga chỉ có khoảng 8.000 – 10.000 lính.
Nhân tình hình đó, để rửa hận cho cuộc chiến 1804, tháng 6 năm 1805, vua Ba Tư là Fath Ali đã điều 40.000 quân, dẫn đầu bởi hoàng tử Abbas Mirza, vượt sông Araks để tấn công vào vùng Kavkaz.
Không thể gom được quân từ bao nhiêu đồn lính trải khắp cả vùng, hoàng tử Pavel Tsitsianov, thống đốc vùng Kavkaz chỉ gửi được 493 binh sĩ, 2 khẩu pháo trên một đoàn tầu, dưới sự chỉ huy của đại tá Pavel Karyagin nhằm cầm chân 40.000 quân Ba Tư để đợi quân nội địa gửi tới cứu.
Đội quân này xuất phát từ ngày 21/6/1805 và hành quân suốt 100 km qua địa hình rừng núi để tới đồn Shusha, nhằm chặn quân Ba Tư tại đây. Tuy nhiên sau 3 ngày, tới ngày 24/6 chưa kịp tới đích thì họ đã đụng độ với quân đoàn kỵ binh 10.000 lính của Ba Tư. Đại tá Karyagin đã khéo léo tấn công chọc thẳng vào đội quân này và tiếp tục tiến lên và khiến quân Ba Tư thiệt hại vô số kể. Tuy nhiên, sau khi tiến được 20 km, đội quân của Karyagin đã đụng phải quân chủ lực Ba Tư và bị chặn lại. Quân Nga khi đó đã đắp tạm một tòa lũy đất trong một nghĩa địa cũ của người Tatar để phòng thủ. Lúc này, gần 500 binh sĩ Nga bị vây kín hoàn toàn bởi 40.000 quân Ba Tư.
Trong suốt ngày 25/6, quân Ba Tư tấn công liên tục không ngơi nghỉ vào lũy phòng thủ của quân Nga từ sáng tới đêm, hết đợt này đến đợt khác. Đến sáng hôm sau, quân Nga đã thiệt hại 197 binh sĩ nhưng xác quân Ba Tư đã chất kín tất cả các lối vào của tòa lũy đất quân Nga đắp.
Lúc này, quân Nga chỉ còn chưa đến 300 binh sĩ, mệt mỏi, đói khát và bị thương. Tình huống còn tồi tệ hơn khi Hãn vương vùng Karabakh gần đó, Ibrahim Khalil vốn trước đó xưng thần với nước Nga, đáng ra phải hỗ trợ quân của Karyagil thì lại ngay lập tức đầu hàng quân Ba Tư, chặn luôn đường rút lui của quân Nga khi đó (lol, ít nhất là trong 300 quân Sparta không bị chặn sau lưng).
Nhận biết được tình thế ngặt nghèo của quân Nga, quân Ba Tư đã đắp đập chặn nguồn nước dẫn vào vị trí quân Nga và bắt đầu sử dụng sơn pháo đặt ở bờ sông Karkarchai bắn vào tòa lũy của quân Nga. Đêm ngày 26/6, một đội cảm tử của quân Nga dưới sự chỉ huy của Trung úy Ladinsky bí mật đột nhập vào vị trí đặt pháo của quân Ba Tư, dùng lưỡi lê giết sạch các pháo thủ, đặt mìn phá nổ các khẩu pháo, vứt phần còn lại xuống sông và cướp được 15 khẩu pháo mang về trại. Tất cả trận chiến chỉ diễn ra trong nửa tiếng và quân Nga không mất một binh sĩ nào.
Tuy nhiên, tình hình hai ngày tiếp theo cũng không khá khẩm hơn. Ngày 27/6, 25 binh sĩ Nga ra hàng quân Ba Tư. Cùng ngày hôm đó, một phân đội 40 binh sĩ Nga đi tìm thức ăn bị kỵ binh Ba Tư phục kích giết gần hết, chỉ còn 6 người sống sót chạy được về. Sang ngày 28/6, quân Nga chỉ còn chưa đến 200 lính và đã hết sạch nước trong khi đường ra sông bị chặn hoàn toàn. Không những thế, tất cả các sĩ quan đều bị thương và gần như hết sạch đạn. Chỉ huy đội quân, Đại tá Karyagin đã ba lần bị sức ép đạn pháo bất tỉnh và bị trúng một phát đạn vào sườn.
