Bản đồ Hà Nội và khung cảnh bên trong Thành Hà Nội đầu TK19

36hn

Theo tài liệu của người Pháp, năm 1802, Gia Long lên ngôi Hoàng đế và chuyển kinh thành về Huế. Thăng Long mất đi vị thế trung tâm chính trị, không còn Hoàng thành hay Cấm thành nữa. Một tòa thành mới theo kiểu Vauban được dựng lên, làm xáo trộn không gian đô thị. Gia Long chia lãnh thổ quốc gia ra làm ba vùng: vùng đất kinh đô mới Huế, miền Nam gọi là tổng trấn Gia Định, miền Bắc gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn.

Từ chuyển đổi đến phá hủy thành Hà Nội thế kỷ XIX

001 Hoàng Thành và 36 phố phường đầu TK19

002.Toàn cảnh thành Hà Nội nhìn từ Cửa Đông (1873). Ảnh- Musée Guimet, Gsell Toàn cảnh thành Hà Nội nhìn từ Cửa Đông (1873). Ảnh- Musée Guimet, Gsell

003.Lầu Đoan Môn (1884 – 86). Ảnh- Hocquard. Lầu Đoan Môn (1884 – 86). Ảnh- Hocquard.

004.Điện Long Thiên (1870). Ảnh- Musée Guimet, Gsell. Điện Long Thiên (1870). Ảnh- Musée…

View original post 176 more words

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Nhân chuyện “Sư Tử đá”, nói về tên một nhân vật Việt Nam trở thành danh từ chung ở Trung Quốc

Vừa qua trên các phương tiện thông tin đại chúng có đưa một số tranh luận xung quanh việc sư tử đá tạo hình kiểu Trung Quốc xuất hiện nhiều trong các kiến trúc truyền thống của Việt Nam. Đồng thời cũng xuất hiện quan điểm của một số người về những tên gọi của nhân vật lịch sử Trung Quốc hay câu chữ trong sách vở Trung Quốc có nguồn gốc từ tiếng Việt, tuy có thể nhận thấy ngay đó là sự khiên cưỡng rất ngây thơ, cụ thể như tên Việt vương Câu Tiễn thực ra theo tiếng Việt là “Cu Tí” bị người Trung Quốc phiên âm thành Câu Tiễn; hay chữ “Hảo cầu” trong câu Kinh Thi “Quân tử hảo cầu” vốn là chữ “Hiếu kều” .v.v. Trong khi có một điều ít ai biết, đó là có một tên riêng của nhân vật Việt Nam đã trở thành một danh từ chung ở Trung Quốc từ rất lâu và còn sử dụng đến ngày nay. Đó là nhân vật Lý Ông Trọng.

Về nhân vật Lý Ông Trọng, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Phần Ngoại kỷ, quyển I có chép như sau: “Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy Hoàng Lữ Chính năm thứ 26). Nước Tần thôn tính cả 6 nước, xưng hoàng đế. Bấy giờ người Từ Liêm, Giao Chỉ ta, là Lý Ông Trọng, người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao, uy danh chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm đô hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng đền thờ. Khi Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy. Để ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)

Các tài liệu khác như “Lĩnh Nam Chích Quái”, “Việt Điện U Linh” đều có những ghi chép tương tự. Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” của Vũ Quỳnh và Kiều Phú, cho biết thêm thông tin, Lý Ông Trọng còn có tên là Lý Thân, Tần Thủy Hoàng đúc đồng làm tượng mới đặt hiệu là Ông Trọng, và “đền Lý hiệu úy nay thuộc xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm (xưa gọi là xã Thụy Hàm, nay gọi là xã Thụy Hương) ở bên bờ sông Cái cách kinh thành 15 dặm”.  Sách “Viện Điện U Linh” của Lý Tế Xuyên thì cho biết thêm: “Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (đời Trần), sắc phong Anh Liệt Vương, đến năm thứ tư, gia phong hai chữ Dũng Mãnh, năm Hưng Long thứ hai mươi, gia phong Phụ Tín Đại Vương.”

Như vậy có thể thấy đền thờ Lý Ông Trọng đã có từ lâu và đến đời Trần vẫn được tiếp tục duy trì, đồng thời được gia phong tên hiệu nhiều lần. Phạm Sư Mạnh (đời Trần) cũng từng nhắc đến đền thờ Lý Ông Trọng trong bài thơ Họa Đại Minh Sứ Đề Nhĩ Hà Dịch 3 (Họa thơ sứ giả nhà Minh đề trạm dịch Nhĩ Hà – bài 3) của mình: “Văn Lang thành cổ sơn trùng điệp, Ông Trọng từ thâm vân đạm nùng” (Văn Lang thành cổ non trùng điệp; Ông Trọng đền thiêng mây nhạt nồng). Trong dân gian Lý Ông Trọng vẫn được tôn xưng là Đức Thánh Chèm, đến nay dân ba làng Thụy Phương, Hoàng Mạc, Liên Mạc hàng năm vẫn tổ chức lễ hội tưởng nhớ ông ở đình, đền Chèm từ 14 – 16 tháng Năm (Âm Lịch).

Như vậy Lý Ông Trọng – một nhân vật Việt Nam đã trở thành một danh tướng lẫy lừng thời Tần, mà uy danh còn chấn động cả Hung Nô. Câu chuyện lịch sử mang tính huyền thoại ấy có lẽ đã dừng lại ở đây. Nhưng có một điều chúng ta còn chưa biết, đó là sau khi Tần Thủy hoàng cho đúc tượng đồng lớn để ngoài cửa Tư Mã ở Hàm Dương thì cách làm ấy và tên gọi “Ông Trọng” đã dần dần được lan truyền ra khắp Trung Quốc: Người ta bắt đầu cho đúc hay tạc những pho tượng người để hai bên các kiến trúc, lăng tẩm coi như một vị thần trừ mọi tà ma, và đều gọi những pho tượng ấy là “Ông Trọng”.

Sớm nhất có thể thấy trong “Sử ký sách ẩn” của Tư Mã Trinh (tự Tử Chính, người Hà Nội nay là Thấm Dương, Hà Nam, niên hiệu Khai Nguyên – Đường Huyền Tông làm chức Triều tán đại phu, Hoằng Văn quán học sĩ, biên tập “Sử ký Sách ẩn” 13 quyển) đời Đường chú câu viết về việc Tần Thúy hoàng đúc mười hai người đồng – “Chú vi kim nhân thập nhị” – trong “Sử Ký quyển 48 – Trần Thiệp thế gia” là: “Các trọng thiên thạch, tọa cao nhị trượng, hiệu viết Ông Trọng” (Mỗi pho nặng một ngàn thạch, ngồi cao hai trượng, gọi là Ông Trọng). Như vậy có thể thấy việc đặt tượng Ông Trọng đã xuất hiện từ đời Tần.  Trong “Tam Quốc chí – Ngụy chí – Minh Đế kỷ” Bùi Tùng Chi chú cũng có câu: “Ngụy Minh đế Cảnh Sơ nguyên niên, phát đồng chú vi cự nhân nhị, hiệu viết Ông Trọng” (Năm Cảnh Sơ nguyên niên đời Ngụy Minh đế (Tào Phi), cho lấy đồng đúc hai tượng người to lớn, gọi là Ông Trọng)

Liễu Tông Nguyên đời Đường cũng từng nhắc đến Lý Ông Trọng trong bài thơ: “Hành Dương dữ Mộng Đắc phân lộ tặng biệt” (Chia tay ở Hành Dương làm tặng Mộng Đắc-Lưu Vũ Tích): “Thập niên tiều tụy đáo Tần Kinh; Thùy liệu phiên vi Lĩnh Ngoại hành. Phục Ba cố đạo phong yên tại; Ông Trọng di khư thảo thụ bình…” (Nghĩa là: Mười năm tiều tụy đến kinh đô nhà Tần; Ai biết lại bị đày đi ra đất Lĩnh Ngoại. Đường cũ Phục Ba (Mã Viện) từng đi gió sương vẫn còn; Di tích cũ của Ông Trọng cỏ cây đã kín…)

Thẩm Thuyên Kỳ đời Đường cũng nhớ đến Ông Trọng khi bị đày sang Giao Chỉ, trong bài thơ “Độ An Hải nhập Long Biên” (Vượt An Hải vào Long Biên) có câu: “Úy Đà tằng ngự quốc; Ông Trọng cửu du tuyền” (Đất nước của Úy Đà từng cai trị, Con suối nơi Ông Trọng chơi từ xưa)

Chuyện về Lý Ông Trọng tiếp tục được ghi chép với nội dung tương tự như “Viện Điện U Linh” trong các sách sử Trung Quốc khác như: “Minh nhất thống chí” hoàn thành năm Thiên Thuận thứ 5 đời Minh, hay “Quảng Dư Ký” – Quyển 9 – “Thiểm Tây –Lâm Thao phủ-Danh thần”; “Sơn Đường Tứ Khảo” – Quyển 149 – “Thần Kỳ Thần” viết khoảng niên hiệu Vạn Lịch  đời Minh, hay “Thuyết Lược” – quyển 5 – “Nhân kỷ”, “Thiên Trung Ký” – quyển 21 – “Trường nhân” … (Tuy nhiên những sách này viết muộn hơn, nên đều chép là Nguyễn Ông Trọng, có lẽ đã tham khảo các sách của Việt Nam viết sau đời Trần, nên đã sửa họ Lý thành Nguyễn. Nhà viết kịch nổi tiếng đời Minh – Thang Hiển Tổ, trong bài thơ “Hạ Châu loạn” (Loạn lạc ở Hạ Châu) cũng nhắc lại chuyện Ông Trọng và cho Ông Trọng họ Nguyễn: “Bất tín Tần nhân Nguyễn Ông Trọng; Chú kim chung đắc trấn Lâm Thao” (Chẳng tin Nguyễn Ông Trọng đời Tần, Đem vàng đúc có thể trấn giữ được đất Lâm Thao)

Như vậy rõ ràng sự tích về Lý Ông Trọng ở Việt Nam, sau đời Minh phổ biến được biết đến là Nguyễn Ông Trọng đã tồn tại từ rất lâu, và lưu truyền qua các thời đại ở Trung Quốc.