Các sĩ quan Nga cuối cùng đã đưa ra quyết định: ĐỘt phá vòng vây vào đêm, tấn công thành Shahbulag gần đó đang bị quân Ba Tư chiếm và sử dụng thành này để phòng thủ. Cả đội quân thương tật đầy mình đã phải vứt lại đoàn tầu để lừa quân Ba Tư, sau đó chạy bộ rút lui. Chỉ có ba sĩ quan bị thương nặng là Karyagin, Kotlyarevsky và Ladinsky được ngồi trên lưng ngựa, tất cả những người còn lại đều đi bộ và tự tay kéo pháo. Số pháo không kéo được đi họ tháo rời và chôn giấu để tránh rơi lại vào tay quân Ba Tư.
Mặc dù trên đường rút chạy, họ đụng phải một nhóm quân Ba Tư tuần tra nhưng quân Nga đã giết sạch được nhóm tuần tra này và mang vũ khí chạy kịp về thành Shahbulaq trước khi quân chủ lực Ba Tư phát hiện ra.
Đội quân 150 người sống sót, mệt mỏi rã rời sau trận chiến kéo dài 4 ngày một lần nữa đã làm được điều kỳ diệu. Họ đã dùng pháo bắn tung cổng thành Shahbulaq và chiếm được thành chỉ trong một đợt xung phong. Hai Hãn vương Ba Tư cùng toàn bộ lính Ba Tư trong thành chống cự đã bị đâm chết bằng lưỡi lê, số lính còn lại gồm 400 người đã bỏ chạy.
Tuy nhiên, vận đen của quân Nga vẫn chưa hết, trong thành không hề có đạn hay lương thực còn sót lại, trong khi đó phần lương thực dự trữ của quân Nga còn lại đã bị bỏ lại trên đoàn tầu. Nhận biết được tình thế, Abbas Mirza đã để lại 8.000 quân để công thành Shahbulaq và điều số quân còn lại đi đường vòng để tiếp tục tiến sâu vào lãnh thổ Nga.
Sau 1 tuần đánh thành không có kết quả với lực lượng gấp hơn 50 lần (8000 vs 150), Karyagin định trá hàng quân Ba Tư nhưng người Ba Tư cũng không ngu, họ nhận ra ý định của ông và chuẩn bị tổng tấn công đợt cuối. Karyagin quyết định một lần nữa liều lĩnh phá vây và tiến đến thành Mukhrat gần đó, cũng đang bị quân Ba Tư chiếm.
22 giờ ngày 7/7, để có thể rút lui thành công, Karyagin để lại một đội lính canh và hình nhân giữ nguyên vị trí trên thành để lừa quân Ba Tư. Đáng lẽ đội lính canh này đã bị giết sạch nhưng cũng chả hiểu thế quái nào, họ vẫn tiếp tục trốn thoát thành công và bắt kịp với đội quân chính của Karyagin.
150 người Nga “bất tử” này đã quyết định tấn công thành Mukhrat. Tuy nhiên, trên đường đi, có một rãnh đất lớn đã cản đường họ và pháo không thể kéo qua, đồng thời, xung quanh cũng chẳng có rừng để đốn cây lấp vào hào. Khi đó, một binh sĩ trong đội là Gavrila Sidorov đã đề xuất ý tưởng dùng 4 người, sử dụng những khẩu hỏa mai cắm lê xuống đáy rãnh, lấy những khẩu súng khác gác lên trên và 4 người lính này sẽ chui xuống rãnh, dùng vai mình để đỡ tất cả những khẩu súng trên cho pháo đi qua. Khẩu pháo thứ nhất đi qua thành công, nhưng khẩu pháo thứ hai đã đè chết hai binh sĩ, trong đó có Sidorov, tuy nhiên lính Nga vẫn kéo được nó qua rãnh.
Ngày 8/7, họ đi đến ngôi làng Kasapet và được người dân ở đây cho ăn một bữa no. Tuy nhiên, vì dừng lại, họ đã bị kỵ binh Ba Tư bắt kịp ở cách Mukhrat 3 km. Một đội kỵ binh Ba Tư gồm 1500 quân đã tấn công vào đội của Karyagin và cướp được một khẩu pháo. Tuy nhiên, lại cũng không hiểu bằng cách nào, đội quân thương tích đầy mình này đã dùng lưỡi lê đánh bại đội kỵ binh đông gấp 10 lần của Ba Tư và cướp lại khẩu pháo vào đêm hôm đó. Ngay lập tức, đội quân của Karyagin đã sử dụng hai khẩu pháo này và hạ gục thành Mukhrat với số quân đồn trú ít nhất gấp 5 lần và chiếm được ngôi thành và sẵn sàng đón lực lượng 8000 quân Ba Tư tấn công.

May mắn thay, lần này quân của hoàng tử Tsitsyanov đã cứu kịp, họ mang theo 2300 quân cùng 10 khẩu pháo và đánh bại đội quân Ba Tư 8000 người ở đây.

Quân chủ lực Ba Tư lúc đó khoảng 30.000 người đang vây thành Askeran, sau khi nghe tin quân của Tsitsyanov đã rời Elizavetpol định tấn công thành này, tuy nhiên ngày 27/7, 600 lính Nga, bao gồm cả 100 binh sĩ sống sót thuộc Đội quân “bất tử” của Karyagin đã đột ngột đột kích thẳng vào trại của Abbas Mirza và giết phần lớn các tướng Ba Tư chỉ huy ở đây. Abbas Mirza cùng toàn quân vội vàng chạy thoát và chính thức kết thúc cuộc chiến giữa Nga và Ba Tư tại Kavkaz năm 1805.

Tổng kết:

Sau 3 tuần, với 493 quân và 2 khẩu pháo, quân Nga đã cầm chân được 40.000 quân Ba Tư, hạ hai thành, góp công lớn trong việc hỗ trợ quân chủ lực Nga gồm 2500 người đánh bại hoàn toàn quân Ba Tư và vẫn còn sống sót 100 người.

#VodkaPower

Hình: Tranh vẽ Gavrila Sidorov cùng những người lính dùng thân mình làm cầu sống để vận chuyển pháo qua hào khi 150 lính Nga tấn công thành Mukhrat
A

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Nguồn gốc địa danh Sài Gòn, Đồng Nai và Huế

Trương Thái Du's Blog

Sài Gòn ơi ta trả lại tên em
Âm Triều Châu sao mà thân thương thế
Những khúc cong lượn như bầu vú mẹ
Dòng Sông Tây nuôi mớm đất anh hào

Khởi đi từ tư duy hệ thống và phi tuyến tính, chúng tôi thấy rằng rất ít khi có một địa danh lẻ loi, từ trên trời rơi xuống. Mỗi địa danh đều gắn kết với ít nhất một địa danh khác, mà chúng tôi tạm gọi là “hệ địa danh”. Trong nội bộ một hệ địa danh nhất định, sự tương tác cũng như liên đới về phương hướng (đông tây nam bắc), ngữ nghĩa, ngữ âm, lịch sử hình thành và địa lý chắc chắn sẽ giúp chúng ta khám phá ra logic gần sự thật nhất, có độ thuyết phục cao nhất, từ ít cứ liệu nhất.

Đó là lý do chúng tôi quyết định…

View original post 994 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

NO MATTER WHAT

Mary Hayley Bell là diễn viên người Anh nhưng sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, bà có một cuộc sống gia đình viên mãn với chồng (suốt 64 năm và gần như họ cùng mất đi năm 2005) và ba người con cũng đều là nghệ sỹ. Nhưng người đời biết tới bà nhiều hơn bởi 4 tác phẩm văn học đều đã được đưa lên màn ảnh, trong đó đáng kể nhất là “Whistle Down the Wind” ( Thả cho gió cuốn) lên màn ảnh năm 1961. Một tuyệt phẩm thấm đẫm tính nhân văn!
Nội dung của bộ phim xoay quanh việc ba đứa trẻ nông thôn vùng Lancashire nước Anh tìm thấy một tên sát nhân đang ẩn nấp trong nhà kho của mình. Đó là một gã nhiều râu, cảnh sát gọi gã là “Blakey”. Bọn trẻ đã nhầm gã là Chúa Jesus, nguyên do là bởi bọn trẻ bị ảnh hưởng nặng nề từ những câu chuyện mà chúng được nghe kể ở trường ngày chủ nhật và bởi vì đứa lớn nghe thấy tiếng hét “Chúa Jesus” của tên sát nhân đó lúc chập choạng tối khi cô bé phát hiện ra gã đang trốn trong kho thóc của gia đình. Tên sát nhân – ban đầu có ý định thủ tiêu ba đứa trẻ Bostock để tự bảo vệ mình, không để người lớn phát hiện ra mình – nhưng rồi lại hùa theo đức tin của bọn trẻ, chẳng cần cố gắng giải thích làm gì, nhất là khi gã thấy cô chị cả Kathy sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ gã khỏi cảnh sát địa phương, mặc cho những tấm áp phích đang được truyền đi trong thị trấn nói rằng gã ta thực sự muốn giết người.
Lũ trẻ con ở thị trấn nhỏ gần đó cuối cùng cùng biết được tin Chúa Jesus đang sống trong nhà kho, điều này làm cho những nỗ lực giữ bí mật của Kathy ngày càng khó khăn. Khi tin này đến tai người lớn, đó là cha của Kathy, ông đã báo cảnh sát đến để bắt giữ tội phạm.
Bọn trẻ con trong làng, lúc đó phải đến cả trăm đứa cùng kéo đến nhà kho. Cho rằng mình đã bỏ rơi Chúa Jesus, Kathy lẻn ra sau và xin lỗi Blakey rằng cô không thể bảo vệ gã nữa. Gã tha thứ cho cô bé và, sau nhiều lời thúc giục từ Kathy, hứa rằng cô bé sẽ gặp lại gã. Như cam chịu số phận, Blakey ném khẩu súng lục của mình ra ngoài cửa và đầu hàng cảnh sát.
Khi Blakey bị giải đi và đám đông giải tán, có hai đứa trẻ tiến tới chỗ Kathy và đòi gặp Chúa Jesus. Cô nói với chúng rằng lần này chúng đã bỏ lỡ, nhưng một ngày nào đó Người sẽ trở lại.