Cùng với đó sau khi Tần Thủy Hoàng đúc tượng đồng gọi là Ông Trọng, qua đời Tam Quốc dần dần tên Ông Trọng đã được dùng để chỉ chung những pho tượng người cao lớn đặt trước cung điện. Rồi lại diễn tiến ra người ta dùng từ “Ông Trọng” gọi cả những tượng người được đặt trước lăng mộ. Rõ ràng nhất có thể thấy trong “Lịch viên Tùng thoại” phần “Lăng mộ” mục “Vũ Túc vương mộ” của Tiền Vịnh đời Thanh viết, có câu: “Hoa biểu nhất đôi, thạch mã, thạch dương, thạch hổ câu toàn, thạch ông trọng lưỡng đôi, thạch tướng quân nhất đôi” (Cột hoa biểu một đôi, ngựa đá, dê đá, hổ đá đều đủ, ông trọng đá hai đôi, tướng quân đá một đôi). Sớm hơn trước đó, trong thơ ca từ đời Tống, ta đã có thể thấy từ “ông trọng” với nghĩa là tượng đá trước mộ được nói đến rất nhiều.

Lưu Khắc Trang (Tống) trong bài thơ “Đề Hải Lăng Từ Thần Ông mộ” (Đề mộ Từ Thần Ông ở Hải Lăng) có câu: “Thu phần ông trọng tương thù đáp” (trước nấm mồ thu, chỉ có tượng ông trọng thù đáp với mình)

Hay Cát Thiên Dân (Tống), trong bài thơ “Sơn trung đề cổ mộ” (Đề ngôi mộ cổ trong núi) cũng có câu: “Hoại đạo thượng tồn ông trọng thủ; Truyền gia tri thị tử tôn thùy?” (Con đường cũ hỏng vẫn còn tượng ông trọng đứng giữ; Truyền lại biết con cháu là ai?)

Nhà thơ nổi tiếng nước Kim là Nguyên Hiếu Vấn, sống vào thời gian giặc Nguyên Mông bắt đầu tấn công nước Kim, đuối nhà Tống xuống phía Nam cũng từng nhắc đến tượng ông trọng trước mộ: “Ông trọng di khư thảo cức thu” (Bên gò hoang tượng ông trọng lẫn với cỏ gai mùa thu) trong bài thơ “Trấn Châu dữ Văn Cử, Bách Nhất ẩm” (Cùng uống rượu với Văn Cử, Bách Nhất ở Trấn Châu)

Đời Minh tên gọi “ông trọng” dùng cho tượng đá trước mộ vẫn tiếp tục được sử dụng, Lý Diên Hưng trong bài thơ “Vãn Trương Cập Dân lão tiên sinh” (Viếng Trương Cập Dân lão tiên sinh) có câu: “Mộ môn ông trọng khiếu thu phong” (Cửa mộ ông trọng kêu gió thu). Hay Vương Trĩ Đăng trong bài “Khốc Viên tướng công nhị thủ” (Khóc Viên tướng công hai bài) cũng viết: “Mộ tiền ông trọng thạch vi nhân” (Trước mộ ông trọng khắc đá thành người)

Như vậy có thể nói liên tục qua nhiều thời kỳ, câu chuyện về Lý Ông Trọng vẫn được lưu truyền ở Trung Quốc, và dần dần tên “Ông Trọng” được dùng làm một danh từ riêng để chỉ các tượng người được đúc bằng kim loại hay làm bằng đá, ngọc, đặc biệt với nghĩa là tượng người đặt trước lăng mộ. Danh từ chung ấy đến nay vẫn được sử dụng, có mặt trong các từ điển, và vẫn được giải thích bằng câu chuyện về Lý (Nguyễn) Ông Trọng người Việt Nam.

Tóm lại, trong quá trình giao lưu văn hóa, giữa các quốc gia lân cận đều có những giao thoa qua lại với nhau. Đặc biệt là hai nước có quan hệ mật thiết lâu đời như Việt Nam và Trung Quốc, giữa ngôn ngữ, truyền thuyết, phong tục, tập quán có những nét tương đồng, học tập lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, khó có thể phân định rạch ròi, và không thể bởi một hay vài hiện tượng nhỏ lẻ mà e ngại có thể thay đổi được cả một lịch sử và tinh thần của dân tộc.

Châu Hải Đường – http://bansongdanganh.blogspot.com/2014/08/nhan-chuyen-su-tu-noi-ve-ten-mot-nhan.html

Posted in Uncategorized | Leave a comment

MẠN ĐÀM VỀ CHIẾN THUYỀN CÁC NƯỚC XƯA

Nước – khởi nguyên của sự sống và cũng là nguồn sống của con người. Con người không thể sống thiếu nước, vì vậy các con sông, các vùng nước luôn là nơi tụ cư của con người từ xưa đến nay. Và có lẽ chính vì vậy, mà cùng với đó, thuyền bè đã xuất hiện từ rất sớm cùng với đời sống của con người. Về nguồn gốc của thuyền bè, khắp các nước từ đông sang tây, như Trung Quốc, Ai Cập, Anh, Hy Lạp … đều có không ít truyền thuyết. Có thể nói, truyền thuyết về Đại Vũ trị thủy làm thuyền ở Trung Quốc, và câu chuyện về con thuyền Noah trong Kinh Thánh là hai truyền thuyết nổi tiếng nhất, được lưu truyền rộng rãi nhất. Theo phân tích của những nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của tàu thuyền hiện nay chính là những con thuyền độc mộc. Thuyền độc mộc rất có thể đã được hình thành khi người nguyên thủy gặp những trận lũ lụt, hồng thủy, và những người không biết bơi đã nhờ bám víu trên những cành cây, thân cây trôi nổi mà thoát chết. Vì vậy mà người ta đã nghĩ ra cách khoét những thân cây gỗ để tạo thành những con thuyền để có thể cân bằng ổn định trên mặt nước, và chứa được nhiều người, nhiều đồ vật hơn. Theo những chứng cứ khảo cổ học, thì từ bảy ngàn năm trước đã có những con thuyền độc mộc ở Trung Quốc.

Sau khi thuyền độc mộc ra đời, do nhu cầu trong sản xuất và đời sống của nhân loại, người ta dần học được cách ghép nhiều cây gỗ lại thành bè, rồi đóng nhiều tấm gỗ lại thành những con thuyền lớn hơn. Sau khi nhân loại bước vào xã hội có giai cấp, thì cùng với đó đã xuất hiện những cuộc chiến tranh được lan rộng dần từ trên cạn xuống đến trên sông, hồ, hay biển. Những cuộc chiến tranh nổ ra trên mặt nước không thể vắng mặt thuyền bè, những con thuyền dùng trong chiến tranh ấy ban đầu chỉ là những con thuyền bình thường, nhưng nó đã nhanh chóng được phân hóa, không ngừng phát triển và hình thành nên những chiến thuyền trong thời cổ đại.

Trung Quốc và các nước khu vực Địa Trung Hải là những nơi phát nguyên của chiến thuyền cổ đại. Thế kỷ 16 – 11 trước Công nguyên, dưới thời nhà Thương ở Trung Quốc thuyền bè đã được sử dụng vào việc vận tải cho quân đội. Năm 1027 TCN, Chu Vũ Vương – Cơ Phát đã đem ba trăm cỗ binh xa, ba ngàn quân cận vệ, bốn vạn rưỡi quân giáp sĩ, cùng liên hợp với quân đội của một số bộ lạc khác, tiến binh đánh vua Trụ. Quân đội tham chiến được chở trên bốn mươi bảy chiếc thuyền lớn, vượt qua sông Hoàng Hà ở bến Mạnh Tân, tiến thẳng đến đô thành Triều Ca (nay là huyện Kỳ, Hà Nam) tiêu diệt nhà Thương. Trận chiến vượt sông Hoàng Hà này đã được tổ chức nghiêm ngặt, với quy mô rất lớn, có người chỉ huy chuyên trách trên các tàu thuyền. Tuy nhiên, những con thuyền ấy chỉ là được tập hợp khi có nhu cầu nhất thời, chứ chưa được chuyên dùng vào việc thủy chiến, vì vậy chưa được coi là chiến thuyền và thủy quân thực sự.

Những chiến thuyền dùng buồm và mái chèo sớm nhất là loại thuyền một tầng chèo, xuất hiện ở Ai Cập, Phoenicia và Hy Lạp khoảng hơn 1.200 năm trước Công nguyên. Đến năm 800 TCN, thì những chiến thuyền một tầng chèo bắt đầu được lắp thêm vào đầu thuyền các mũi nhọn được đúc bằng đồng để tăng cường uy lực khi đâm va trong các cuộc chiến trên biển. Đến năm 700 TCN thì ở các nước Phoenicia và Hy Lạp đã đóng được những chiến thuyền hai tầng chèo. Năm 550 TCN, Hy Lạp lần đầu tiên đóng  được những chiến thuyền ba tầng chèo: thuyền dài 40 đến 50 mét, lượng rẽ nước khoảng 200 tấn, có 170 mái chèo, vận tốc khi chèo bằng mái chèo có thể được 6 hải lý một giờ, khi thuận gió có thể dùng buồm. Vũ khí trên thuyền chủ yếu có mũi nhọn đầu thuyền để đâm va, và khoảng từ mười tám tới năm mươi chiến binh chiến đấu khi thuyền tiếp mạn. Các chiến binh được trang bị giáo, gươm, cung tên, thương và lá chắn. Số tay chèo không vũ trang là 170 người. Từ sau đó, chiến thuyền ba tầng chèo trở thành lực lượng chủ lực của các hạm đội hải quân ở các nước ven Địa Trung Hải, kéo dài liên tục suốt mười mấy thế kỷ.

Đến giữa thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc, để thích ứng với địa hình sông ngòi chằng chịt, các nước Ngô, Việt, Sở ở phương nam và nước Tề là nước ven biển ở phương bắc đều trước sau xây dựng chiến thuyền và cho quân đội luyện tập thủy chiến. Đến khi ấy, có thể nói là lực lượng thủy quân cổ đại Trung Quốc chính thức ra đời. Khi ấy thủy quân nước Ngô còn được gọi là “chu sư” đã có các loại thuyền như: Đại dực, Trung dực, Tiểu dực, Đột mạo, Lâu thuyền, Kiều thuyền … đồng thời xuất hiện một loại vũ khí chuyên dùng cho thủy quân gọi là “Câu cự” (Câu liêm). Năm 206 – 25 TCN, tức thời Tây Hán, thuyền chiến của Trung Quốc lại tiến thêm một bước, mà tính năng của nó đã dần từng bước đuổi kịp và vượt qua các nước Địa Trung Hải khi ấy, và duy trì cho tới tận giữa thế kỷ 15. Chiến thuyền của Trung Quốc khi ấy có thể nói là những chiếc thuyền lớn nhất, kiên cố nhất và thích ứng với việc đi biển nhất. Năm 220 – 265 sau CN, tức là thời kỳ Tam quốc ở Trung Quốc, đội thủy quân nước Ngô từng có tới 5.000 chiến thuyền, trong đó những lâu thuyền lớn, có tới năm tầng lầu, có thể chở được 3.000 quân sĩ. Đầu thế kỷ 3 sau công nguyên, dưới thời Tây Tấn, khi chuẩn bị cho việc đánh nước Ngô, Vương Tuấn đã cho đóng những chiến hạm liên thuyền, dài tới 120 bộ, trên có lầu, buồm, mở bốn cửa, có thể đi ngựa dong xe trên đó được. Năm 588 – 589 SCN, nhà Tùy diệt nước Trần, Dương Tố đã dùng đến chiến hạm lớn nhất khi ấy, có tên là “Ngũ Nha”, trên có lầu năm tầng, có thể chở được 800 quân, trước sau và hai bên có lắp đặt 6 “Phách can”. “Phách can” là một cây gỗ dài đầu có buộc đá nặng, lợi dụng lực đòn bẩy để có thể đập vỡ tàu địch khi tiếp cận, là một thứ vũ khí rất có uy lực bấy giờ.

Đến đời Đường, năm 618 đến 907 SCN, kỹ thuật đóng tàu đã phát triển thêm một bước, người ta đã đóng được những tàu “Hải Cốt” có thể vận hành và chiến đấu được trong điều kiện sóng gió khá lớn. Lý Cao phát minh ra “xa thuyền” (cũng gọi là “xa luân thuyền” hay “luân tương thuyền”) di chuyển nhanh hơn, thuận tiện hơn, có thể coi là một bước đi trước của tàu bánh xe cơ giới sau này. Năm 960 – 1279 SCN, dưới thời Tống, chiến thuyền Trung Quốc đã sử dụng phổ biến kỹ thuật vách ngăn không để nước thấm ở khoang đáy, để tàu giảm bớt khả năng bị đắm. Năm 1000, đội trưởng đội thủy sư Thần Vệ là Đường Phúc từng dâng lên triều đình các loại vũ khí để phóng hỏa như: hỏa tiễn (tên lửa), hỏa cầu (quả cầu lửa), hỏa tật lê (một loại trái pháo, có vỏ gai sắt) … Năm 1130, quân khởi nghĩa của Dương Yêu đã sử dụng một lượng lớn xa thuyền, trong đó cái lớn nhất dài gần 110 mét, trang bị 24 bánh xe, và sáu cỗ “phách can”, chở được hơn một ngàn quân. Năm 1203, Tần Thế Phụ đã đóng chiến thuyền Hải Cốt mặt phẳng, vỏ sắt, tải trọng ước 60 tấn, vách khoang được lắp bằng thép tấm, có thể nói là tổ tiên của thuyền bọc thép. Đầu mũi thuyền có lắp mũi nhọn bằng sắt như lưỡi cày, để đâm chìm tàu đối phương.

Chiến thuyền cổ đại được phát triển qua hai giai đoạn: thuyền chiến dùng chèo (Galley) và thuyền chiến dùng buồm . Tàu chiến dùng chèo được làm chỉ yếu bằng gỗ, dáng thuyền nhỏ dài, chiếm nước nông, mạn thuyền thấp, chủ yếu do sức người chèo thuyền là chính, khi thuận gió cũng có thể căng thêm buồm, nhưng chỉ là hỗ trợ. Thuyền chiến dùng chèo chủ yếu được trang bị các vũ khí lạnh, khi tác chiến chủ yếu dùng cách đâm va hoặc áp mạn giao chiến, dùng chủ yếu ở trên sông, hồ nội địa hoặc sát ven biển. Chiến thuyền cổ đại cho đến tận giai đoạn hậu kỳ mới bắt đầu lắp đặt các hỏa khí có thể thiêu đốt khác.

Thế kỷ 14, loại hỏa khí hình ống bằng kim loại sớm nhất trên thế giới được ra đời ở Trung Quốc – đó là hỏa súng. Mà cha đẻ của nó, chính là Hồ Nguyên Trừng – người Việt Nam, được nhà Minh bắt đưa từ Việt Nam sang, sau khi đánh được nhà Hồ và xâm chiếm nước ta. Sau này Hồ Nguyên Trừng được coi là ông tổ súng thần công Trung Quốc, các đời vua sau đó mỗi khi tế súng Thần công đều kiêm tế Hồ Nguyên Trừng. Theo khảo chứng của các nhà sử học, năm thứ 10 niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh (1377), chiến thuyền nhà Minh đã được trang bị rộng rãi hỏa súng, từ đó bắt đầu đưa những vũ khí trên chiến thuyền từ vũ khí lạnh, hỏa khí đốt lửa, gây nổ, quá độ sang hỏa pháo.

Chiến thuyền trên thế giới từ thuyền chiến dùng chèo quá độ sang thuyền chiến dùng buồm, đã phải kéo dài liên tục suốt mấy thế kỷ. Chiến thuyền dùng buồm, thân thuyền cũng làm bằng gỗ, nhưng độ dãn nước sâu hơn, mạn thuyền cao, đầu đuôi thuyền vươn lên, trên có dựng nhiều cột buồm, lấy sức gió làm động lực chủ yếu, đồng thời vẫn bố trí hệ thống mái chèo. So với chiến thuyền dùng chèo, chiến thuyền dùng buồm có độ dãn nước, tính năng hàng hải, khả năng tác chiến ngoài khơi xa đều vượt xa rất nhiều. Vũ khí chủ yếu là súng thần công, phương pháp tác chiến là chiến thuyền hai bên đứng cách nhau từ vài chục tới hơn một ngàn mét rồi tiến hành pháo chiến, đồng thời vẫn có áp mạn giao chiến ở mức độ nhất định. Trịnh Hòa – nhà hàng hải đời Minh ở Trung Quốc từng dẫn đội thuyền lớn, bảy lần đến Đại Tây dương. Trịnh Hòa đi trên con thuyền lớn nhất có tên là “Bảo thuyền”, dài ước 137 mét, rộng ước 56 mét, có 9 cột, mười hai buồm, lắp đặt nhiều cửa châu mai hỏa súng, là con thuyền đi biển lớn nhất trên thế giới khi ấy.

Các nước Bắc Âu, đến đầu thế kỷ 15 bắt đầu xuất hiện những chiến thuyền dùng buồm có trang bị hỏa pháo. Năm 1485, nước Anh đóng được một chiến thuyền bốn cột buồm có tên là “Thống Đốc” (Governor), lắp đặt 225 cửa hỏa pháo loại nhỏ. Năm 1520, Anh lại đóng một chiến thuyền dùng buồm lớn, có tên là Great Harry, với lượng dãn nước đạt 1.000 tấn, lắp đặt 21 cửa châu mai với pháo từ 60 đến 203 ly. Năm 1561 tướng nhà Minh – Trung Quốc là Thích Kế Quang để đánh nhau với người Nhật đã đóng một chiến thuyền lớn có tên là “Phúc thuyền”, trên đó có bố trí một cửa pháo đại phát cống, ba cửa súng, sáu cửa pháo nạp hậu, mười cây súng hỏa mai. Năm 1637, người Anh lại đóng chiến thuyền dùng buồm, có lượng rẽ nước 1.700 tấn, có tên là “Kẻ thống trị biển cả”, với 100 cửa hỏa pháo. Năm 1797, nước Mỹ cũng đóng được tàu chiến dùng buồm có tên “Hiến Pháp” với lượng rẽ nước 1.576 tấn với 44 cửa hỏa pháo.

Đến thế kỷ 19, cùng với việc chiến tranh trên biển của các nước ở châu Âu càng ngày càng kịch liệt, thuyền chiến dùng buồm đã được phát triển thêm một bước. Chiến thuyền dùng buồm lớn nhất đã đạt tới 6.000 tấn với hơn một trăm cửa hỏa pháo cỡ lớn và cỡ trung. Khi ấy, có nước đã căn cứ vào lượng rẽ nước lớn nhỏ và số hỏa pháo nhiều ít chia chiến thuyền ra làm sáu bậc. Từ bậc một đến bậc ba, gọi là chiến liệt hạm (Tàu chiến tuyến – Ship of the line): là chiến thuyền có lượng rẽ nước từ 1.000 tấn trở lên, với 70 tới 120 cửa hỏa pháo bố trí trên hai hay ba tầng sàn. Bậc 4, 5 gọi là Tuần dương hạm, lượng rẽ nước từ 500 tới 750 tấn, với 40 tới 64 cửa hỏa pháo trên hai tầng sàn. Bậc 6 được gọi là Tuần dương hạm nhẹ, lượng rẽ nước khoảng 300 tấn, với 6 tới 30 cửa hỏa pháo trên một tầng sàn.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của chiến thuyền dùng buồm, từ đầu thế kỷ 19, động cơ hơi nước bắt đầu được dùng làm động cơ cho các chiến thuyền. Năm 1815, nước Mỹ đã đóng được chiếc tàu bánh xe hơi nước đầu tiên, có tên gọi là Demologos (sau đổi gọi là Fulton), với lượng rẽ nước đạt 2.745 tấn, vận tốc 6 hải lý/giờ, bố trí 32 cửa pháo 14.5 cân. Những tàu hơi nước thời kỳ đầu đều phát triển từ tàu bánh xe, nhưng tàu bánh xe sử dụng trong hải chiến bị hạn chế rất nhiều: Một là, bánh xe lớn và một phần máy móc bị lộ rõ trước hỏa lực của quân địch, do vậy khi chiến đấu rất dễ bị hỏa pháo phá hủy; Hai là, bánh xe bố trí ở hai bên mạn thuyền, chiếm cứ mất phần lớn không gian quý báu đáng ra dùng để bố trí hỏa pháo.