(cô bé đóng trong phim đó là con gái của chính tác giả Mary Harley Bell).
Trẻ em có thế giới quan riêng và có niềm tin vào những điều tốt đẹp mà người lớn chúng ta đã đánh mất đi và chẳng bao giờ còn có được… Năm 1996 Andrew Lloyd Webber – nhà soạn nhạc người Anh và ông bầu âm nhạc thành công nhất trong lịch sử – đã dựng nhạc kịch cùng tên tại Mỹ khá thành công, trong đó có bài hát sau:
“No Matter What”
No matter if the sun don’t shine
Or if the skies are blue
No matter what the ending
My life began with you
I can’t deny what I believe
I can’t be what I’m not
I know, I know
I know this love’s forever
That’s all that matters now
No matter what…
Clip bài hát từ buổi diễn thử của vở nhạc kịch thiếu nhi này năm 1996 ở Mỹ (tôi có lẽ đã xem lại nhiều chục lần và lần nào cũng rất xúc động) – các diễn viên nhỏ đã thực sự xuất thần: https://www.youtube.com/watch?v=7EJt5T4pZSQ
Dù cho họ có nói với chúng ta điều gì đi nữa
Dù cho họ có làm những gì
Dù cho họ dạy chúng ta điều gì
Thì những gì chúng ta tin tưởng vẫn là sự thật
Dù cho họ gọi chúng ta là gì đi nữa
Dù cho họ công kích ta
Dù cho họ có đưa chúng ta đến đâu đi chăng nữa
Thì chúng ta vẫn sẽ tìm ra được lối về của riêng mình
Anh không thể chối bỏ những gì anh tin tưởng
Anh không thể chối bỏ bản thân mình
Anh biết tình yêu của chúng ta sẽ vĩnh cửu
Anh biết, dù cho thế nào đi nữa
Giá như những giọt nước mắt là tiếng cười vui
Giá như đêm tối tăm là ngày tươi sáng
Giá như những cầu nguyện được hồi đáp
Rồi ta sẽ nghe được Chúa trả lời
Dù cho họ có nói với em điều gì đi nữa
Dù cho họ có làm những gì
Dù cho họ dạy em điều gì
Thì những gì em tin tưởng vẫn là sự thật
Anh sẽ giữ cho em an toàn và khỏe mạnh
Và che chở em trước sóng gió cuộc đời này
Dù cho đó là nơi cằn cỗi đến đâu đi chăng nữa
Thì giấc mơ vẫn sẽ được sinh ra
Dù cho họ có theo ai đi nữa
Dù cho họ dẫn ta đến nơi đâu
Dù cho họ xét đoán ta thế nào
Anh vẫn sẽ trở thành bất kì ai mà em cần
Dù cho mặt trời không còn chiếu sáng
Hay bầu trời chỉ mang một màu u buồn
Dù cho cái kết là gì đi chăng nữa
Thì cuộc đời anh vẫn bắt đầu cùng với em
Anh chẳng thể chối bỏ những gì anh tin tưởng
Anh không thể chối bỏ bản thân mình
Anh biết tình yêu của chúng ta sẽ vĩnh cửu
Như vậy là đủ rồi
Dù cho thế nào đi nữa!
Cũng khoảng thời điểm này có một ông bầu xứ Ireland “mát tay” khác là Louish Walsh lập ra cả loạt boyband là Boyzone và Westlife (chưa kể ca sĩ Johnny Logan) và đều thành công nhanh chóng. Thế rồi năm 1998 Boyzone đã hát khúc ca “No Matter What” nói trên và làm cho toàn thế giới biết đến nó…





Năm 2009 giọng ca thứ hai của nhóm Boyzone là Stephan Gately qua đời, có vẻ như các bài hát cũ của Boyzone lại càng được nghe đến nhiều hơn, “No Matter What” được rất nhiều ca sỹ biểu diễn, nhiều nhất có lẽ là… Westlife! Nhưng có ý nghĩa nhất là ta nghe Boyzone cùng hát với Westlife tưởng nhớ tới người bạn diễn sớm ra đi:

Tôi biết đến bài hát này đã rất lâu, có lẽ từ khi Queen Bee còn hoạt động và nhóm “Quả Dưa Hấu” buổi nào cũng lên mát mở màn bằng chính bài này, và hát rất hay. Nhưng mãi sau này tôi mới hiểu ra ý nghĩa thực sự của bài hát: có nhiều lúc cần tin mãnh liệt vào những điều tốt đẹp nhất, bất kể người khác nói sao! Đó là bài học đáng nhớ mà các ca sĩ nhí của Mỹ đem tới cho tôi, dành cho những thời khắc dễ ngã lòng nhất:

No matter if the sun don’t shine… No matter what!