Năm 1929, Joseph Lyel người Áo đã phát minh ra cánh quạt chân vịt có thể dùng cho tàu thuyền, và được kỹ sư người Thụy Sĩ là John Eriksson cải tiến, từ đó khắc phục được những khuyết điểm của bánh xe hơi nước, khiến hệ thống máy hơi nước có thể lắp đặt ở dưới khoang thuyền. Sau khi chân vịt đẩy ra đời, máy hơi nước dần dần trở thành động cơ chủ yếu trong tàu chiến, từ đó khiến tàu chiến có được hàng loạt những cải tiến thay đổi mới. Vì tàu chiến hơi nước đã cải biến được sự phụ thuộc vào hướng gió, tốc độ gió và dòng hải lưu, do vậy thời đại của chiến thuyền dùng buồm chính thức cáo chung. Cùng với đó là hỏa pháo trên tàu cũng được phát triển nhanh chóng. Một là, đường kính nòng pháo không ngừng được lớn lên; Hai là, phát minh ra đạn pháo với uy lực lớn; Ba là, xuất hiện pháo với nòng có rãnh xoắn, khiến độ chính xác của đạn pháo khi bắn ra có độ chính xác cao hơn. Tính năng ưu việt của hỏa pháo khiến mạn thuyền bằng gỗ dễ bị phá hủy, vì vậy các tàu chiến lớn bắt đầu phải có biện pháp bảo vệ cho mạn tàu và sàn tàu để chống lại sự công phá của tàu địch. Tàu chiến bọc thép ra đời từ yêu cầu đó.

Năm 1859, nước Pháp đã đóng được tàu bọc thép “Quang Vinh”. Tàu có lượng rẽ nước 5.617 tấn, với 36 cửa hạm pháo, bọc thép bảo vệ dày 11cm, phía trong là gỗ cứng. Năm 1860, tàu bọc thép mang tên “Dũng Sĩ” của Anh cũng được hạ thủy, tàu này có lượng rẽ nước khi chở đầy là 9.210 tấn, vận tốc 14 hải lý/giờ, khi dùng cả máy và buồm có thể đặt được tốc độ 17 hải lý/giờ. Trên tàu trang bị 40 cửa pháo, trong đó có 10 cửa pháo bắn đạn 50 kg, nòng có rãnh xoắn; 26 cửa pháo bắn đạn 31 kg, nòng trơn; 4 cửa pháo bắn đạn 18kg, nòng có rãnh xoắn. Trên tàu có 4 máy hơi nước 920 kW. Tàu “Dũng Sĩ” hạ thủy đã kết thúc thời kì dài của tàu chiến tuyến vỏ gỗ.

Sau khi tàu chiến bọc thép được sử dụng rộng rãi trong hải chiến, đã rất nhanh chóng cho thấy uy lực và đặc tính vượt trội so với các tàu chiến trước đây. Trong chiến tranh Nam – Bắc ở Mỹ năm 1862, quân miền nam đã chuyên tâm cải tạo tàu chiến mang tên “Merrimack”. Tàu chiến này vốn bỏ hết các bộ phận phía trên mớn nước, với các bệ pháo thấp phẳng ở giữa tàu, bốn bên có vách gỗ dày hơn nửa mét, phía ngoài cùng là vỏ thép dày. Trong một lần hải chiến, tàu Merrimack đã bị hai tàu chiến của quân miền bắc và các pháo đài ven bờ biển điên cuồng bắn phá, nhưng điều khiến người ta kinh ngạc là đại bộ phận đạn pháo đã bị bật ngược lại, còn tàu Merrimack không hề bị tổn hại gì đáng kể, vẫn tiến về phía trước với tốc độ nhanh. Đến lượt tàu Merrimack đáp trả, nó mới bắn vài phát đạn thì các thuyền vỏ gỗ của quân miền bắc đã bốc cháy rừng rực. Trong khi quân miền bắc đang không thể chống đỡ nổi, thì một con tàu khác được quân miền bắc chú tâm thiết kế, mang tên là tàu Monitor đã kịp thời tới ứng cứu. Con tàu chiến bọc thép kiểu mới ấy chỉ để lộ thân tàu lên trên mặt nước có nửa mét, mạn thuyền từ vạch mớn nước trở lên được bọc 5 lớp thép dày 2,5 mm, trên sàn tàu cũng có lớp vỏ thép. Mặc dù tàu Monitor nhỏ hơn tàu Merrimack nhiều, nhưng nhờ có vỏ thép dày và tính linh hoạt của mình, có thể tiến đánh bốn phía, chiến đấu ngoan cường, nên đã thay đổi nhanh chóng cục diện bị động của quân miền bắc. Trận đánh điển hình của các tàu bọc thép này, đã cho thấy tàu chiến bọc thép có khả năng phòng đạn tốt, và khả năng tác chiến khá mạnh.

(Tàu Monitor – Mỹ)

Cùng với sự xuất hiện của tàu bọc thép, thì pháo nòng rãnh xoắn với đạn nổ cũng được dùng trên các tàu chiến của các cường quốc trên biển. Để chống lại với sức công phá mạnh mẽ của đạn pháo nổ, vỏ bọc théo của các tàu chiến càng ngày càng dày. Cuối cùng, sắt thép đã dần dần trở thành vật liệu chủ yếu để đóng tàu, khiến cho tàu chiến trở nên kiên cố chắc chắn hơn, lượng rẽ nước cũng tăng lên đến hơn vạn tấn.

Cùng với đó, các loại vũ khí chuyên dùng trong hải chiến như thủy lôi, ngư lôi cũng nối nhau được phát minh và sử dụng trên các tàu chiến. Năm 1877, nước Anh đã nghiên cứu chế tạo ra tàu ngư lôi đầu tiên. Năm 1892, Nga chế tạo ra tàu thả mìn. Rất nhanh chóng, hải quân các nước đều học làm theo, cũng làm ra tàu ngư lôi và tàu thả mìn của nước mình. Thủy lôi và ngư lôi đã tăng cường sức chiến đấu cho hải quân. Hải quân các nước, để đối phó với ngư lôi, thủy lôi, bắt đầu lắp đặt các hệ thống phòng lôi dưới nước cho các tàu chiến lớn. Năm 1893, Anh đã đóng ra ngư lôi pháo hạm chuyên để đối phó với các tàu ngư lôi. Ngư lôi pháo hạm ấy sau này đã dần dần diễn biến thành khu trục hạm hiện nay.

Thời gian này, ở Trung Quốc, chính quyền nhà Thanh vào những năm 60 của thế kỷ 19 cũng bắt đầu đặt mua và mở xưởng đóng những tàu chiến của mình. Năm 1889 nhà Thanh đóng được tuần dương hạm “Bình Viễn” với lượng rẽ nước 2.100 tấn, tốc độ 14 hải lý/giờ, với 12 cửa hạm pháo. Năm 1902, đóng ngư lôi khoái thuyền (tức khu trục hạm) “Kiến Uy”, lượng rẽ nước 850 tấn, tốc độ 23 hải lý/giờ, với 9 cửa hạm pháo và một số súng bắn ngư lôi.

Nước ta, là một nước ven biển với nhiều sông ngòi, lại liên tục có nạn ngoại xâm, việc sử dụng thuyền bè trong chiến tranh đã có lịch sử từ lâu đời. Trên các họa tiết trống đồng đã có xuất hiện hình thuyền bè với chiến binh. Nhiều trận thủy chiến nổi tiếng đến nay còn được ghi chép trong sử sách. Trong tác phẩm “Binh Thư Yếu Lược” của Trần Hưng Đạo, chương “Thủy chiến” đã biên chép về nhiều loại tàu chiến lớn nhỏ, từ xưa đã được dùng ở nước ta như: Thuyền máy thần phi; Thuyền mẹ con; Thuyền liên hoàn … đồng thời tham cứu các loại thuyền trong “Võ bị chế thắng chí” của Trung Quốc. Trong đó thuyền máy thần phi đã có dùng bánh xe bên mạn thuyền như các tàu bánh xe sau này ở phương tây.

Trong sánh “Hiểu biết về Việt Nam” của hai Ủy viên trường Viễn đông Bác cổ: Pierre Huard và Maurice Durand, có những ghi chép về chiến thuyền của Việt Nam như sau: “Việt Nam có đội chiến thuyền rất quan trọng từ thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Nhà Nguyễn vào năm 1674 có 133 thuyền chiến. Năm 1675, người Anh là Thomas Browyear đã rất ca ngợi những thuyền chiến Nam kỳ. Một thế kỷ sau, đội hải quân của Gia Long gồm: 200 tàu mang 16,18,20,22 đại bác; 500 tàu chiến nhỏ có 40 đến 44 tay chèo, vũ trang bằng súng bắn đá và một đại bác; 200 thuyền chiến lớn với 50 đến 70 tay chèo, vũ trang bằng các đại bác và súng bắn đá; 3 tàu thủy châu Âu đặt tên là: Phượng Hoàng (Phượng), Rồng Bay (Long Phi), Chim Ưng (Ưng).”

Hiện nay, trong tình hình mới của kỹ thuật quân sự cũng như kỹ thuật đóng tàu các loại hình tàu chiến hiện đại đã ngày càng phong phú, đa dạng với những chiến hạm lớn, có sức chiến đấu vô cùng mạnh mẽ. Là một quốc gia biển, để khai thác nguồn lợi hải dương cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của dân tộc, đang đặt ra một yêu cầu và cũng là niềm hy vọng lớn với nền công nghiệp đóng tàu nước ta.