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Tên gọi “Việt Nam” có từ khi nào?

Trương Thái Du's Blog

Ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 Trương Lập Đạo dẫn đầu sứ đoàn nhà Nguyên đến Thăng Long. Ngày 19.3 tại Sứ quán, Thế Tử nhà Trần hỏi Lập Đạo đi đường chắc mệt nhọc lắm (驅馳 khu trì), Nguyên sứ trả lời: “天子不以越南為逺何以驅馳 – Thiên tử bất dĩ Việt Nam vi viễn hà dĩ khu trì”.

vietnam1

Bản dịch An Nam Chí Lược của Viện Đại Học Huế năm 1960 ghi: “Thiên tử không cho rằng nước An Nam là nơi xa cách, thì sứ thần ngại gì xông pha”. Một số người thông thạo Hán tự cho rằng Việt là vượt, nam ý chỉ phía nam, đại khái phải hiểu như sau: “Thiên tử không cho rằng đi phượt về phương nam là xa xôi thì làm sao dám mệt mỏi”.

Tuy nhiên An Nam Chí Lược không chỉ nhắc đến từ kép “Việt Nam” một lần duy nhất…

View original post 729 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thẹn thùng xem tranh Bùi Xuân Phái minh họa thơ Hồ Xuân Hương

Những ý thơ gợi tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được khắc họa sinh động qua nét bút phóng khoáng của cố danh hoạ Việt Nam.

Đó là bộ tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của Hồ Xuân Hương, được cố danh họa thực hiện từ năm 1982 đến 1986. Bộ tranh này hiện do người con trai của ông là họa sĩ Bùi Thanh Phương lưu giữ. Gầy đây, nhiều tác phẩm trong bộ tranh đã được giới thiệu trên mạng.

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu…

(Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương).

Lắt lẻo cành thông cơn gió thổi
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

(Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương).

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay

(Quả mít – Hồ Xuân Hương).

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn…

(Tự tình – Hồ Xuân Hương).

Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con

(Tự tình – Hồ Xuân Hương).

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh

(Tranh hai Tố nữ – Hồ Xuân Hương).

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm…

(Hang cắc cớ – Hồ Xuân Hương).

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo

(Kiếp Tu Hành – Hồ Xuân Hương).

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng…

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông…

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng

(Giếng nước – Hồ Xuân Hương).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long…

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông..
.

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong

(Thiếu nữ ngủ ngày – Hồ Xuân Hương).

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay…

(Vịnh cái quạt (1) – Hồ Xuân Hương).

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này

(Vịnh cái quạt (1) – Hồ Xuân Hương).

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa…

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa…

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

(Vịnh cái quạt (2) – Hồ Xuân Hương).

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi…

(Trống thủng – Hồ Xuân Hương).

Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

(Đánh đu – Hồ Xuân Hương).

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi

(Mời ăn Trầu – Hồ Xuân Hương).

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau…

(Dệt vải – Hồ Xuân Hương).

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết…

(Đánh cờ – Hồ Xuân Hương).

Theo KIẾN THỨC

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Dòng tranh Shunga và trí tưởng tượng hoa tình của người Nhật Bản

Shunga 春画 hay xuân hoạ, là những bức tranh về “xuân tình” hay nghệ thuật hoa tình (erotic) của Nhật Bản, tương đương với xuân cung hoạ của Trung Quốc. Nguồn gốc thể loại shunga khởi đầu với tác phẩm của Moronobu (khoảng 1660) và gắn liền với thời kì đầu của loại tranh mộc bản Phù thế hoạ (Ukiyo-e).

Image result for shunga octopus

Hokushai (1760-1849), Giấc mơ của vợ người ngư dân, 1814.

Đầu tiên, shunga được xuất bản như những chỉ dẫn cho giới kĩ nữ. Nhưng với đà phát triển thịnh vượng, các kĩ viện mở ngày càng nhiều ở Edo (nay là Tokyo) cùng những thay đổi trong đẳng cấp Nhật Bản khi giới thương gia ngày càng giàu có hơn, và họ dẫn đầu một phong cách sống hưởng lạc, vì vậy tranh shunga đã đạt được một chiều hướng mới hơn. Các cửa tiệm trong “quận đèn đỏ” ở Edo, gọi là Yoshiwara, bày bán tranh và sách shunga làm quà lưu niệm hoặc để chỉ dẫn cho khách làng chơi. Shunga cũng được xem như của hồi môn cho các cặp vợ chồng mới cưới để họ dùng như sách chỉ nam giáo dục về hạnh phúc chăn gối.

Với cuộc cách tân kĩ thuật in tranh mộc bản đa sắc vào năm 1765—trước đó tranh mộc bản được tô màu bằng tay hoặc được in với một bảng màu hạn chế—từ đây, thể loại shunga đã đi vào một giai đoạn mới vừa về mặt thẩm mĩ vừa về thương mại. Sự hưng thịnh này kéo dài thêm một thế kỉ nữa và kết thúc vào đầu thời Minh Trị (1868-1912) khi Nhật Bản mở cửa ra với phương Tây. Trong thời kì Minh Trị, chỉ có vài hoạ sĩ chuyên vẽ shunga và chủ yếu chịu ảnh hưởng nghệ thuật phương Tây.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Trong chăn1800.

Một số hoạ sĩ quan trọng vẽ tranh shunga: Moronobu, Harunobu, Koryusai, Utamaro, Kiyonaga, Shuncho, Hokusai, Shigenobu, Eisen, Eizan, Kuniyoshi, Kunisada, Kyosai.

Trong các họa sĩ này, Kitagawa Utamaro (1753-1806) là người có công phục hưng loại tranh Phù thế (Ukiyo-e). Ngoài những đề tài thiên nhiên, côn trùng,… ông nổi tiếng về thể loại mĩ nhân hoạ (bijinga) với một phong cách hết sức đặc thù. Những phụ nữ đẹp đầy nhục cảm trong tranh của ông đươc coi là mẫu mực tuyệt vời nhất và gợi cảm nhất của thể loại tranh Phù thế. Ông cũng thành công trong việc nắm bắt những khía cạnh tinh tế về cá tính và tâm trạng của phụ nữ thuộc mọi tầng lớp, tuổi tác, và trong mọi hoàn cảnh. Nhiều tác phẩm của Utamaro miêu tả đời sống của các kĩ nữ ở quận đèn đỏ Yoshiwara, vì vậy, ông được xem là “hoạ sĩ của lầu xanh”.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Trên thuyền, 1795

Từ giữa thế kỉ 19, tác phẩm của Utamaro đã sang tới châu Âu và rất được ưa chuộng, đặc biệt ở Pháp. Tranh ông đã ảnh hưởng tới hoạ phái Ấn tượng ở châu Âu, đặc biệt trong cách ông diễn tả những góc nhìn cục bộ và nhấn mạnh vào những điểm sáng và tối. Sự nghiệp sáng tác của Utamaro để lại hơn 2.000 mộc bản, cùng với nhiều hoạ phẩm cũng như nhiều sách minh hoạ, đặc biệt là hơn 30 hoạ tập shunga. Utamaro là hoạ sĩ duy nhất đương thời đạt được tiếng tăm vang dội, rồi được cả thế giới biết đến, và được coi là một trong những hoạ sĩ Phù thế tiêu biểu và vĩ đại nhất.

Dưới đây sẽ lần lượt giới thiệu một số tranh shunga tiêu biểu của Kitagawa Utamaro, và dưới mỗi bức sẽ có vài hàng chú thích và nhận xét.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Trong mùng, 1800

Cảnh thú vị về một gia đình được miêu tả qua lớp vải the của cái mùng. Người chồng đang làm chuyện đó với vợ trong khi cô đang cho đứa nhỏ nhất bú. Còn đứa lớn đang hờn dỗi vùng vằng đòi ra khỏi với bố mẹ. Để ý bàn tay nhỏ của em bé đang véo vào vú bên kia của mẹ.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Cái đầu lân, từ loạt tranh nhan đề ‘Ehon takara gura’, 1805.

Cặp tình nhân đang làm tình cuồng nhiệt dưới tấm mền phủ màu lục gắn vào với cái đầu lân to tướng. Điểm hài hước nằm ở chi tiết ánh mắt của cái đầu lân đang quan sát!

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Sát thủ ninja, từ hoạ tập ‘Ehon takara gura’, 1805.

Một ninja đang rọi chiếc đèn vào một cặp đang làm tình, với chi tiết ngộ nghĩnh về hai con chuột nhắt.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Đàn ông Tây Dương với kĩ nữ, 1800

Một người phương Tây (có lẽ Bồ Đào Nha hay Pháp) đang giao hợp với một kĩ nữ. Nhìn chi tiết hoa văn Baroque trên bộ phận sinh dục người đàn ông!

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Đồng luyến ái, 1803.

Cậu bé được miêu tả ở đây là chú tiểu (chigo), sẵn sàng phục vụ các hoà thượng, họ vốn không bị dị nghị khi là những hành giả cuồng nhiệt đối với cái gọi là “Thanh xuân đạo”. Thường những miêu tả giữa nam với nam trong shunga Nhật thì đóng vai chủ động là người đàn ông lớn tuổi hơn. Còn đối tác thụ động luôn là một cậu bé đến tuổi dậy thì hoặc trước tuổi dậy thì hoặc một thiếu niên chưa cạo tóc phía trên trán (dấu hiệu chưa trưởng thành). Những quan hệ giữa nam với nam, trong tầng lớp samurai và trong tu viện giữa hoà thượng với thị tăng trẻ tuổi, là một hiện tượng bình thường ở Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa, cũng như việc mại dâm giữa những kép tuồng kabuki trẻ đóng vai nữ.