Đường Lang (T.H) – Bài trên T.C Công nghiệp Tàu thủy – số 1+2, Xuân Đinh Dậu, 2017

http://bansongdanganh.blogspot.com/2017/09/man-am-ve-chien-thuyen-cac-nuoc-xua.html?spref=fb

Posted in Uncategorized | Leave a comment

ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA – CHIẾN LŨY VĨ ĐẠI GIỮA SÀI GÒN XƯA

Thành Gia Định hay còn được gọi là Phụng Thành, Phượng Thành là tên một tòa thành cổ của Việt Nam do vua Minh Mạng ra lệnh xây mới sau khi thành Bát Quái bị phá dỡ. Thành tồn tại từ năm 1836 đến 1859 thì bị phá hủy khi người Pháp chiếm được thành từ tay quan quân nhà Nguyễn.
Năm 1830, Lê Văn Duyệt cho sửa thành Bát Quái. Tiếc thay việc sửa thành, cộng thêm tư thù khi còn trẻ với Lê Văn Duyệt (Lê Văn Duyệt đã cho xử chém Huỳnh Công Lý, cha đẻ một quý phi được vua Minh Mạng sủng ái), vua Minh Mạng đã vu khống cho Lê Văn Duyệt tội nhị tâm (hai lòng) cho quân sang bằng mồ mả sau khi ông mất, làm Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) tức giận đứng lên đánh chiếm lấy thành Bát Quái và biến nơi đây thành căn cứ chính cho cuộc nổi dậy của mình từ năm 1833 đến 1835. Sau khi đánh bại Lê Văn Khôi vào năm 1835, Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái để xây thành mới năm 1836.
Thành mới có tên là Thành Phụng hay thành Gia Định được xây dựng ở Đông Bắc thành cũ. Thành vuông vức, mỗi cạnh khoảng 450m, tổng diện tích khoảng hơn 0,2km2 (hơn 20 ha). Thành Gia Định mới cũng được xây dựng theo kiến trúc Vauban nhưng nhỏ hơn nhiều, dễ bị bắn phá hơn và chỉ có 4 pháo đài 4 góc so với 8 pháo đài của thành Bát Quái cũ. Tường thành cao 20 thước dài trên 475 thước được làm từ đá granite, gạch và đất. Xung quanh thành có hào nước bao bọc.
Ngày 17-2-1859, quân Pháp mở cuộc tấn công thành thành Gia Định và một ngày sau thì chiếm được thành. Án sát Lê Tứ, Hộ đốc Vũ Duy Ninh tự vẫn, Đề đốc Trần Trí, Bố chính Vũ Thực và Lãnh binh Tôn Thất Năng đem quân rút về Tây Thái, huyện Bình Long. Ngày 8-3-1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy Thành và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại Thành (dấu tích duy nhất còn lại đến ngày nay là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son).

Năm 1860, những rắc rối trong việc bang giao với Trung Hoa khiến chính phủ Anh và Pháp phải mở một cuộc viễn chinh mới tại quốc gia đó. Do vậy, tất cả lực lượng Pháp tại Viễn Đông liền được dùng vào cuộc chiến, nên không những quân Pháp phải triệt thoái khỏi Đà Nẵng mà tại Sài Gòn cũng chỉ còn để lại một đội quân nhỏ (khoảng 800 người) lo việc phòng thủ.
Theo GS. Nguyễn Thế Anh, thì khi đó, chính phủ Pháp đã muốn rút quân ra khỏi Việt Nam, nhưng khi nghe tướng Charles Rigault de Genouilly biện hộ và Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp là Chasseloup Laubat tán đồng, thì chính phủ Pháp liền thay đổi quyết định. Vì thế ngay khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết ngày 25-10-1860, vua nước Pháp là Napoléon III, liền cử Đề đốc Léonard Charner thống lĩnh toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông, để hoàn thành nhanh việc chiếm cứ Nam Kỳ.
Và mục tiêu đầu tiên của viên tướng này là phải tấn công Đại đồn Chí Hòa, vì đây là một vật cản lớn cần phải phá bỏ để có thể tiến chiếm các nơi khác …

Nguyên do khi thành Gia Định mất, Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương vào Nam với chức kinh lược đại thần để điều khiển mọi việc. Ngay khi nhậm chức, Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương đã cho tu bổ, xây dựng vững chắc, quy mô hơn phòng tuyến đồn lũy, hình thành rõ nét Đại đồn Chí Hòa và cho người dò la. Biết rõ đối với súng đạn có sức tàn phá rất mãnh liệt của người Pháp, quân Việt dù đông, dù can đảm tới đâu cũng không thể giáp chiến được, ông lựa chọn chiến lược nửa công nửa thủ, tức dựng chiến lũy để bảo vệ quân Việt khỏi súng địch và bao vây dần quân Pháp. Ông truyền lệnh xây nhiều pháo đài và đắp lũy ở phía Bắc Sài Gòn. Những đồn lũy đầu tiên của Đại đồn được xây dựng ngay sau khi thành Gia Định thất thủ ngày 14-2-1859. Theo Monographie de la province de Gia Đinh (chuyên khảo về tỉnh Gia Định – 1902), thì Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Hiệp đã sai lính đắp đồn Tiền trên đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám) đi Tây Ninh. Đồn Hữu (phải) và đồn Tả (trái) hai bên.
Bản đồ quân sự mà Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên tổng hành dinh tướng Charner (chỉ huy lực lượng Thủy Quân Lục Chiến đánh Đại đồn Chí Hòa) vẽ, là hình ảnh rõ nhất về Đại đồn Chí Hòa. Đại đồn Chí Hòa lớn gấp 15 lần thành Gia Định, cụm đồn lũy Chí Hòa chỉ tính riêng khu vực chính (Đại đồn) đã gần 3km2 (300 ha). Đại đồn lớn đến mức trong Lịch sử cuộc viễn chinh Nam kỳ năm 1861, Léopold Pallu gọi đó là thành (Citadelle).
Theo bản đồ của Léopold Pallu, đại đồn có hình thang dài, đáy lớn lõm ở giữa (theo hình thế một con rạch tự nhiên chảy ra kênh Nhiêu Lộc – con rạch này giờ không còn), cắt qua Cách Mạng Tháng Tám hiện nay ở đoạn đường Bắc Hải. Đáy nhỏ nằm khoảng khu vực đường Trương Công Định, Bàu Cát (Tân Bình). Đại đồn nằm dài theo đường Thiên Lý (nay là Cách Mạng Tháng Tám – trên bản đồ hiện nay chiều dài này khoảng gần 3km). Bản đồ vẽ rất rõ đồn gồm 5 khu vực ngăn cách nhau theo chiều ngang này, mỗi khu vực như một thành lũy riêng biệt, qua lại bằng những cánh cổng lớn chắc chắn như cổng thành. Có lẽ thiết kế này để phòng khi khu vực nào thất thủ, quân đồn trú có thể rút sang khu vực khác và thực tế đã xảy ra như vậy khi Pháp tấn công Đại đồn sau này. Bằng chứng cho thấy, một năm sau, 16-4-1860, Pháp đánh chiếm khu vực chùa Cây Mai (góc Nguyễn Thị Nhỏ – Hồng Bàng hiện nay) và chùa Kiểng Phước (theo học giả Vương Hồng Sển và nhà văn Sơn Nam, góc Lý Thường Kiệt – Nguyễn Chí Thanh, có thể ở khu vực Trường ĐH Y dược TP.HCM hiện nay) mà lính Việt lúc ấy đang đóng quân. Rồi người Pháp tổ chức đánh chiếm tiếp đồn Tiền nhưng gặp sự chống trả mạnh mẽ của quân dân Đại đồn nên đã tổn thất nặng, phải co cụm trở về.
Riêng khu vực cuối cùng có thêm một tường bao bên trong và hai Đồn lớn bên ngoài, theo bản đồ hiện nay một ở khoảng ngã tư Bảy Hiền và một ngay cạnh vòng xoay Lăng Cha Cả. Bản đồ ghi fort des Mandarins (Đồn chỉ huy). Đầm Sen gần Đại đồn được tận dụng che chắn cạnh dài phía nam Đại đồn. Và thực tế, khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công, họ đã phải đánh vòng qua khu đầm này, nơi 13 đồn lũy dày đặc quanh đại đồn và áp sát Sài Gòn – Chợ Lớn
Thật ra, không chỉ co cụm trong khu vực 3km2 Đại đồn, tướng Nguyễn Tri Phương còn cho xây dựng thêm hàng loạt Đồn lũy mới bảo vệ đại đồn từ vòng ngoài với phạm vi kiểm soát rất rộng, hàng trăm km2. Cụ thể, thay cho đồn Cây Mai và đồn Kiểng Phước bị mất, bên cạnh đồn Hữu rất lớn cách đồn Cây Mai gần 2km (đã bị Pháp chiếm), ông cho xây dựng 4 Đồn khác gần như áp sát 2 đồn cũ, có Đồn chỉ cách 400, 500m. Hai chiến lũy dài khoảng 5km nối các đồn với nhau để bảo vệ nhau cùng với bảo vệ từ xa cạnh phía nam dài 3km. Mặt bắc đồn cũng có 4 đồn nằm cạnh các con rạch: 1 Đồn nằm ở khu vực cầu Lê Văn Sỹ hiện nay, 2 đồn hai bên cầu Kiệu (3 đồn này cách thành Gia Định thất thủ khoảng 3km). Một đồn khác rất lớn mà bản đồ quân sự của Léopold Pallu ghi fort Annammite (đồn An Nam) nằm giữa rạch Vàm Thuật và cầu kinh Thanh Đa (ước đoán ở khúc nối rạch Lăng và rạch Cầu Sơn, khoảng đường Nguyễn Xí – Bình Thạnh hiện nay). Đồn này án ngữ con đường quan trọng đi Biên Hòa, nối với lực lượng quân Việt ở thành Biên Hòa chưa bị chiếm lúc đó. Hai đồn khác, một nằm sát khu vực chỉ huy của bộ phận chỉ huy Đại đồn (Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Hiệp, Phạm Thế Hiển – bản đồ ghi là des Mandarins), nay là khoảng ngã tư Bảy Hiền và một nằm gần khu vực vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay. Phía sau đại đồn, về hướng bắc cũng có 3 đồn lớn: Thuận Kiều (ở Tân Thới Nhứt, Q.12 hiện nay) và Tây Thới (xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn), Rạch Tra (nằm giữa địa Hóc Môn – Củ Chi) nhằm hỗ trợ Đại đồn cũng như rút quân về phía Tây Ninh khi cần thiết.
Quân Pháp bị cụm đồn lũy Chí Hòa vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp. Tuy có đôi lần quân Việt giành được thắng lợi, nhưng cũng không thể diệt nổi quân Pháp là vì súng đạn họ tinh xảo và bắn được xa hơn. Quân Pháp nhận xét: “Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hể chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản”. Theo nhà văn Phan Trần Chúc, một vị tướng Pháp lúc đó khen ngợi: “Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị Nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Totleben ở Sébastopol, Denfert Rochereau ở Belfort, Osman Pacha trong trận Plevna”.

Có ý kiến cho rằng sau khi mất thành Gia Định năm 1859, nhà Nguyễn chủ trương “thủ để hòa”, nhưng chắc chắn lực lượng quân dân Việt khu vực Đại đồn Chí Hòa do Nguyễn Tri Phương chỉ huy không chỉ thủ mà thực tế đã có lúc tấn công dữ dội lực lượng quân Pháp đang chiếm đóng khu vực bên ngoài thành Gia Định và dọc kinh Bến Nghé. Hai tháng sau khi Gia Định thất thủ, 6g sáng 10-4-1859, một nhóm quân Việt từ đồn Tiền đi Chợ Lớn đã bất ngờ đụng một tiểu đội Pháp. Hai bên dàn quân và nổ súng vào nhau, cả hai bên đều có người chết nhưng không rỏ bao nhiêu.
Kể lại đôi lần chiến thắng này, nhà văn Phan Trần Chúc viết:
“Sau khi bao vây được quân Pháp, Nguyễn Tri Phương cho quân liều chết dưới mưa đạn để hãm đồn Cây Mai. Trong đêm 3 và 4-7-1860, 3.000 quân Việt của ông đã anh dũng chiếm được đồn Cây Mai do Đại úy người Tây Ban Nha Fernandez chỉ huy với 100 lính Tây Ban Nha và 60 lính Pháp. Trong tháng 11 cùng năm, quân Pháp lại tấn công dữ dội các pháo đài ở Gia Định nhưng quân nhà Nguyễn đã đánh lui được đối phương khiến quân Pháp bị thiệt hại nặng … Được tin thắng trận, vua Tự Đức tiếp tục ban thưởng cho các tướng sĩ ngoài mặt trận …”.
Cũng từ khu vực Đại đồn, các nhóm dân quân Việt đã nhiều lần đột nhập tận nơi quân Pháp trú đóng, như chiều 7-12-1860 nhóm này đã phục kích giết chết Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Barbé khi viên Sĩ quan này từ chùa Khải Tường (Trường THPT Lê Quý Đôn, Q.3 hiện nay – đường Lê Quý Đôn bên hông Trường THPT Lê Quý Đôn trước 1955, chính quyền Pháp đặt tên là đường Barbé) đến Đền Hiển Trung (nay thuộc khu vực Bộ Công an trên đường Nguyễn Trãi, Q.1).
Léopold Pallu viết: “Chiều hôm đó, Đại úy thủy quân Barbé cưỡi ngựa đi tuần tra như thường lệ. Bọn sát nhân rình rập trong một bụi cây … Ông bị đột kích bằng giáo té ngay xuống ngựa. Bọn An Nam liền cắt đầu, bò qua các bụi rậm và cỏ cao trở về giới tuyến cũ của thành Kỳ Hòa (tên người Pháp gọi đại đồn Chí Hòa). Sáng hôm sau, người ta thấy phần thân thể còn lại (của Barbé) bị bỏ bên vệ đường …”.

Về quân số của hai bên cuối năm 1860 theo báo cáo của Trung úy Léopold Pallu:
– Về phía Pháp: Tính chung đội quân viễn chinh vừa kể trên với số quân Pháp – Tây Ban Nha có sẵn tại Sài Gòn khoảng 800 người (bị vây chặt tới nỗi sáu, bảy tháng liền không nhận được tin tức gì từ phía Pháp), thì lực lượng của Pháp chỉ có khoảng 5.000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại.
– Về phía Việt Nam: Phía Pháp (theo Léopold Pallu) ở Chí Hòa, quân Việt có tới 21.000 quân chính quy, 10.000 quân Dân dũng (vốn làm ở đồn điền nên còn gọi là lính Đồn điền, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”), và ở Biên Hòa có 15.000 quân từ miền Trung vào.
Nhưng theo GS. Trần Văn Giàu, chắc quân chính quy không đông như thế.
Vì khi Pháp đánh Đà Nẵng, gần sát Kinh đô mà quân Triều đình ở đó chỉ có 3.200 người, thì ở Gia Định xa xăm, không thể có hơn 2 vạn được, có thể chỉ có dân quân thì đông (chắn chắn như vậy). Sở dĩ Pháp “tăng” số quân của Nguyễn Tri Phương lên, trước hết là để tăng giá trị trận đánh của họ mà thôi.
Ngược lại, nếu quân Việt mà đúng như thế thì có lẽ tại Quân dân nhà Nguyễn cũng không nắm hết thực lực của địch nên chưa quyết định “Tổng tấn công” tái chiếm thành Gia Định, “Một cơ hội giải phóng đất nước đã bị bỏ qua”. Hầu hết các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa của chúng ta đã thốt lên tiếc rẻ về giai đoạn này như vậy.

Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, Sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner & là người trực tiếp tham dự trận Đại đồn Chí Hòa, sau này đã kể lại trong sách của mình đại để như sau:
“Mấy ngày trước khi giao chiến, Đề đốc Hải quân Leonard Charner đã giao cho Đại úy Hải quân De Surville điều khiển các chiến hạm neo dọc sông Sài Gòn. Trung tá Crouzat, thì được lệnh tìm đường tiến quân, và sau khi tìm được lối đi phía bên trái đồn Cây Mai, đã cho 2 Đại đội lính đến san phẳng, dưới hỏa lực của quân đối phương. Trên bộ, các đội lính viễn chinh khác bố trí dọc theo sông Đồng Nai để cầm chân quân Việt … Sau khi tất cả các cánh quân đã được bố trí xong, vị Tổng tư lệnh là tướng Charner liền quyết định thời điểm tấn công Đại đồn Chí Hòa là ngày 24-2-1861 … Sau mấy tuần chuẩn bị và sau khi nghe Đại tá Crouzat phúc trình công tác thám thính Đại đồn xong, 4 giờ sáng ngày 24-2-1861, được lệnh của Đề đốc Charner, đại bác của Pháp từ ‘phòng tuyến các Chùa’ và trên các tàu, đều nhắm vào Đại đồn Chí Hòa mà bắn. Đại bác của quân Việt từ Đại đồn rộ lên đáp trả. Hai bên đánh nhau bằng đại bác tới sáng.
Từ vùng chùa Cây Mai, Đề đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) dẫn quân tiến lên cùng với pháo nhẹ. Quân Việt trong đồn Hữu bắn cản lại, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca đều bị thương. Đại bác Pháp liền bắn khoảng 500 phát vào đồn Hữu, rồi cho bộ binh tấn công chiếm đồn. Phía Việt cho Voi trận xông ra ứng chiến, nhưng đội quân Voi tỏ ra không mấy hiệu quả trước đại bác, súng trường … Hai bên đánh nhau đến tối, nhưng Pháp chỉ mới tiến được 1000 m, còn 2000 m nữa mới đến được Đại đồn. Đêm đến, hai bên đều ngưng chiến. Năm giờ sáng hôm sau, quân Pháp tràn lên tấn công, xáp được gần Đại đồn. Song cách vách thành 100m thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ, nên tiến rất chậm. Quân Pháp lúc này bị bắn chết và bị thương rất nhiều.
Tuy vậy, quân Pháp vẫn quyết dùng thang và đứng trên vai nhau mà trèo lên vách Đồn. Trên Đồn và trong các lỗ châu mai, quân Việt bắn chém dữ dội. Phần lớn các thang tre của Pháp vác theo đều bị đánh gãy, nhưng cuối cùng vẫn có một số lính Pháp vào được Đại đồn. Hai bên xông vào đánh xáp lá cà, giành giật nhau từng khu vực một. Chống chọi được một lúc, tướng Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng, phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Ngày 28-2-1861, Pháp tấn công Thuận Kiều, Đại tá Crouzat bị thương, nhưng quan quân phải bỏ đồn Thuận Kiều, bỏ cả đồn Tây Thới mà chạy tán loạn về Biên Hòa, mất hầu hết khí giới và lương thực. Riêng Trương Định rút về Gò Công tiếp tục kháng Pháp …”.