Kitagawa Utamaro (1750-1806), Cưỡng hiếp, trong hoạ tập ‘Ehon hana fubuki’, 1802.

Khu vườn là bối cảnh cho hai người đàn ông dùng vũ lực cưỡng hiếp một phụ nữ đang khiếp sợ. Trong khi người chồng bị kiềm chế nằm bẹp dưới họ. Trên lưng của một trong hai kẻ tấn công xăm hình một bộ xương đang chơi đàn tam.

5 bức shunga của Utamaro dưới đây rút từ hoạ tập ‘Negai no itoguchi’ (Đầu mối của dục vọng), 1799.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Dòng tranh Xuân cung họa – đỉnh cao của nghệ thuật sắc tình Trung Hoa

Nghệ thuật sắc tình Trung Hoa đã có truyền thống từ thời cổ đại. Mặt thẩm mĩ và tính thâm thuý của nó đã phát triển và đạt đến cao điểm vào cuối đời Minh.

Những nền văn hoá lớn của châu Á như Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Ba Tư, Ả Rập đều có truyền thống văn học và nghệ thuật sắc tình. Truyền thống này cũng bao gồm cả thơ ca, tiểu thuyết cùng các loại cẩm nang ái tình được liệt vào hàng kinh sách đã ra đời rất sớm ở Ấn Độ và Trung Hoa. Chỉ có phương Tây là không có truyền thống văn học và nghệ thuật sắc tình, nó đã bị che giấu, không được công khai trong suốt lịch sử. Chẳng hạn, chỉ gần đây thôi, các nhà am tường nghệ thuật mới bắt đầu phát hiện ra các yếu tố sắc tình được khéo léo che đậy trong các tranh khắc kẽm của Rembrandt. Ngay cả ở nước Pháp được xem là tự do, nhưng mãi đến kỉ nguyên “Ánh sáng” vào thế kỉ 18, nghệ thuật sắc tình mới được quyền tồn tại.

 >> Tổng quan về nền hội họa truyền thống Trung Hoa
.

Nghệ thuật sắc tình Trung Hoa trong văn chương và hội hoạ đã có truyền thống từ thời cổ đại hơn hai ngàn năm nay, về mặt thẩm mĩ và tính thâm thuý của nó đã phát triển và đạt đến cao điểm vào cuối đời Minh (đầu thế kỉ 17) đồng thời với sự hưng thịnh của những thành phố thương mại ở vùng Giang Nam từ thế kỉ thứ 10 về sau, khi Tô Châu, Hàng Châu, và Quảng Châu trở nên những thành phố sầm uất và lịch lãm bậc nhất thế giới.

Một bức tranh Xuân cung họa.

Đằng sau sự nguỵ trang như là những “chỉ dẫn” hay “cẩm nang” cho người trẻ vốn e thẹn và thiếu kinh nghiệm phòng the, nghệ thuật sắc tình Trung Hoa đi đã tìm cái đẹp trong mọi cách thể hiện. Đối với người nhập môn, nó cung cấp không chỉ sự kích thích mà còn là nguồn khoái cảm về thẩm mĩ.

Ngày nay, thế giới phương Tây không chỉ ngưỡng mộ trướcnhững phù điêu lừng danh của ngôi đền thiêng Khajuraho và cuốn Kama-Sutra (Dục lạc kinh) của Ấn Độ; cũng không chỉ với những mộc bản nổi tiếng của những danh hoạ ukiyo-e (phù thế hội hoạ) của Nhật Bản, mà cũng còn đối với thể loại tranh sắc tình của Trung Hoa là xuân cung hoạ 春宫画, nhiều bức tuyệt đẹp không chỉ do sức quyến rủ gợi tình mà còn là những kiệt tác nghệ thuật. Chúng cũng thể hiện những phương diện quan trọng khác trong tính dục như sự dịu dàng, trìu mến và hài hước.

Xuân cung hoạ mô tả cảnh sinh hoạt tình ái nam nữ không theo lối dung tục hay khiêu dâm mà luôn đặt vào trong những khung cảnh đề cao cái đẹp và sự hài hoà, cùng với những chi tiết phụ trong tranh mang tính tượng trưng thâm thuý. Học giả lừng danh R. H. van Gulik đã công nhận xuân cung hoạ là một hình thái nghệ thuật và là di sản tinh thần của nhân loại. Trong thời vàng son của Xuân cung hoạ vào cuối thời Minh, chính các hoạ sĩ đã tự tay kí tên vào tác phẩm mà không sợ sự kiểm duyệt, cũng do chính sách thời đó đã cổ vũ sự phát triển nghệ thuật và khoa học, có thể kể tên tuổi những hoạ sĩ hàng đầu như Đường Dần (tự Bá Hổ với hoạ tập Uyên ương bí phổ), và Cừu Anh đã đóng góp vào thể loại tranh này.