Sĩ quan tham dự trận là Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu kể:
“Bốn giờ sáng ngày 24-2-1861, quân Pháp được lệnh tập họp. Đến 5 giờ 30 phút, đoàn quân bắt đầu lên đường. Khi ấy, pháo binh từ các chùa Barbet (chùa Khải Tường), Chochetons, Cây Mai đã bắn được một giờ rồi và các toán quân Việt cũng đã kéo nhau dàn ra các ngả đường để phòng ngự. (Trên đường), đại pháo do ngựa kéo bất thần nhả đạn vào đồn Redoute (sử Việt ghi là Đồn Hữu). Đối phương lập tức đốt khói để che và mặc dầu súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt, họ vẫn kháng cự quyết liệt … Pháo binh chịu trận trước tiên, chỉ trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn … mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế hơn, nhưng sức kháng cự của bọn An Nam không bị đánh tan và cũng không nao núng chút nào.
Trong khi đó, thương vong của ta càng lúc càng tăng lên: Đại tướng De Vassoigne, Đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez, Chuẩn úy Lesèble và Thượng sĩ Joly bị thương nặng. Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lịnh … Khi các quân lính Pháp đầu tiên nhảy được vào bên trong, trên các bệ bắn phía sau tường, thì họ thấy quân An Nam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân An Nam chỉ lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, họ giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay … những con người nhỏ thó ấy thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào, mà chỉ có một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Chỉ mấy phút sau là họ rút về phía đại quân có cờ đuôi nheo phấp phới bên trong thành Kỳ Hòa.
Trong trận đánh ngày 24-2-1861 này, quân An Nam đã chấp nhận đối đầu bằng đại pháo với ta, tuy họ yếu kém về mọi thứ, nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút nào cả: Nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nòng có khía của ta. Nhưng khi quân ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ chỉ thối lui chớ không chạy như quân Trung Hoa năm rồi, khoảng cách vẫn còn nhìn thấy nhau. Chuyện này cũng thấy ghi trong các phúc trình về những trận đánh trước đây ở Sài Gòn và Touranne …
… Suốt đêm đó thật yên lặng, hai bên không có một tiếng súng nào. Năm giờ sáng ngày 25-4-1861, pháo binh ta lên ngựa, mỗi người đều vào hàng ngũ của mình … Mười giờ tất cả đạo quân đã vào vị trí, cách xa mặt bắc của thành Kỳ Hòa khoảng 2000 thước. Hai cánh quân đánh bộ hai bên, giữa là pháo binh. (Khi hai bên) thôi đánh chiêng và cũng ngưng đánh trống, các đại pháo trong thành Kỳ Hòa bắn ra vang rền, tiếng nổ của súng địch có cường độ giống nhau nên rất dễ nhận, tiếng các quả đạn xé gió rít lên rồi im bặt, không có một tiếng động nào khác …
… Tiếng súng của quân Việt, lúc đầu thưa thớt, dần dần dồn dập hơn. Súng họ bắn mạnh và chính xác, nhất là về hướng bắn thì rất đúng. Quân Việt có lợi thế hơn vì mặt trời chiếu thẳng vào mắt quân Pháp. Pháo binh vừa đạt vị trí 1.000 thước đã thấy có thiệt hại. Bên Pháp đã có người và ngựa chết hoặc bị thương, một xe tải đạn có một bánh xe vỡ tan thành từng mảnh. Trung tá Crouzat thúc quân kéo súng rất nhanh đến vị trí 500 thước, rồi 200 thước, ở vị trí gần này tránh bớt được nhiều bất lợi do bị mặt trời chiếu vào mắt … Hai bên bắn nhau kịch liệt … trên ruộng không có chỗ nào ẩn núp, chỉ biết đưa thân cho súng đạn. Thiệt hại đã khá rõ, chỉ còn biết lợi dụng vào chiến thắng vừa đạt được hôm qua khích động quân sĩ để họ xông lên … Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) ra lịnh cho hai cánh quân tiến lên.
Sau khi vượt qua được 6 hàng hầm chông và 2 hào sâu, quân Pháp đến được bờ đất dựa tường thành thì hai bên lại đánh nhau kịch liệt nhất, chưa từng thấy giữa người An Nam và người Âu châu. Quân sĩ nào mà leo lên được tường thành, thì hoặc dùng thang, hoặc trèo lên vai các đồng đội, hoặc níu vào các cọc thấp của các bàn chông, họ bị bắn ngay trước mặt, hoặc bị nồi lửa của địch ném phỏng mặt mày, hoặc bị giáo đâm lọt ra ngoài. Những người trèo lên trước nhất trên tường thành, và trước khi bị đánh bật trở xuống, đều thấy một cảnh tượng khác hẳn khi trèo lên tường ngày hôm trước: Bên trong trên bệ đứng bắn, đầy lính phòng ngự, kẻ thì mang súng dài, kẻ thì mang giáo hay súng ngắn, rình quân ta bên ngoài trèo vào …
Ngay vào lúc ấy, tình thế trở nên nghiêm trọng, thì có lịnh ném lựu đạn.
Hai mươi quả được ném ra … (Rồi) ba lính thủy ném được móc câu dính cứng phía bên trong của tường thành. Bọn quân An Nam tháo gỡ không được vì vướng chà gai … Ba quân lính chui qua trước, một lính của tàu Renommée, bị giết ngay, hai người kia thì bị thương. Cả ba bị xô ngược ra phía sau và rớt xuống hào. Quân lính khác theo sau, trèo lên tường rồi nhảy xuống thềm đứng bắn vào bên trong, thềm thì trơn trợt vì máu me linh láng. Dọc chân tường la liệt xác quân An Nam bị giết vì mảnh đạn bộc phá hay bị bắn.
Quân An Nam ngưng đánh vì thấy rào gai bị phá thủng, rút ra xa vài phút trước khi quân Pháp ập vào, họ rút lui rất trật tự, rút thật chậm dọc theo bờ tường thành. Một nhóm quân lính của ta rượt theo, nhưng không ăn thua gì, vì quân Việt đã rút hết vào một lớp thành khác trước khi quân Pháp đuổi tới …
Khi liên quân theo vào, giao tranh đã xảy ra càng ác liệt … vì thế trong cái khoảng trống thảm thương này ngập tràn xác chết và bị thương … (Cuối cùng) tất cả quân An Nam người nào chạy không kịp đều bị giết sạch, trận chiến chấm dứt bằng một cảnh tượng tàn sát man rợ chưa từng thấy …”.

Nhận được tin Đại đồn thất thủ, triều đình nhà Nguyễn tức tốc phái Nguyễn Bá Nghi mang 4.000 quân vào chi viện. Nhưng viên tướng này, chỉ đến Biên Hòa thì cho dừng quân lại, cử người đi tìm gặp Đề đốc Charner để xin được nghị hòa và tâu về Huế rằng: “Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa thì không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau …”.

Trích báo cáo của Pháp: “Quân ta (Pháp) gồm 4.000 quân đã tấn công thành lũy. Chúng ta đã chiếm được thành nhưng Thiếu tướng Vassivigne bị 1 viên đạn bắn trúng cánh tay. Đại tá Palanca người Tây Ban Nha bị 1 viên vào bắp chân, nhiều Sĩ quan khác bị trọng thương. Người Nam tuy không có súng tốt nhưng dũng cảm hơn người Tây nhiều …”.
Theo báo cáo của Đề đốc Charner ngày 27-2-1861, thì phía quân Pháp có 12 người chết, 213 người bị thương. Nhưng theo Léopold Pallu, Sĩ quan phụ tá của Đề đốc Charner thì con số chết và bị thương là: 19 người tử trận, trong đó có 5 viên Sĩ quan Pháp và khoảng 300 người bị thương. Và theo báo Le Mémorial d’ Asie phát hành tháng 2-1861, thì con số thiệt hại của Pháp là: 16 người chết, 299 người bị thương, trong số đó có Thiếu tướng De Vassoigne, Đại tá Palanca, Đại tá Crouzat đều bị trọng thương, Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Testard chết ở bệnh viện …
Bên quân Việt, khoảng 1.000 người chết và bị thương, trong số đó có: Tham tán Phạm Thế Hiển, Lang trung Nguyễn Duy, Tán tương Tôn Thất Trĩ đều tử trận và Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương thì bị thương nặng. Ngoài ra, Đại đồn còn bị đối phương chiếm mất 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 trọng pháo các cỡ và rất nhiều lương thực …

Trong hình ảnh có thể có: thực vật và ngoài trời
Lính Pháp (trái), Việt (giữa) và Tây Ban Nha (phải) trong trú đóng khu vực đại đồn Chí Hòa và xung quanh đồn – Ảnh tư liệu

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Đại đồn Chí Hòa (màu cam – khu vực chỉ huy nằm gần Bà Quẹo – phía bắc đại đồn) và hệ thống đồn lũy xung quanh (đỏ). Giữa các đồn phía nam có thêm hai lũy dọc và ngang mà bản đồ ghi là phòng tuyến mới (nouvelle ligne). Bản đồ này vẽ thiếu đồn Tây Thới giữa đồn Thuận Kiều và Rạch Tra. Các điểm màu vàng là “phòng tuyến chùa” của liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Màu hồng là thành Gia Định thất thủ năm 1859 – Bản đồ hành quân của Léopold Pallu – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận 1892. Lúc này con rạch tự nhiên tạo nên góc lõm của đại đồn vẫn còn. Bên hông đại đồn là Đầm Sen. Khi tấn công đại đồn, liên quân Pháp – Tây Ban Nha phải đánh vòng qua đây – Ảnh tư liệu – Đồ họa Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Vị trí đại đồn Chí Hòa trên bản đồ hiện nay – Đồ họa: Trị Thiên.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Khu vực ngã tư Bảy Hiền về hướng Bà Quẹo hiện nay. Đây là khu vực trung tâm chỉ huy đại đồn Chí Hòa xưa – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Vòng xoay Lăng Cha Cả sáng 11-11. Khu vực này xưa cũng có đồn cạnh bên khu lăng mộ này để kiểm soát quân Pháp từ hướng Nam Kỳ Khởi Nghĩa và bảo vệ đồn chỉ huy ở ngã tư Bảy Hiền – Ảnh: M.C.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, xe môtô và ngoài trời
Charles Rigault de Genouilly, hình chụp khoảng năm 1870

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Đề đốc Hải quân Charner, hình vẽ khoảng năm 1880.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định ngày 17-2-1859 – Tranh vẽ của người Pháp về trận đánh này.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời
Sơ đồ Thành Gia Định

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định (thành Phụng) ở góc phải phía trên thành cũ và các con đường quanh thành hiện nay.

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Thành Gia Định 1867

Không có văn bản thay thế tự động nào.
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thuật ngữ tiếng Anh ngành thời trang

Aline: Kiểu phong cách may mặc được sáng tạo bởi Christian Dior trong những năm 1950. Đó là trang phục vừa vặn với phần vai hoặc ở thắt lưng (với váy), có một hemline rộng lớn, xòe giống chữa A

Balaclava: Loại mũ khít đầu và cổ, chỉ để hở mặt. Thích hợp với thời tiết khắc nhiệt mùa đông. Ban đầu, loại mũ này được một nhân viên quân sự mặc , và được đặt tên cho trận đánh Balaclavau trong cuộc chiến tranh Crimean vào giữa những năm 1800.

Blazer: Áo khoác vest cộc tay. Khi xu hướng Balmania ra đời, tất cả những chiếc áo jacket này đều được chiết tay áo cực nhỏ, cắt thẳng

Bohemian: Còn được gọi là lãng mạn hay mang chất thơ; Bohemian là một xu hướng trang phục với những chi tiết nữ tính như diềm xếp nếp, ren viền, ruy băng, và những chi tiết thêu khác. Xu hướng này phản ánh được tinh thần tự do của thời trang.