Tác phẩm xuân cung hoạ do những nhà sưu tập phương Tây tìm cách sưu tập được là bằng chứng cho thể loại nghệ thuật độc đáo này. Bộ sưu tập tiêu biểu và quan trọng bậc nhất là của Ferry Bertholet, suốt nhiều năm trời ông đã kiên nhẫn sưu tập để cứu vãn một phần kho tàng này thoát khỏi những chiến dịch chính trị đập phá và bài trừ văn hoá truyền thống ở ngay chính xứ sở đã sản sinh ra chúng. Dưới đây là những bức xuân cung hoạ chọn lọc từ bộ sưu tập nói trên.

Bốn bức dưới trích trong hoạ tập miêu tả cảnh “vui xuân bốn mùa” của một nho sĩ trẻ sống cách biệt với bên ngoài. Chàng vui vầy cùng với những thê thiếp. Trong mỗi mùa đều có vẻ quyến rủ riêng.

Xuân cung hoạ dưới đây miêu tả tình tiết các cảnh trong cuốn đệ nhất phong lưu tiểu thuyết là Nhục bồ đoàn của Lý Ngư, viết vào nửa đầu thế kỉ 17.

Toàn hoạ tập dưới bao gồm 12 bức vẽ trên giấy, phô bày những cảnh tính dục trụy lạc, tai tiếng, hoặc đoạ lạc (perverted). Ba bức đầu kể câu chuyện về một nho sĩ trẻ dáng vẻ ẻo lả theo dõi và tán tỉnh một cô gái lẳng lơ đang trang điểm bên song cửa.

Bức tiếp theo cho thấy họ ở trong buồng của cô gái và đang mơn trớn nhau, nhưng họ bị người mẹ phát hiện và bà cảm thấy nhục nhã.

Bức thứ ba cho thấy người cha của cô gái đến để trừng phạt cặp trai gái lúc họ đang làm tình. Điều trớ trêu là ông già này bị mù vì thế cặp tình nhân trẻ không mấy sợ hãi khi ông tới gần. Nhưng ông đang thủ con dao phay sau lưng.

Bức trên cho thấy một cặp đang giao hoan trên cái sập.

Nhưng với bức này tình hình sinh động hơn với cặp trai gái đang làm tình trong vườn. Một cô khác cho cô bạn mượn lưng để làm ghế gác chân, đồng thời đang quan sát gần bộ phận sinh dục của cặp trai gái. Cô ta sắp thọc ngón tay vào hậu môn của chàng trai trẻ.

Vẫn trong vườn, cô gái bây giờ ở tư thế bên trên trong lúc chàng trai mút vú cô. Một nàng khác đang đứng nhìn.

Lúc này, bộ ba xà nẹo vào nhau theo một kiểu cách thật khó phân biệt ra tay chân của ai ra của ai.

Ở đây người vợ đang mơn trớn kích thích ngọc hành của chồng để chuẩn bị giao hoan.

Sau đó, bộ ba ra ngoài vườn, chàng trai thắt vào một sợi dây vừa để trợ giúp cương cứng được lâu vừa ngăn xuất tinh. Người vợ ôm lấy người thiếp trẻ trên đùi và dang rộng ngọc môn của cô ta ra cho chàng chơi.

Cũng bộ ba ấy trong cảnh một khu vườn khác, chàng ta và nàng hầu đang âu yếm nhau. Người vợ nhìn xem và bị phấn khích tới đỗi phải chùi bộ phận ngọc môn đang rỉ ướt.

Và còn quá độ hơn, hoạ sĩ miêu tả hai người đàn ông chuẩn bị giao hoan. Một cô gái ngồi trên lưng chàng trẻ tuổi hơn với bộ phận sinh dục mở rộng để kích thích người đàn ông khác đang sửa soạn nhét vào người bạn đồng giới.

Cảnh cuối trong hoạ tập xảy ra ở lầu xanh (để ý nhạc cụ treo trên tường). Một người đàn ông mù đang ôm cô gái trên đùi, trong khi cô ta đưa tay níu một cậu bé vào cuộc chơi.

Bộ tranh dưới gồm 6 bức xuân cung họa cẩn xà cừ và đá quý

Một số bức dưới đây phỏng theo phong cách xuân hoạ thời Minh

Ba bức dưới trích từ hoạ tập miêu tả đời sống hưởng lạc của một chàng trẻ tuổi giàu có,

Và một số xuân cung hoạ chọn lọc

Một cậu hầu trẻ mời mọc bà chủ nhìn xem ngọc hành to tướng của mình, trong lúc cô hầu nhỏ xinh xắn đang len lén cười khúc khích

Một cặp làm tình với trợ giúp của hai tớ gái.

Posted in Uncategorized | Leave a comment