Boot-cut: Đây là từ được sử dụng để miêu tả quần dài hoặc quần jeans ôm ở phần gối và loe ở mắt cá để có thể phù hợp với nhiều loại giày khác nhau.

Capri pants/Capris: Quần lửng dài quá gối thường mặc vào mùa hè.

Chiffon: Một loại chất liệu mỏng nhẹ nhưng rất bền dù bề mặt của nó rất tinh tế

Cheongsam: Sườn xám.  Cheongsam không phải là tên tiếng Anh mà là phiên âm La-tinh theo tiếng Quãng Đông, Trung Quốc. Sườn xám là kiểu áo cổ đứng, tay ngắn, ôm gọn cơ thể. Vạt xẻ cao đến đùi. Xườn xám xuất hiện nhiều những năm 1930 khi văn hóa phương Tây tràn vào Trung Quốc

Denim: Là vải bông đan chéo, bền và đắt tiền hơn jean. Mặc dù hai loại vải jean và denim rất giống nhau trên nhiều phương diện, chúng vẫn có một điểm khác biệt lớn: denim được dệt từ một sợi màu và một sợi trắng; jean được dệt từ hai sợi cùng màu.

d’orsay shoe or slipper: Dép đi trong nhà, che kín gót và ngón chân. Đây là kiểu giày ‘lười’ với thiết kế giản tiện một cách tối đa: Mũi giày hơi nhọn, đế bệt, phần mu giày không có thêm dây buộc. Phong cách là một trong những thời trang mang tên Bá tước d’Orsay ở Paris sống trong giữa những năm 1800.

Empire: Vòng ôm nằm ngay dưới ngực, được dùng để tạo đường cong cho cơ thể.

Embroidery:  Thêu dệt trên một lớp vải. Mỗi một nước, khu vực sẽ có cách  cách trang trí mũi thêu  khác nhau

Face: Đường viền bên ngoài của tấm vải

Glam: Đây là từ rất hay thường dùng của các tạp chí thời trang Anh Mỹ – viết tắt của glamorous. Từ này trong tiếng anh có nghĩa là quyến rũ. Glam được dùng để chỉ phong cách dạ tiệc, lấp lánh, sang trọng và nữ tính.

Gathers: Cách may nếp gấp trong quần áo. Cách may này sẽ làm giảm chiều rộng của mảnh vải

Harem pants: Quần dài rộng ôm ở mắt cá chân, và được thiết kế cho phụ nữ.

Haute couture: Thời trang cao cấp nhất, xa sỉ nhất, sang trọng nhất, độc đáo nhất. Đây là từ chỉ được dùng trong những tuần lễ thời trang cao cấp của Paris, London… Những trang phục “haute coutre” được đặt may riêng bởi những ông trùm về thời trang như: Chanel, Christian Dior, Christian Lacroix, Elie Saab, Giorgio Armani, Maison Martin Margiela hay Valentino…

Havelock:  Là một loại mũ che mặt. Mũ này phát triển ban đầu như là một phần của bộ đồng phục của các binh sĩ  trên thế giới nơi mà ánh nắng mặt trời nhiều…Ngày nay, chúng được sử dụng nhiều trong  dân trong thể thao hoặc đối tượng làm việc ở ngoài trời nhiều

just-in-time manufacturing: Sản xuất đúng thời hạn

Lace and tatting: Sản phầm bằng ren, kỹ thuật đan  bằng các nút thắt và vòng…hiệu quả trong việc trang trí250px-Pine_Pattern_Collar_in_Tatting_-_Project_Gutenberg_eText_151471

Leather: Áo khoác da.

Liberty print: Họa tiết hoa cổ điển do Arthur Lasenby Liberty tạo ra vào năm 1939 ở London.

Limitary: Xu hướng thời trang ăn mặc như quân đội.

Macrame: Là một hình thức của dệt may làm bằng thắt nút. Chúng được dùng nhiều để làm các thắt lưng, túi xách, áo khoác hoặc dùng để trang trím

Metallic: Hiểu một cách đơn giản nhất là sự kết hợp giữa trang phục có màu ánh kim và phong cách rock chic mạnh mẽ.

Non-wovens: Vải không dệt, sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp sản xuất may mặc, chúng chịu được độ ẩm, nhiệt độ, áp lực. Nó được sản xuất từ lông cừu hoặc một số loại sợi khác. Đây là loại vải rất bềnn

 Open orders: Đơn hàng , ghi sợ lược một vài thông tin trên order đó

Pagoda sleeve:  Tay áo. Nó ôm cánh tay và một phần được phình rộng ra hay còn gọi là tay áo hình phễup

Pastel: Bất cứ trang phục nào bạn có thể liệt kê vào gam màu phấn nhạt.

Preppy: Một phong cách rất được ưa chuộng ở những năm cuối thập niên 70 và 80. Kể từ đó, phong cách này chưa bao giờ lỗi thời. Preppy là sự kết hợp giữa những trang phục gần giống nhau và trang phục hiện đại. Một số yếu tố chính của phong cách này là áo phông, găng tay, khăn choàng, áo cardigan, các phụ kiện cho tóc, và tất nhiên là chiếc áo len được quàng qua vai.

Print: Tất cả những trang phục từ quần áo đến giày dép có in họa tiết hoặc in hoa.

Quick Response (QR):  Là một hệ thống mã vạch trong thông tin điện tử giúp cung cấp hàng hóa nhanh chóng. Trong ngành dệt may, úng dụng hệ thống mã vạch này giúp cung cấp các sản phẩm một cách nhanh chóng trong vài ngày, vài tuần thay vì vài tháng như trước đâyq

Raglan: Tay áo. Kiểu may Raglan co điểm đặc biệt là để lại một đường may chéo dưới cánh tay và màu vải khác màu của cổ áo. Kiểu áo này được chúa Raglan mặc vào năm khoảng 1854 khi ông bị mất một cánh tay trong trận chiến. Loại áo này ngày nay được phổ biến trong thể thao và mặc mặc tập thể dụcr

Seam: Đường may, nơi hai mảnh được nối vào nhaus

Sequins: Bất cứ cái gì có đính pha lê, hột cườm lấp lánh đều được liệt vào hàng của “sequins”. Mốt mới nhất là diện áo đính những hạt đá lấp lánh với quần tất đen như những thiết kế của Joseph hay quần tất phủ ánh bạc như ở Gucci.

Shirt dress: Có những chi tiết của áo sơ mi nam như cổ áo, nút áo hoặc phần ống tay được xăn lên.

Skinny: Từ dùng cho bất cứ trang phục liên quan tới quần bó sát thân – quần da đen bóng, quần bò, quần thun có độ dãn, ống ôm sát vào chân.

Stonewashed: Còn được gọi là quần vải loang ở Việt Nam. Đây là từ chuyên dụng của quần jeans. Khi được bỏ vào hóa chất acid và đá bọt trong máy giặt, chiếc quần jeans sẽ cho ra màu loang trên phần thân rất cá tính. Với các mức độ khác nhau, quần jeans vải loang sẽ có từ dùng khác nhau: “double-stone-washed” (loang mạnh), và cuối cùng là “destroyed” (phá hủy).

TFPIA: Là từ viết tắt về một đạo luật trong ngàn sợi dệt. Pháp luật này được thực thi bởi Ủy ban Thương mại liên bang yêu cầu các sản phẩm phải ghi các thông tin cụ thể trên sản phẩm. Mỗi sợi trong ngành dệt phải xuất hiện trên nhãn ghi hàm lượng các chất, tên nhà sản xuất, xuất sứ…

Tuxedo: là kiểu áo vest cơ bản, như của nam giới. Áo Tuxedo thường dài vạt, chít ở eo và có túi

Unisex: Thời trang phi giới tính. Trang phục theo phong cách Unisex là trang phục mà cả nam lẫn nữ đều có thể diện được.

Vintage: Thời trang cổ điển. Xu hướng ăn mặc theo mốt trở lại của những thập kỷ trước. Các cô gái đầu tư thời gian đi lùng sục trong các cửa hiệu đồ cũ hoặc bới trong đống quần áo bỏ đi của bà, của mẹ. Trong vintage cũng có đồ bình dân và đồ cao cấp.

Watteau back: Áo choàng bao lại. Là thời trang được  phụ nữ của thế kỷ 18 ưa chuộng mặc. Vào đầu thế kỷ, áo choàng bao lại là một phong cách rất được ưa chuộng. Kiểuváy có kiểu hộp nếp gấp buông từ vai xuống sàn nhàw

Yarn types: Sợi.  Sợi chúng được kéo dài liên tục,  sử dụng trong sản xuất hàng dệt , may , đan , đan , dệt , thêu…y

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Một thời Sài Gòn

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON

XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975)theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết…

View original post 3,505 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Sự thật trong việc Pháp giúp Nguyễn Ánh khôi phục miền nam

Nghiên cứu lịch sử

Gia LongChân dung phác họa vua Gia Long qua nét vẽ của một họa sĩ người Pháp. (Nguồn tài liệu thư viện Pháp)

Võ Thu Tịnh

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Ở Tây Sơn, miền Trung, năm 1771, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ nổi dậy, chiếm được Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận ở phía nam và Quảng Nghĩa phía bắc. Trịnh Sâm liền sai Hoàng Ngũ Phúc (tước Việp quận công, tức quận Việp) đem quân vào Nam lấy danh nghĩa trừ quyền thần Trương Phúc Loan và diệt loạn Tây Sơn. Thấy thế quân Trịnh quá mạnh, chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần (23 tuổi) bắt Trương Phúc Loan đem nạp, xin hàng.

Quân Trịnh chiếm Phú Xuân. Yếu thế, Nguyễn Nhạc sai người đem thư và vàng lụa đến quận Việp xin hàng, xin nộp đất Quảng Nghĩa, Qui Nhơn, Phú Yên và xin làm tiền khu đi…

View original post 5,911 more words

Posted in Uncategorized | Leave a comment